Tác giả đưa ra kết luậnkhớp cắn chịu ảnh hưởng của những thay đổi do tăng trưởng, cung răng sữarộng ra để phù hợp với kích thước lớn hơn của các răng cửa vĩnh viễn [6].Sillman 1935 thực
Trang 1PHẠM THỊ THANH THỦY
H×NH D¹NG Vµ KÝCH TH¦íC CUNG R¡NG CñA NG¦êI KINH Vµ NG¦êI TµY Tõ 18-25 TUæI
T¹I Hµ NéI Vµ L¹NG S¥N N¡M 2017
LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA II
HÀ NỘI – 2018
Trang 2PHẠM THỊ THANH THỦY
H×NH D¹NG Vµ KÝCH TH¦íC CUNG R¡NG CñA NG¦êI KINH Vµ NG¦êI TµY Tõ 18-25 TUæI
T¹I Hµ NéI Vµ L¹NG S¥N N¡M 2017
Chuyên ngành : Răng Hàm Mặt
LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA II
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Võ Trương Như Ngọc
HÀ NỘI – 2018 LỜI CẢM ƠN
Trang 3Răng Hàm Mặt đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Võ Trương Như Ngọc, người đãluôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luậnvăn, đã cho tôi những ý kiến vô cùng bổ ích để ngày càng hoàn thiện cả vềchuyên môn và hoạt động khoa học
Tôi xin được trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo Viện đào tạo Răng HàmMặt, ban lãnh đạo Trung tâm kỹ thuật cao khám chữa bệnh Răng Hàm Mặt đãtạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới: TS Hoàng Kim Loan và tập thể phòngđào tạo, Viện đào tạo Răng Hàm Mặt, trường Đại học Y Hà Nội đã nhiệt tìnhgiúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các anh - chị - em - bạn đồng nghiệptrong tập thể lớp chuyên khoa II Răng Hàm Mặt khóa 30 đã giúp đỡ tôi trongsuốt 2 năm học tập
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bố mẹ kính yêu,những người thân trong gia đình đã luôn bên cạnh, động viên và hỗ trợ tôitrong quá trình học tập và nghiên cứu
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2018
Học viên Phạm Thị Thanh Thủy
LỜI CAM ĐOAN
Trang 41 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫncủa PGS.TS Võ Trương Như Ngọc.
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đãđược công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trungthực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơinghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Học viên
Phạm Thị Thanh Thủy
Trang 5Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm tăng trưởng cung răng 3
1.2 Hình dạng và kích thước cung răng 8
1.2.1 Hình dạng cung răng 8
1.2.2 Kích thước cung răng 10
1.3 Các phương pháp đo đạc cung răng 13
1.3.1 Đo trên mẫu hàm số hóa 14
1.3.2 Đo bằng máy chụp cắt lớp điện toán 15
1.3.3 Đo bằng thước trượt trên mẫu hàm thạch cao 16
1.4 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 17
1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới 17
1.4.2 Nghiên cứu trong nước 20
1.5 Người dân tộc Kinh và Tày 22
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
2.2.1 Thời gian 24
2.2.2 Địa điểm 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 24
2.3.3 Vật liệu và dụng cụ thu thập dữ liệu 26
2.4 Các bước nghiên cứu 27
2.4.1 Lập danh sách đối tượng tham gia khám sàng lọc cho nghiên cứu 27
2.4.2 Khám sàng lọc và lập danh sách đối tượng nghiên cứu 27
Trang 62.4.5 Xử lý số liệu 35
2.5 Các biến số cần nghiên cứu 36
2.6 Sai số và biện pháp khống chế sai số 37
2.7 Đạo đức nghiên cứu 38
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 39
3.1.1 Phân bố theo giới 39
3.1.2 Phân bố theo dân tộc 39
3.1.3 Phân bố theo khớp cắn Angle 40
3.2 Hình dạng cung răng của người Kinh và người Tày lứa tuổi 18-25 ở Hà Nội, Lạng Sơn 41
3.2.1 Hình dạng cung răng hàm trên của người Kinh và Tày 41
3.2.2 Hình dạng cung răng hàm dưới của người Kinh và Tày 44
3.2.3 Nhận xét sự tương đồng hình dạng cung răng giữa hai hàm 47
3.3 Kích thước cung răng ở người dân tộc Kinh và Tày từ 18-25 tuổi 49
3.3.1 Chiều rộng cung răng 49
3.3.2 Chiều dài cung răng 52
3.3.3 Chu vi cung răng 55
Chương 4: BÀN LUẬN 57
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 57
4.1.1 Tỉ lệ nam, nữ 57
4.1.2 Đặc điểm địa dư 58
4.2.4 Đặc điểm sai lệch khớp cắn 58
4.2 Hình dạng cung răng của người Kinh và người Tày lứa tuổi 18-25 ở Hà Nội, Lạng Sơn 60
Trang 7KẾT LUẬN 71
KIẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3.2 Phân bố theo khớp cắn Angle giữa người Kinh và người Tày 40Bảng 3.3 Phân bố theo khớp cắn Angle giữa nam và nữ của người Kinh
vàngười Tày (n=8199) tương tuej 3.2, phân tích lại thống kê 40Bảng 3.4 So sánh hình dạng cung răng hàm trên giữa người Kinh và người
Tày 41Bảng 3.5 Hình dạng cung răng hàm trên ở người Kinh theo giới 42Bảng 3.6 Hình dạng cung răng hàm trên ở người Kinh theo khớp cắn Angle 42Bảng 3.7 Hình dạng cung răng hàm trên ở người Tày theo giới 43Bảng 3.8 Hình dạng cung răng hàm trên ở người Tày theo khớp cắn Angle 43Bảng 3.9 Hình dạng cung răng hàm dưới ở người Kinh và người Tày 44Bảng 3.10 Hình dạng cung răng hàm dưới ở người Kinh theo giới 44Bảng 3.11 .Hình dạng cung răng hàm dưới ở người Kinh theo khớp cắn
Angle 45Bảng 3.12 Hình dạng cung răng hàm dưới ở người Kinh và người Tày theo
giới 45Bảng 3.13 Hình dạng cung răng hàm dưới ở người Tày theo khớp cắn Angle 46Bảng 3.14 .Nhận xét sự trùng hợp hình dạng cung răng hàm dưới với hàm
trên theo từng hình dạng cung răng 47Bảng 3.15 .Nhận xét sự trùng hợp hình dạng cung răng hàm dưới với hàm
trên theo từng hình dạng cung răng ở giới nam 48Bảng 3.16 .Nhận xét sự trùng hợp hình dạng cung răng hàm dưới với hàm
trên theo từng hình dạng cung răng ở giới nữ 49Bảng 3.17 .Chiều rộng cung răng hàm trên, hàm dưới giữa người Kinh và
người Tày 49Bảng 3.18 .Chiều rộng cung răng hàm trên, hàm dưới giữa nam và nữ người
Trang 9hình dạng cung răng 50Bảng 3.20 .Chiều rộng cung răng hàm trên, hàm dưới giữa nam và nữ người
Tày 51Bảng 3.21 Chiều rộng cung răng hàm trên của người Tày theo hình dạng
cung răng hàm trên 51Bảng 3.22 Chiều dài cung răng hàm trên, hàm dưới giữa người Kinh và
người Tày 52Bảng 3.23 Chiều dài cung răng hàm trên giữa nam và nữ người Kinh 53Bảng 3.24 .Chiều dài cung răng hàm của người Kinh theo hình dạng cung
răng 53Bảng 3.25 Chiều dài cung răng hàm trên giữa nam và nữ người Tày 54Bảng 3.26 Chiều dài cung răng hàm trên của người Tày theo hình dạng cung
răng hàm trên 54Bảng 3.27 Chu vi cung răng hàm trên và hàm dưới giữa người Kinh và người
Tày 55Bảng 3.28 .Chu vi cung răng hàm trên và hàm dưới giữa nam và nữ người
Kinh 55Bảng 3.29 .Chu vi cung răng hàm trên và hàm dưới giữa nam và nữ người
