HOÀNG ĐỨC NHÃ MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT KHẨU VÀ TỔNG SẢN LƢỢNG ĐẦU RA TRONG SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ: TỶ GIÁ, LẠM PHÁT, ĐẦU TƢ VÀ CHI PHÍ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN 1996 -2016
Trang 1HOÀNG ĐỨC NHÃ
MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT KHẨU VÀ TỔNG SẢN LƢỢNG ĐẦU RA TRONG SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ: TỶ GIÁ, LẠM PHÁT, ĐẦU TƢ VÀ CHI PHÍ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN 1996 -2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – 2019
Trang 2HOÀNG ĐỨC NHÃ
MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT KHẨU VÀ TỔNG SẢN LƢỢNG ĐẦU RA TRONG SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ: TỶ GIÁ, LẠM PHÁT, ĐẦU TƢ VÀ CHI PHÍ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN 1996 -2016
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HỒ VIẾT TIẾN
TP Hồ Chí Minh – 2019
Trang 3tổng sản lƣợng đầu ra trong sự tác động của các nhân tố vĩ mô tỷ giá, lạm phát, đầu tƣ và chi phí nghiên cứu phát triển giai đoạn 1996 - 2016” hoàn toàn là công
trình nghiên cứu độc lập do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS HỒ VIẾT TIẾN Nội dung cũng như dữ liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi cam đoan sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực được trình bày trong luận văn này
TP Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 03 năm 2019
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT – ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.6 Kết cấu bài nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 4
2.1 Một số học thuyết liên quan 4
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm 7
2.2.1 Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra (GDP) 7
2.2.2 Tác động của RD lên mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra 12
2.2.3 Bảng tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm trước đây 15
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
Trang 53.1 Khung phân tích 20
3.2 Các phương pháp phân tích mô hình hồi quy 23
3.2.1 Mô hình hồi quy kết hợp 23
3.2.2 Mô hình FEM 24
3.2.3 Mô hình REM 24
3.2.4 Ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) 25
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ KÊT QUẢ 26
4.1 Phân tích thống kê mô tả 26
Sự tác động của biến EXP và các biến còn lại lên biến RGDP 28
4.2 Kiểm tra đa cộng tuyến 28
4.2.1 Ma trận hệ số tương quan 28
4.2.2 Hệ số phóng đại phương sai (VIF) 29
4.3 Kiểm định tự tương quan 30
4.4 Kết quả nghiên cứu 30
4.4.1 Mô hình hồi quy FEM 31
4.4.2 Mô hình hồi quy REM 31
4.4.3 Kiểm định Hausman 31
4.4.4 Kiểm định phương sai thay đổi cho mô hình FEM REM 32
4.4.5 Mô hình phù hợp 32
Sự tác động của biến RGDP và các biến còn lại lên biến EXP 35
4.5 Kiểm tra đa cộng tuyến 35
4.5.1 Ma trận hệ số tương quan 35
4.5.2 Hệ số phóng đại phương sai (VIF) 36
4.6 Kiểm định tự tương quan 37
Trang 64.7 Kết quả nghiên cứu 37
4.7.1 Mô hình hồi quy FEM 37
4.7.2 Mô hình hồi quy REM 38
4.7.3 Kiểm định Hausman 38
4.7.4 Kiểm định phương sai thay đổi 38
4.7.5 Mô hình phù hợp 39
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 43
5.1 Kết Luận 43
5.2 Gợi ý chính sách 44
5.3 Hạn chế của luận văn 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 50
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Diễn giải
R&D hoặc RD Nghiên cứu phát triển
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
ELG Học thuyết về tăng trưởng do xuất khẩu
GLE Học thuyết về mở rộng xuất khẩu do tăng trưởng
GLS Ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1 Thống kê mô tả của các biến tại các nước đang phát triển
Bảng 4.2 Thống kê mô tả của các biến tại các nước phát triển
Sự tác động của biến EXP và các biến còn lại lên biến RGDP
Bảng 4.3 Ma trận hệ số tương quan tại các nước đang phát triển
Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan tại các nước phát triển theo biến RGDP Bảng 4.5 Kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai VIF ở
các nước đang phát triển theo biến RGDP Bảng 4.6 Kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai VIF ở
các nước phát triển theo biến RGDP Bảng 4.7 Kết quả nghiên cứu tại các nước đang phát triển theo biến RGDP Bảng 4.8 Kết quả nghiên cứu tại các nước phát triển theo biến RGDP
Sự tác động của biến RGDP và các biến còn lại lên biến EXP
Bảng 4.9 Ma trận hệ số tương quan tại các nước đang phát triển
Bảng 4.10 Ma trận hệ số tương quan tại các nước phát triển
Bảng 4.11 Kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai VIF ở
các nước đang phát triển Bảng 4.12 Kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai VIF ở
các nước phát triển Bảng 4.13 Kết quả nghiên cứu tại các nước đang phát triển theo biến EXP
Bảng 4.14 Kết quả nghiên cứu tại các nước phát triển theo biến EXP
Trang 9TÓM TẮT
Mức độ gia tăng tổng sản lượng và tăng trưởng với tốc độ cao và bền vững luôn là mục tiêu phấn đấu của các quốc gia trên toàn thế giới Trong đó, xuất khẩu và chi phí nghiên cứu phát triển luôn là những nhân tố động lực cho sự phát triển.Vì vậy,
luận văn này nghiên cứu về đề tài “Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lƣợng đầu ra trong sự tác động của các nhân tố vĩ mô: tỷ giá, lạm phát, đầu tƣ
và chi phí nghiên cứu phát triển giai đoạn 1996 - 2016” với mục đích phân tích
và tìm hiểu mối quan hệ giữa xuất khẩu với tổng sản lượng đầu ra và sự khác biệt giữa hai nhóm quốc gia nếu như có sự tồn tại của chi phí nghiên cứu phát triển
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá và phân tích có sự tồn tại mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra ở các quốc gia đang phát triển giai đoạn
1996 – 2016 và có hay không sự ảnh hưởng của chi phí nghiên cứu phát triển tác động đến tổng sản lượng xuất khẩu của hai nhóm các quốc gia 1996 – 2016
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS) để ước lượng cho dữ liệu bảng
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra của một quốc gia có mối liên hệ tích cực với nhau Và chi phí đầu tư và phát triển có ảnh hưởng tích cực đến xuất khẩu và ảnh hưởng tiêu cực đến tổng sản lượng đầu ra của một quốc gia
