Do đó, với một ngân hàng có sự quản trị doanh nghiệp tốt, các nhà điều hành của công ty sẽ điều hành công ty tham gia vào các hoạt động kinh doanh có thể khiến cho dòng tiền của công ty
Trang 1-0o0 -
NGUYỄN VĂN LƯƠNG
QUY MÔ, QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ MỨC ĐỘ
RỦI RO CỦA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH
BẰNG CHỨNG TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2-0o0 -
NGUYỄN VĂN LƯƠNG
QUY MÔ, QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ MỨC ĐỘ
RỦI RO CỦA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Trang 3rủi ro của các định chế tài chính – Bằng chứng tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng rôi và có sự hỗ trợ của Giảng viên hướng dẫn là TS Vũ Việt Quảng Các thông tin, dữ liệu sử dụng trong luận văn là trung thực; các nội dung trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tp Hồ Chí Minh, Ngày 19 tháng 03 năm 2019
Người thực hiện
Nguyễn Văn Lương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.5 Đóng góp của Luận văn 6
1.6 Kết cấu luận văn 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
2.1 Khung lý thuyết 8
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 11
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Mô hình nghiên cứu 17
3.2 Mô tả biến nghiên cứu 20
3.3 Dữ liệu và mẫu nghiên cứu 27
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
4.1 Phân tích thống kê mô tả 29
4.2 Ma trận hệ số tương quan 32
4.3 Kết quả hồi quy 34
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Đóng góp của đề tài nghiên cứu 49
5.3 Hạn chế của đề tài nghiên cứu 50
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 5PHỤ LỤC 55
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Fixed effect model – Mô hình hồi quy hiệu ứng cố định FEM Random effect model – Mô hình hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên REM
Return on assets – Tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản ROA
Two-Stage least squares – Mô hình hồi quy 2 giai đoạn 2SLS Chief Executive Officer – Tổng giám đốc điều hành CEO Nhóm các nền kinh tế lớn, bao gồm 20 nền kinh tế lớn nhất Thế giới G20
Federal Reserve System – Cục dự trữ liên bang Mỹ FED
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Danh sách các ngân hàng 5
Bảng 2.1: Tổng hợp mối tương quan giữa quy mô doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp và mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam theo giả thuyết nghiên cứu 11
Bảng 2.2: Tóm tắt các ngiên cứu trước đây 15
Bảng 3.1: Tóm tắt biến và kỳ vọng dấu 25
Bảng 4.1: Thống kê mô tả biến được sử dụng trong mô hình 31
Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan 33
Bảng 4.3: Hồi quy ước lượng mối tương quan giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ rủi ro ( được đo lường bởi biến phụ thuộc ln(Z-score)) 36
Bảng 4.4: Hồi quy ước lượng mối tương quan giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ rủi ro (được đo lường bởi biến phụ thuộc ) 37
Bảng 4.5: Mô hình hồi quy 2SLS với biến phụ thuộc ln(Z-score) 40
Bảng 4.6: Mô hình hồi quy 2SLS với biến phụ thuộc 41
Bảng 4.7: Mô hình hồi quy 2SLS với biến phụ thuộc CAR 42
Bảng 4.8: Mô hình hồi quy 2SLS với biến phụ thuộc ROA 43
Bảng 4.9: Mô hình hồi quy 2SLS với biến phụ thuộc 44
Bảng 4.10: Hồi quy ước lượng mối tương quan giữa Tổng doanh thu (Revenue) và mức độ rủi ro (được đo lường bởi biến phụ thuộc Z-score) 45
Bảng 4.11: Hồi quy ước lượng mối tương quan giữa Tổng doanh thu (Revenue) và mức độ rủi ro (được đo lường bởi biến phụ thuộc ) 46
Bảng 4.12: So sánh mối tương quan giữa các biến trong giả thuyết nghiên cứu và kết quả nghiên cứu 47
Trang 8TÓM TẮT
Tác giả thực hiện bài luận văn này nhằm mục đích tìm hiểu về mối quan hệ giữa quy
mô doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp và mức độ chấp nhận rủ ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Tác giả thực hiện hồi quy dữ liệu bảng với dữ liệu của
24 ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2017 với tổng cộng 200 quan sát, trong đó có 13 ngân hàng đã được niêm yết trên
2 sàn chứng khoán của Việt Nam là HNX và HOSE, 11 ngân hàng chưa niêm yết hoặc niêm yết trên sàn UPCOM và thị trường OTC (Tác giả đã loại bỏ các ngân hàng không hoạt động trong khoảng thời gian nghiên cứu hoặc có độ dài dữ liệu không đạt yêu cầu)
Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố quy mô và quản trị doanh nghiệp có tác động đến mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Cụ thể là sự gia tăng trong quy mô ngân hàng làm gia tăng rủi ro của các ngân hàng Trong khí đó, ở chiều hướng ngược lại, sự gia tăng trong quản trị doanh nghiệp và tuổi của ngân hàng sẽ làm giảm mức độ rủi ro của các ngân hàng