Tày 56Bảng 4.1 So sánh tỉ lệ sai khớp cắn của các tác giả 59Bảng 4.2 So sánh kết quả hình dạng cung răng với một số tác giả trong nước 62Bảng 4.3 So sánh kết quả hình dạng cung răng với một số tác giả nước
ngoài .63Bảng 4.4 So sánh kích thước cung răng hàm trên với một số tác giả trong
nước 65Bảng 4.5 So sánh kích thước cung răng hàm dưới với một số tác giả nước
ngoài 66
Trang 10Hình 1.1 Các loại hình dạng cung răng 10
Hình 1.2 Kích thước cung răng 11
Hình 1.3 Đo kích thước gần xa bằng phần mềm OrthoCad- ảnh 3D 14
Hình 1.4 Đo kích thước chiều rộng qua hai răng nanh và hai răng hàm lớn thứ nhất bằng phần mềm OrthoCad 15
Hình 1.5 Hệ thống Scanned 3D và hình dạng cung răng hàm trên 15
Hình 1.6 Thước trượt thông thường 16
Hình 1.7 Thước trượt điện tử Mitutoyo CD-6 16
Hình 2.1 Bộ khay khám răng 26
Hình 2.2 Bộ dụng cụ lấy dấu, đổ mẫu 26
Hình 2.3 Mẫu hàm tiêu chuẩn 28
Hình 2.4 Thước OrthoForm 29
Hình 2.5 Xác định hình dáng cung răng 29
Hình 2.6 Xác định độ cắn chìa 30
Hình 2.7 Đo chiều rộng phía trước cung răng 31
Hình 2.8 Đo chiều rộng phía sau cung răng 32
Hình 2.9 Đo chiều dài phía trước cung răng 32
Hình 2.10 Đo chiều dài phía sau cung răng 32
Hình 2.11 Các chiều rộng cung răng 33
Hình 2.12 Các chiều dài cung răng 33
Hình 2.13 Đo chiều rộng cung răng 34
Hình 2.14 Đo chiều dài cung răng 34
Hình 2.15 Chu vi cung răng trên 35
Hình 2.16 Chu vi cung răng dưới 35
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 11Biểu đồ 3.3 Sự tương đồng hình dạng cung răng giữa hàm trên và hàm
dưới 47Biểu đồ 3.4 Sự tương đồng hình dạng cung răng giữa hàm trên và hàm
dưới theo giới 48
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Cung răng góp phần tạo nên thẩm mỹ cho khuôn mặt của con người Sựtiếp xúc giữa các răng của hai cung răng chính là chìa khóa đảm bảo cho sựlành mạnh của hệ thống nhai [1] Một cung răng đẹp kết hợp hài hòa với cácyếu tố phần mềm góp phần mang lại nụ cười đẹp và tự tin của con người.Cung răng cùng những cấu trúc thần kinh cơ xung quanh là thành phần
cơ bản của bộ máy nhai trong đó cung răng đóng vai trò quan trọng nhất Cácchức năng nhai, nuốt, nói và thẩm mỹ luôn là những vấn đề phức tạp và đặt racho các bác sĩ Răng Hàm Mặt những thách thức không nhỏ trong việc “gópphần mang lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân và cộng đồng xã hội”, để có thể cóđược những quyết định đúng đắn cho các can thiệp về hình thái và chức năng
ở vùng đầu, mặt và cung răng
Năm 1920, Williams, J.L và Chuck đã nghiên cứu và phân loại cung răngthành 3 loại hình dạng khác nhau bao gồm cung răng hình vuông, cung răngovan và cung răng thuôn dài [2],[3] Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ, đặcđiểm của mỗi dạng cung răng có sự khác nhau ở mỗi chủng tộc, dân tộc, giữanam và nữ Việc nghiên cứu đặc điểm khớp cắn có vai trò rất quan trọng trongthực hành chỉnh nha Với mỗi loại hình dạng cung răng khác nhau sẽ có hìnhdạng dây cung điều trị tương ứng, đem lại sự ổn định cho kết quả điều trị Hàm răng con người trải qua nhiều giai đoạn phát triển bao gồm giaiđoạn hàm răng sữa, giai đoạn hàm răng hỗn hợp và giai đoạn hàm răng vĩnhviễn Mỗi giai đoạn ứng với một lứa tuổi khác nhau và có những đặc thù vềhình thái và kích thước Từ 18 tuổi trở đi gần như cung răng đã phát triểnhoàn toàn và ổn định về kích thước cũng như đặc điểm hình thái Do vậy, cóthể coi lứa tuổi này là một lứa tuổi đặc trưng và đại diện cho người trưởngthành Đã có rất nhiều nghiên cứu ở lứa tuổi này trên thế giới để từ đó đưa ra
Trang 13các chỉ số về hình thái và kích thước cung răng… [4],[5],[6] Ở Việt Namcũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đề tài này, song nhìn chung đó lànhững nghiên cứu nhỏ lẻ, cỡ mẫu chưa lớn nên chưa mang tính khái quát đặctrưng cho người Việt Nam Chính vì thế, việc có một bộ số liệu đầy đủ vàchính xác, phù hợp với đặc điểm của từng dân tộc là một yêu cầu bức thiếtđược đặt ra
Từ những nhu cầu thực tiễn đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Hình dạng và kích thước cung răng của người Kinh và người Tày từ 18-25tuổi tại Hà Nội và Lạng Sơn năm 2017” với hai mục tiêu:
1 Mô tả hình dạng cung răng của người Kinh và người Tày lứa tuổi 18-25 ở Hà Nội, Lạng Sơn năm 2017.
2 Xác định kích thước cung răng của người Kinh và người Tày lứa tuổi 18-25 ở Hà Nội, Lạng Sơn năm 2017.
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm tăng trưởng cung răng
Những thay đổi theo tuổi của cung răng được nghiên cứu rộng rãi, vìnhững hiểu biết về sự tăng trưởng của cung răng có vai trò quan trọng tronglập kế hoạch điều trị chỉnh nha Trong những nghiên cứu đầu tiên, các tác giảchủ yếu quan sát tương quan giữa các điểm mốc trên miệng và đánh giánhững thay đổi của vị trí của các điểm mốc đó (Lewis, 1929)[6] Tiếp theo,cung răng được đo đạc và đánh giá những thay đổi trên mẫu hàm thông quaquy trình lấy dấu, đổ mẫu Theo dõi những thay đổi về chiều dài, chiều rộng
và chu vi cung răng giúp đánh giá được sự tăng trưởng và phát triển của cungrăng trong quá trình phát triển của hệ thống sọ - mặt - răng Từ khi sinh ra chotới khi trưởng thành, bộ răng người trải qua bốn giai đoạn hình thành, pháttriển và biến đổi như sau:
- Giai đoạn 1 (giai đoạn thành lập bộ răng sữa): Từ khi sinh ra cho đếnkhi mọc đầy đủ các răng sữa, thường diễn ra từ lúc sinh đến 2,5 tuổi
- Giai đoạn 2 (giai đoạn cung răng sữa ổn định): Từ khi mọc đầy đủ hàm
răng sữa đến khi mọc RHL vĩnh viễn thứ nhất, thường từ 2,5 tuổi đến 6 tuổi
- Giai đoạn 3 (giai đoạn bộ răng hỗn hợp): từ khi mọc RHL vĩnh viễnthứ nhất đến khi thay chiếc răng sữa cuối cùng, thường từ 6 tuổi đến 12 tuổi
Giai đoạn này có thể chia ra chia ra làm hai giai đoạn: 6 – 10 tuổi là giaiđoạn hàm răng hỗn hợp sớm; 10 – 12 tuổi là giai đoạn hàm răng hỗn hợp muộndựa theo sự mọc của nhóm răng cửa và nhóm răng sau Trong giai đoạn này,một yếu tố rất được lưu ý là tổng kích thước theo chiều gần xa của các răngnanh sữa, RHS thứ nhất, RHS thứ hai lớn hơn tổng kích thước gần xa của răngnanh vĩnh viễn, RHN thứ nhất, thứ hai khoảng 1,7 mm ở HD, 0,9 mm ở HT
Trang 15mỗi bên Khoảng chênh lệch này được Nance gọi là khoảng “Leeway”[7],[8].Khi răng sữa phía sau được thay thế bởi các răng nanh và RHN, khoảngLeeway được khép lại Sự khép lại của khoảng Leeway phụ thuộc vào khớpcắn RHL thứ nhất và thứ tự mọc răng HT và HD Thay đổi thứ tự mọc răngbình thường có thể làm cản trở các răng mọc đúng vị trí.