Các quốc gia đang phát triển muốn thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thì nên nỗ lực tạo điều kiện cho việc tạo ra hàng hóa có giá trị cao để xuất khẩu, cần có chính sách
hỗ trợ và tạo điều kiện giúp đỡ các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu phát triển sản phẩm, công nghệ, nhân lực chất lượng và trình độ nguồn nhân lực
Từ khóa: GDP, xuất khẩu, nghiên cứu phát triển, tăng trưởng
Trang 10ABSTRACT
The level of increase in the total output and the economic growth at high and sustainable levels is always the target of the countries around the world In particular, exports and research and development expenditures are always motivational factors for development Therefore, the study of the topic chosed " in the impact of macroeconomic factors, inflation, investment and research and development expense in 1996 - 2016" is very important that analyzing the relationship and understanding the degree of influence of export on total productio and the differences between the two national groups if there is existence of research and development variables
The problem of the study is to assess and analyze whether having positive existence
of the relationship between the export and the total output in developing countries
in the period of 1996 - 2016 and whether or not the impact of research and development expenditure affects the total export volume of developed countries in
The developing countries that want to promote economic development try to facilitate the attraction of highly valuable goods production for export to the outside market and the need to adopt a supportive policy that creating conditions to help businesses invest in research and development of products, technology, quality human resources and human resources
Key words: GDP, Export, RD expenditure, Growth
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài
“Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra của một quốc gia thực sự là
gì, nó có tác động như thế nào đến kinh tế của một quốc gia?” Đây là câu hỏi nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu và đã có rất nhiều đáp án Tổng sản lượng đầu
ra của một quốc gia còn được xem là đại diện cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia (GDP), như vậy việc nghiên cứu, xem xét mối liên hệ giữa xuất khẩu
và tổng sản lượng đầu ra của một quốc gia chính là việc nghiên cứu, xem xét mối quan hệ giữa xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng của một quốc gia GDP Đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh được rằng giữa xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng của một quốc gia có tồn tại mối quan hệ nhân quả với nhau Ngày nay với sự đổi mới của khoa học (đặc biệt sự phát triển công nghệ 4.0, trí tuệ nhân tạo…), vậy những tiến bộ đó có tác động đến tăng trưởng kinh tế hay không hay chỉ có tác dụng làm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, gia tăng hiệu quả sản xuất, tạo ra các sản phẩm mới với chất lượng tốt nhất… Và đã tồn tại nhiều nghiên cứu được tiến hành để nghiên cứu các tác động cũng như các nhân tố ảnh hưởng lên sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia và đa phần dựa trên những số liệu thu thập được trong quá khứ nhằm tìm ra câu trả lời chính xác cho vấn đề này Vì vậy, đề tài
“Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra trong sự tác động của các nhân tố vĩ mô: tỷ giá, lạm phát, đầu tư và chi phí nghiên cứu phát triển giai đoạn
1996 - 2016” nghiên cứu dưới đây với mục đích phân tích và tìm hiểu quan hệ, mức
độ ảnh hưởng của xuất khẩu đối với tổng sản lượng và sự khác biệt giữa hai nhóm quốc gia nếu như có sự tồn tại của chi phí nghiên cứu phát triển trong giai đoạn
1996 – 2016
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá và phân tích có sự tồn tại mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra ở các quốc gia đang phát triển và các quốc gia phát triển giai đoạn 1996 – 2016 và có hay không sự ảnh hưởng của chi phí
Trang 12nghiên cứu phát triển tác động đến mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra của hai nhóm quốc gia trong giai đoạn 1996 – 2016 cụ thể là: Xem xét mối quan hệ giữa xuất khẩu, tổng sản phẩm đầu ra với các nhân tố vĩ mô tác động khác như: tỷ giá, lạm phát, tỷ lệ đầu tư hằng năm và chi phí chi nghiên cứu phát triển Bài nghiên cứu này sẽ được tiến hành trên cơ sở dữ liệu của các quốc gia đang phát triển và phát triển, để từ đó xác định lại giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra có mối liên hệ như thế nào cũng như chi phí nghiên cứu phát triển có tác động như thế nào lên mối quan hệ đó Từ đó đưa ra những gợi ý chính sách hữu ích cho việc phát triển kinh tế ở các quốc gia đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tốc độ tăng trưởng kinh tế thực (RGDP), giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ (EXP), tỷ giá (EXCHANGE), lạm phát (INFLAT), mức độ đầu
tư (INVEST) và chi phí nghiên cứu phát triển (RD)
Thời gian và phạm vi nghiêm cứu: Bài nghiên cứu sẽ thực hiện trong khoản thời gian 1996 – 2016 và chia thành 2 nhóm nghiên cứu: nhóm 1 là 14 quốc gia đang phát triển của châu Á và châu Phi, nhóm 2 là 13 quốc gia phát triển với đầy đủ chi phí nghiên cứu phát triển trong giai đoạn 1996 - 2016
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với khoản thời gian là
21 năm và 27 quốc gia, tiến hành phân tích tác động của các nhân tố vĩ mô tới mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra thông qua các cách tiếp cận FEM (Fix Effect Model), REM (Random Effect Model) và hồi quy GLS để ước lượng mô hình mối liên hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra
1.5 Câu hỏi nghiên cứu
Có tồn tại mối quan hệ xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra ở các nước đang phát triển và các nước phát triên hay không?
Các nhân tố vĩ mô (tỷ giá, lạm phát, tổng đầu tư) có tác động đến mối liên hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra ở hai nhóm quốc gia như thế nào?
Trang 13Chi phí dành cho việc nghiên cứu phát triển có tác động như thế nào lên mối liên
hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra tại các quốc gia phát triển và các quốc gia phát triển?
