1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu đặc điểm DỊCH tễ học lâm SÀNG của HO gà ở TRẺ dưới 3 THÁNG TUỔI

91 228 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 4,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo số liệu báo cáo năm 2014 của Trungtâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kì CDC có 32971 ca bệnh ho gà được báo cáo, tăng hơn 15% so với năm 2013, xu hướng mắc gia tăng ởnhóm t

Trang 1

PHAN THỊ THÚY NGÂN

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học lâm sàng

của ho Gà ở trẻ dới 3 tháng tuổi

Chuyờn ngành: Nhi khoa

Trang 2

PHAN THỊ THÚY NGÂN

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học lâm sàng

của ho Gà ở trẻ dới 3 tháng tuổi

Chuyờn ngành: Nhi khoa

Trang 3

anh chị bác sỹ tại các bệnh viện, những bệnh nhân trong quá trình học và làmviệc tại bệnh viện là những người thầy đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và giúp

đỡ tôi thực hiện nghiên cứu và số liệu trong suốt thời gian học tập và nghiêncứu tại Trường Đại học Y Hà Nội

Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến

GS TS Phạm Nhật An – giảng viên Bộ môn Nhi trường Đại học Y Hà Nội làngười thầy đã nhiệt tình, tận tâm giảng dạy, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệmchuyên môn, lòng yêu nghề, động viên và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trìnhthực hiện và hoàn thiện luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩtrong hội đồng thông qua đề cương và hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đãcho tôi nhiều chỉ dẫn quý báu để đề tài đi tới đích

Tôi xin chân thành cảm ơn, Ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội, Bộmôn Nhi trường Đại học Y Hà Nội, Ban giám đốc Bệnh viện Nhi TrungƯơng, Khoa Truyền Nhiễm bệnh viện Nhi Trung ương đã quan tâm giúp đỡ

và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, học tập tại nhàtrường và bệnh viện Cảm ơn các anh chị, bạn bè đồng nghiệp đã đóng gópnhiều ý kiến, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thànhluận văn này

Cuối cùng tôi xin gửi tặng luận văn này tới bố mẹ tôi và người bạn đãluôn yêu thương, động viên, giúp đỡ, hy sinh để chấp cánh cho ước mơ củatôi, là động lực cho sự phấn đấu nỗ lực của tôi ngày hôm nay

Hà Nội, ngày 9 tháng 9 năm 2018

Tác giả

Phan Thị Thúy Ngân

Trang 4

Tôi là Phan Thị Thúy Ngân, học viên BSNT khóa 41, chuyên ngànhNhi khoa - Trường Đại học Y Hà Nội, xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn củaGS.TS Phạm Nhật An

2 Công trình này không trùng lặp với bất cứ nghiên cứu nào đã đượccông bố ở Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin nghiên cứu là hoàn toàn trung thực, chínhxác và khách quan, được sự xác nhận của cơ sở nghiên cứu

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những cam kết này

Hà Nội, ngày 9 tháng 9 năm 2018

Tác giả luận văn

Phan Thị Thúy Ngân

Trang 5

CDC Centers for disease control and prevention

Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa KìDPT Diphtheria - Pertussis - Tetanus

Bạch hầu - ho gà - uốn vánDtaP/Tdap Diphtheria - Tetanus - acellular Pertussis

Bạch hầu - uốn ván - ho gà vô bàoELISA Enzym-Linked Immunisorbent-Assay

Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết EnzymeFHA filamentous hemagglutinin

Sợi ngưng kết hồng cầuPCR Polymerase Chain Reaction

Phản ứng khuếch đại gen

PT Pertussis toxin

Độc tố ho gàTCT Tracheal cytotoxin

Chất gây độc tế bào khí quảnWHO World health organization

Tổ chức y tế thế giới

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ho gà là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp gây ra bởi vi khuẩnBordetella pertussis Mặc dù đã có vắc xin tiêm phòng nhưng ho gà vẫn là mộtcăn nguyên gây nhiễm trùng đường hô hấp thường gặp ở trẻ nhỏ, chưa đượckiểm soát hoàn toàn gây nhiều biến chứng, thậm chí tử vong ở trẻ nhỏ [1] [2].Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2008 có khoảng16.000.000 ca mắc ho gà trên toàn thế giới, 95% số ca mắc xảy ra ở các nướcđang phát triển và khoảng 195.000 trẻ tử vong do mắc ho gà [3] Năm 2013theo ước tính của nghiên cứu đo lường gánh nặng bệnh tật toàn cầu, tỷ lệ tửvong ở trẻ nhỏ dưới một tuổi do ho gà xấp xỉ 400/1000000 trẻ đẻ sống - mộtcon số thực sự đáng báo động [4] Theo số liệu báo cáo năm 2014 của Trungtâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kì (CDC) có 32971 ca bệnh ho

gà được báo cáo, tăng hơn 15% so với năm 2013, xu hướng mắc gia tăng ởnhóm trẻ vị thành niên và trẻ nhỏ dưới 3 tháng tuổi, phần lớn số ca tử vongxảy ra ở trẻ nhỏ dưới 3 tháng tuổi – nhóm trẻ chưa được tiêm phòng vắc xinhoặc chưa tiêm đủ mũi vắc xin có nguy cơ cao mắc biến chứng nặng [2] [5].Tại Việt Nam, chương trình tiêm chủng mở rộng bắt đầu thực hiện tiêmphòng ba liều vắc xin Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván (DPT) cho trẻ nhỏ dưới 1tuổi từ năm 1984 Trải qua hơn 30 năm tỷ lệ bao phủ vắc xin DPT đã đạt trên90% Liên tục từ năm 2006 - 2012 không có ca nào tử vong do mắc ho gà [6].Tuy nhiên theo thống kê của Cục Y tế dự phòng Việt Nam trong ba tháng đầunăm 2017 cả nước ghi nhận có 83 trường hợp mắc ho gà, 5 ca tử vong tại cáctỉnh phía Bắc, trong đó Hà Nội có số ca mắc cao nhất 80% số ca mắc là trẻnhỏ dưới 3 tháng tuổi [7] Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu vềđặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của ho gà ở trẻ dưới 3 tháng tuổi nhằm mụcđích chẩn đoán và điều trị sớm, giảm thiểu tỉ lệ biến chứng Giả thuyết được

Trang 11

nêu ra là phải chăng do mẹ không có miễn dịch với ho gà nên trẻ không cókhả năng nhận được kháng thể bảo vệ truyền qua rau thai? Nhiều nghiêncứu chỉ ra nguồn chủ yếu lây nhiễm ho gà cho trẻ là các thành viên tronggia đình thậm chí từ những người không có triệu chứng ho, trong đó mẹ lànguồn lây chính: Bisgard (35%) [8], de Greeff (67%) [9] Vì vậy cần địnhlượng nồng độ kháng thể kháng ho gà trong máu mẹ ở trẻ nhỏ dưới 3 thángtuổi để xác định chính xác nồng độ kháng thể ho gà trong máu mẹ, tỷ lệ bà

mẹ nhiễm vi khuẩn ho gà, từ đó xác định chiến lược điều trị dự phòng hiệuquả cho trẻ nhỏ

Đứng trước tình hình thực tế nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:

“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học lâm sàng của ho gà ở trẻ dưới 3 tháng tuổi” với 2 mục tiêu sau:

1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học lâm sàng của ho gà ở trẻ dưới 3 tháng tuổi

tại bệnh viện Nhi Trung ương.