- Giai đoạn 4 (giai đoạn bộ răng vĩnh viễn): từ khi mọc răng hàm lớn vĩnh viễn thứ hai và sau đó, thường diễn ra sau 12 tuổi
Năm 1929, Lewis đã nghiên cứu trên 170 trẻ 1,5 đến 9,5 tuổi về nhữngthay đổi tăng trưởng của răng và cung răng, và những thay đổi khớp cắn ở bộrăng sữa sang răng hỗn hợp Ngoài những phát hiện về khớp cắn, Lewis quantâm đến sự thay đổi kích thước, chiều rộng cung răng (vùng răng nanh vàvùng răng hàm sữa 1 (RHS1) và răng hàm sữa 2 (RHS2) [6]
Kết quả nghiên cứu được trình bày với số trung bình, độ lệch chuẩn và
số đối tượng chung cho nam và nữ từ 2,5 đến 8 tuổi Tác giả đưa ra kết luậnkhớp cắn chịu ảnh hưởng của những thay đổi do tăng trưởng, cung răng sữarộng ra để phù hợp với kích thước lớn hơn của các răng cửa vĩnh viễn [6].Sillman (1935) thực hiện nghiên cứu dọc về sự thay đổi kích thước cungrăng từ lúc mới sinh đến 25 tuổi trên 113 trẻ em sinh ở bệnh viện Bellevue tạiNewYork, 750 mẫu thạch cao được sử dụng cho nghiên cứu này Đến năm
1964 ông công bố kết quả và nhận xét [9]:
- Về chiều rộng cung răng hàm trên và dưới vùng răng nanh tăng nhanhlúc mới sinh đến 2 tuổi, khoảng 5 mm/năm ở hàm trên và 3,5 mm/năm ở hàmdưới, tiếp tục tăng đến 13 tuổi ở hàm trên, 12 tuổi ở hàm dưới Sau đó không
có sự tăng trưởng đáng kể từ 16 tuổi đến 25 tuổi
- Chiều rộng vùng răng hàm lớn thứ nhất có sự giảm kích thước cả haihàm từ 16 tuổi, nhưng đặc biệt chiều rộng và chiều dài toàn bộ chỉ gia tăng và
ổn định mà không giảm là do sự phát triển sau sinh xảy ra ở phía sau của cung hàm
Trang 16- Về chiều dài của cung răng như sau: Chiều dài cung răng hàm trên vàdưới vùng răng nanh có sự gia tăng nhanh từ khi mới sinh đến 2 tuổi khoảng2mm mỗi năm; từ 3 tới 6 tuổi thay đổi ít; tới 9 tuổi sự thay đổi không có ýnghĩa Hàm trên ổn định vào khoảng 9 tuổi, hàm dưới ổn định sau 10 tuổi.Sau tuổi dậy thì, kích thước này tăng khoảng 0,4 mm/năm ở hàm trên và 0,3mm/năm ở hàm dưới và từ 20-22 tuổi thì không tăng nữa.
Barrow (1952) nghiên cứu 528 bộ mẫu hàm của 51 trẻ em trường tiểuhọc Michigan và trường trung học Ann Ambor [4] Đối tượng nghiên cứuđược khám và lấy dấu mỗi năm một lần Mục tiêu của nghiên cứu này ngoàiviệc nghiên cứu khớp cắn, kẽ hở giữa các răng của bộ răng sữa và bộ rănghỗn hợp còn đánh giá về sự thay đổi kích thước cung răng theo chiều rộng vàchiều dài của bộ răng vĩnh viễn
* Về chiều rộng cung răng ông đưa ra kết luận:
- Chiều rộng cung răng ở vị trí đỉnh múi giữa hai răng nanh trên cung hàm
ít thay đổi từ 3 tới 5 tuổi, tăng nhanh từ 5 tới 8 tuổi và giảm dần từ 0,5 tới 1,5mmsau 14 tuổi
- Chiều rộng cung răng ở vị trí đỉnh múi ngoài gần giữa hai răng hàm lớnthứ nhất có mức độ tăng nhanh từ 7 đến 11 tuổi (tăng 1,8 mm ở hàm trên; 1,2
mm ở hàm dưới) Từ 11 đến 15 tuổi có sự giảm chiều rộng cung răng (0,4 mm
ở hàm trên; 0,9 mm ở hàm dưới)
Theo ông, sở dĩ có sự giảm chiều rộng cung răng vùng răng hàm lớn thứnhất sau 11 tuổi là do sự di gần của răng hàm lớn thứ nhất và hướng hội tụcủa hàm dưới nhiều hơn Chiều rộng cung răng hàm dưới giảm nhiều hơnhàm trên có thể do sự di gần răng 6 và hướng hội tụ của hàm dưới nhiều hơn
Từ 15 tới 17 tuổi còn khoảng 50% trường hợp có sự giảm tiếp tục chiều rộngcung răng vùng răng cối
* Về chiều dài cung răng là khoảng cách từ điểm giữa của hai răng cửa giữa vuông góc với đường nối đỉnh múi ngoài gần răng 6 Ông đưa ra một số kết luận:
Trang 17- Từ 6 tới 12 tuổi: Chiều dài cung răng hàm trên tăng 1,0mm Nhưngchiều dài cung răng dưới giảm 1,12 mm.
- Tù 12 đến 13,5 tuổi: Chiều dài cung răng trên tăng nhẹ khoảng 0,2mmsau đó chiều dài giảm đến 17-18 tuổi
Ông cho rằng có 3 nguyên nhân chính làm giảm chiều dài cung răng:Việc đóng kín các khe hở tiếp cận của các răng sau, khuynh hướng nghiêngsau của các răng, đặc biệt ở hàm trên; và sự mòn sinh lý theo tuổi ở mặt nhaicủa tất cả các răng
Năm 1942, Brodie A.G và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu dọc trên trẻ em
từ 3 đến 18 tuổi ở Mỹ; đây là một công trình nghiên cứu có qui mô lớn Từnghiên cứu này, tác giả đã cho ra đời một cuốn sách dày 245 trang gồm các phầnchính sau đây: Kích thước chiều rộng, chiều dài của cung răng, đánh giá mứcthay đổi tăng trưởng của cung răng và nêu lên một số ứng dụng lâm sàng, tiênlượng và lập kế hoạch điều trị [10]
- Về chiều rộng cung răng (mốc đo nằm trên đỉnh răng nanh, đỉnh númgần ngoài răng cối lớn thứ nhất): Các kích thước này gia tăng từ 3 đến 18tuổi, đỉnh cao tăng trưởng vào giai đoạn đầu dậy thì, đến 17-18 tuổi có sựgiảm nhẹ rồi đi đến ổn định ở người trưởng thành Ở hàm trên, chiều rộngvùng răng nanh của nam lúc 3 tuổi là 28,6 mm, đến 18 tuổi là 33,7 mm; của
nữ lúc 3 tuổi là 27,7mm, lúc 18 tuổi là 32,0 mm Chiều rộng vùng răng hàmlớn I của nam lúc 6 tuổi là 36,7 mm, lúc 18 tuổi là 41,7mm Ở hàm dưới củanam, chiều rộng vùng răng nanh lúc 3 tuổi là 22,2 mm, lúc 18 tuổi là 25,6mm; vùng răng hàm lớn I lúc 6 tuổi là 33,06 mm, lúc 18 tuổi là 35,4 mm Nhưvậy có sự gia tăng kích thước chiều rộng cung răng cho đến 17-18 tuổi
Hàm trên của nữ cũng có sự gia tăng về kích thước tương tự như trên.Đặc biệt có sự liên quan giữa gia tăng về kích thước với sự mọc răng vĩnhviễn ở lứa tuổi trước và trong giai đoạn đầu dậy thì
Trang 18- Về chiều dài (chiều trước sau) cung răng (mốc đo từ điểm giữa hai răngcửa giữa đến đường nối các mốc đo ở răng nanh, răng hàm lớn I): Chiều dàicung răng hàm trên và hàm dưới chủ yếu giảm vào hai đợt, đợt 1 từ 4 đến 6tuổi, đợt 2 từ 10 đến 14 tuổi
Năm 1988, Bishara nghiên cứu trên nhóm đối tượng thuộc đại học Iowa
để đánh giá những thay đổi của chiều dài cung răng từ 6 tuần tuối đến 45 tuổi[5] Một nghiên cứu gồm 2 nhóm, nhóm thứ nhất gồm 15 nữ và 15 nam đãđược lấy dấu vào lúc 3 tuổi, 8 tuổi, 13 tuổi, 25 tuổi, 45 tuổi; nhóm thứ 2 gồm
33 nam và 28 nữ sơ sinh được lấy dấu lúc 6 tuần tuổi, 1 tuổi và 2 tuổi Tác giảthấy mức độ tăng chiều dài cung hàm trên và dưới mạnh nhất vào hai nămđầu , chiều dài cung răng tiếp tục tăng cho đến khoảng 8 đến 13 tuổi, sau đógiảm dần và tương đối ổn định sau tuổi dậy thì
Brader thực hiện nghiên cứu dọc về sự thay đổi về sự thay đổi chiều dài