Liệu có sự khác biệt giữa tác động của chi phí nghiên cứu phát triển lên hai nhóm quốc gia không?
1.6 Kết cấu bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Phân tích và Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận, gợi ý chính sách và hạn chế
Trang 14CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC
NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Một số học thuyết liên quan
Chủ nghĩa trọng thương – Mercantilism (chủ nghĩa trọng kim hoặc chủ nghĩa thặng dư thương mại)
Được hình thành ở châu Âu vào khoảng giữa thế kỷ XV và phát triển đến giữa thế
kỷ XVIII (phát triển mạnh mẽ nhất và thế kỷ thứ XVII và suy thoái dần từ thế kỷ thứ XVIII) người đại diện là Thomas Mun (1571-1641, người Anh) và Antoine de Montchrétien (1576-1621, người Pháp) và chủ nghĩa này cũng chính là nguyên nhân của một số cuộc nội chiến tại châu Âu Chủ nghĩa trọng thương nói về vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế bằng việc gia tăng xuất khẩu để tích lũy vàng bạc
và kim loại quý Chủ nghĩa trọng thương cho rằng để có tích lũy tiền tệ phải thông qua hoạt động thương mại, mà trước hết là ngoại thương Hơn nữa, trong ngoại thương phải thực hiện xuất siêu và hạn chế nhập khẩu (thặng dư thương mại) Các nhà kinh tế theo trường phái này nhấn mạnh xuất khẩu mang lợi ích kích thích sản xuất trong nước đồng thời làm gia tăng lượng của cải của quốc gia từ việc nhận vàng bạc và kim loại quý từ xuất khẩu Vì vậy, họ rất khuyến khích xuất khẩu nhưng không chỉ tập trung vào việc tăng số lượng hàng hóa mà còn hướng tới xuất khẩu hàng hóa có giá trị cao Bên cạnh đó, họ không khuyến khích việc xuất khẩu nguyên liệu mà hướng tới sử dụng những nguyên liệu này để sản xuất trong nước rồi xuất khẩu thành phẩm Qua đó, có thể thấy ngay từ những ngày đầu của nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa, ngoại thương (đặc biệt là xuất khẩu) được coi là một trong những nhân tố quan trọng nhất góp phần tích lũy của cải của một quốc gia Tuy nhiên, hệ thống quan điểm của Chủ nghĩa trọng thương vẫn mang tính chất sơ khai, còn nhiều hạn chế về mặt lí luận Đơn thuần xuất phát từ hiện tượng bề ngoài của quá trình lưu thông, Chủ nghĩa trọng thương khuyến khích lưu thông trao đổi hàng hóa nhưng theo nguyên tắc lợi nhuận được tạo ra từ việc mua ít bán nhiều, mua rẻ bán đắt Những quan điểm của Chủ nghĩa trọng thương mang tính chất kinh
Trang 15nghiệm được nêu ra dưới hình thức lời khuyên thực tiễn về chính sách thương mại Mặc dù còn hạn chế về lí luận nhưng những quan điểm ủng hộ ngoại thương, khuyến khích trao đổi mua bán giữa các quốc gia cũng đánh dấu bước thay đổi tiến
bộ so với thời kỳ đóng cửa nền kinh tế Các lập luận của Chủ nghĩa trọng thương vẫn chứa đựng những luận điểm vẫn còn giá trị cho đến bây giờ Đây được coi là nền tảng sơ khai cho tư tưởng hội nhập kinh tế sau này
Trường phái cổ điển
Adam Smith (1723-1790) - Cha đẻ của kinh tế học đã giải thích thương mại quốc tế bằng cách đưa ra lý thuyết lợi thế tuyệt đối cùng là tác giả cuốn sách “Wealth of
Nations” Theo ông, mỗi quốc gia được coi là có lợi thế tuyệt đối về một mặt hàng
nào đó nếu có khả năng sản xuất mặt hàng ấy với chi phí thấp hơn hay năng suất cao hơn so với nước khác Khi đó, quốc gia ấy nên tập trung chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mình có lợi thế và tiến hành xuất khẩu mặt hàng đó sang nước khác Việc chuyên môn hóa như vậy góp phần không nhỏ đến tiết kiệm chi phí sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vì vậy, thông qua hoạt động trao đổi mà cả hai quốc gia có quan hệ thương mại với nhau đều có lợi và trở nên sung túc hơn Vì vậy, Adam Smith khẳng định thương mại quốc tế không phải là một trò chơi có tổng bằng không, mà là trò chơi làm lợi cho tất cả các bên tham gia Tuy nhiên, thực tế thương mại quốc tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, khi so sánh chi phí sản xuất
để tìm ra lợi thế tuyệt đối, một nước lại thấy mình có lợi thế về tất cả các mặt hàng
so với nước khác Tuy nhiên lý thuyết của ông không thể lý giải được tại sao các nước trong trường hợp này vẫn trao đổi với nhau và cùng có lợi
Để giải quyết hạn chế trên một khái niệm khác đã ra đời và có tính khái quát hơn chính là khải niệm của David Ricardo (1772-1823), đó là lợi thế so sánh Một quốc gia có lợi thế so sánh để sản xuất một hàng hóa khi hàng hóa đó được sản xuất với chi phí cơ hội thấp hơn so với khi nó được sản xuất ở quốc gia khác Vì vậy, mặc dù
có những quốc gia không có lợi thế tuyệt đối trong bất cứ hoạt động sản xuất một mặt hàng nào vẫn có thể tham gia thương mại quốc tế và thu lợi từ nó bằng cách
Trang 16xuất khẩu hàng hóa hoặc dịch vụ mà quốc gia đó có lợi thế so sánh lớn nhất, nhập khẩu những hàng hóa mà quốc gia đó có lợi thế so sánh nhỏ nhất
Adam Smith và David Ricardo đều đã giải thích hiện tượng thương mại quốc tế có liên quan đến việc chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế Mặc dù không trực tiếp nhấn mạnh trả lời cho câu hỏi "Giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế có tồn tại mối quan hệ nhân quả hay không?", nhưng hai nhà kinh tế học tiêu biểu của trường phái cổ điển đều đã đưa ra những nhận định sơ lược về mối quan hệ này và hai quan điểm đều thống nhất ở một ý kiến: xuất khẩu là hoạt động tất yếu khách quan, là một bộ phận của thương mại quốc tế và có tác dụng mang lại lợi ích cho nền kinh tế của các quốc gia
Học thuyết ELG – xuất khẩu dẫn đến tăng trưởng
Giả thuyết tăng trưởng do xuất khẩu (ELG) ra đời khoản thế kỷ thứ XX cho rằng tăng trưởng xuất khẩu là một trong những nhân tố chính quyết định tăng trưởng kinh tế Học thuyết ELG đã được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu sử dụng các
kỹ thuật kinh tế lượng khác nhau Nhìn chung, các tài liệu thực nghiệm gần đây đã chỉ ra rằng quan hệ nhân quả thay đổi theo thời gian nghiên cứu, sử dụng các phương pháp kinh tế lượng, xử lý các biến (danh nghĩa hoặc thực) cho dù liên kết một chiều hay hai chiều, và sự hiện diện của các biến liên quan khác hoặc bao gồm các biến tương tác trong phương trình ước tính Mối quan hệ xuất khẩu - tăng trưởng vốn vẫn là chủ đề tranh luận rộng rãi kể từ những năm 1960 cũng được nghiên cứu bởi Awokuse và Christopoulos (2009) Reppas và Christopoulos (2005)