2 Nhận xét mối liên quan giữa kháng thể kháng ho gà trong huyết thanh

mẹ với mắc ho gà ở trẻ dưới 3 tháng tuổi.

Trang 12

1923, Bergey và cộng sự đặt tên cho vi khuẩn ho gà là Haemophiluspertussis (Haemophilus: ưa máu, per: trầm trọng, tusiss: ho) do vi khuẩnnày cần môi trường máu trong phòng thí nghiệm mới mọc lên được Tuynhiên không giống với Haemophilus, Bordetella pertussis không cần yếu tốtăng trưởng X (haematin) và V (niconitamide adenine dinucleotides) Năm

1952, Moreno Lopez chuyển chúng sang giống Bordetella do Bordet lầnđầu tiên phân lập được

Giống Bordetella gồm 7 chủng: B pertussis, B parapertussis,

B bronchiseptica (3 tác nhân gây bệnh quan trọng ở người), B.avium,B.hinzii, B.holmessii và B trematum Trong đó B pertussis là nguyên nhânquan trọng nhất gây bệnh ho gà ở người [10]

Trang 13

Hình 1.1: Hình ảnh vi khuẩn ho gà nhuộm màu trên kính hiển vi điện tử 1.1.3 Nuôi cấy

B pertussis là 1 vi khuẩn khó nuôi cấy Khi mới phân lập, chúng khôngmọc trên môi trường dinh dưỡng thông thường Chúng mọc chậm trên môitrường Bordet-Gengou (môi trường không có pepton, có khoai tây, glycerol

và máu) và hiếu khí tuyệt đối Nhiệt độ thích hợp nhất là 37 độ C Sau 3-6ngày, B pertussis mọc thành những khuẩn lạc nhỏ, hình vòm, mặt nhẵn bóng

và sáng như một giọt thủy ngân [11]

Trang 14

gen độc lực và có một kháng nguyên O chung nhưng chỉ B pertussis biểuhiện một protein độc lực mạnh - độc tố ho gà (PT: pertussis toxin).

Hình 1.2: Sơ đồ cấu trúc vi khuẩn ho gà [12]

Bordetella pertussis khi hít vào đường hô hấp sẽ bám vào biểu mô củađường hô hấp Sự gắn kết giữa vi khuẩn ho gà với tế bào nhung mao đường

hô hấp nhờ các sợi ngưng kết hồng cầu (FHA), một số sợi ngưng kết khángnguyên agglutinogens (FIM2, FIM3) và độc tố ho gà (PT) Vi khuẩn ho gà tồntại được ở biểu mô đường hô hấp do chất gây độc tế bào khí quản (TCTtracheal cytotoxin) làm liệt các tế bào lông chuyển và suy giảm chức năng tếbào bạch cầu do độc tố ho gà PT cùng với độc tố adenylate cyclase

Trang 15

vị trí nhiễm trùng Ngoài ra, PT là một độc tố quan trọng liên quan đến tửvong ở trẻ nhỏ do gây tăng bạch cầu lympho trong bệnh ho gà [12]

Trang 16

Bảng 1.1: Vai trò các thành phần vi khuẩn Bordetella pertussis

trong bệnh sinh và miễn dịch [10]

Kích thích tăng lympho bào (lymphocytosis promoting factor – LPF)

Tăng bài tiết insulin Nguyên nhân gây phân chia tế bào Lympho T Kích thích sản xuất interleukin-4 và IgE

Ức chế chức năng thực bào của bạch cầu Gây tổn thương tế bào trứng ở chuột đồng Trung Quốc

Bào tương Ức chế chức năng thực bào của bạch cầu

Gây chết theo chương trình (apoptosis) trong các đại thực bào; xúc tác quá trình tạo ra AMPc Gây tan máu trong ống nghiệm

Tracheal cytotoxin

(TCT)

Ngoài tế bào Giống Peptidoglycan

Kích thích tổng hợp interleukin-1 và nitric oxide Gây ứ máu tại các lông mao, tổn thương tế bào biểu mô tiết nhày của khí quản chuột, hoại

tử khí quản chuột.

Trang 17

1.2 Dịch tễ học

1.2.1 Tình hình bệnh ho gà

Ho gà là một nguyên nhân gây nhiễm khuẩn đường hô hấp quan trọng ởtrẻ nhỏ trên toàn thế giới thậm chí ở cả những quốc gia có tỷ lệ bao phủ vắcxin cao (biểu đồ 1.1) Ước tính của WHO năm 2008 có khoảng 16 triệu camắc ho gà trên toàn thế giới, 95% thuộc các quốc gia đang phát triển vàkhoảng 195000 ca tử vong [3] Gần đây, theo ước tính của nghiên cứu đo lườnggánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2013, tỷ lệ tử vong ở trẻ nhỏ dưới một tuổi do

Tỷ lệ tiêm chủng

Tỷ lệ bao phủ

Số ca

mắc

Trang 18

trước khi có vắc xin cũng cung cấp các bằng chứng gián tiếp cho thấy cókháng thể chống ho gà từ mẹ truyền sang có thể bảo vệ con chống lại bệnh ho

gà trong thời gian ngắn, bằng chứng là số ca tử vong do ho gà ở trẻ sơ sinhchỉ bằng 1/3 số ca tử vong ở trẻ 1 tháng - 3 tháng tuổi do ho gà Sau khi tiếnhành tiêm vắc xin ho gà số ca tử vong do ho gà ở nhóm tuổi trên 3 tháng giảm

rõ rệt, tuy nhiên tỷ lệ nhóm trẻ dưới 3 tháng tuổi vẫn chiếm tỷ lệ tử vong caonhất (bảng 1.2) Nhìn chung trong cả 2 thời kì, tỷ lệ tử vong do ho gà chủ yếugặp ở nhóm trẻ dưới 3 tháng tuổi Trong thời kì chưa có vắc xin, khoảng 30-50% bà mẹ mang thai có kháng thể kháng ho gà trong máu nhưng với nồng

độ antiPT IgG rất thấp (<10 IU/ml), có thể đây là lí do tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ

tử vong do ho gà ở nhóm trẻ dưới 1 tuổi rất cao [13] [14]

Bảng 1.2: Tử vong do ho gà ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi tại Mỹ trong 2 giai đoạn

có tính chu kì khoảng 3-5 năm Chương trình tiêm chủng mở rộng bắt đầu

Trang 19

thực hiện tiêm phòng ba liều vắc xin Bạch hầu –Ho gà – Uốn ván (DPT) chotrẻ nhỏ dưới 1 tuổi từ năm 1984 khi tỷ lệ mắc ho gà là 4,1/100000 dân Từ đóđến nay đã trải qua hơn 30 năm tỷ lệ bao phủ vắc xin DPT đã đạt trên 90%, và

từ năm 2011 Việt Nam đã thực hiện theo khuyến cáo của WHO triển khaitiêm nhắc lại mũi DPT cho trẻ 18 tháng trên phạm vi toàn quốc thì số ca mắc

và tử vong trên toàn quốc liên tục giảm từ năm 1984 Trong 5 năm 2012) nước ta đã khống chế được tỷ lệ mắc ho gà xuống còn dưới0,32/100000 dân và đặc biệt từ năm 2009 tỷ lệ ho gà giảm xuống còn0,1/100000 với 81 ca mắc tản phát, giảm 28,6% so với năm 2008 (biểu đồ1.2) Liên tục từ năm 2006 -2012 không có ca nào tử vong do mắc ho gà (biểu