và chiều rộng cung răng ở người trưởng thành Trong nhóm chuẩn (khôngđiều trị chỉnh hình) gồm 27 nam và 26 nữ lứa tuổi 14, 16 và 47 ở Michigan.Nhóm 14 tuổi gồm có 22 nữ, 24 nam; Nhóm 16 tuổi và nhóm 47 tuổi cócùng số đối tượng, gồm có 26 nữ, 27 nam cho mỗi nhóm Những đối tượngnày đều chưa được điều trị chỉnh hình Mục tiêu của nghiên cứu là xác địnhtính ổn định của kích thước cung răng ở bệnh nhân có điều trị chỉnh hình,ông đã kết luận việc chỉnh nha phải được điều trị duy trì sau tuổi thanh niên(18 tuổi) vì sau thời gian này kích thước cung răng ổn định trong suốt thờigian trưởng thành (kết luận này rút ra từ so sánh kết quả với nghiên cứu trênmẫu không chỉnh hình) Sự bất thường của răng và cung răng xảy ra ở hàmdưới nhiều hơn hàm trên, có sự thay đổi kích thước sau tuổi trưởng thànhcủa hàm dưới nhiều hơn hàm trên, khác nhau giữa nam và nữ Ông đã thống
kê những nhận xét của các bác sỹ chỉnh hình răng mặt: Đa số bệnh nhânthan phiền các răng không đều ở hàm dưới nhiều hơn hàm trên, nhưng tácgiả không nêu nguyên nhân gây ra tình trạng đó mà chỉ giải thích là bất kỳ
Trang 19sự giảm kích thước nào của hàm cũng nhỏ hơn 3 mm, và đó là một trongnhững nguyên nhân làm gia tăng tình trạng không đều của cung răng Quaphân tích so sánh bằng t-test và Anova, ông đã kết luận kích thước chiềurộng, chiều dài và chu vi cung răng đều giảm ít hơn 3 mm từ 14 đến 47 tuổi.Giai đoạn từ 18 đến 50 tuổi các kích thước cung răng giảm nhiều hơn và giảm có
ý nghĩa thống kê so với giai đoạn từ 14 đến 18 tuổi Tác giả đưa ra lý do giảmkích thước cung răng là do răng xoay, răng di gần và mòn răng [11]
Như vậy, nhiều nghiên cứu dọc và cắt ngang của các tác giả Brader,Sillman, Barrow, Bishara… đều có nhận xét:
- Kích thước chiều rộng cung răng đo trên mốc răng nanh, răng hàm nhỏthứ hai, răng hàm lớn thứ nhất có sự tăng trưởng nhiều trước tuổi dậy thì; tăngtrưởng chậm ở tuổi dậy thì và ổn định ở 16 - 18 tuổi đối với nữ, 18 - 20 tuổiđối với nam
Kích thước chiều dài cung răng theo chiều trước sau được đo theo mốccác răng trên cho thấy có sự giảm dần từ khi xuất hiện răng vĩnh viễn trêncung hàm và ổn định ở tuổi 17 đến 18 đối với nữ và 19 đến 20 đối với nam.Giảm chiều dài cung răng chủ yếu là do răng có xu hướng di gần, xoay răng,răng bị mòn… Hàm trên giảm khoảng 1,3 mm và hàm dưới khoảng 1,6 mm
1.2 Hình dạng và kích thước cung răng
1.2.1 Hình dạng cung răng
Nhìn từ phía mặt nhai các răng được sắp xếp thành một cung (cungrăng) Vì cấu trúc hình cung được xem là sự sắp xếp tạo nên tính ổn định vàvững chắc
Một bộ răng vĩnh viễn đầy đủ gồm 32 chiếc, chia đều cho 2 cung răng:cung răng trên và cung răng dưới Do răng hàm lớn thứ 3 thường có hoặckhông (không có mầm răng), khái niệm về bộ răng gồm 28 chiếc được sửdụng trên lâm sàng
Trang 20Năm 1920, Williams đã nêu lên sự đồng dạng giữa hình dạng của răngcửa và hình dạng của cung răng Nếu răng có hình dạng hình vuông sẽ kèmtheo mặt hình vuông và cung răng cũng có dạng hình vuông Các tác giả đãphân biệt ba dạng cung răng là hình vuông, hình oval và hình tam giác [2].Năm 1972, Brader đưa ra một mẫu cung răng Mẫu này dựa trên một ê líp
3 tiêu điểm và đã làm thay đổi quan niệm về hình dạng cung răng Đường congcung răng rất giống với đường cong của ê líp, các răng sắp xếp chỉ một phần ởcực nhỏ của toàn bộ đường cong Ông cho rằng cấu trúc của cung răng có 4 đặctrưng chủ yếu [11]:
- Hình dạng của cung răng
- Kích thước của cung răng
- Sự đối xứng hai bên
- Sự thay đổi của các cấu trúc xung quanh dẫn đến sự biến đổi hình thểcủa cung răng
Năm 1981, Rickett đã tiến hành một loạt nghiên cứu về hình dạng cungrăng và đã đưa ra kết luận:
- Hình dạng cung răng hàm trên đồng dạng với hình dạng cung răng hàm dưới
- Cung răng hàm trên ở phía trước hơn so với cung răng hàm dưới
- Có 5 dạng cung răng: Dạng hình tam giác, dạng hình tam giác hẹp,dạng hình trứng, dạng hình trứng hẹp, dạng hình vuông [12]
Nhưng trên thực tế, hiện nay sự phân loại hình dạng cung răng chủ yếuđược sử dụng trong chẩn đoán và điều trị chỉnh hình răng mặt là phương phápphân loại của Chuck và Williams là: Dạng hình vuông, dạng hình tam giác(hình tam giác), hình oval (hình trứng) [2]
Trang 21Hình 1.1 Các loại hình dạng cung răng 1.2.2 Kích thước cung răng
Các phương pháp đo đạc được đưa ra phụ thuộc chủ yếu vào mục tiêunghiên cứu, mục đích điều trị
Năm 1979, Engle đã tiến hành đo hàng loạt mẫu để xác định các yếu tốcủa hình dạng và kích thước cung răng [13] Ông cùng với Lestrel đã rút ra 4kích thước chủ yếu của cung răng là [13],[14]:
- Chiều dài trước (chiều dài vùng răng nanh): là khoảng cách từ điểmgiữa hai răng cửa giữa tới đường nối đỉnh của hai răng nanh
- Chiều rộng trước (chiều rộng vùng răng nanh): là khoảng cách giữa haiđỉnh của hai răng nanh
- Chiều dài sau (chiều dài vùng răng hàm): là khoảng cách từ điểm giữa hairăng cửa giữa tới đường nối hai đỉnh của hai núm ngoài gần của răng hàm lớnthứ nhất
Trang 22Hình 1.2 Kích thước cung răng
- Chiều rộng sau (chiều rộng vùng răng hàm): là khoảng cách giữa haiđỉnh của hai núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất
Kích thước của cung răng có sự khác biệt theo giới tính và các dạngcung răng hình vuông, hình oval, hình tam giác
+ Kích thước cung răng ở nam lớn hơn nữ
+ Chiều rộng cung răng ở vùng răng nanh và vùng răng hàm ở cungrăng hình vuông là lớn nhất, rồi đến dạng cung răng hình oval, hẹp nhất làcung răng dạng hình tam giác
+ Ngược lại chiều dài cung răng ở dạng cung răng hình tam giác là lớnnhất, rồi đến cung răng dạng oval, ngắn nhất là cung răng dạng hình vuông [13],[14]
Năm 1992, Hoàng Tử Hùng và Huỳnh Thị Kim Khang nghiên cứu kíchthước chiều dài và chiều rộng cung răng hàm trên ở người Việt trưởng thành.Kết quả cho thấy cung răng hàm trên người Việt trưởng thành có dạng ê líp,kích thước cung răng ở nam lớn hơn ở nữ [Error: Reference source notfound]
Năm 1993, Raberin M., Laumon B., Martin J L khoa chỉnh nha củatrường nha Lyon ở Pháp đã nghiên cứu phân tích trên 278 mẫu thạch cao củangười Pháp trưởng thành chưa được can thiệp chỉnh nha Các tác giả đã rút rakết luận rằng không có sự khác biệt về tỷ lệ các dạng cung răng ở nam cũng
Trang 23như ở nữ và cung răng ở nam lớn hơn cung răng ở nữ cả về chiều rộng vàchiều dài [16].