Từ khóa: Mức độ rủi ro, quy mô doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, ngân hàng thương mại, Việt Nam
Trang 9ABSTRACT
The author aims to learn about the relationship between firm size and risk-taking of commercial banks in Vietnam The author made panel data with data of 24 commercial banks operating in Vietnam in the period from 2009 to 2017 with a total
of 200 observations, of which 13 banks were listed on Vietnam's 2 stock exchanges are HNX and HOSE, 11 banks have not yet listed or listed on UPCOM and OTC market (The author has removed banks that are not active during the study period or whose data length is not satisfactory)
Research results show that firm size and corporate governance factors have an impact
on risk-taking of commercial banks in Vietnam Specifically, the increase in bank size increases the risk of banks, and banks engage in excessive risk-taking mainly through increased leverage In the opposite direction, the increase in corporate governance measured as the median director dollar stockholding and the age of the bank will reduce risk-taking of banks
Key words: risk-taking, leverage, firm size, corporate governance, commercial banks, Vietnam
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Chương 1 sẽ giúp người đọc có được cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu mà tác giả thực hiện phân tích trong bài luận văn này thông qua các mục lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng
1.1 Lý do chọn đề tài
Thuật ngữ “Quá lớn để sụp đổ - Too-big-to-fail” bắt đầu xuất hiện từ năm 1984, sau
sự kiện Tổng Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ - FDIC thực hiện cứu trợ cho ngân hàng Continental Illinois khỏi phá sản Thuật ngữ này dùng để chỉ các tổ chức, định chế tài chính, doanh nghiệp có quy mô rất lớn và có sự ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, mà để tránh những tác động tiêu cực đến nền kinh tế và khả năng xảy ra tình trạng domino dẫn đến sự sụp đổ của cả hệ thống thì chính phủ buộc phải thực hiện việc cứu trợ cho các tổ chức tài chính này khi các tổ chức tài chính này lâm vào khủng hoảng có nguy cơ dẫn đến phá sản, hoặc có bất kỳ sự biến động nào xảy ra đối với nền kinh tế Khi một ngân hàng lớn gặp khủng hoảng, các nhà quản lý sẽ không muốn để ngân hàng đó sụp đổ Sự sụp đổ của một ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng lớn sẽ gây ra rất nhiều hệ lụy cho cả người gửi tiền, người đi vay, cho các ngân hàng khác cũng như cho cả hệ thống tài chính Người gửi tiền sẽ không thể nhận được tiền hoặc nhận được nhưng không đầy đủ số tiền họ đã gửi vào ngân hàng Nhiều người vay tiền
sẽ mất đi nguồn cho vay và sẽ phải tìm kiếm nguồn vốn ở các tổ chức tài chính khác với một loạt các chi phí gia tăng và chi phí mới phát sinh thêm để có được khoản vay Mặt khác, các ngân hàng cũng phải bổ sung nguồn tiền cho vay của mình bằng cách đi vay ở các tổ chức tài chính, ngân hàng khác Do đó sự sụp đổ của một ngân hàng sẽ gây ảnh hưởng đến các ngân hàng khác và sẽ tạo ra tác động dây chuyền lan rộng ra
cả nền kinh tế Tác động càng lớn khi quy mô của ngân hàng bị sụp đổ càng lớn, do tầm ảnh hưởng của ngân hàng đó đến nền kinh tế càng lớn, số lượng các đối tác, người gửi tiền và vay tiền càng lớn Khi đó, nền kinh tế sẽ phải chịu hậu quả rất nặng
nề Vì thế, với tâm lý sẽ được cứu trợ khi rủi ro xảy ra, các ngân hàng càng lớn thì có
xu hướng càng mạo hiểm hơn trong hoạt động kinh doanh Thực tế đã chứng minh điều đó, với tâm lý cho rằng mình quá lớn để sụp đổ, các ngân hàng lớn của Anh và
Trang 11Mỹ đã thực hiện các hoạt động nghiệp vụ của mình một cách đầy rủi ro Khi cuộc khủng hoảng kinh tế Thế giới năm 2008 xảy ra, một loạt các ngân hàng lớn trên Thế giới rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính Lúc này, các chính phủ đã phải tung ra các gói cứu trợ khổng lồ để cứu vãn tình thế, giúp các tổ chức vượt qua cuộc khủng hoảng Có thể kể đến một số trường hợp điển hình như vào tháng 3/2018, FED cung cấp 30 tỷ đô la nhằm hỗ trợ cho thương vụ JPMorgan Chase mua lại Bear Stearns nhằm tránh cho việc Bear Stearns tuyên bố phá sản Gói cứu trợ trị giá 85 tỷ đô la đã được chính phủ Mỹ cấp cho công ty bảo hiểm AIG vào tháng 9/2008 Ngân hàng trung ương Anh đã cung cấp gói cứu trợ 1 tỷ bảng Anh để ngân hàng Northern Rock chi trả cho người gửi tiền Với sự hỗ trợ này, Northern Rock đã thoát khỏi tình trạng thiếu hụt tiền mặt, nhưng số lượng người dân chờ rút tiền vẫn không suy giảm Chính phủ Anh phải tiếp quản tập đoàn ngân hàng này và thực hiện việc quốc hữu hóa Northern Rock vào tháng 2/2008 Mặc dù các chính phủ đã ra sức hỗ trợ, vẫn có các cuộc giải cứu bất thành, chính phủ Anh và Mỹ đã buộc phải cho phép một số các ngân hàng phá sản Mở đầu là sự kiện ngân hàng Northern Rock của Anh bị quốc hữu hóa đầu năm 2008, tiếp theo đó là ngân hàng lớn thứ sáu nước Mỹ - Washington Mutual vào năm 2008, ngân hàng lớn thứ 4 nước Mỹ là Lehman Brothers năm 2008