(2007-đồ 1.3) [6] Đó là những thành tựu đáng kể của việc kiểm soát dịch bệnh ho

gà thông qua chương trình tiêm chủng mở rộng của nước ta

Biểu đồ 1.2: Tỷ lệ DPT3 và tỷ lệ mắc ho gà tại Việt Nam 1984-2012 [6]

Biểu đồ 1.3: Số ca mắc ho gà tại Việt Nam giai đoạn 2005-2012 [6]

Tuy nhiên theo thống kê của Cục Y tế dự phòng Việt Nam 3 tháng đầunăm 2017 cả nước ghi nhận có 83 trường hợp mắc ho gà, 5 ca tử vong tại các

Trang 20

tỉnh phía Bắc, trong đó Hà Nội có số ca mắc cao nhất 80% số ca mắc là trẻnhỏ dưới 3 tháng tuổi và phần lớn rơi vào nhóm trẻ dưới 2 tháng tuổi chưatiêm phòng ho gà, do đó kháng thể kháng ho gà của trẻ hoàn toàn phụ thuộcvào lượng kháng thể mẹ truyền cho trong quá trình mang thai [7].

1.2.2 Người cảm thụ

Từ trước đến nay, ho gà được coi là căn bệnh của trẻ em Trước khi sửdụng vắc xin 95% các trường hợp ho gà ghi nhận được ở trẻ em dưới 10 tuổi,chỉ khoảng 7,5% xảy ra ở trẻ <1 tuổi [15]

Tuy nhiên theo thống kê của CDC trong giai đoạn 1990-2015 tỷ lệ mắc

ho gà ở nhóm trẻ dưới 1 tuổi ngày càng gia tăng (biểu đồ 1.4) Hiện tại tỷ lệmắc bệnh ho gà của nhóm trẻ nhỏ dưới 1 tuổi vượt quá tỉ lệ mắc của tất cả cácnhóm tuổi khác Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi có nguy cơ mắc bệnh nặng và tử vongcao nhất Cũng theo CDC phần lớn các trưởng hợp tử vong xảy ra ở trẻ nhỏchưa tiêm phòng vắc xin hoặc chưa được tiêm chủng đầy đủ [5]

Tỷ

lệ

mắc

Trang 21

Biểu đồ 1.4: Tỷ lệ các ca ho gà được báo cáo theo lứa tuổi tại Mỹ

từ năm 1990-2015 [5]

1.2.3 Nguồn lây truyền

Trong 1 nghiên cứu tại 4 quốc gia tham gia chương trình nghiên cứu tăngcường giám sát ho gà từ năm 1999-2002 báo cáo có 774 trẻ nhỏ dưới 1 tuổimắc ho gà Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn được 616/774 (80%) bố mẹ hoặcngười chăm sóc trẻ để tìm ra nguồn lây nhiễm Trong đó có 264/616 (43%) caxác định được nguồn lây nhiễm hoặc nghi ngờ Các thành viên trong gia đìnhhoặc tiếp xúc gần với trẻ là nguồn lây nhiễm nghi ngờ trong 159/212 (75%)

số ca ho gà từ 0-3 tháng tuổi và 38/52 (73%) số ca ho gà từ 4-11 tháng tuổi

Mẹ là nguồn lây nhiễm trong 75/212 (35%) số ca ho gà ở trẻ 0-3 tháng tuổi và9/52 (17%) số ca 4-11 tháng tuổi Trong 264 ca xác định được nguồn lâynhiễm, bố chiếm 15%, anh chị em ruột chiếm 20%, bạn bè – hàng xóm chiếm24%, người tiếp xúc với trẻ trong ngày chiếm 2% Phân nhóm độ tuổi củanguồn lây nhiễm cho thấy 17% tuổi 0-4 tuổi, 7% 5-9 tuổi, 20% 10-19 tuổi,21% 20-29 tuổi và 35% trên 30 tuổi [8]

Qua đó ta có thể thấy để tìm được nguồn lây nhiễm ho gà ở trẻ nhỏ rấtkhó, chỉ khoảng 40% số ca tìm được nguồn lây nhiễm Những ca không xácđịnh được nguồn lây nhiễm có thể do phơi nhiễm với người ho gà nhẹ hoặckhông biết mắc ho gà với các cơn ho rất nhẹ, thậm chí không có triệu chứng

ho là thách thức chẩn đoán cho nhân viên y tế vì triệu chứng không điểnhình Tuy nhiên vì có đến 75% số ca ho gà dưới 3 tháng tuổi tìm được nguồnlây là các thành viên trong gia đình nên đứng trước 1 đứa trẻ có triệu chứngnghi ngờ ho gà ta cần khai thác tiền sử ho của các thành viên trong gia đình,tiến hành chẩn đoán và điều trị dự phòng cho những người tiếp xúc gần vớibệnh nhân

Trang 22

1.2.4 Đường lây truyền

Ho gà là một bệnh rất dễ lây từ người sang người Bệnh lây qua đườngtiếp xúc bằng các chất tiết đường hô hấp và lây qua đường hô hấp ở mộtkhoảng cách gần tỷ lệ lây nhiễm có thể tới 100% Y văn không ghi nhậnnhững trường hợp người mang vi khuẩn ho gà mạn tính Do đó sau khi tiếpxúc với nguồn phơi nhiễm như trong các đồ dùng gia đình, vật dụng ở nơichăm sóc trẻ tỷ lệ nhiễm ho gà xác định trên cận lâm sàng hoặc có biểu hiệnbệnh nhẹ lên tới 50% ở những người có miễn dịch đầy đủ hoặc có miễn dịch

tự nhiên [16]

1.3 Cơ chế sinh bệnh

B pertussis xâm nhập vào biểu mô đường hô hấp của người, chúng

bám vào các tế bào lông chuyển bằng sợi ngưng kết hồng cầu, FIM2, FIM 3

và pertactin nhưng không xâm nhập vào máu Thương tổn xảy ra chủ yếu ởphế quản và các tiểu phế quản Tại chỗ bám, chúng tiết ra độc tố khí quản,adenylate cyclase gây phá hủy hệ thống nhung mao ở lớp thượng bì, tế bào bịhoại tử gây viêm cấp tính đường hô hấp, và niêm mạc bị kích thích tăng tiếtnhầy tạo điều kiện cho sự hấp thụ độc tố PT Độc tố PT tác động lên biểu môphế quản làm tăng nhạy cảm với histamin, tăng tế bào lympho, tăng tiếtinsulin Sự giải phóng histamine từ các tổ chức bị tổn thương tác động lênniêm mạc vốn đã nhạy cảm với histamin gây kích thích cực độ đường hô hấp,dẫn đến những cơn ho không tự kìm chế được Đường hô hấp bị tổn thươngdẫn đến bội nhiễm các vi khuẩn khác, có thể gây viêm phổi, làm cho bệnh trởnên trầm trọng hơn

Độc tố ho gà một mặt kích thích trực tiếp vào các thụ cảm thần kinhcủa niêm mạc đường hô hấp gây ra cơn ho điển hình, mặt khác tác động lên

hệ thần kinh trung ương Tại đây, độc tố ảnh hưởng trực tiếp đến trung khu hôhấp ở hành tủy, gây ra những biểu hiện rối loạn hô hấp, nặng có thể ngừng