Năm 1999, Phạm Thị Hương Loan và Hoàng Tử Hùng nghiên cứu sosánh đặc điểm cung răng người Việt với người Ấn Độ và Trung Quốc đưa ranhận xét: Cung răng người Việt rộng hơn đáng kể so với cung răng người Ấn
Độ, nhưng lại gần với kích thước cung răng người Trung Quốc [17]
Theo nghiên cứu của Siti Adibah Othman và cộng sự (2012) khi nghiêncứu trên 252 mẫu hàm của người Malay có độ tuổi từ 13-30 cũng đã kết luậnkích thước ngang cung hàm ở nam lớn hơn nữ [18]
Năm 2012, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương, Võ TrươngNhư Ngọc, Đồng Mai Hương (2012) khi nghiên cứu ở nhóm sinh viên đại học
Y Hải Phòng đã kết luận kích thước trung bình của cung răng trên ở các dạngcung răng khác nhau là rất khác nhau, chiều rộng cung răng phía trước (R33)
và phía sau (R66) lớn nhất ở dạng cung răng hình vuông, nhỏ nhất ở dạngcung răng hình tam giác Với chiều dài thì ngược lại, chiều dài phía trướccung răng (D13) của dạng cung răng hình tam giác là lớn nhất còn dạng cungrăng hình vuông là ngắn nhất [19],[19],[21]
Năm 2013, theo nghiên cứu của Lê Hồ Phương Trang, Trần Ngọc KhánhVân, Lê Võ Yến Nhi trên 117 mẫu hàm thạch cao cũng kết luận kích thướcngang cung hàm ở nam lớn hơn ở nữ [22]
Theo nghiên cứu của Proffit W.R và cộng sự năm 2013 khi so sánh chiềurộng cung răng giữa nhóm CI và nhóm CII tiểu loại 1: mặc dù đã có một xuhướng cho nhóm Class II có một cung răng hàm trên hẹp, song sự khác biệtkhông có ý nghĩa thống kê ở nhóm răng hàm lớn, nhóm răng hàm nhỏ, cảhàm trên và hàm dưới giữa hai nhóm [23]
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Dolly Patel, Falguni Mehta, NimeshPatel, Nishit Mehta, Ipist Trivedi, Jone A.P (2015) trên dân chúng Ấn Độ chokết quả sau Khi so sánh độ rộng cung hàm ở hàm trên cả hai giới, nhóm CIII
Trang 24và nhóm CI cho thấy độ rộng liên 2 răng nanh hàm trên lớn hơn đáng kể sovới nhóm CIId1 và độ rộng liên 2 răng hàm nhỏ hàm trên lớn hơn nhómCIId2 và CIId1 Đối với hàm dưới nhóm CIII cho thấy độ rộng liên răngnanh, liên răng hàm nhỏ lớn hơn đáng kể so với nhóm CI, CIId2, và nhómCIId1 [24],[25].
1.3 Các phương pháp đo đạc cung răng
Đánh giá răng, cung răng là một công việc cần thiết trong thực hànhlâm sàng và nghiên cứu Đánh giá những thay đổi về cung răng và khớp cắn
để phân tích những bất thường của bộ răng Việc đánh giá không chỉ dựa vàoquan sát cảm quan mà phải dựa vào đo đạc và phân tích trên cơ sở khoa học:trên phim, mẫu hàm hoặc trực tiếp trên miệng
Việc đo đạc phân tích trực tiếp trên miệng: cho ta biết chính xác hơn
kích thước thật của răng, cung răng, tình trạng khớp cắn tuy nhiên có hạn chế
là việc xác định các điểm mốc trên miệng đôi lúc gặp nhiều khó khăn đặc biệt
là với những răng xoay hay răng ở phía sau, thời gian làm việc không chophép kéo dài, không lưu trữ được mẫu cho lần sau Chính vì vậy, phươngpháp này thường dùng kết hợp với các phương pháp khác để phân tích đánhgiá về răng, cung răng, khớp cắn chứ không thể dùng riêng rẽ
Việc đo đạc trên ảnh chụp và phim X-quang: mặc dù nhanh chóng,
hiện đại nhưng có nhiều sai số phụ thuộc vào tỷ lệ giữa phim và kích thướcthật, bị hạn chế về tính phổ biến của kỹ thuật và phụ thuộc nhiều vào thiết bị
Mẫu hàm thạch cao được xem là một công cụ quan trọng trong điều trịchỉnh nha cũng như trong nghiên cứu; chúng giúp cho việc phân tích kíchthước và hình dạng răng, mức độ thẳng hàng và xoay của răng, chiều rộng,chiều dài, hình dạng và mức độ đối xứng của cung răng cũng như quan hệkhớp cắn [26] Mẫu thạch cao là một thành phần tiêu chuẩn trong nghiên cứuchỉnh nha cũng như chẩn đoán, lên kế hoạch điều trị, đánh giá tiến triển trong
Trang 25quá trình điều trị và khi kết thúc điều trị cũng như lưu trữ kết quả điều trị vànghiên cứu [27] Để nghiên cứu trên mẫu hàm có các loại phương tiện chủyếu sau:
1.3.1 Đo trên mẫu hàm số hóa
Từ năm 1970, đã có nhiều phát triển về mặt kỹ thuật trong việc phântích mẫu hàm như việc áp dụng các kỹ thuật tái tạo hình ảnh bằng vi tính(Biggerstaff, 1972) và thu thập trực tiếp dữ liệu hai chiều (Savara và Sanin,1972) Van Der Linden (1972), một bác sĩ chỉnh hình răng mặt thuộc trườngĐại học Nymegen - Hà Lan, đã xây dựng một phương pháp cho phép thu thậpcác dữ liệu trong không gian ba chiều và khảo sát mẫu hàm trên và dưới nhưmột khối thống nhất [28]
Vào khoảng đầu những năm 2000 phần mềm OrthoCad ra đời Phầnmềm này có thể thu và trình bày mẫu hàm nghiên cứu trên máy tính dưới dạngảnh không gian ba chiều Về mặt lâm sàng, mẫu hàm kỹ thuật số là một giảipháp hấp dẫn vì thuận lợi trong việc lưu trữ, do vậy giúp cho bác sỹ chỉnh nha
cả ở góc độ quản lý hồ sơ lẫn góc độ tiếp thị dịch vụ Độ chính xác của mẫuhàm kỹ thuật số là chấp nhận được về mặt lâm sàng và nếu tính tới các ưu điểmcũng như khả năng cải tiến của công cụ OrthoCad cũng như các công cụ tương
tự trong tương lai (ví dụ như khả năng tự động xác định điểm đo, tự động xácđịnh các kích thước hay đánh giá hiệu quả điều trị) thì mẫu hàm kỹ thuật số cóthể trở thành công cụ sử dụng hàng ngày
Hình 1.3 Đo kích thước gần xa bằng phần mềm OrthoCad- ảnh 3D
Trang 26(a) răng cửa, (b) răng nanh, (c) răng hàm nhỏ, (d) răng hàm lớn (Nguồn: Oded
et al)[29].
Hình 1.4 Đo kích thước chiều rộng qua hai răng nanh và hai răng hàm
lớn thứ nhất bằng phần mềm OrthoCad [29].