đã tìm thấy mối quan hệ hai chiều giữa xuất khẩu và tăng trưởng bằng cách kiểm tra quan hệ nhân quả giữa hai biến xuất khẩu và tăng trưởng Tuy nhiên, chỉ có vài bài báo áp dụng phân tích dữ liệu bảng Một số tài liệu cho rằng hiệu ứng tích cực được ước tính bởi giả thuyết tăng trưởng do xuất khẩu không nhất thiết phải xảy ra ở các nước đang phát triển
Trang 172.2 Các nghiên cứu thực nghiệm
2.2.1 Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lƣợng đầu ra (GDP)
Theo Reppas và Christopoulos (2005) nghiên cứu cho giả thuyết mối quan hệ tăng trưởng do xuất khẩu bằng việc sử dụng mẫu là 22 nước đang phát triển tại châu Á
và châu Phi Các kết quả dựa trên các thử nghiệm hợp nhất của dữ liệu bảng cho thấy rằng có sự tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng sản lượng và xuất khẩu Phân chia mẫu các nền kinh tế châu Á và châu Phi đã cho kết quả tương tự như kiểm định 22 nước Hơn nữa, ước tính cho thấy có mối quan hệ lâu dài tích cực giữa tăng trưởng xuất khẩu và sản lượng Hơn nữa kết quả nghiên cứu trong dữ liệu bảng cũng cung cấp sự hỗ trợ một cách mạnh mẽ cho quan điểm rằng, tỷ lệ đầu tư càng lớn, mức độ xuất khẩu càng cao
Mukhtar Wakil Lawan (2017) xem xét mối quan hệ nhân quả giữa các thành phần
xuất khẩu dầu mỏ, phi dầu mỏ, nhập khẩu, hình thành tổng vốn, dân số, dự trữ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Nigeria sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hàng năm trong giai đoạn 1981 đến 2015 Kỹ thuật hợp nhất Johansen được sử dụng để phân tích mối quan hệ lâu dài và quan hệ nhân quả Granger để thiết lập các hướng nhân quả Các phát hiện cho thấy các chính sách kinh tế vĩ mô gần đây, đặc biệt là các chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu trong lĩnh vực phi dầu mỏ sẽ có hiệu quả trong việc tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua các mối liên kết nhân quả ngắn hạn,
và cải thiện tăng trưởng kinh tế được truyền lại để thúc đẩy hiệu quả trong xuất khẩu dầu mỏ và lĩnh vực phi dầu mỏ thông qua các mối liên kết nhân quả dài hạn khi đạt được trạng thái cân bằng Kết quả cũng nêu bật tác động quan trọng của nhập khẩu và dự trữ ngoại hối đối với cả lĩnh vực xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Nigeria Các lĩnh vực xuất khẩu của nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu cho vốn như máy móc và chuyên môn nước ngoài Do đó, hạn chế nhập khẩu thông qua việc sử dụng hạn ngạch và các công cụ liên quan đến thuế như thuế hải quan nên được tăng nhẹ trong một khoảng thời gian cho đến khi hiệu quả trong phân khúc xuất khẩu của nền kinh tế Nigeria được cải thiện đáng kể thông qua việc sử dụng công nghệ hiện đại và đổi mới Trlakovic và cộng sự (2017) nghiên cứu vấn đề phát
Trang 18triển của các nước WBC, với sự phụ thuộc cao vào nhập khẩu các sản phẩm có giá trị cao, WBC phải phát triển các ngành công nghiệp thâm dụng công nghệ Croatia
là WBC duy nhất nơi các nhóm sản phẩm xuất khẩu chính được sản xuất bởi ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao Croatia cũng khác với các WBC còn lại do thực tế ảnh hưởng đáng kể đến khối lượng GDP bình quân đầu người là ngành công nghiệp dược phẩm có sản phẩm được xếp vào nhóm cường độ công nghệ cao Ngoài ra, Croatia cũng là WBC duy nhất là thành viên của EU Ví dụ, chỉ một số ít sản phẩm được sản xuất bởi ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao có ảnh hưởng đáng kể đến GDP của người Serbia - xe cơ giới, rơ moóc và sơ mi rơ moóc, thiết bị điện và điện tử, trong khi ảnh hưởng lớn nhất đến Croatia và GDP bình quân đầu người của Macedonia, về mặt này, là của thiết bị và máy móc điện và điện tử.Tất cả các WBC đều giàu tài nguyên thiên nhiên, tuy nhiên, họ cần thực hiện các phương pháp xử lý tinh vi hơn, để giá trị của các tài nguyên đó sẽ tăng theo tổng xuất khẩu của từng quốc gia Điều này chỉ có thể thông qua quá trình tái công nghiệp hóa khá chậm trong các WBC Một trong những cách có thể thoát khỏi cuộc khủng hoảng là đầu tư vào nghiên cứu phát triển nhằm kích thích sự đổi mới và biến chúng thành lợi nhuận dựa trên ứng dụng của chúng trong các ngành sản xuất Về mặt này, các WBC phải thiết lập sự hợp tác đầy đủ với các nước thế giới khác
Bài nghiên cứu của Awokuse và Christopoulos (2009) với giả định có sự tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa xuất khẩu và tăng trưởng sản lượng Tuy nhiên, tính hợp lệ của giả định về mối quan hệ tuyến tính đã được một số tác giả đặt ra và bằng chứng thực nghiệm gần đây ủng hộ sự tồn tại của phi tuyến tính trong các biến số kinh tế
vĩ mô, như tăng trưởng GDP và tỷ giá hối đoái (Kohli và Singh, 1989; Edwards,
1993 ; Granger và Teräsvirta, 1993; Taylor và cộng sự, 2001) Mục tiêu chính của bài viết này là thu hẹp khoảng cách trong tài liệu bằng cách xem xét vai trò của phi tuyến tính trong mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Cuối cùng, các giả thuyết về tăng trưởng do xuất khẩu (ELG) và xuất khẩu tăng do tăng trưởng (GLE) đã được kiểm tra cho năm nền kinh tế công nghiệp hóa (Canada, Ý, Nhật Bản, Anh và Mỹ) bằng cách sử dụng mô hình chuyển đổi phi tuyến tính ( Đặc điểm
Trang 19kỹ thuật mô hình STAR) Kết quả nghiên cứu này xác nhận rằng tồn tại mối quan
hệ phi tuyến giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Do đó, giả định về tuyến tính trong các nghiên cứu trước đây có thể không có cơ sở và suy luận từ các mô hình đó
có thể không hợp lệ và có thể gây hiểu lầm Cụ thể, sử dụng sáu biến (xuất khẩu thực, tăng trưởng GDP thực tế, vốn, lao động, điều khoản thương mại và sản lượng nước ngoài) mô hình vectơ, kết quả kiểm tra tuyến tính chỉ ra rằng giả thuyết không tuyến tính có thể bị bác bỏ so với sự thay thế của mô hình STAR phi tuyến cho hầu hết các quốc gia Kết quả này xác nhận sự phù hợp của một đặc tả phi tuyến để mô hình hóa mối quan hệ tăng trưởng sản lượng xuất khẩu Hơn nữa, kết quả từ các thử nghiệm quan hệ nhân quả Granger phi tuyến cung cấp hỗ trợ thực nghiệm cho tính hợp lệ của các giả thuyết ELG cho Canada, Ý, Anh và Hoa Kỳ trong khi giả thuyết GLE được hỗ trợ cho Ý và Nhật Bản Thật thú vị, mặc dù các kết quả từ các thử nghiệm quan hệ nhân quả phi tuyến dường như cung cấp kết quả rõ ràng hơn, đặc tả tuyến tính tiêu chuẩn đã được tìm thấy để đưa ra kết luận tương tự để hỗ trợ các giả thuyết GLE cho Nhật Bản Kết quả phân tích này nhấn mạnh sự cần thiết phải mô hình hóa các phi tuyến vốn có trong mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng sản lượng Điều này sẽ cho phép xác định các mức ngưỡng nơi mà đạt được lợi nhuận tiềm năng từ việc mở rộng xuất khẩu có thể được thực hiện