Trang 23

thở Độc tố còn có thể gây ra những ổ hưng phấn ở trung khu hô hấp, kết quả

là tạo ra những cơn ho phản xạ kéo dài Sự lan truyền của độc tố ở hệ thầnkinh trung ương có thể dẫn tới biểu hiện viêm não Ngoài ra, độc tố ho gà còngây nên hiện tượng tăng lympho bào điển hình ở máu ngoại vi

Những đảo Langerhans của tụy được hoạt hóa làm tăng sản xuấtinsulin, gây ra hạ đường huyết Tổn thương não đôi khi gặp trong ho gànặng, có thể liên quan đến tình trạng hạ đường huyết hơn là tình trạng thiếuoxy não trong cơn ho [16] [17]

1.4 Mối liên quan giữa kháng thể chống ho gà trong huyết thanh mẹ với việc mắc ho gà ở trẻ nhỏ dưới 3 tháng tuổi.

1.4.1 Sự truyền kháng thể chống ho gà từ mẹ sang con trong quá trình mang thai và khả năng bảo vệ.

Mọi kháng thể lớp IgG đều được vận chuyển từ mẹ sang thai nhi quabánh rau chủ yếu trong 3 tháng cuối của thời kì thai nghén một cách tích cực

và hiệu quả Sự truyền kháng thể từ mẹ sang con cung cấp cho trẻ sơ sinh khảnăng bảo vệ khỏi một số bệnh và giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh nếumắc phụ thuộc vào lượng truyền kháng thể của mẹ qua nhau thai

Y văn đã mô tả hiện tượng truyền kháng thể kháng ho gà từ mẹ sangcon nhưng hiệu quả tương đối thấp, chỉ 2-12% cặp mẹ con có nồng độ khángthể trong máu con cao hơn máu mẹ Y văn cũng cho thấy có sự tương quantrực tiếp giữa nồng độ kháng thể ở những cặp mẹ con mà nồng độ kháng thểcủa con rất cao khi được sinh ra từ những bà mẹ đã mắc bệnh ho gà hoặc đãđược tiêm phòng ho gà [18] [19]

Các kháng thể đặc hiệu chống ho gà được truyền thụ động từ mẹ sangcon trong quá trình mang thai Hiệu quả của sự truyền kháng thể này phụ thuộcvào nhiều yếu tố: sự toàn vẹn của nhau thai, nồng độ antiPT IgG máu mẹ, loạivắc xin, thời điểm mẹ tiêm vắc xin và IgG thuộc phân nhóm nào Nồng độ

Trang 24

kháng thể chống ho gà (antiPT IgG) >20 IU/ml được cho là có khả năng bảo vệtrẻ sơ sinh khỏi bệnh ho gà [18] Do đó một nghiên cứu của tác giảSmallenburg và cộng sự trên 2790 trẻ được đánh giá nồng độ antiPT IgG khisinh, 5 ngày, 1 tháng và 2 tháng tuổi nhằm mục đích xác định bao nhiêu trẻ sơsinh được sinh được bảo vệ khỏi bệnh ho gà bởi kháng thể kháng ho gà, mức

độ bảo vệ và thời gian bảo vệ được duy trì trong bao lâu Kết quả cho thấy chỉ3,7% trẻ sinh ra có nồng độ antiPT IgG >30 IU/ml trong máu cuống rốn Điều

đó có nghĩa là >95% trẻ sinh ra có nồng độ antiPT IgG trong máu không đủ bảo

vệ cơ thể khỏi bệnh ho gà Ở nhóm trẻ có nồng độ antiPT IgG >30 IU/ml nàynồng độ antiPT IgG sau 5 ngày, 1 tháng và 2 tháng là 40,6; 20,7 và 16,7IU/ml Sự suy giảm nống độ kháng thể kháng ho gà khi trẻ 2 tháng tuổikhông còn đủ để bảo vệ trẻ Do đó bắt đầu từ 2 tháng trẻ cần được tiêmphòng lần đầu tiên để bảo vệ cơ thể khỏi bệnh ho gà [20]

Một số thử nghiệm lâm sàng cho thấy ở người có nồng độ kháng thể cao

có ít khả năng bị bệnh ho gà hơn Do đó một hướng đi được đặt ra là cung cấpantiPT IgG ở mức độ cao hơn cho trẻ khi sinh bằng cách nâng cao nồng độantiPT IgG trong máu mẹ bằng cách tiêm phòng cho mẹ trong quá trình mangthai Điều này giúp bảo vệ trẻ sơ sinh từ khi sinh ra cho đến khi được tiêmchủng và có khả năng bảo vệ cơ thể hoàn thiện

Năm 2015, tác giả Vũ Ngọc Hà đã tiến hành nghiên cứu trên 107 phụ nữmang thai 20-32 tuần trong đó có 55 phụ nữ được tiêm vắc xin ho gà vô bào

và 52 phụ nữ mang thai không tiêm vắc xin ho gà vô bào, con của 2 nhóm bà

mẹ này đều được tiêm vắc xin ho gà vào cuối tháng 2, 3 và 4 tháng tuổi đãđưa ra kết luận việc tiêm vắc xin ho gà vô bào cho phụ nữ mang thai tạo ranồng độ kháng thể kháng ho gà ở mức cao trong máu mẹ khi sinh và tươngquan thuận với nồng độ kháng thể kháng ho gà trong máu cuống rốn của trẻ.Con của những phụ nữ mang thai được tiêm vắc xin ho gà có nồng độ kháng

Trang 25

thể kháng ho gà trong máu cao hơn rõ rệt khi so sánh với nhóm trẻ là con củanhững phụ nữ mang thai không được tiêm vắc xin ho gà vô bào Tuy nhiênnhóm trẻ này lại có đáp ứng miễn dịch sau tiêm vắc xin ho gà không tốt bằngnhóm trẻ của mẹ không được tiêm vắc xin Tuy nhiên cả 2 nhóm bệnh vàchứng của tác giả khi theo dõi dọc sau khi kết thúc mũi tiêm thứ 3 không cótrẻ nào ghi nhận mắc ho gà, do vậy vẫn chưa thể kết luận được hiệu quả củaviệc tiêm phòng vắc xin ho gà cho mẹ nhằm bảo vệ con chống bệnh ho gàtrước khi được tiêm vắc xin phòng ho gà [21].

1.4.2 Hiệu quả bảo vệ của vắc xin ho gà.

Khả năng bảo vệ của vắc xin ho gà toàn tế bào sau tiêm chủng khôngtồn tại vĩnh viễn mà giảm dần theo thời gian Nghiên cứu của tác giảSchwartz năm 2016 đã chứng minh được khả năng bảo vệ của vắc xin ho gàgiảm khoảng 10% mỗi năm, tỷ lệ ca nhiễm ho gà tăng 2% mỗi năm, cụ thểsau lần tiêm phòng cuối cùng, khả năng bảo vệ của vắc xin ho gà giảm dầnlần lượt là 80% sau 15-364 ngày, 84% sau 1-3 năm, 62% sau 4-7 năm, 41%sau 8 năm hoặc nhiều năm sau tiêm chủng (biểu đồ 1.5) [22]

Trang 26

Biểu đồ 1.5: Hiệu quả bào vệ của vắc xin ho gà và tỷ lệ nhiễm vi khuẩn ho gà

theo năm sau lần cuối cùng tiêm vắc xin ho gà [22]