Tuy nhiên như có thể thấy ở các hình trên, đối với mẫu hàm kỹ thuật số
có một điểm cần chú ý là mặc dù đây là ảnh ba chiều nhưng thực ra vẫn chỉnhìn được hai chiều trên màn hình, do vậy việc xác định các điểm, các trục vàcác mặt đo sẽ gặp khó khăn [30]
1.3.2 Đo bằng máy chụp cắt lớp điện toán
Yan B và cộng sự đã sử dụng máy chụp cắt lớp điện toán (CT scanner)
số hóa 20 mẫu răng thành ảnh ba chiều và dùng phần mềm máy tính đo cáctọa độ của mẫu răng để kiểm tra độ tin cậy của hệ thống và so sánh với việc
đo thủ công [30]
Hình 1.5 Hệ thống Scanned 3D và hình dạng cung răng hàm trên [28].
Trang 27Mặc dù kết quả cho thấy hệ thống có thể sử dụng trong việc chẩn đoánlâm sàng và điều trị sai khớp cắn nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa giữakết quả đo bằng máy chụp cắt lớp điện toán ba chiều và kết quả đo tay (p > 0,05)
Những nghiên cứu trên cho thấy không thực sự cần thiết sử dụng máychụp cắt lớp điện toán nếu so sánh giữa chi phí cần có và lợi ích mang lại
1.3.3 Đo bằng thước trượt trên mẫu hàm thạch cao
Thước trượt thông thường có độ chính xác tới 1/10mm, được sử dụngtrong nhiều nghiên cứu về kích thước răng và cung răng Trần Thúy Nga(2001) kết luận không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa việc đo đạc cáckích thước theo chiều gần xa của các răng hàm sữa thứ nhất và thứ hai, răngnanh sữa, răng cửa giữa, răng cửa bên ở cả hai hàm bằng phương pháp vi tính
so với phương pháp cổ điển [31]
Hình 1.6 Thước trượt thông thường [31]
Thước trượt điện tử có tính năng tương tự như thước trượt thôngthường nhưng độ chính xác cao hơn, tới cỡ 1/100 mm Về mặt sử dụng, thướctrượt điện tử cũng dễ sử dụng hơn do có màn hình hiển thị số, rất thuận tiệncho người đo Thước trượt điện tử được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứugần đây về đo kích thước răng, cung răng Chúng tôi sử dụng loại thước trượtđiện tử Mitutoyo CD-6 của Nhật Bản để tiến hành nghiên cứu đo đạc [32]
Trang 28Hình 1.7 Thước trượt điện tử Mitutoyo CD-6 [32]
Nhiều tác giả đã nghiên cứu so sánh giữa việc phân tích và sử dụng cácphép đo trên mẫu hàm thường với thước trượt điện tử và sử dụng hàm số hoávới ảnh không gian 3 chiều đã rút ra kết luận sau:
Việc đo bằng thước trượt điện tử trên mẫu hàm thạch cao cho kết quảchính xác nhất và có thể lặp lại
Việc dùng phần mềm số hoá để đo đạc cho kết quả có thể lặp lại, độchính xác cao nhưng thấp hơn so với đo trên mẫu hàm với thước trượt điện tử
Thước trượt điện tử là phương tiện phù hợp với công việc nghiên cứu.Tuy nhiên, độ chính xác của phân tích bằng số hoá được lâm sàng chấp nhận
và có ưu điểm trong hiện tại và tương lai Mẫu hàm số hoá có thể dần dầnđược tiêu chuẩn hoá ứng dụng trong chỉnh nha nhờ đặc tính lưu trữ tốt và tiếtkiệm thời gian của nó
Tóm lại: Mặc dù có nhiều cách đánh giá cung răng và khớp cắn nhưngphương pháp sử dụng thước trượt điện tử trên mẫu hàm thạch cao vẫn làphương pháp hiệu quả thích hợp cho việc thực hiện các nghiên cứu đánh giá
sự thay đổi của răng, cung răng với độ chính xác cao, phương pháp sử dụngmẫu thạch cao được nhiều các nhà nghiên cứu hình thái cung răng trên thếgiới sử dụng
1.4 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới
Những thay đổi theo tuổi của cung răng, sự khác biệt về kích thướccũng như hình dạng cung răng theo giới tính, dân tộc đã và đang được
Trang 29nghiên cứu rộng rãi nhờ tính chất quan trọng của nó trong việc lập kế hoạchđiều trị chỉnh nha và tạo hình Các tài liệu nghiên cứu được thực hiện theonhiều cách, chủ yếu là quan sát sự tương quan giữa các điểm mốc trên miệng,
đo đạc kích thước cung răng trên mẫu hàm Dưới đây là một số tài liệu nghiêncứu về sự khác biệt về kích thước cung răng qua nhiều yếu tố:
Năm 1998, Chang H P và cộng sự đã nghiên cứu trên mẫu hàm củangười Trung Quốc và đã rút ra rằng kích thước cung răng ở nam lớn hơn nữ,
và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [33]
Năm 1993, Raberin M., Laumon B., Martin J L khoa chỉnh nha củatrường nha Lyon ở Pháp đã nghiên cứu phân tích trên 278 mẫu thạch cao củangười Pháp trưởng thành chưa được can thiệp chỉnh nha Các tác giả đã rút rakết luận rằng không có sự khác biệt về tỷ lệ các dạng cung răng ở nam cũngnhư ở nữ và cung răng ở nam lớn hơn cung răng ở nữ cả về chiều rộng vàchiều dài [16]
Năm 1991 Huang S.T và cộng sự [34] đã nghiên cứu trên mẫu hàm củangười Trung Quốc và đã rút ra kết luận kích thước cung răng ở nam lớn hơn ở
nữ và sựu khác biệt có ý nghĩa thống kê Các tác giả cũng nhận thấy rằngngười Trung Quốc có kích thước cung răng gần với người Nhật hơn là ngườiNam Trung Mỹ
Năm 1993, Raberin M., Laumon B [35], khoa chỉnh nha của trường NhaLyon ở Pháp đã nghiên cứu phân tích trên 278 mẫu thạch cao của người Pháptrưởng thành chưa được can thiệp chỉnh nha Các kích thước cung răng đãđược tính toán Các tác giả cũng đã rút ra kết luận rằng không có sự khác biệt
về tỷ lệ các dạng cung răng ở nam cũng như ở nữ và cung răng ở nam lớn hơn
ở nữ cả về chiều rộng lẫn chiều dài
Kích thước cung răng còn khác nhau rõ rệt giữa các dạng cung răng hìnhvuông, hình oval và hình tam giác Kunihiko Nojima, Richard P [36] vớinghiên cứu so sánh mẫu hàm dưới của người Nhật và người Caucasian đã rút
ra tỉ lệ các dạng cung răng và so sánh kích thước từng dạng cung răng giữa 2
Trang 30nhóm Các tác giả đã rút ra kết luận từ các số liệu thu được là chiều rộng ởvùng răng nanh và vung răng hàm ở cung răng dạng hình vuông là lớn nhấtrồi đến dạng cung răng hình oval, hẹp nhất là cung răng dạng thuôn dài.Ngược lại chiều dài của cung răng dạng thuôn dài là lớn nhất, rồi đến dạngcung răng hình oval, ngắn nhất là dạng cung răng hình vuông.