Sau cuộc khủng hoảng năm 2008, với một loạt sự sụp đổ của các ngân hàng hàng đầu Thế giới, các quốc gia trên Thế giới bắt đầu đẩy mạnh việc kiểm soát những ngân hàng lớn này một cách chặt chẽ Cụ thể, vào năm 2014, tại cuộc họp thượng đỉnh của nhóm G20 tổ chức ở thành phố Brisbane của Australia, nguyên thủ quốc gia của 20 nước thuộc nhóm G20 đã thống nhất thông qua một kế hoạch kiểm soát tài chính nhằm chấm dứt tình trạng "Quá lớn để sụp đổ" của các tổ chức tài chính Năm 2015, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã thông qua một loạt các quy định mới, trong đó có các quy định về việc chấm dứt tình trạng FED cung cấp các gói cứu trợ tài chính đối với từng công ty tài chính tư nhân mỗi khi các công ty lâm vào khủng hoảng Việc FED thông qua các quy định trên đã đặt một dấu chấm hết cho khái niệm “too big to fall” tại Mỹ bằng cách FED chỉ được phép thực hiện việc cung cấp các gói cứu trợ cho toàn bộ hệ thống tài chính Mỹ thay vì giải cứu từng công ty cá nhân như trước đây Cụ
Trang 12thể, FED chỉ có thể cung cấp khoản cứu trợ tài chính cho ít nhất từ 5 tổ chức tài chính trở lên
Tại Việt Nam, trước năm 2018, không chỉ các ngân hàng có quy mô đạt đến trạng thái
“Quá lớn để sụp đổ”, cả các ngân hàng nhỏ lẻ cũng đều nhận được sự đảm bảo của chính phủ sẽ không để cho tình trạng phá sản xảy ra Bằng chứng là việc chính phủ đã thực hiện việc mua lại các ngân hàng 0 đồng, hoặc sáp nhập các ngân hàng nhỏ, hoạt động yếu kém vào các ngân hàng lớn Vì thế, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam,
cả ngân hàng có quy mô lớn và nhỏ, đều có mức rủi ro rất cao và điều này tiềm ẩn rủi
ro rất lớn đối với nền kinh tế
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 4 và chính thức có hiệu lực từ tháng 1 năm 2018 Trong các nội dung được sửa đổi, bổ sung có một điều luật lần đầu tiên được áp dụng Theo đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ trình Chính phủ phê duyệt quyết định cho phép phá sản các tổ chức tín dụng đang bị kiểm soát đặc biệt lâm vào tình trạng phá sản theo quy định tại Luật Điều này sẽ tạo tâm lý đầu tư, gửi tiền vào các tổ chức tín dụng có quy mô lớn, hoạt động an toàn và hiệu quả Tuy nhiên, liệu có phải các ngân hàng có quy mô càng lớn thì hoạt động càng hiệu quả và giảm thiểu rủi ro?
Thực tế cho thấy, tại Việt Nam, những cuộc khủng hoảng của các ngân hàng lớn là rất
ít, có thể kể đến cuộc khủng hoảng năm 2003 và 2012 của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – ACB Tuy nhiên cuộc khủng hoảng năm 2003 xuất phát từ việc Ngân hàng Á Châu bị kẻ xấu tung tin đồn thất thiệt Còn những cuộc khủng hoảng liên quan đến các ngân hàng nhỏ là rất nhiều, điển hình là sự kiện Ngân hàng Nhà nước đã phải mua lại các ngân hàng thương mại với giá 0 đồng là các ngân hàng nhỏ lẻ, gồm Ngân hàng Đại Dương – Ocean Bank, Ngân hàng Xây dựng – VNCB, Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu – GPBank
Vậy, liệu quy mô hoạt động có phải là vấn đề quan trọng tác động đến mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam? Sử dụng dữ liệu của các tổ chức tín dụng trong giai đoạn từ năm 2008-2017, tác giả kiểm tra việc quy mô của các ngân hàng có thực sự tác động đến mức độ rủi ro của các ngân hàng hay không? Xuất phát từ thực tiễn đã nêu trên, tác đã quyết định chọn đề tài “Quy mô, quản trị doanh nghiệp và mức
Trang 13độ rủi ro của các định chế tài chính Bằng chứng tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của bài nghiên cứu là phân tích, đánh giá để xem xét sự tác động của các yếu tố quy mô hoạt động, quản trị doanh nghiệp, … đến mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Để giải quyết mục tiêu tổng quát, tác giả thực hiện các mục tiêu cụ thể :
Kiểm tra vai trò của nhân tố quy mô hoạt động của các ngân hàng tác động đến mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Tìm hiểu các yếu tố khác như quản trị doanh nghiệp ( được đo lường bởi hai yếu tố là trung vị giá trị bằng tiền của lượng cổ phần sở hữu bởi các thành viên trong Ban giám đốc, tỷ lệ sở hữu của CEO), tuổi của ngân hàng tác động đến mức độ rủi ro của các ngân hàng
1.3 Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự tác động của quy mô đến mức độ rủi ro các ngân hàng thương mại tại Việt Nam – được đo lường bằng hệ số Z-score