Tuy nhiên, với những người tiêm vắc xin ho gà vô bào, khả năng bảo

vệ của vắc xin giảm rất nhanh sau mỗi năm tiêm phòng, nguy cơ mắc ho gàcao gấp 2,2 lần so với tiêm phòng vắc xin ho gà toàn tế bào [22] Một nghiêncứu của Klein so sánh hiệu quả tiêm phòng vắc xin ho gà toàn tế bào và vôbào trên đối tượng thanh thiếu niên cũng cho thấy với trẻ tiêm phòng vắc xin

ho gà vô bào có nguy cơ mắc ho gà gấp 5,63 lần so với nhóm trẻ tiêm phòngvắc xin ho gà toàn tế bào lúc nhỏ, việc thay thế giảm số mũi tiêm phòng vắcxin ho gà toàn tế bào bằng vắc xin ho gà vô bào lúc nhỏ làm tăng nguy cơmắc ho gà (p<0,0001), nghiên cứu trong trong vụ dịch ho gà năm 2010-

2011 tại Mỹ này cho thấy trẻ tiêm phòng vắc xin ho gà toàn tế bào lúc nhỏđược bảo vệ khỏi vi khuẩn ho gà tốt hơn so với trẻ tiêm phòng vắc xin ho

gà vô bào [23]

Trang 27

1.5 Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán

1.5.1 Triệu chứng lâm sàng.

Theo y văn cổ điển, ho gà là một bệnh kéo dài được chia làm ba giaiđoạn: khởi phát, toàn phát và hồi phục Mỗi giai đoạn có những biểu hiện đặctrưng của bệnh và có những nguy cơ biến chứng khác nhau, tuy nhiên cònphụ thuộc vào tuổi và tình trạng miễn dịch của từng cá thể

Giai đoạn khởi phát kéo dài khoảng 1-2 tuần sau thời gian ủ bệnh từ 3-12ngày với các triệu chứng không đặc hiệu như nghẹt mũi, chảy nước mũi, sốtnhẹ, hắt hơi, chảy nước mắt Khi các triệu chứng ban đầu giảm đi, bắt đầuxuất hiện ho là dấu hiệu khởi đầu của giai đoạn toàn phát (2-6 tuần) Ho khan,thành cơn, kích thích khó chịu sau tiến triển thành những cơn ho không thểkiểm soát được Trẻ có thể đang rất bình thường khởi phát ho đột ngột ở thìthở ra, giữ cằm, lưỡi nhô ra ngoài, mắt phồng lên và tăng xuất tiết dịch, mặttím cho đến khi ho ngừng Nôn sau ho thường gặp Số lượng và mức độ nặngcủa cơn ho kịch phát kéo dài từ vài ngày đến vài tuần, ở thời kì đỉnh điểmbệnh nhân có thể ho hơn 1 giờ Khi số lượng, mức độ nặng và thời gian cơn

ho giảm đi, bệnh nhân đi vào giai đoạn hồi phục (trên 2 tuần), số lượng, mức

độ nặng, thời gian cơn ho giảm dần rồi hết

Ho gà điển hình thường gặp ở trẻ nhỏ chưa được tiêm phòng Ở trẻ nhỏdưới 3 tháng, giai đoạn khởi phát thường chỉ kéo dài một vài ngày hoặckhông có, giai đoạn kịch phát, lui bệnh kéo dài hơn, với thời gian ho co thắt

có thể kéo dài suốt năm đầu Ở trẻ được tiêm chủng, tất cả các giai đoạn củabệnh đều ngắn hơn Người lớn bị bệnh không biểu hiện rõ các giai đoạn củabệnh [16]

Trang 28

• Thở rít vào: Xuất hiện sau một tràng ho dài, trẻ ngừng thở một lúc rồithở rít vào một hơi như tiếng gà rít rồi lại ho tiếp tục (do khí hít vào điqua thanh môn vẫn đóng một phần)

• Khạc đờm: Các cơn ho có thể kết thúc với sự bài xuất ra nút nhầy đặcquánh dính là chất bài tiết của khí quản cô đặc, lông mao rụng, và biểu

mô đường hô hấp bị hoại tử, trực khuẩn ho gà và bạch cầu lympho Ngoài cơn ho trẻ bình thường, trừ trường hợp có biến chứng hoặc có cácbiểu hiện hậu quả của cơn ho: mặt hơi phù nề, mi mắt phù mọng, hãm lưỡiđứt và loét hoặc chảy máu kết mạc mắt

- Thời kì lui bệnh

Trang 29

Kéo dài khoảng 2-4 tuần, có khi kéo dài đến 12 tuần Cơn ho thưa dần

và ngắn lại, trẻ ăn uống, chơi trở lại bình thường Có thể còn ít cơn ho phản

xạ kéo dài 1-2 tháng

1.5.1.2 Dấu hiệu nặng của cơn ho gà [16]

• Thời gian cơn ho > 60 giây

• Đặc điểm cơn ho: nôn, nghẹt thở, thở hổn hển sau cơn ho

• Màu sắc da: xanh tái

• Nhịp tim: nhịp tim nhanh kéo dài > 30 giây sau khi ngừng ho hoặc nhịptim chậm < 60 lần/phút kéo dài đòi hỏi phải có kích thích

• Nhu cầu oxy kéo dài > 30 giây sau khi ngừng ho

• Nút đờm nhày: tắc nghẽn cần phải hút

• Nhịp tự thở: ngừng thở hoặc nhịp tự thở yếu

• Tiếng thở rít: không có

• Tình trạng tri giác sau cơn ho: lừ đừ, không đáp ứng

1.5.1.3 Thể bệnh lâm sàng khác [17].

- Thể nhẹ: chỉ hắt hơi hoặc cơn ho nhẹ, ngắn và không điển hình, khôngkhạc đờm nhiều Thường xảy ra ở trẻ đã tiêm phòng ho gà nhưng nồng độkháng thể thấp Thể này khó chẩn đoán

- Ho gà ở trẻ sơ sinh: bệnh rất nặng, trẻ ho ít hoặc không ho được nhưng

có các cơn ngừng thở thường xuyên Tỷ lệ tử vong cao

- Người lớn: nhẹ, dai dẳng

1.5.1.4 Triệu chứng lâm sàng ở trẻ nhỏ dưới 3 tháng tuổi [16].

Ở trẻ nhỏ dưới 3 tháng tuổi không biểu hiện như theo y văn cổ điển Giaiđoạn khởi phát chỉ kéo dài vài ngày, không được chú ý Trẻ có biểu hiện thởnhanh, khó thở, mặt đỏ bừng Ho ở lứa tuổi này có thể không nổi bật, đặc biệtở giai đoạn sớm Thở rít không thường xuyên gặp ở trẻ dưới 3 tháng tuổi vìcuối cơn ho trẻ không đủ sức và sự co cơ không đủ để tạo ra áp suất âm tronglồng ngực tạo ra tiếng thở rít Ngừng thở, tím tái có thể xảy ra trong cơn ho,thậm chí khi không ho Ngừng thở có thể là dấu hiệu duy nhất được ghi nhận

Trang 30

Ở trẻ sơ sinh ngừng thở và tím tái là hai triệu chứng thường gặp do vi khuẩn

ho gà hơn là các loại virus khác bao gồm cả RSV

Ở nhóm trẻ này, thời kì toàn phát và hồi phục rất dài Giai đoạn hồi phục cóthể kéo dài cả năm sau chẩn đoán ho gà và dễ mắc các bệnh đường hô hấp khácchứ không phải tái nhiễm ho gà Cơn ho gà có thể dài hơn và giống như cổ điểnhơn ở thời kì hồi phục trong suốt 1 năm đầu khi trẻ nhiễm trùng đường hô hấpchứ không phải trẻ mắc lại ho gà hay tái hoạt động của vi khuẩn ho gà cũ