Bài viết nghiên cứu vấn đề xuất khẩu của Nhật Bản từ năm 1995 đến 2014 do Yang
và cộng sự (2016) cho thấy Mô hình không gian Durbin (SDM) là phù hợp nhất sau khi áp dụng một loạt các kỹ thuật thống kê không gian Kết quả thực nghiệm từ Moran's I tiết lộ rằng trước tiên, Nhật Bản đã mở rộng xuất khẩu từ chủ yếu là Hà Lan, Thái Lan, Trung Quốc, Úc, Indonesia, Panama vào năm 1995 sang nhiều nước châu Âu, các nước châu Á, Bắc và Nam Mỹ: Canada và Brazil trong những năm
2010 Rõ ràng là số lượng ngày càng tăng của các quốc gia từ khu vực châu Á (lưu
ý khoảng cách địa lý của họ) chiếm phần tư cao trong những năm sau của nghiên cứu này trong khi số lượng các quốc gia được phân loại theo góc phần tư thấp giảm đáng kể Thú vị thay, Hoa Kỳ dường như chưa bao giờ là điểm xuất khẩu quan trọng đối với hàng xuất khẩu của Nhật Bản trong giai đoạn nghiên cứu Thứ hai,
Trang 20thật thú vị khi xác định đâu là nhân tố quyết định xuất khẩu của Nhật Bản đến những điểm đến này bởi vì chúng ta có thể hiểu và phân tích cách Nhật Bản duy trì lợi thế cạnh tranh xuất khẩu trong nhiều thập kỷ Hơn nữa, một số đặc điểm khác biệt của xuất khẩu Nhật Bản được xác định theo kết quả ước tính của mô hình kinh
tế lượng không gian được đề xuất trong bài viết này Xuất khẩu của Nhật Bản có mối quan hệ tiêu cực với GDP bình quân
Chen (2007) với mô hình hiệu chỉnh sai số đã xem xét chiều hướng tương quan của xuất khẩu và tăng trưởng hay tăng trưởng và xuất khẩu Kết quả từ mô hình của Chen chứng minh rằng, tại Đài loan tồn tại mối liên hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những bằng chứng cho thấy Đài Loan
đã tận dụng lợi thế của chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu như là phương tiện để tiếp tục tăng trưởng trong quá trình tăng trưởng kinh tế
Mehrara và cộng sự (2011) sử dụng mô hình bảng Granger để xem xét mối liên hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế thông qua việc kiểm tra và chạy dữ liệu của
73 quốc gia đang phát triển (từ 1970 đến 2007) Dữ liệu tại 73 quốc gia được chi ra thành 2 nhóm: nhóm các quốc gia phi dầu mỏ và các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ
Mô hình được sử dụng để xem xét và đánh giá chiều hướng của quan hệ nhân quả là
mô hình 2 và 3 biến (xem xét mối quan hệ của GDP và xuất khẩu ở mô hình 2 biến; đồng thời mối quan hệ giữa GDP, xuất khẩu và độ mở của nền kinh tế được xem xét
ở mô hình 3 biến) Trong cả hai mô hình đều tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều trong dài hạn giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế cho cả hai nhóm (dầu mỏ và phi dầu mỏ) Ngoài ra, mô hình 2 biến còn cho thấy mối quan hệ nhân quả hai chiều trong ngắn hạn giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở nhóm quốc gia đang phát triển phi dầu mỏ
Richards (2001) đã sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian và sử dụng các kiểm định nhân quả Granger, mô hình hiệu chỉnh sai số và mô hình tự hồi quy vector để phân tích giả thuyết xuất khẩu dẫn đến tăng trưởng (ELG) ở Paraguay Quốc gia có tốc độ tăng trưởng chậm trong những năm 1990, mặc dù đã có tốc độ tăng trưởng cao
Trang 21trong giai đoạn 1970 – 1980 Richchards đã nhận ra rằng tốc độ gia tăng xuất khẩu
ở Paraguay không ổn định như tốc độ tăng trưởng kinh tế vì các lý do liên quan đến chính trị và kinh tế Kết quả thu được, tác giả nhận thấy ảnh hưởng của xuất khẩu đến tăng trưởng của kinh tế ở Paraguay rất hạn chế
Rubio và Roldan (2012) tiến hành phân tích mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế theo giả thuyết ELG cho 8 thành viên EU trong giai đoạn 1996-2009 Kiểm định nhân quả chỉ ra rằng chỉ có Cộng Hòa Séc là cho thấy những bằng chứng ủng hộ cho lý thuyết ELG, trong khi đó lại không tìm thấy bất kỳ một mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa (bất kể theo hướng nào) ở các quốc gia còn lại
Amirkhalkhali và Dar (1995) đã sử dụng mô hình hệ số ngẫu nhiên để xem xét vai trò của việc mở rộng xuất khẩu trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển Trên thực tế, dưới sự đa dạng lớn giữa các nước đang phát triển
Mô hình này được áp dụng cho dữ liệu của 23 quốc gia đang phát triển và chia thành bốn nhóm mẫu Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng kinh tế mang một mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với tăng trưởng xuất khẩu cho tất cả các mẫu Hơn nữa, do mở rộng xuất khẩu dường như có liên quan tích cực đến mức độ mở cửa của nền kinh tế, kết quả khá rõ ràng cho thấy tăng trưởng kinh tế có khả năng cao hơn ở các nước có độ mở thương mại lớn Do đó, biến mở rộng xuất khẩu được phát hiện có tác động đáng kể về mặt thống kê đối với tăng trưởng kinh tế đối với tất cả các nước Cách tiếp cận tổng quát hơn về đặc tả và ước tính được thông qua trong bài viết này cho thấy phát hiện trong các nghiên cứu trước đây về tầm quan trọng của việc mở rộng xuất khẩu trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là khá mạnh
mẽ Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi ủng hộ tranh luận rằng mặc dù có sự khác biệt
rõ rệt giữa các nhóm nước nhưng bằng chứng nghiên cứu vẫn cho thấy dường như không tồn tại sự khác biệt về chừng mực ảnh hưởng của việc mở rộng xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế
Trang 222.2.2 Tác động của RD lên mối quan hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lƣợng đầu
ra
Falk and Lemos (2019) Nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động R & D và hành vi xuất khẩu ở các doanh nghiệp nhỏ Kết quả cho thấy cường độ RD là nhân tố quyết định đáng kể đến cả sự tham gia xuất khẩu và cường độ xuất khẩu của các doanh nghiệp nhỏ Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất cũng như các doanh nghiệp lớn hơn (về quy mô cũng như thời gian) thể hiện mối quan hệ mạnh mẽ nhất giữa RD và hành vi xuất khẩu