Dữ liệu bài nghiên cứu này được thực hiện dựa trên số liệu của 24 ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong suốt giai đoạn 2009 – 2017 Mẫu dữ liệu nghiên cứu đã loại bỏ các ngân hàng đã bị sát nhập trong giai đoạn nghiên cứu và các ngân hàng có độ dài
dữ liệu không đáp ứng yêu cầu của luận văn
Nguồn dữ liệu cho bài luận văn được thu thập chủ yếu từ Vietstock (Công ty cung cấp thông tin tài chính lớn tại Việt Nam với nguồn dữ liệu mở có độ tin cậy cao) Tuy nhiên, bộ dữ liệu thu thập từ Vietstock là không đầy đủ Do đó, tác giả đã kết hợp tìm kiếm những dữ liệu trên các Báo cáo tài chính, bảng thuyết minh Báo cáo tài chính , Bản cáo bạch, Báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2017
Hiện nay, trong danh sách 24 ngân hàng được lấy số liệu, có 13 ngân hàng đã được niêm yết trên 2 sàn chứng khoán của Việt Nam là HNX và HOSE, 11 ngân hàng chưa niêm yết hoặc niêm yết trên sàn OTC
Trang 144 Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BID)
Nguồn: tác giả tự tổng hợp
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng dữ liệu của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam với dữ liệu bảng (Panel data) được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến 2017 Các dữ liệu cần thiết được thu thập từ kho cơ sở dữ liệu của Vietstock, đây là một trong những công ty cung cấp dữ liệu tài chính uy tín hàng đầu tại Việt Nam, và được bổ sung bằng cách thu thập thủ công từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và bản cáo bạch của các ngân hàng thương mại
Luận văn áp dụng các phương pháp định lượng cùng với các mô hình hồi quy dữ liệu bảng thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy Robust và mô hình hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên - Random Effect (REM) để xem xét sự tác động của quy mô doanh nghiệp lên mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Sau đó, để xử lý vấn đề
Trang 15nội sinh của biến quy mô doanh nghiệp, tác giả sử dụng mô hình hồi quy hai giai đoạn Two-stage Least Square (2SLS)
Để xem xét sự tác động của biến quy mô doanh nghiệp tác động đến mức độ rủi ro như thế nào, tác giả tiến hành kiểm tra sự tác động của biến quy mô doanh nghiệp đến
3 thành phần cấu tạo nên biến đo lường mức độ rủi ro Z-score là ROA, CAR và
1.5 Đóng góp của Luận văn
Tại Việt Nam, với tâm lý được bảo vệ từ các cơ quan quản lý, các ngân hàng sẵn sàng chấp nhận mức độ rủi ro cao nhằm tìm kiếm mức sinh lợi cao, đặc biệt là ở những ngân hàng lớn Điều này tạo ra rủi ro rất lớn đối với các ngân hàng và đặc biệt nghiêm trọng đối với nền kinh tế
Việc tìm hiểu về mối quan hệ giữa mức độ rủi ro của các ngân hàng và quy mô hoạt động sẽ đưa ra một cái nhìn cụ thể về sự tác động của quy mô hoạt động đến mức độ rủi ro của ngân hàng ở Việt Nam Qua đó, các lãnh đạo ngân hàng cũng như các cơ quan quản lý có thể đưa ra các giải pháp, quy định phù hợp nhằm nâng cao khả năng quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Và từ đó, góp phần ổn định nền tài chính quốc gia, đảm bảo nền kinh tế Việt Nam khỏe mạnh và ổn định, tạo
đà phát triển vững chắc hơn
1.6 Kết cấu luận văn
Bài luận văn gồm 5 phần:
Chương 1: Giới thiệu : Đầu tiên tác giả giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, và trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu bài nghiên cứu, ý ngh a và kết cấu của nghiên cứu
Chương 2 : Tổng quan lý thuyết : Tác giả sẽ trình bày các bài nghiên cứu trước đây trên thế giới Từ các bài nghiên cứu trên, tác giả xây dựng các giả thuyết nghiên cứu cho bài nghiên cứu này
Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu : Phần này sẽ trình bày lần lượt về mô hình nghiên cứu, giải thích các biến trong bài và cách thu thập dữ liệu nghiên cứu Cuối cùng là trình bày về phương pháp kiểm định mô hình, phân tích và trình bày kết quả kiểm định
Trang 16Chương 4 : Kết quả nghiên cứu : Phần này sẽ trình bày các kết luận về mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam, so sánh kết quả với các bài nghiên cứu trước đây, và đưa ra một số kiến nghị cho ngân hàng
Chương 5: Kết luận : Phần này sẽ tổng kết lại bài nghiên cứu, các kết quả đạt được và nêu lên những hạn chế khi thực hiện đề tài này Đồng thời đưa ra một số định hướng để phát triển đề tài trong tương lai
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Thông qua Chương 2, tác giả sẽ trình bày về phần tổng quan cơ sở lý thuyết của luận văn - về mối quan hệ giữa quy mô và mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại, về mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và mức độ rủi ro của các ngân hàng, tóm tắt kết quả của các nghiên cứu đã được công bố trước đây để người đọc trang bị kiến thức