1.5.1.5 Triệu chứng lâm sàng ở thanh thiếu niên và người lớn [16].

Ở trẻ thanh thiếu niên và người lớn đã được tiêm phòng ho gà, tất cả cácgiai đoạn bệnh của ho gà đều ngắn hơn bình thường Ở người lớn, không có 4giai đoạn rõ ràng Cơn ho gà điển hình ở thanh thiếu niên và người lớn được

mô tả là đột ngột nghẹt thở sau một cơn ho liên tục, đau đầu, giảm ý thức sau

đó thở hổn hển và thường không có tiếng thở rít Triệu chứng nôn sau ho vàcác cơn ho gián đoạn, hồi phục hoàn toàn sau cơn ho là triệu chứng đặc hiệu

để chẩn đoán ho gà ở người lớn Xuất huyết kết mạc và xuất huyết ở nửa trên

cơ thể là hai triệu chứng thường gặp ở người lớn Ít nhất có khoảng 30%người lớn mắc ho gà nhưng không có biểu hiện cơn ho điển hình, nhưngthường ho kéo dài trên 3 tuần

Trên đây ta có thể thấy rằng triệu chứng ho gà rất phong phú và khácnhau tùy thuộc vào nhóm tuổi Chúng ta không thể áp dụng các triệu chứngcủa thể điển hình để chẩn đoán ho gà ở mọi lứa tuổi Vì vậy chúng ta cần mộttiêu chuẩn chẩn đoán ho gà theo nhóm tuổi để có thể chẩn đoán sớm, xử tríkịp thời và không bỏ sót chẩn đoán ở các đối tượng triệu chứng không điểnhình như trẻ thanh thiếu niên và người lớn đã tiêm phòng ho gà

1.5.2 Cận lâm sàng.

PCR, xét nghiệm huyết thanh học và nuôi cấy là các phương pháp chẩnđoán xác định ho gà hiện nay Các phương pháp này còn những hạn chế về độ

Trang 31

nhạy, độ đặc hiệu, tính thực tế phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, mục đích sửdụng (chẩn đoán lâm sàng, nghiên cứu dịch tễ học).

Khi nuôi cấy, cần chú ý tới cách lấy bệnh phẩm, vận chuyển bệnh phẩm,cách ly bệnh phẩm và đọc bệnh phẩm Nuôi cấy dịch mũi họng, bằng cách lấydịch rửa mũi hoặc dùng tăm bông mềm lấy ở phía sau mũi họng trong vòng 30giây Tuy nhiên, bệnh phẩm ngoáy họng nuôi cấy cho kết quả kém hơn bệnhphẩm dịch rửa mũi Độ nhạy của cấy dịch tỵ hầu chẩn đoán ho gà giảm dầntheo thời gian khởi phát triệu chứng, phụ thuộc vào chất lượng bệnh phẩm, thờigian xử lý mẫu bệnh phẩm và tình trạng tiêm chủng của bệnh nhân Cấythường dương tính trong 3 tuần đầu tiên của bệnh với độ đặc hiệu 100% nhưng

độ nhạy thấp 20-80% [24] Trong 1 tuần đầu từ khi khởi phát bệnh khả năngcấy dương tính tới 60%, nhưng sau 4 tuần tỷ lệ này chỉ còn dưới 10% Ở trẻ

em, đặc biệt là nhóm trẻ nhỏ thời gian cấy dương tính có thể kéo dài hơn từ 5-6tuần Trên đối tượng trẻ đã được tiêm phòng cấy dịch tỵ hầu khó mọc vi khuẩnhơn nhóm trẻ chưa được tiêm phòng Mặc dù tỷ lệ dương tính thấp nhưng nuôicấy vẫn là phương pháp đặc hiệu nhất để chẩn đoán ho gà, nên dù nuôi cấy âmtính cũng không loại trừ được khả năng mắc ho gà của trẻ [25]

Ngày nay kĩ thuật PCR chẩn đoán ho gà đã phát triển, với bệnh phẩm làdịch tỵ hầu của bệnh nhân Kĩ thuật này sử dụng vùng gen đích là chuỗi trình

tự IS481, vùng khởi động promoter của PT hoặc gen porin Xét nghiệm PCRcho kết quả dương tính cao hơn xét nghiệm nuôi cấy đặc biệt với các ca bệnhnhẹ [26] PCR có độ nhạy cao hơn so với nuôi cấy khi chẩn đoán xác định,đặc biệt là ở trẻ nhỏ do kĩ thuật này không cần vi khuẩn ho gà còn sống trongmẫu bệnh phẩm Tuy nhiên PCR ít có khả năng dương tính ở bệnh nhân đã cóbiểu hiện bệnh >3 tuần, do đó cần thực hiện PCR trong 3 tuần đầu khởi phátbệnh Trong kĩ thuật PCR này, 2 vùng gen đích được sử dụng là chuỗi IS481

và vùng khởi động độc tố ho gà S1 (ptxA-pr) Tuy nhiên chuỗi IS481 có trong

Trang 32

một vài chủng họ Bordetella như Bordetella holmesii, nhưng không phải tất

cả các chủng [25]

Xét nghiệm huyết thanh học tìm kháng thể của kháng nguyên ho gà (anti

PT IgG) là xét nghiệm nhạy nhất để chẩn đoán ở những người đã tiêm chủngrồi và hữu hiệu trong dịch tễ học Xét nghiệm này giúp chẩn đoán xác địnhnhững ca ho kéo dài trên 2 tuần khi nuôi cấy và PCR âm tính Một mẫu huyếtthanh cho kết quả anti-PT IgG tăng >2SD trên giá trị trung bình ở dân số đượctiêm chủng (>90 IU/ml) chỉ ra có nhiễm ho gà gần đây và thường dương tínhngay ở giai đoạn sớm của thời kì toàn phát Xét nghiệm kháng thể IgA và IgM

ho gà hay kháng nguyên khác của ho gà không phải là xét nghiệm huyết thanhhọc tin cậy để chẩn đoán ho gà [16]

1.5.3 Chẩn đoán [24].

Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa về ca bệnh ho gà được ápdụng Đặc điểm chung của các định nghĩa này đều sử dụng các tiêu chí lâmsàng, xét nghiệm, yếu tố dịch tễ để phân loại thành 3 nhóm: ca bệnh nghi ngờ,

ca bệnh có thể, ca bệnh xác định Tùy thuộc mục đích của nghiên cứu mà cáctác giả sử dụng các định nghĩa khác nhau Như khi có dịch ho gà bùng phátngười ta cần độ nhạy của chẩn đoán cao giúp phòng ngừa và kiểm soát bệnhtốt hơn Ngược lại khi nghiên cứu thử nghiệm vắc xin người ta cần độ đặchiệu của chẩn đoán cao nhất có thể để nghiệm thu được hiệu quả của vắc xin.Hơn nữa, ho gà ở từng nhóm tuổi có các biểu hiện khác nhau