Kết quả của Cintio (2017) ủng hộ ý kiến cho rằng, các chính sách RD có thể có hiệu quả để thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu Các can thiệp công cộng có thể đóng vai trò là công cụ chính sách để kích thích chi tiêu RD và thông qua tác động tích cực của chúng đối với xuất khẩu, có cả ý nghĩa về lợi ích cho khách hàng và tăng trưởng Ý nghĩa lợi ích cho khách hàng xuất phát từ nhu cầu của khách hàng được cải thiện thông qua thương mại quốc tế và ý nghĩa tăng trưởng phát sinh từ những tác động tích cực đối với việc làm của các công ty Tuy nhiên, về mặt này, kết quả chỉ ra rằng xuất khẩu thuần túy không ảnh hưởng đến tăng trưởng và dòng lao động, trong khi tác động tiêu cực của xuất khẩu do RD gây ra đối với các doanh nghiệp tăng trưởng rất nhỏ Do đó, thách thức chính đối với các nhà hoạch định chính sách
là kích thích một môi trường sáng tạo để phát triển kinh doanh nơi các công ty phát triển và thâm nhập thị trường nước ngoài như những nhà đổi mới thành công Những hàm ý chính sách này hóa ra có liên quan đặc biệt trong bối cảnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nơi các quyết định đầu tư Đồng thời, việc duy trì kiến thức dường như rất cần thiết cho các công ty đổi mới, vì tỷ lệ phân tách thấp hơn so với các công ty không đổi mới Khi kết hợp lại, những hiệu ứng này cho phép các công ty sáng tạo bảo vệ tài sản trí tuệ của họ hiệu quả hơn, đồng thời, cho phép người lao động tận hưởng sự ổn định công việc lớn hơn Như được chỉ ra bởi Buch
và cộng sự (2009), các công ty hoạt động trên thị trường quốc tế có thể cân bằng rủi ro nhu cầu hoặc, như Baumgarten (2015) lưu ý, lao động xuất cảnh các công ty xuất khẩu có thể thấp hơn đến mức lương cao hơn ở các công ty này Hơn nữa, các
Trang 23doanh nghiệp vừa và nhỏ có kế hoạch tăng cường sự hiện diện của họ ở thị trường nước ngoài nên chấp nhận thách thức để tăng nỗ lực RD của họ bằng cách tận dụng các cơ hội tài trợ quốc gia và quốc tế
Sandu và Ciocanel (2014) cho thấy cường độ chi tiêu RD công cộng có tác động tích cực đến xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao và trung bình, với độ trễ 2 năm Để
có hiệu quả ngắn hạn, họ phải được hướng tới hỗ trợ nghiên cứu tư nhân, mục tiêu
rõ ràng hơn là hướng tới lợi nhuận trước mắt Sự gia tăng với + 1% chi phí RD của Chính phủ (tính theo% GDP) có tác động tích cực đến xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao, với độ trễ 5 năm (độ trễ) và dẫn đến tăng trưởng + 14,42% Nếu chúng ta tăng độ trễ từ 5 năm lên 7 năm, chúng ta sẽ thấy rằng hiệu ứng tích cực sẽ tăng từ + 14,42% lên + 16,07% Sự tăng trưởng của xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao và trung bình cho thấy khả năng cạnh tranh tăng Mô hình thu được cho thấy rằng chiến lược tăng trưởng đổi mới (tăng trưởng đầu tư RD) có thể dẫn đến tăng trưởng năng lực cạnh tranh Do đó, đạt được, ở cấp EU, mức chi RD trung bình cho doanh nghiệp 2% GDP có thể có tác động quan trọng trong khía cạnh này Dữ liệu được lấy từ mẫu của các công ty sản xuất trên khắp Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Anh, Áo
và Hungary Bộ dữ liệu đề cập đến giai đoạn 2007 - 2009, khi có sự siết chặt tài chính ở tất cả các nước châu Âu Phân tích cho thấy rằng thực hiện các hoạt động
RD có liên quan tích cực với quyết định tham gia vào thị trường quốc tế Có sự gia tăng trung bình về xu hướng xuất khẩu cho những công ty quyết định tham gia vào hoạt động RD trong khoảng từ 23% khi việc sử dụng hồi quy tuyến tính đơn giản đến gần 40% tính đến mức độ đồng nhất của RD Ngoài ra, hiệu quả của quyết định thực hiện RD đối với hành vi đầu tư được đánh giá là tích cực và có ý nghĩa cao, với các hiệu ứng cận biên trong phạm vi 4,3% - 6,2%, tùy thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của mô hình Nghiên cứu này đóng góp vào sự hiểu biết về vai trò của RD trong việc xác định khả năng cạnh tranh của công ty Điều này thể hiện một vấn đề rất quan trọng và đặc biệt quan trọng trong thời kỳ cạnh tranh toàn cầu Cụ thể hơn, chúng tôi cố gắng đánh giá thực nghiệm sự tương tác giữa RD do công ty thực hiện
Trang 24với quyết định tham gia vào hoạt động ngoại thương và xu hướng thực hiện đầu tư hữu hình
Trang 252.2.3 Bảng tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm trước đây
GDP, Xuất khẩu
Xuất khẩu (đối với biến phụ thuộc là GDP)
GDP (đối với biến phụ thuộc
là xuất khẩu)
Kỳ giao dịch, Lao động Vốn, Cú shock đầu ra
Xuât khẩu và GDP có mối liên hệ phi tuyến
Xuất khẩu RD
quy mô, cạnh tranh, nhu cầu, lao động, thời gian hoạt động doanh nghiệp, vốn, đại lý, nhà đầu tư nước ngoài
RD có tác động tiêu cực (rất bé) đến xuất khẩu
3 Chen (2007) “Exactly
what is the link between
export and growth in
Taiwan? new evidence
from the Granger
29 quan sát từ 1976
- 2004
GDP xuất khẩu
Kỳ giao dịch Sản lượng đầu
ra 1 nhân viên
Biến độc lập của 4 mô hình sẽ lần lượt thay thế cho nhau GDP
xuất khẩu
Kỳ giao dịch
Xuất khẩu và GDP có mối quan hệ tích cực
Trang 264 Mukhtar Wakil Lawan
(2017) Cointegration
and Causality between
Exports and Economic
Growth: Evidence from
Nigeria
Dữ liệu thời gian của Nigeria từ
1981 -
2015
phi dầu mỏ, nhập khẩu, hình thành tổng vốn, dân số, dự trữ nước ngoài, lạm phát
Tăng trưởng xuất khẩu phi dầu mỏ sẽ có hiệu quả trong việc tác động đến tăng trưởng kinh tế ngắn hạn điều này dẫn đến việc thúc đẩy xuất khẩu dầu mỏ và lĩnh vực phi dầu thông qua các mối liên kết nhân quả dài hạn khi đạt được trạng thái cân bằng
5 Falk and Lemos (2019)
Complementarity of RD
and productivity in SME
export behavior
17,168 SMEs in Autralia 1995-2011
Xuất khẩu RD, Lao động, doanh thu bán
hàng
RD và hành vi xuất khẩu có mối quan hệ tích cực
Trang 27Panel Cointegration
Approach”
7 Reppas và Christopoulos
(2005) The
export-output growth nexus:
Evidence from African
and Asian countries
22 quốc gia ít phát triển nhất châu á và châu phi
1969
-1999
GDP, xuất khẩu Xuất khẩu (biến phụ thuộc là
GDP) GDP (biến phụ thuộc là xuất khẩu)
tỷ lệ đầu tư, lao động
GDP và Export có mối quan
hệ tích cực trong khoản thời gian dài
GDP, xuất khẩu Độ mở kinh tế, Tăng trưởng,