về lý thuyết lẫn thực tiễn về mối quan hệ giữa quy mô và mức độ rủi ro và mối quan
hệ giữa quản trị doanh nghiệp và mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại Thông qua Chương 2, tác giả xây dựng nền tảng cở sở về mặt lý thuyết cho các chương tiếp theo của luận văn
2.1 Khung lý thuyết
2.1.1 Mối quan hệ giữa quy mô và mức độ rủi ro của các ngân hàng
Cơ sở lý thuyết chính của luận văn là việc các ngân hàng có quy mô càng lớn thì có mức độ rủi ro càng lớn Lý thuyết này được bắt nguồn từ hiện tượng “Quá lớn để sụp
đổ - Too-big-too-fail” trong l nh vực tài chính, sau sự kiện Tổng Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ - FDIC thực hiện cứu trợ cho công ty Continental Illinois vào năm 1984 Theo đó, khi quy mô của các ngân hàng, tổ chức tài chính càng lớn thì tầm ảnh hưởng của các ngân hàng, tổ chức tài chính đó đến nền kinh tế càng lớn Khi quy
mô của các ngân hàng, tổ chức tài chính đó đạt đến trạng thái “quá lớn để sụp đổ”, sự sụp đổ của họ sẽ ảnh hưởng mạnh đến các ngân hàng khác, gây ra mối đe dọa đến hoạt động trung gian tài chính và gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền kinh tế Bên cạnh đó, khi các ngân hàng và các tổ chức tài chính lớn gặp khủng hoảng, niềm tin của người dân đối với hệ thống ngân hàng vốn là xương sống của nền kinh tế giảm sút nghiêm trọng Một lượng vốn lớn lúc này sẽ bị rút ra khỏi nền kinh tế, hiệu ứng lan truyền sẽ diễn ra, nguồn cung thanh khoản sụt giảm nghiêm trọng Các cá nhân, tổ chức sẽ bị hạn chế nguồn vốn vay hoặc phải đi vay với mức lãi suất cao hơn rất nhiều
so với khi nền kinh tế ở trong trạng thái ổn định Điều này gây ra mối nguy hại vô cùng to lớn đối với nền kinh tế Chính vì thế, khi các ngân hàng, tổ chức tài chính gặp khủng hoảng, các cơ quan quản lý buộc phải đưa ra các gói cứu trợ, đảm bảo cho các ngân hàng, tổ chức tài chính vượt qua được khó khăn Với tâm lý sẽ được các cơ quan quản lý ra tay cứu trợ, các nhà quản lý cũng như các chủ sở hữu của các ngân hàng
Trang 18với quy mô hoạt động càng lớn thì càng có động cơ để gia tăng rủi ro trong hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm mức sinh lợi cao hơn trên thị trường Rất nhiều tác giả đã công bố các nghiên cứu của mình về việc kiểm tra mức độ rủi ro của các tổ chức tài chính, đặc biệt là sau các cuộc khủng hoảng kinh tế Thế Giới Trong số các nghiên cứu đã được công bố, có thể kể đến một số bài nghiên cứu của Sauder, Stock và Travlos (1990), Demsetz và Strahan (1997), Laeven và Levine (2009), Houston (2010), … Tuy nhiên, số lượng bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ rủi ro và quy mô hoạt động của các tổ chức tài chính thì chưa nhiều, có thể kể đến bài nghiên cứu của Boyl và Runkle (1993), Sanjai Bhagat, Brian Bolton và Jun Lu (2015), … Các kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan thuận giữa quy mô và mức độ rủi
ro của các tổ chức tài chính Theo kết quả nghiên cứu của French (2010) đăng trên Squam Lake Report cho thấy chính sách quá lớn để sụp đổ (too-big-too-fail pilicies)
đã đưa ra một sự đảm bảo cho các công ty có tầm ảnh hưởng và quy mô lớn về việc tung ra các gói cứu trợ khi các công ty này lâm vào tình trạng khủng hoảng Với sự đảm bảo chắc chắn từ các cơ quan quản lý, các chủ sở hữu của các công ty này có thể gia tăng rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty nhằm tìm kiếm một mức lợi nhuận cao hơn mà không chịu áp lực về mức rủi ro phải gánh chịu hay áp lực từ các
cổ đông, các chủ nợ, Từ đấy dẫn đến tình trạng tư nhân hóa lợi nhuận thu được nhưng xã hội hóa các rủi ro phát sinh Trong kết quả nghiên cứu của mình, Rime (2005) thấy rằng trạng thái “Quá lớn để sụp đổ” có tác động tích cực đáng kể đến xếp hạng của các ngân hàng Laeven và Levine (2009) ghi nhận mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô và rủi ro của các ngân hàng …
Với các lập luận trên, tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu thứ nhất H01 như sau:
H01 : Có mối quan hệ cùng chiều giữa Quy mô doanh nghiệp và mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
2.1.2 Mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và mức độ rủi ro của các ngân
hàng
Lý thuyết quản trị doanh nghiệp hiện đại cho rằng các doanh nghiệp có hoạt động quản trị tốt sẽ làm tăng giá trị cũng như giảm thiểu rủi ro của công ty thông qua việc đầu tư vào các dự án NPV dương và rủi ro thấp Tuy nhiên, các cổ đông, các nhà điều
Trang 19hành của các công ty cũng không hề thờ ơ với các dự án có rủi ro cao miễn là các dự