Ở thời kì chưa có vắc xin, bệnh ho gà luôn được coi là bệnh của trẻ em, do

đó mọi định nghĩa ca lâm sàng đều tập trung vào nhóm trẻ em Tuy nhiên hiệnnay các nhà nghiên cứu đã nhận ra rằng ho gà không chỉ xảy ra ở trẻ em mà nócòn thường gặp cả ở trẻ vị thành niên và người trưởng thành Do đó không thể

áp định nghĩa ca lâm sàng ho gà với trẻ em cho nhiều nhóm tuổi khác nhauđược, mỗi nhóm tuổi cần được đánh giá theo các tiêu chuẩn khác nhau Hơn nữa

Trang 33

các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy đặc điểm lâm sàng ho gà ở nhóm trẻ nhỏ rấtkhác biệt nên cần nâng cao nhận thức về bệnh ho gà ở nhóm trẻ nhỏ này

Vì vậy hội nghi ho gà toàn cầu năm 2011 đã dựa trên nhiều nghiên cứulâm sàng đã thống nhất đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán ho gà dựa theo 3 nhómtuổi giúp làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu so với các định nghĩa ca bệnh trướcđây, phù hợp với nhiều nước, cả những nước giàu và những nước nghèo,khuyến khích sử dụng các xét nghiệm trong việc chẩn đoán xác định ca bệnh

ho gà với mục đích cuối cùng là làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu của các báo

cáo về bệnh ho gà [24].

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tiếp cận ca bệnh ho gà [24]

Chẩn đoán xác định ho gà ở trẻ dưới 3 tháng tuổi

Trang 34

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ chẩn đoán xác định ho gà ở trẻ dưới 3 tháng tuổi [24]

1.6 Điều trị

Trang 35

1.6.1 Điều trị hỗ trợ

Mục tiêu của điều trị là hạn chế số lượng, thời gian, mức độ nặng củacơn ho, đảm bảo dinh dưỡng, nghỉ ngơi để bệnh nhân hồi phục nhanh và tốt,không để lại di chứng

1.6.2 Kháng sinh [16]

Kháng sinh được chỉ định khi nghi ngờ hoặc chẩn đoán xác định mắc ho

gà nhằm mục đích giới hạn sự lây truyền và cải thiện triệu chứng lâm sàng.Nhóm macrolide là lựa chọn đầu tiên cho điều trị ho gà, tỷ lệ kháng rất thấp.Azithromycin là kháng sinh thường được lựa chọn cho mọi lứa tuổi Đặc biệtở trẻ sơ sinh nên dùng azithromycin do có sự liên quan giữa việc sử dụngerythromycin và chứng hẹp phì đại môn vị ở trẻ nhỏ Tất cả trẻ nhỏ điều trịbằng macrolide cần được theo dõi các triệu chứng của bệnh phì đại môn vị.FDA cũng cảnh báo nguy cơ rối loạn nhịp tim khi sử dụng azithromycin ởbệnh nhân có nguy cơ gặp các biến chứng tim mạch đặc biệt là hội chứng QT

Trang 36

kéo dài Nguy cơ cao nhất xảy ra trong 2 tuần đầu ở trẻ đủ tháng với thời gianđiều trị từ 14 ngày trở lên

Bảng 1.3: Khuyến cáo sử dụng kháng sinh cho điều trị và dự phòng sau phơi

nhiễm ho gà [24]

< 1 tháng 1-5 tháng > 6 tháng và trẻ lớn Người lớn

Thuốc ưu tiên

Azithromycin Thuốc khuyến cáo

500 mg một ngày đầu; sau đó

250 mg mỗi ngày trong các ngày 2–5

Clarithromycin Không khuyến cáo 15 mg/kg/ngày,

mg/kg/ngày-SMX

40 mg/kg/ngày chia 2 lần × 14 ngày

TMP 8 mg/kg/ngày-SMX

40 mg/kg/ngày (tối

đa TMP 320 mg/ngày) chia 2 lần × 14 ngày

TMP 320 SMX 1600 mg/ngày chia 2 lần × 14 ngày

mg-*TMP-SMX: trimethoprim-sulfammethoxazole.

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 37

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi gồm có 2 đối tượng:

• Trẻ: tất cả bệnh nhi dưới 3 tháng tuổi mắc ho gà điều trị tại Bệnh việnNhi Trung ương từ ngày 1/8/2017 đến ngày 31/7/2018

• Mẹ: tất cả các bà mẹ nhóm bệnh và nhóm chứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn

có con nằm điều trị tại khoa Sơ sinh và khoa Truyền nhiễm từ ngày1/8/2017 đến ngày 31/7/2018

* Tiêu chuẩn lựa chọn

-Trẻ:

• Bệnh nhi dưới 3 tháng tuổi

• Đủ tiêu chuẩn chẩn đoán ho gà:

 Lâm sàng: trẻ có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ ho gà theo sơ

• Nhóm mẹ bệnh nhi không mắc ho gà (nhóm chứng): mẹ bệnh nhidưới 3 tháng tuổi mắc bệnh khác nằm điều trị tại khoa Truyềnnhiễm và khoa Sơ sinh, đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu.

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu.

Nghiên cứu mô tả tiến cứu

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu.

Chọn mẫu thuận tiện, chọn tất cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu

Trang 38

2.2.3 Nội dung nghiên cứu.

2.2.3.1 Sơ đồ nghiên cứu.

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu.

2.2.3.2 Các bước tiến hành nghiên cứu.

Bước 1: Chọn đối tượng nghiên cứu cho mục tiêu 1.

- Lựa chọn tất cả các bệnh nhân có chẩn đoán xác định ho gà đủ tiêuchuẩn trong thời gian nghiên cứu

Bước 2: Chọn nhóm bệnh và nhóm chứng cho mục tiêu 2.

- Lựa chọn nhóm bệnh là mẹ các bệnh nhân dưới 3 tháng tuổi mắc ho gàđiều trị tại bệnh viện Nhi Trung ương đồng ý tham gia nghiên cứu

Trang 39

- Lựa chọn nhóm chứng là mẹ các bệnh nhân dưới 3 tháng tuổi mắc bệnhkhác điều trị tại khoa Truyền nhiễm và khoa Sơ sinh bệnh viện Nhitrung ương.

Bước 3:

- Thu thập thông tin dịch tễ

• Thông tin hành chính: tuổi, giới, nơi cư trú

• Tiền sử tiêm phòng vắc xin ho gà, số mũi tiêm, thời gian tiêm phòng

• Tiền sử tiếp xúc với người mắc ho gà: gia đình, cộng động, thờigian tiếp xúc trước khi biểu hiện bệnh

- Thu thập các thông tin triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, phươngpháp điều trị

2.3 Các biến số nghiên cứu.

2.3.1 Dịch tễ.

- Tuổi: biến định lượng, tính theo tháng tuổi Tuổi vào viện tính bằng cáchlấy ngày tháng năm trẻ vào viện trừ đi ngày tháng năm sinh của trẻ Tuổimắc ho gà bằng tuổi vào viện trừ đi số ngày ho trước khi vào viện

Tuổi vào viện và tuổi mắc ho gà được chia thành 3 nhóm:

• Sơ sinh

• 1 - <2 tháng

• 2 - ≤3 tháng

- Giới: biến định tính, nam và nữ

- Cân nặng thai: biến định lượng

- Tuổi thai: biến định lượng

- Tháng vào viện: biến định lượng

- Tiền sử tiêm phòng vaccine ho gà: biến định tính

Số mũi tiêm phòng: biến định lượng

- Tiền sử tiếp xúc với người mắc ho gà:

˖ Tiếp xúc gần: gia đình

Trang 40

˖ Tiếp xúc xa: phơi nhiễm trong cộng đồng sinh sống hoặc đi vàovùng có dịch lưu hành.