tỷ lệ xuất khẩu, xuất khẩu chia GDP, tỷ lệ đầu tư
Ảnh hưởng của xuất khẩu đến tăng trưởng của kinh tế ở Paraguay rất hạn chế
9 Rubio và Roldan (2012)
“Do exports cause
growth? Some evidence
for the new EU
8 thành viên EU trong giai đoạn
GDP Tỷ lệ xuất khẩu trên GDP chỉ có Cộng Hòa Séc là cho
thấy những bằng chứng ủng
hộ cho lý thuyết ELG
Trang 28sản phẩm: máy bay và phụ tùng, thuốc, máy móc điện, phương tiện, xây dựng và sửa chữa, cao su, gỗ (sản phẩm làm từ gỗ, máy móc vi tính, hóa chất, nhiên liệu , sản phẩm da,radio tivi, phụ kiện tày lửa, sản phẩm phi kim loại, kim loại, máy móc sản xuất)
Xuất khẩu các sán phẩm công nghệ cao có ảnh hưởng tích cực đến GDP
12 Yang và cộng sự (2016)
How did Japanese
30 quốc gia đối tác
Xuất khẩu, GDP, nhập
Xuất khẩu, nhập khẩu, GDP, Chính sách quản lý rủi ro, hội
Xuất khẩu có mối quan hệ tiêu cực với GDP
Trang 29và chia thành bốn nhóm mẫu
GDP Tỷ lệ tăng tưởng xuất khẩu, tỷ
lệ tăng trưởng lao động, tỷ lệ đầu tư
Mở rộng xuất khẩu dẫn tới tăng trưởng kinh tế
14 Carboni, O A., &
Medda, G,2017 RD,
export and investment
decision: evidence from
European firms
14 759 công ty sản xuất tại các nước châu
âu
Xuất khẩu Đầu tƣ
RD, số lượng lao động, mức
độ đầu tư tài chính hữu hình,
số năm hoạt động, loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp lớn, nước ngoài, quốc gia)
RD có mối liên hệ tích cực với xuất khẩu Quyết định khả năng tham gia vào thị trường toàn cầu của 1 công ty
(Nguồn tác giả tự tổng hợp)
Trang 30CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Khung phân tích
Nền tảng lý thuyết của mô hình kinh tế lượng được bắt nguồn từ các lý thuyết tăng trưởng kinh tế và những nghiên cứu thực nghiệm trước Cụ thể từ mô hình nghiên cứu của Reppas và Christopoulos (2005) với các biến là: tổng sản phẩm quốc nội, xuất khẩu, tỷ lệ đầu tư trong GDP Qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm của các nhà kinh tế trước đây, cho rằng một trong những nhân tố vĩ mô tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế - giá trị xuất khẩu của một quốc gia là tỷ giá và mức độ lạm phát trong giá cả của nền kinh tế Do đó bài nghiên cứu đưa thêm hai nhân tố vào mô hình là Lạm phát và tỷ giá Để xem xét tác động của khoa học công nghệ lên tổng sản phẩm quốc nội và xuất khẩu bài nghiên cứu sẽ thêm một nhân tố nữa là chi phí nghiên cứu phát triển để xem xét ảnh hưởng của nhân tố này cho mô hình các nước đang phát triển và các nước phát triển
Dữ liệu trong bài nghiên cứu được thu thập từ website của World Bank:
https://data.worldbank.org của 14 quốc gia đang phát triển trên thế giới, và 13 quốc gia phát triển có dữ liệu chi phí nghiên cứu phát triển trong giai đoạn 1996 đến năm 2016
Các nhân tố ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa xuất khẩu và tổng sản lượng đầu ra
Trang 31Mô hình:
Các nhân tố tác động lên RGDP
Các nước đang phát triển
RGDP= a + α1*EXP + α2*INFLAT + α3*INVEST + α4*EXCHANGE + α5*RD+ kt
Các nước phát triển
RGDP= a + β1*EXP + β 2*INFLAT + β 3*INVEST + β 4*EXCHANGE + β 5*RD+ lt
Các nhân tố tác động lên EXPORT
Các nước đang phát triển
EXP = b + * µ1RGDP + µ 2*INFLAT + µ 3*INVEST + µ 4*EXCHANGE + µ 5*RD + mt
Các nước phát triển
EXP = b + * ɣ1RGDP + ɣ 2*INFLAT + ɣ 3*INVEST + ɣ 4*EXCHANGE + ɣ 5*RD+ nt
Mô tả biến:
Tổng sản lượng đầu ra RGDP Tổng sản phẩm quốc nội
Tổng giá trị xuất khẩu EXP Tổng doanh thu xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
Tỷ giá hối đoái EXCHANGE Tỷ giá hối đoái (so với USD)
Chi phí nghiên cứu
phát triển
RD Tổng chi phí nghiên cứu phát triển năm t/ GDP
năm t Qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm của các nhà kinh tế trước đây, cho rằng tồn tại một số nhân tố vĩ mô có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế cũng như xuất khẩu của một quốc gia là mức độ lạm phát trong giá cả của nền kinh tế, tỷ giá và đặc biệt là nhân tố chi phí nghiên cứu phát triển Ví vậy mô hình này thêm 3 biến vĩ
Trang 32mô EXCHANGE, INFLAT, RD để nghiên cứu thêm sự tác động của 3 nhân tố đó tới mối quan hệ RGDP và EXP
Kỳ vọng bài nghiên cứu :
Đối với biến phụ thuộc là RGDP
Tổng giá trị xuất khẩu EXP +
Chi phí nghiên cứu
phát triển
Đối với biến phụ thuộc là EXP :
Tổng sản lượng đầu ra RGDP +
Chi phí nghiên cứu
phát triển
Mẫu nghiên cứu lấy 27 quốc gia ngẫu nhiên gồm:
- 14 quốc gia đang phát triển : Algeria, Botswana, Egypt Arab Rep., Indonesia, Malaysia, Mauritius, Nigeria, Philippines, Ecuador, South Africa, Thailand, Uganda, Vietnam, Zambia
Trang 33- 13 quốc gia phát triển : Czech Republic, United Kingdom, Hungary, Israel, Japan, Korea, Latvia, Mexico, Slovenia, Poland, Romania, Russian Federation, United States
3.2 Các phương pháp phân tích mô hình hồi quy
Dữ liệu dùng cho việc phân tích thực nghiệm gồm có ba loại cơ bản: dữ liệu chéo,
dữ liệu chuỗi thời gian và dữ liệu bảng Dữ liệu chéo được dùng để phân tích cho một vài đơn vị mẫu, hay thực thể, vào cùng một thời điểm Trong khi, dữ liệu chuỗi thời gian là dữ liệu dùng cho việc phân tích một hay nhiều biến được thu thập ở các thời điểm khác nhau Dữ liệu bảng là sự kết hợp giữa dữ liệu chéo và dữ liệu thời gian và được sử dụng nhiều trong các bài nghiên cứu
Ưu điểm của dữ liệu bảng
Dữ liệu bảng được sử dụng cho việc nghiên cứu biến động của các nhân tố liên quan tới doanh nghiệp, tiểu bang, đất nước, v.v… theo chuỗi thời gian Giữa các mối liên hệ đó nhất định không đồng nhất Do vậy mô hình ước lượng dữ liệu bảng có thể hỗ trợ xem xét đến tính dị biệt đó bằng cách xem xét các biến số có tính đặc thù theo từng đối tượng
Ước lượng bằng dữ liệu bảng cho chúng ta nhiều thông tin hơn, ít xảy ra đa cộng tuyến giữa các biến và hiệu quả hơn
Để phân tích các quan sát theo không gian và lặp lại, dữ liệu bảng được xem xét là phù hợp hơn để nghiên cứu tính động của những thay đổi và dữ liệu bảng sẽ cho kết quả tốt hơn các nghiên cứu về những thay đổi xảy ra liên tục như tỷ lệ thất nghiệp, dịch chuyển lao động, nghiên cứu tính động của các nhân tố thay đổi như xuất khẩu, GDP, tỷ giá, lạm phát.…
3.2.1 Mô hình hồi quy kết hợp
Là mô hình hồi quy trong đó tất cả các hệ số đều không đổi theo thời gian và theo các cá nhân Bỏ qua phương diện không gian và thời gian của dữ liệu kết hợp và chỉ ước lượng hồi quy OLS thông thường Vì những giả định của của mô hình hết sức