án đó đem lại mức lợi nhuận tiềm năng đủ lớn và giúp nâng cao giá trị của công ty Bên cạnh đó, theo lý thuyết quyền chọn của Black và Scholes (1973) và Merton (1974), trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, giá trị của một quyền chọn tăng khi
độ biến động của tài sản cơ sở tăng Việc nắm giữ cổ phần của công ty tương đương với việc các cổ đông của công ty đang nắm giữ quyền chọn mua với giá trị của công
ty là tài sản cơ sở, giá trị khoản nợ là giá thực hiện, nên theo đó, dòng tiền của công ty càng biến động mạnh, kỳ vọng về sự gia tăng trong giá trị của công ty càng lớn, do đó giá trị quyền chọn của các cổ đông càng có giá trị Do đó, với một ngân hàng có sự quản trị doanh nghiệp tốt, các nhà điều hành của công ty sẽ điều hành công ty tham gia vào các hoạt động kinh doanh có thể khiến cho dòng tiền của công ty biến động mạnh nhằm gia tăng giá trị của công ty, từ đó, tác giả có thể kỳ vọng rằng điều này sẽ làm gia tăng mức độ rủi ro của các công ty, cụ thể trong nghiên cứu của tác giả là các ngân hàng thương mại
Tuy nhiên, ở một chiều hướng ngược lại, trong bài nghiên cứu của Rajan (2006) và Diamond và Rajan (2009), kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hiệu suất làm việc của các giám đốc điều hành được đánh giá dựa trên các tiêu chí mà một trong số đó là dựa trên lợi nhuận mà các giám đốc điều hành tạo ra so với các đồng nghiệp khác của họ Trong nghiên cứu của Scott (2006), Scott cũng đã nêu rõ “Việc trả lương, thưởng theo hiệu suất làm việc cũng đem lại những động lực nhất định giúp các nhà quản lý, điều hành có động lực hơn để thực hiện tốt công việc của mình Việc đánh giá sự nỗ lực của các nhà quản lý, điều hành được đánh giá dựa trên hiệu suất của lợi nhuận, dòng tiền, giá trị thị trường của công ty, ” Với áp lực được tạo ra đó, các nhà quản lý, điều hành công ty có động cơ rất lớn để thực hiện các hoạt động có mức rủi ro quá mức để tìm kiếm một mức lợi nhuận lớn, ngay cả khi các hoạt động đó không thực sự tối đa hóa giá trị của công ty Bài nghiên cứu của Diamond và Rajan (2009) đã chỉ ra rằng " Với mong muốn gia tăng giá cổ phiếu cũng như danh tiếng của bản thân, ngay
cả khi các nhà quản lý nhận ra rằng các chiến lược này không thực sự tạo ra giá trị, thì
nó vẫn là sự lựa chọn hàng đầu của họ" Với những lập luận như vậy, tác giả có thể đưa ra những kỳ vọng về việc những công ty có sự quản trị doanh nghiệp tốt sẽ có
Trang 20những biện pháp để khuyến khích và kiểm soát để tránh rủi ro cho công ty, và từ đó sẽ làm giảm mức độ rủi ro của công ty
Với các lập luận trên, tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu thứ hai H02 và thứ ba H03
Mối tương quan Mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Các cuộc khủng hoảng tài chính càng ngày càng có tác động lớn đến nền kinh tế cả về quy mô lẫn hậu quả mà các cuộc khủng hoảng đó gây ra Ngày nay, trong thời đại thế giới phẳng, công nghệ đã có những bước phát triển thần kỳ và các quốc gia trên Thế giới đang dần hội nhập với nền kinh tế toàn cầu thì các cuộc khủng hoảng kinh tế đã không còn bị giới hạn bởi yếu tố địa lý hay trong khuôn khổ của một quốc gia cụ thể nào cả mà nó diễn ra trên quy mô toàn cầu Tất cả các quốc gia đều có sự tác động nhất định tùy thuộc vào mức độ hội nhập vào nền kinh tế quốc tế của từng quốc gia Cũng chính vì thế, hậu quả mà các cuộc khủng hoảng tài chính trong thời đại hiện nay gây ra càng trầm trọng hơn Do đó, việc kiểm soát mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh tế Việc tìm hiểu nguyên nhân, các mối tương quan, quan hệ, sự tác động của các yếu tố đến mức độ rủi ro của các tổ chức tài chính đang là yêu cầu cấp thiết và là sự
Trang 21quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu về kinh tế, đặc biệt là về đề tài tài chính Rất nhiều bài nghiên cứu về đề tài này đã được các nhà nghiên cứu công bố
Vào năm 1990, Saunders, Stock và Travlos đã công bố bài nghiên cứu về sự tác động của cấu trúc sở hữu, bãi bỏ quy định tác động đến mức độ rủi ro của ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ với mẫu nghiên cứu là 38 ngân hàng đang niêm yết lớn tại Mỹ, dữ liệu nghiên cứu từ năm 1978 đến 1985 Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả đã sử dụng độ lệch chuẩn lợi nhuận hàng ngày của cổ phiếu là biến phụ thuộc đại diện cho mức độ rủi ro của ngân hàng, Tổng tài sản và giá trị sở hữu cổ phiếu của nội bộ ngân hàng là các biến độc lập Qua bài nghiên cứu, Saunders và các cộng sự nhận thấy rằng tổng tài sản có mối tương quan cùng chiều với biến đo lường mức độ rủi ro của ngân hàng là độ lệch chuẩn lợi nhuận hằng ngày của cổ phiếu Điều này cho thấy, các ngân hàng có quy mô càng lớn, mức độ rủi ro của các ngân hàng càng lớn Bên cạnh đó, tác giả còn nhận thấy rằng các ngân hàng được kiểm soát bởi các cổ đông thể hiện hành vi rủi ro cao hơn các ngân hàng được kiểm soát bởi các nhà quản lý