˖Nhẹ: cơn ho ngắn, nhẹ, không điển hình, không biến chứng

˖Trung bình: thể điển hình, có thể có cơn ngừng thở ngắn trong cơn ho,

có thể có các biến chứng như viêm phổi, suy hô hấp, xuất huyết kếtmạc (không xuất huyết tạng) nhưng không có các dấu hiệu nặng đedọa tính mạng

˖Nặng: cơn ho liên tiếp (30-40 cơn/ngày), có dấu hiệu nặng của cơn ho

gà và có biến chứng nặng đe dọa tính mạng phải điều trị tích cựcnhư: suy hô hấp có chỉ định thở máy, suy tuần hoàn, viêm não…

- Chảy mũi: ghi nhận có chảy mũi trong hay có mũi đặc

- Sốt: biến định lượng, ghi nhận nhiệt độ sốt, thời gian bắt đầu khởi phát sốt,

Ngày đăng: 12/07/2019, 14:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Tanaka M., Vitek C.R., Pascual F.B., et al. (2003). Trends in pertussis among infants in the United States, 1980-1999. JAMA, 290, 2968–2975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: JAMA
Tác giả: Tanaka M., Vitek C.R., Pascual F.B., et al
Năm: 2003
14. Sako W., Treuting W.L., Witt D.B., et al. (1945). Early imminization against pertussis with alum precipitated vaccine. J Am Med Assoc, 127, 379–384 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Am Med Assoc
Tác giả: Sako W., Treuting W.L., Witt D.B., et al
Năm: 1945
15. Cherry J.D. (2003). The science and fiction of the “resurgence” of pertussis. Pediatrics, 112, 405–406 Sách, tạp chí
Tiêu đề: resurgence” ofpertussis. "Pediatrics
Tác giả: Cherry J.D
Năm: 2003
16. Long S. (2016), Pertussis, Nelson textbook of pediatrics, Elsevier, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nelson textbook of pediatrics
Tác giả: Long S
Năm: 2016
17. Nguyễn Thị Hồng Vân (2013), Bệnh ho gà. Bài giảng Nhi khoa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Nhi khoa
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Vân
Nhà XB: Nhàxuất bản Y học
Năm: 2013
18. Van Rie A., Wendelboe A.M., and Englund J.A. (2005). Role of maternal pertussis antibodies in infants. Pediatr Infect Dis J, 24, 62-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pediatr Infect Dis J
Tác giả: Van Rie A., Wendelboe A.M., and Englund J.A
Năm: 2005
19. Eberhardt C.S., Blanchard-Rohner G., Lemaợtre B., et al. (2016).Maternal Immunization Earlier in Pregnancy Maximizes Antibody Transfer and Expected Infant Seropositivity Against Pertussis. Clin Infect Dis Off Publ Infect Dis Soc Am, 62, 829–836 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ClinInfect Dis Off Publ Infect Dis Soc Am
Tác giả: Eberhardt C.S., Blanchard-Rohner G., Lemaợtre B., et al
Năm: 2016
20. Smallenburg L.C.S., van Welie N.A., Elvers L.H., et al. (2014). Decline of IgG pertussis toxin measured in umbilical cord blood, and neonatal and early infant serum. Eur J Clin Microbiol Infect Dis Off Publ Eur Soc Clin Microbiol, 33, 1541–1545 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eur J Clin Microbiol Infect Dis Off Publ EurSoc Clin Microbiol
Tác giả: Smallenburg L.C.S., van Welie N.A., Elvers L.H., et al
Năm: 2014
21. Vũ Ngọc Hà (2016), Tính an toàn, đáp ứng miễn dịch của vắc xin ho gà vô bào ở phụ nữ mang thai, ảnh hưởng của kháng thể từ mẹ truyền sang con, Viện vệ sinh dịch tễ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính an toàn, đáp ứng miễn dịch của vắc xin hogà vô bào ở phụ nữ mang thai, ảnh hưởng của kháng thể từ mẹ truyềnsang con
Tác giả: Vũ Ngọc Hà
Năm: 2016
22. Schwartz K.L., Kwong J.C., Deeks S.L., et al. (2016). Effectiveness of pertussis vaccination and duration of immunity. CMAJ Can Med Assoc J, 188, 399–406 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CMAJ Can Med AssocJ
Tác giả: Schwartz K.L., Kwong J.C., Deeks S.L., et al
Năm: 2016
24. Cherry J.D., Tan T., Wirsing von Kửnig C.-H., et al. (2012). Clinical definitions of pertussis: Summary of a Global Pertussis Initiative roundtable meeting, February 2011. Clin Infect Dis Off Publ Infect Dis Soc Am, 54, 1756–1764 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clin Infect Dis Off Publ Infect DisSoc Am
Tác giả: Cherry J.D., Tan T., Wirsing von Kửnig C.-H., et al
Năm: 2012
25. Colin B. (2016). Guidelines for the Public Health Management of Pertussis in England. Public Heath Engl, 7–9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Heath Engl
Tác giả: Colin B
Năm: 2016
26. Hallander H.O. (1999). Microbiological and serological diagnosis of pertussis. Clin Infect Dis Off Publ Infect Dis Soc Am, 28, 99-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clin Infect Dis Off Publ Infect Dis Soc Am
Tác giả: Hallander H.O
Năm: 1999
27. Lê Đăng Hà (2008), Ho gà. Bách khoa toàn thư bệnh học, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa toàn thư bệnh học
Tác giả: Lê Đăng Hà
Nhà XB: Nhà xuất bảngiáo dục
Năm: 2008
28. Surridge J., Segedin E.R., and Grant C.C. (2007). Pertussis requiring intensive care. Arch Dis Child, 92, 970–975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arch Dis Child
Tác giả: Surridge J., Segedin E.R., and Grant C.C
Năm: 2007
29. Trần Quỵ và Trần Thị Hồng Vân (2013). Bệnh viêm phế quản phổi. Bài giảng Nhi khoa. Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàigiảng Nhi khoa
Tác giả: Trần Quỵ và Trần Thị Hồng Vân
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2013
30. Trần Quỵ và Trần Thị Hồng Vân (2013). Suy hô hấp cấp tính ở trẻ em.Bài giảng Nhi khoa. Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Nhi khoa
Tác giả: Trần Quỵ và Trần Thị Hồng Vân
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2013
31. Đỗ Thị Thúy Nga (2014), Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và kết quả điều trị bệnh ho gà ở trẻ em, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học lâm sàng vàkết quả điều trị bệnh ho gà ở trẻ em
Tác giả: Đỗ Thị Thúy Nga
Năm: 2014
32. de Melker H.E., Schellekens J.F., Neppelenbroek S.E., et al. (2000).Reemergence of pertussis in the highly vaccinated population of the Netherlands: observations on surveillance data. Emerg Infect Dis, 6, 348–357 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Emerg Infect Dis
Tác giả: de Melker H.E., Schellekens J.F., Neppelenbroek S.E., et al
Năm: 2000
33. Zamir C.S., Dahan D.B., and Shoob H. (2015). Pertussis in infants under one year old: risk markers and vaccination status--a case-control study. Vaccine, 33, 2073–2078 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vaccine
Tác giả: Zamir C.S., Dahan D.B., and Shoob H
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w