Trang 34hạn chế nên bất chấp tính đơn giản, hồi quy kết hợp có thể bóp méo bức tranh thực
tế về mối quan hệ giữa các biến trong mô hình
3.2.2 Mô hình FEM
Mô hình FEM (Fix Effect Model) giả định rằng các hệ số độ dốc là không đổi giữa các đơn vị chéo (14 quốc gia đang phát triển và 13 quốc gia phát triển), hệ số chặn sẽ biến đổi theo từng đơn vị chéo (quốc gia) nhưng không đổi theo thời gian Khi đó FEM có thể được viết như sau:
Các xit là một vector dòng của tất cả các biến nội sinh có độ trễ
Hệ số β là một vector cột của các hệ số độ dốc chung cho nhóm quan sát
Số hạng sai số uit tuân theo các giả định kinh điển uit ~N(0,σ2u)
3.2.3 Mô hình REM
Mô hình REM (Random Effect Model) cũng giả định rằng hệ số độ dốc là không đổi giữa các đơn vị chéo nhưng hệ số chặn lại là một biến ngẫu nhiên (αi = α + εi) trong đó α là giá trị trung bình của các hệ số chặn của tất cả các đơn vị chéo, εi
là sai số ngẫu nhiên phản ánh những khác biệt mang tính cá nhân trong hệ số chặn của mỗi đơn vị chéo và εi~N (0, σ2
ε) Thế vào phương trình (3), ta được mô hình REM trong phương trình (4):
yit = α + xitβ + vit (4) Với vit = ε + uit, cho thấy vit và vis (với t ≠ s) thì có mối tương quan vì thế mô hình REM được ước lượng bởi phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS)
Trang 35Để chọn lựa sử dụng REM hay FEM, chúng tôi sẽ sử dụng kiểm định Hausman, giả thiết H0 của kiểm định Hausman là không có sự khác biệt đáng kể giữa hai phương pháp trên Nếu không đủ cơ sở bác bỏ giả thuyết H0, REM sẽ là mô hình phù hợp, nếu giả thiết Ho bị bác bỏ, FEM nên được sử dụng thay vì REM
3.2.4 Ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (GLS)
Cả hai ước lượng FEM và REM điều có chung đó là phải tồn tại giả thiết quan trọng: phần dư (sai số ngẫu nhiên) phải đồng nhất, nghĩa là không tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi và không có hiện tượng tự tương quan Nếu các giả định về phần dư (sai số ngẫu nhiên) bị vi phạm, thì các ước lượng FEM vẫn sẽ là ước lượng phù hợp, nhưng sẽ là một ước lượng không hiệu quả và vẫn bị chệch Lúc này thì phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát GLS được đưa ra để khắc phục vấn đề trên, giúp cho các kết quả ước lượng vững hơn Trong phương pháp GLS: giả định phương sai của phần dư (error variance) có liên quan đến một số biến
số khác zi như sau: Var(ut) = σ2
zi2 Để loại bỏ hiện tượng phương sai thay đổi (heteroscedasticity), chia cả 2 vế của phương trình hồi quy cho zi:
Với vt = ut/zi là sai số hồi quy mới
Bây giờ var(vt) = var(ut/zi) = var(ut)/zi2 = σ2zi2/zi2 = σ2 Và như vậy phần dư
từ mô hình hồi quy mới sẽ không còn hiện tượng phương sai thay đổi Lúc này, kết quả hồi quy từ mô hình GLS sẽ vững và đáng tin cậy hơn so với FEM và REM
Trang 36CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ KẾT QUẢ 4.1 Phân tích thống kê mô tả
Kết quả thống kê mô tả của các biến trong mô hình được trình bày sơ lược ở
bảng 4.1và 4.2 Bao gồm các biến: RGDP, EXP, EXCHANGE, INFLAT, INVEST,
RD lần lượt là các biến số tổng sản lượng đầu ra, xuất khẩu, tỷ giá, lạm phát, đầu
tư, chi phí nghiên cứu phát triển
Bảng 4.1 Thống kê mô tả của các biến tại các nước đang phát triển
Biến số Trung bình Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất
(Nguồn: Tính toán tác giả)
Các nước đang phát triển (14 nước lấy từ các nước châu Á và châu Phi) trên được chọn ngẫu nhiên với giá trị GDP bình quân năm 24.97, giá trị nhỏ nhất đạt 21.95 giá trị lớn nhất rơi vào khoảng 27.56
Giá trị xuất khẩu của các nước này rơi vào khoảng 20.27 (thấp nhất) và 27.11 (cao nhất) và trung bình vào khoảng 24.11
Tỷ giá so với đồng USD của các nước này nằm trong khoảng từ 21935 (tỷ giá cao nhất) và tỷ giá thâp1 nhất là 1.2 (nước Zambia ở Nam phi)
Tỷ lệ lạm phát (đo bằng sự tăng giá của sản phẩm) rơi vào khoản -1.7 (thấp nhất) và 58.45 (cao nhất) với mức trung bình nằm ở giá trị 6.78
Giá trị đầu tư tại các nước này thì nằm trong khoảng từ 16.37 (cao nhất) đến -7.04 (thấp nhất) ngưỡng trung bình là 2.57
Trang 37Chi phí nghiên cứu phát triển tại các nước đang phát triển có giá trị dao động trong khoảng từ 0 đến 2.62 và đạt mức trung bình 0.29
Bảng 4.2 Thống kê mô tả của các biến tại các nước phát triển
Biến Trung bình Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất
(Nguồn: Tính toán tác giả)
Các nước phát trên được chọn ngẫu nhiên với giá trị GDP bình quân năm 23.91, giá trị nhỏ nhất đạt 19.58 giá trị lớn nhất rơi vào khoảng 28.9
Giá trị xuất khẩu của các nước này rơi vào khoảng 21.6 (thấp nhất) và 28.5 (cao nhất) và trung bình vào khoảng 25.82
Chi phí nghiên cứu phát triển rơi vào khoảng 4.4 (cao nhất) và 0 (thấp nhất), mức trung bình đạt 1.54
Tỷ giá so với đồng USD của các nước này nằm trong khoảng từ 1401 (tỷ giá cao nhất) và tỷ giá thấp nhất là 0 mức trung bình là 118
Tỷ lệ lạm phát (đo bằng sự tăng giá của sản phẩm) rơi vào khoảng -1.54 (thấp nhất)
và 154.76 (cao nhất) với mức trung bình nằm ở giá trị 6.17
Giá trị đầu tư tại các nước này thì nằm trong khoảng từ 8.13 (cao nhất) đến 0 (thấp nhất) ngưỡng trung bình là 6.17
Trang 38Sự tác động của biến EXP và các biến còn lại lên biến RGDP
4.2 Kiểm tra đa cộng tuyến
Kiểm tra đa cộng tuyến là kiểm tra hiện tượng các biến độc lập trong mô hình
có mối tác động qua lại lẫn nhau hay không Nếu các biến độc lập trong mô hình tồn tại đa cộng tuyến hoàn hảo sẽ dẫn đến mô hình hồi quy không ước lượng được Nếu tồn tại đa cộng tuyến không hoàn hảo sẽ dẫn đến các biến độc lập mất đi ý nghĩa của nó trong mô hình và cũng là nguyên nhân cho sự không chính xác của hệ
số trong mô hình hồi quy Để kiếm tra đa công tuyến của mô hình ta dùng 2 cách sau: ma trận hệ số tương quan bảng 4.3 và 4.4, hệ số phóng đại phương sai VIF được trình bày ở bảng 4.5 và 4.6
4.2.1 Ma trận hệ số tương quan
Bảng 4.3 Ma trận hệ số tương quan tại các nước đang phát triển
(Nguồn: Tính toán tác giả)
Dựa vào sự tương quan bảng 4.3 ta thấy có 1 trường hợp biến xuất khẩu có giá trị > 0.5 nghi ngờ có sự tương quan Sẽ tiến hành kiểm tra tiếp tại hệ số phóng đại phương sai VIF
Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan (tại các nước phát triển có RD)