Với kết luận tương tự, kết quả bài nghiên cứu của Boyd và Runkle (1993) với dữ liệu nghiên cứu gồm các 122 ngân hàng lớn niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ trong khoảng thời gian từ 1971 đến 1990 cho thấy rằng tổng tài sản có mối quan hệ nghịch chiều với Z-score, độ lệch chuẩn của ROA, tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, hay nói cách khác, kết quả cho thấy các ngân hàng có quy mô hoạt động càng lớn thì mức độ rủi ro càng lớn Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu này, Boyd và Runkle chỉ tập trung vào các ngân hàng lớn có niêm yết nên không khái quát được bức tranh
về mức độ rủi ro của cả hệ thống tài chính
Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng có mối quan hệ nghịch chiều giữa Tổng tài sản
và Z-score , độ biến động của ROA, tỷ lệ vốn trên tổng tài sản là bài nghiên cứu của
De Nicolo (2000) Trong bài nghiên cứu này, De Nicolo đã sử dụng dữ liệu của 419 ngân hàng trong giai đoạn từ năm 1988 – 1998, tuy nhiên điểm khác biệt của bài nghiên cứu này so với bài nghiên cứu của Boyd và Runkle (1993) là đối tượng nghiên cứu bao gồm các ngân hàng trên Thế giới
Trang 22Bài nghiên cứu của Demsetz, Saidenberg và Strahan (1997) với mẫu nghiên cứu là
134 ngân hàng lớn niêm yết tại Mỹ và dữ liệu nghiên cứu từ năm 1980 đến 1993 Họ
sử dụng biến phụ thuộc đại diện cho rủi ro là rủi ro đặc biệt của công ty (Firm-specific risk σ(Ɛ)), biến độc lập là logarit tự nhiên của Tổng tài sản Bài nghiên cứu cho thấy các ngân hàng có quy mô lớn được đa dạng hóa tốt không làm giảm rủi ro trong quá trong hoạt động Trong kết quả phân tích hồi quy, nghiên cứu nhận thấy quy mô công
ty có ảnh hưởng không đáng kể trong việc giảm rủi ro Một phát hiện khác của bài nghiên cứu là mối quan hệ đáng kể giữa cơ cấu sở hữu và rủi ro chỉ tồn tại ở các ngân hàng có giá trị nhượng quyền thấp
Vào năm 2006, Boyd, De Nicolo và Al Jalal đã công bố một bài nghiên cứu về các ngân hàng nhỏ hoạt động ở các khu vực phi nông thôn Trong đó, các tác giả kiểm tra mối quan hệ giữa Tổng tài sản và Z-score, tỷ lệ vốn trên tổng tài sản và kết quả một lần nữa cho thấy là có mỗi quan hệ nghịch chiều giữa các biến phụ thuộc và các biến độc lập
Sau đó, cuộc khủng hoảng kinh tế Thế giới diễn ra vào năm 2008, với sự phá sản của một loạt các ngân hàng, tổ chức tài chính lớn trên Thế giới, cùng với việc các chính phủ đã phải tung ra các gói cứu trợ khổng lồ để giải cứu các tổ chức tín dụng này khỏi nguy cơ phá sản đã đặt ra cho các nhà nghiên cứu một vấn đề về mối quan hệ giữa quy
mô hoạt động và mức độ rủi ro của các ngân hàng trên Thế giới Sau đó, một loạt các bài nghiên cứu về đề tài này đã lần lượt được công bố
Laeven và Levine (2009) đã thực hiện một bài nghiên cứu với dữ liệu gồm 270 ngân hàng đến từ 48 quốc gia trên Thế giới, khảo sát trong khoảng thời gian từ năm 1996 đến 2001 Trong bài nghiên cứu này, kết quả cho thấy có mối tương quan nghịch chiều giữa Tổng tài sản và Z-score với Z-score là biến đại diện cho rủi ro của ngân hàng, nói cách khác là có mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô và mức độ rủi ro của các ngân hàng
Vào năm 2010, Houston và cộng sự cũng đã công bố bài nghiên cứu với kết quả tương đồng Bài nghiên cứu thực hiện kiểm tra mối quan hệ giữa mức độ rủi ro và quy mô hoạt động của hệ thống các tổ chức tài chính trên thế giới Dữ liệu nghiên cứu gồm
300 ngân hàng trên khắp thế giới, dữ liệu nghiên cứu từ năm 2000 đến 2007 Biến phụ
Trang 23thuộc đại diện cho mức độ rủi ro là Z-score, ROA, CAR, độ biến động của ROA Biến độc lập là tổng tài sản, quản trị doanh nghiệp, giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, tỷ
lệ sở hữu của CEO Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Tổng tài sản có mối quan hệ tương quan cùng chiều với mức độ biến động của biến độ lệch chuẩn lợi nhuận hàng ngày của cổ phiếu, điều này có ngh a quy mô hoạt động của các ngân hàng có mối quan hệ tương quan dương với mức độ rủi ro của các ngân hàng niêm yết tại thị trương Mỹ
Và gần đây nhất là bài nghiên cứu của Sanjai Bhagat, Brian Bolton và Jun Lu (2015) Tác giả Sanjai Bhagat và các cộng sự thực hiện bài nghiên cứu với mẫu dữ liệu gồm
702 tổ chức tài chính được niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ với 6277 quan sát được thu thập từ năm 2002 đến năm 2012, trong đó có 599 ngân hàng thương mại,