Theo nghiên cứu của Al-Khatib A.R., Rajion Z.A, Masudi S.M và cộng
sự (2011) [37] khi nghiên cứu trên 252 mẫu hàm của người Malaysia có độtuổi từ 13-30 cũng đã kết luận kích thước ngang cung hàm ở nam lớn hơn nữ.Theo nghiên cứu của Alam M K và cộng sự (2014) [38] khi nghiên cứu
996 người từ 2000 người được lấy ngẫu nhiên và đo đạc kiểm tra tại Bệnhviện đại học khoa học Malaysia 996 người này được chia làm 2 nhóm theo 2dân tộc là người Malaysia gốc Trung Quốc và Malaysia bản địa Sau đó tácgiả tiến hành đo đạc các kích thước của từng răng vĩnh viễn ở hàm trên vàhàm dưới, độ rộng liên răng nanh và liên răng hàm lớn thứ nhất, chiều dài sau
ở hàm trên Kết quả thu được thì người Malaysia gốc Trung Quốc có kíchthước các răng rộng hơn người Malaysia bản địa và không có sự khác nhau vềkích thước cung răng giữa 2 dân tộc
Năm 2001, Ibrahimagie và V Jerolimov đã tiến hành nghiên cứu trênngười Zenica, Bosnia và Herzegovina với mục đích là đánh giá lại thuyết vềhình thái học của Leon Williams và tìm ra mức độ tương quan giữa hình dạngkhuôn mặt và hình thể răng cửa [34] Hơn 1000 đối tượng nghiên cứu ở độtuổi 17-24, được đo các kích thước theo chiều ngang của mặt để phân loạihình dạng mặt, đó là chiều rộng giữa 2 xương thái dương (ft-ft), chiều rộnggiữa 2 xương gò má (zy-zy), và chiều rộng hàm dưới (go-go) Các kích thướctheo chiều ngang của 2 răng cửa giữa hàm trên cũng được đo là chiều rộngvùng cổ răng (CW), chiều rộng thân răng giữa 2 điểm tiếp xúc với răng bêncạnh (CPW), và chiều rộng ở vùng rìa cắn (IW), kết quả thu được như sau:
Trang 3183% khuôn mặt có hình oval, 10% khuôn mặt có hình vuông, và 7% khuônmặt có hình tam giác Về hình dạng răng cửa: 53% dạng hình vuông, 30%dạng hình oval, 16% dạng hình tam giác Mức độ tương quan giữa hình dạngkhuôn mặt và hình thể răng cửa giữa hàm trên chỉ là 30% Kết quả này khôngủng hộ cho thuyết hình thái của Williams
1.4.2 Nghiên cứu trong nước
Năm 1993, Hoàng Tử Hùng đã đo kích thước chiều dài, chiều rộngcung răng trên mẫu hàm người Việt trưởng thành và đã tính được phươngtrình hồi quy có dạng ê líp cho cung hàm trên [1]; cung răng hàm dưới có thể
là ê líp với các phương trình hồi quy tương ứng Tác giả cũng là người cónhiều công trình nghiên cứu về đầu mặt và cung răng ở người Việt trongnhiều năm qua, ngoài những đóng góp về giải phẫu học còn phải kể đến vấn
đề nhân chủng răng
Hoàng Tử Hùng và Huỳnh Thị Kim Khang [15] nghiên cứu kích thướcchiều dài và chiều rộng cung răng hàm trên ở người Việt trưởng thành Kếtquả cho thấy cung răng hàm trên người Việt có dạng ê líp, cung răng ở namlớn hơn ở nữ có ý nghĩa thống kê
Năm 1996 Hoàng Tử Hùng và Trần Mỹ Thúy [40] nghiên cứu cungxương ổ răng của người Việt, đo trên sọ, trên xương hàm khô với mục tiêunghiên cứu xác định các kích thước trung bình của cung xương ổ răng, trìnhbày các phương trình hồi quy lý thuyết và vẽ các đường hồi quy đó Tác giả
đã kết luận: kích thước cung xương ổ răng ở nam lớn hơn ở nữ nhưng sự khácbiệt không có ý nghĩa thống kê Đoạn có răng cung xương ổ răng bẹt hơn,đoạn từ răng nanh đến răng cối nhỏ có cung xương ổ răng trên trùm cungxương ổ răng dưới, nhưng đoạn răng hàm lớn thứ 2 và thứ 3 thì cung xương ổdưới trùm ra ngoài cung xương ổ răng trên Để đạt được sự ăn khớp bình
Trang 32thường thì trục răng cối lớn dưới nghiêng trong nhiều hơn và răng hàm lớntrên nghiêng ngoài nhiều hơn
Phạm Thị Hương Loan và Hoàng Tử Hùng [41] nghiên cứu so sánh đặcđiểm cung răng người Việt với người Ấn Độ và người Trung Quốc đã đưa ranhận xét: cung răng người Việt rộng hơn đáng kể so với người Ấn Độ nhưnglai gần với kích thước của người Trung Quốc Cung răng người Việt có loạihàm rộng chiếm đa số và phần trước cung răng lớn hơn người Trung Quốcnên hàm người Việt hô nhẹ hơn hàm người Trung Quốc ở vùng răng trước.Năm 2004 Đặng Thị Vỹ [42] nghiên cứu trên 100 sinh viên Trường ĐạiHọc Y Khoa Hà Nội cũng đã đưa ra được các kết luận sau Về tỉ lệ các dạngcung răng thì cung răng hình vuông chiếm nhiều nhất (58%), cung răng hìnhoval xếp thứ hai (34%) và ít nhất là cung răng hình tam giác (8%) Sự phân bốcác dạng cung răng ở cả hai giới là như nhau Về kích thước cung răng thìkích thước cung răng ở nam lớn hơn ở nữ và có sự khác biệt về kích thướccung răng giữa các dạng cung răng khác nhau Về chiều rộng thì lớn nhất ởdạng cung răng hình vuông và nhỏ nhất ở dạng cung răng hình tam giác Vớichiều dài thì ngược lại, chiều dài của dạng cung răng hình tam giác là lớnnhất, còn dạng cung răng hình vuông là ngắn nhất Tác giả còn đưa ra sự phân
bố các dạng cung răng theo phân loại của Angle Ở khớp cắn bình thường đa
số cung răng có hình oval Cung răng hình tam giác chiếm đa số ở khớp cắnAngle II, còn ở dạng khớp cắn Angle III đa số các trường hợp cung răng códạng hình vuông
Năm 2012, Nguyễn Thị Thu Phương và Võ Trương Như Ngọc nghiêncứu trên [19] trên một nhóm sinh viên đại học Y Hải Phòng đã kết luận kíchthước trung bình của cung răng trên ở các dạng cung răng khác nhau là rấtkhác nhau, chiều rộng cung răng phía trước và chiều rộng cung răng phíasau lớn nhất ở dạng cung răng hình vuông và nhỏ nhất ở dạng cung răng
Trang 33hình tam giác Với chiều dài thì ngược lại, chiều dài phía trước cung răngcủa dạng cung răng hình tam giác là lớn nhất, còn dạng cung răng hìnhvuông là ngắn nhất.
Năm 2013, theo nghiên cứu của Lê Hồ Phương Trang, Trần Ngọc KhánhVân, Lê Võ Yến Nhi đã kết luận rằng kích thước ngang cung hàm ở nam lớnhơn nữ [22]
1.5 Người dân tộc Kinh và Tày
Việt Nam hiện có 63 tỉnh và thành phố Dân tộc Tày là một trong 54 dântộc có mặt, sinh sống trên đất nước Việt Nam từ hơn 1000 năm trước trong cáccuộc thiên di trong lịch sử Dân tộc Tày ở Việt Nam có số dân đứng thứ hai cảnước sau người Kinh Họ chủ yếu sống ở vùng núi phía Đông Bắc Trải qua hàngtrăm năm sinh sống, lao động và sản xuất, người dân tộc Tày đã tạo nên những nétvăn hóa đặc sắc và độc đáo cho dân tộc và vùng miền [43]
Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Tày ở ViệtNam có dân số gần 3.550.000 người, có mặt trên tất cả 63 tỉnh thành phố,Lạng Sơn là tỉnh có nhiều người dân tộc Tày đang sinh sống nhất khoảng260.000 người trong tổng số hơn 700.000 dân [43]
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là người Kinh và người Tày độ tuổi từ 18-25 sinh sống tạithành phố Hà Nội và tỉnh Lạng sơn
* Tiêu chuẩn chọn: Có đầy đủ các tiêu chí sau:
+ Đối tượng là người dân tộc Kinh: có bố mẹ, ông bà có quốc tịch ViệtNam, dân tộc Kinh
+ Đối tượng là người dân tộc Tày: có bố mẹ, ông bà có quốc tịch ViệtNam, dân tộc Tày
+ Có đủ 28 răng vĩnh viễn (không kể răng hàm lớn thứ ba)
+ Không có các phục hình, tổn thương tổ chức cứng làm thay đổi chiềugần xa của thân răng Nếu các phục hình như miếng trám hoặc inlay chỉ ở trênmặt nhai hoặc cổ răng thì vẫn được chấp nhận
+ Chưa điều trị nắn chỉnh răng và các phẫu thuật tạo hình khác
+ Không có dị dạng hàm mặt, không có tiền sử chấn thương hay phẫuthuật vùng hàm mặt
+ Tự nguyện hợp tác tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ: Khi có một trong các tiêu chí sau
+ Có bố hoặc mẹ là người nước ngoài
+ Mất răng hàm lớn thứ nhất, răng hàm lớn thứ hai (một bên hoặc hai bên).+ Có phục hình, hoặc tổn thương tổ chức cứng làm thay đổi chiều gần xacủa răng Các miếng trám hoặc là các inlay, onlay có liên quan đến mặt gầnhay xa đều loại bỏ
+ Bị dị dạng hàm mặt
+ Đã điều trị nắn chỉnh răng, hoặc phẫu thuật vùng hàm mặt
+ Không hợp tác nghiên cứu
Trang 352.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng nghiên cứu mô tả cắt ngang
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
(1) Sai số loại I (α): Chọn α = 0,05, tương ứng có ít hơn 5% cơ hội rút ra): Chọn α): Chọn α = 0,05, tương ứng có ít hơn 5% cơ hội rút ra = 0,05, tương ứng có ít hơn 5% cơ hội rút ramột kết luận dương tính giả
(2) Sai số loại II (β) hoặc lực mẫu (power là 1- β): Chọn β = 0,1 (hoặc) hoặc lực mẫu (power là 1- β) hoặc lực mẫu (power là 1- β): Chọn β = 0,1 (hoặc): Chọn β) hoặc lực mẫu (power là 1- β): Chọn β = 0,1 (hoặc = 0,1 (hoặclực mẫu=0,9), tương ứng có 90% cơ hội tránh được một kết luận âm tính giả
: độ lệch chuẩn Dựa vào nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương(2012) [19] khi đo kích thước chiều rộng sau hàm trên cho cả hai giới là 52,7±4,4 (mm) Chọn = 4,4 (mm)
Trang 36: là sai số mong muốn (cùng đơn vị với ) Do vậy, để đảm bảo kết quảnghiên cứu có độ chính xác tối đa, lựa chọn sai số mong muốn là 0,25 mm Thay vào công thức ta có: n = (1,96 + 1,28)2 * 4,4 2 : 0,252 = 3252 (người).Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu cần điều tra để đánh giá đặc điểm hình thái cungrăng của người Kinh và người Tày trưởng thành từ 18-25 tuổi là: 3252x2 =
4704 người (3252 người Kinh và 3252 người Tày)
Thực tế trong quá trình nghiên cứu khi triển khai cùng với đề tài cấp
Nhà nước “Nghiên cứu nhân trắc đầu mặt của người Việt Nam ứng dụng
trong y học” chúng tôi đã nghiên cứu trên 3285 đối tượng người Tày và 4914
đối tượng người Kinh
Chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích theo tiêu chuẩn đặt ra Mẫuđược chọn từ các Trường cao đẳng, đại học, các công ty, doanh nghiệp, trungtâm, trường học nghề
Bước 1: Lựa chọn chủ đích các Trường cao đẳng, đại học, các công ty,
doanh nghiệp, trung tâm, trường học nghề tại tỉnh Lạng Sơn là vùng có dân tộcTày sinh sống với mật độ cao và thành phố Hà Nội là nơi có dân tộc Kinh sinhsống chủ yếu vào nghiên cứu
- Điều tra dân tộc Kinh: Ở Hà Nội, chọn các trường: Cao đẳng Y tế HàNội, Học viện Y học cổ truyền Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế kỹ thuậtCông Nghiệp, Học viện Nông Nghiệp và Học viện Quân Y
- Điều tra dân tộc Tày: Tại Lạng Sơn, chọn các trường: Cao đẳng nghềLạng Sơn, Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn, Cao Đẳng Y tế Lạng Sơn, Trung tâmgiáo dục thường xuyên, Trường dân tộc nội trú, THPT Cao Lộc, Chi Lăng,Chu Văn An, Đồng Đăng, Lộc Bình, Văn Quan và Việt Bắc
Bước 2: Chọn đối tượng nghiên cứu Lên danh sách toàn bộ người
Kinh ở Hà Nội và người Tày ở Lạng Sơn trong độ tuổi 18-25 đủ tiêu chuẩnnghiên cứu trong mỗi các Trường cao đẳng, đại học, các công ty, doanh
Trang 37nghiệp, trung tâm, trường học nghề Lập khung mẫu Chọn cỡ mẫu trong mỗiTrường cao đẳng, đại học, các công ty, doanh nghiệp, trung tâm, trường họcnghề theo kích thước quần thể Trường cao đẳng, đại học, các công ty, doanhnghiệp, trung tâm, trường học nghề đông người thì chọn nhiều và ngược lại
2.3.3 Vật liệu và dụng cụ thu thập dữ liệu
Hình 2.1 Bộ khay khám răng
Hình 2.2 Bộ dụng cụ lấy dấu, đổ mẫu
- Bộ khay khám: gương, gắp, thám châm
Trang 38- Bát và bay trộn chất lấy dấu, bát và bay trộn thạch cao, thìa lấy dấu.
- Vật liệu lấy dấu: Alginate
- Đổ mẫu bằng thạch cao siêu cứng
- Thước trượt điện tử
- Thước OrthoForm
- Bút chì, thước dẹt
2.4 Các bước nghiên cứu
- Bước 1: Lập danh sách người dân tham gia khám sàng lọc cho nghiên cứu
- Bước 2: Khám sàng lọc và lập danh sách đối tượng nghiên cứu
- Bước 3: Tiến hành lấy mẫu hàm và đổ mẫu bằng thạch cao
- Bước 4: Đo đạc các chỉ số trên mẫu hàm thạch cao
- Bước 5: Nhập và xử lý số liệu
- Bước 6: Viết luận văn
2.4.1 Lập danh sách đối tượng tham gia khám sàng lọc cho nghiên cứu 2.4.2 Khám sàng lọc và lập danh sách đối tượng nghiên cứu
Khám sàng lọc, chọn những đối tượng đủ tiêu chuẩn, lên danh sách.+ Khám ngoài miệng: Sự cân đối, hài hoà của khuôn mặt
+ Đổ mẫu bằng thạch cao đá, đổ đế bằng thạch cao thường ngay sau khi lấy dấu.+ Gỡ mẫu khi đã đông cứng
Trang 39+ Mài mẫu theo tiêu chuẩn của chỉnh hình răng mặt:
Đế dày từ 3-4 cm, mặt phẳng đế song song với mặt phẳng cắn.
Mặt sau vuông góc với đường giữa sống hàm.
Mặt bên tạo một góc 65º so với mặt sau và cách đường viền lợi 2-3mm Hàm trên mặt trước mài thành 2 mặt tạo với mặt bên một góc 30º Hàm dưới mặt trước mài tròn từ răng 3 bên này đến răng 3 bên kia.
Hình 2.3 Mẫu hàm tiêu chuẩn
* Yêu cầu mẫu:
+ Mẫu không bị co (Hai hàm không khớp với nhau)
+ Đủ đến răng hàm lớn thứ hai của mỗi hàm
+ Mẫu không bị bọng, không vỡ, không gãy răng
* Bảo quản mẫu:
+ Đánh số thứ tự các mẫu theo cặp, mỗi cặp mẫu được bảo quản trongmột hộp bìa cứng có ngăn để cho mẫu hàm trên và hàm dưới
+ Trên mẫu đặt miếng xốp để mẫu không bị hư hại trong quá trình vận chuyển
2.4.4 Đo đạc và ghi nhận các chỉ số
2.4.4.1 Xác định hình dạng cung răng
Chúng tôi dựa vào phương pháp của Felton và Nojima [36],[44]
Sử dụng 3 loại thước OrthoForm của 3M.
Trên mỗi thước có ghi tên hình dáng cung răng mà thước đó xác định
Có ba đường trên thước, đường thẳng chính giữa để xác định đường giữacung răng, hai đường cong song song, đường phía ngoài để xác định hình
Trang 40dáng cung răng hàm trên, đường phía trong dùng xác định hình dáng cungrăng hàm dưới.
Cách đo: Đặt mẫu hàm lên một mặt phẳng, đặt thước lên trên mẫu sao
cho thước nằm trên mặt phẳng cắn của răng, nếu hình dạng cung răng trùnghoặc song song với hình dạng đường cong trên thước nào thì cung răng códạng hình của đường cong vẽ trên thước đó