60 ngân hàng đầu tư và 43 công ty bảo hiểm nhân thọ Dữ liệu được thu thập từ Compustat, RiskMetrics và Bloomberg, và được bổ sung từ nguồn dữ liệu được thu thập bằng tay từ các báo cáo của các ngân hàng nộp cho Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ - SEC Từ kết quả của bài nghiên cứu, tác giả đi đến 4 kết luận Thứ nhất: Quy mô hoạt động có mối tương quan thuận chiều với mức độ rủi ro của các tổ chức tài chính ở Mỹ, ngay cả khi kiểm soát các đặc điểm có thể quan sát được của các
tổ chức tài chính như tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách và cơ cấu quản trị doanh nghiệp Mối quan hệ giữa quy mô hoạt động của ngân hàng và rủi ro bị ảnh hưởng bởi các vấn đề về nội sinh Thứ hai, quy mô hoạt động của các ngân hàng tác động đến mức độ rủi ro thông qua việc tác động đến đòn bẩy tài chính của họ Thứ ba, giá trị trung vị bằng tiền của cổ phần nắm giữ bởi các thành viên thuộc Ban giám đốc
có tác động nghịch chiều với mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại Thứ tư, các ngân hàng đầu tư có mức rủi ro lớn hơn các ngân hàng thương mại
Qua việc tóm tắt lại kết quả nghiên cứu của các bài nghiên cứu đã được công bố trước đây, tác giả nhận thấy rằng hầu hết các nghiên cứu trước đây đều có kết luận rằng: có mối quan hệ thuận chiều giữa quy mô hoạt động và mức độ rủi ro tại các tổ chức tài chính Cụ thể là các tổ chức tài chính có quy mô hoạt động càng lớn thì có mức độ rủi
ro càng cao
Trang 24Bảng 2.2: Tóm tắt các ngiên cứu trước đây
Tác giả Khoảng thời gian và
Mẫu
Nguồn dữ liệu Biến phụ thuộc
Rủi ro
Quy mô Tương quan Biến được quan tâm Các biến độc lập khác
Saunders, Strock and
Tổng tài sản + Quyền sở hữu nội
Công ty năm giữ ngân hàng
có tài sản trên 1 tỷ đô la
Z-score
Độ lệch chuẩn của ROA
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản
Log của tổng tài sản - Quy mô
Demsetz and Strahan
Rủi ro đặc thù của doanh nghiệp (σ(ε))
Log của tổng tài sản - Quy mô Tỷ lệ vốn bình phương
Đặc trưng cho vay
Tỷ lệ vốn trên tổng tài sản
Log của tổng tài sản - Quy mô Tỷ lệ tăng trưởng tài sản
Boyd, De Nicolo and
Al Jalal (2006)
June, 2003
2500
Các ngân hàng nhỏ hoạt động ở các khu vực phi nông thôn
Z-score
Tỷ lệ vốn trên tổng tài sản
Log của tổng tài sản - Cạnh tranh ngân
hàng
Quy định cạnh tranh ngân hàng của quốc gia
Log của tổng tài sản - Log của vốn cổ phần
trên tài sản Kiểm soát khoản vay và doanh thu
Trang 25Laeven and Levine
(2009)
1996-2001 270 BankScope & Bankers
Almanac
10 ngân hàng công lớn nhất của mỗi quốc gia
Z-score Log của tổng tài sản - Luật về dòng tiền Luật về dòng tiền của
quốc gia
Houston et al (2010) 2000-2007 2400 Dữ liệu Bank scope
Các ngân hàng xuyên quốc gia
Z-score ROA
Tỷ lệ vốn trên tài sản Biến động của ROA
Log của tổng tài sản - Quyền chủ nợ Log của tổng tài sản
Quyền tín dụng Kiểm soát quốc gia
Sanjai Bhagat; Brian
Bolton; Jun Lu (2015)
1998-2008 302 Dữ liệu của các ngân hàng
thương mại, ngân hàng đầu
tư, tổ chức tài chính
Z-score Biến động của ROA Biến động của lợi nhuận
Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách
Tỷ lệ nắm giữ của ban giám đốc
Tỷ lệ nắm giữ của CEO
Nguồn: Sanjai Bhagat, Brian Bolton và Jun Lu (2015)
Trang 26CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để có cái nhìn cụ thể hơn về phương pháp nghiên cứu, tác giả thông qua Chương 3 để trình bày về mô hình nghiên cứu, cách đo lường các biến số được sử dụng trong mô hình, dữ liệu và mẫu nghiên cứu nhằm tạo cơ sở cho các bước kiểm định mô hình theo
dữ liệu bảng sẽ được phân tích chi tiết ở Chương 4
3.1 Mô hình nghiên cứu
Nhằm mục tiêu phân tích sự tác động của quy mô hoạt động đến mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, tác giả tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên công trình nghiên cứu của Sanjai Bhagat, Brian Bolton và Jun Lu (2015) và
có những sự điều chỉnh trong các biến nghiên cứu để phù hợp với tình tình nền kinh tế của Việt Nam hiện nay
Thước đo đo lường mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam (Bank risk) được sử dụng chính trong luận văn là Z-score với ý ngh a là Z-score càng lớn thì ngân hàng càng ít chịu rủi ro hay nói cách khác, Z-score càng lớn thì mức độ rủi ro của ngân hàng càng nhỏ Bên cạnh đó tác giả cũng sử dụng độ lệch chuẩn của lợi nhuận cổ phiếu theo ngày - là một thước đo đo lường mức độ rủi ro khác với
ý ngh a là độ lệch chuẩn của lợi nhuận cổ phiếu theo ngày càng lớn thì mức độ rủi ro của các ngân hàng càng lớn Để kiểm tra mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp (được đo lường bởi biến Asset) và mức độ rủi ro (Bank Risk) của ngân hàng thương mại tại Việt Nam, tác giả thực hiện chạy hồi quy cơ sở theo phương trình (1) như sau: Phương trình (1)
Trong đó:
: Biến đại diện mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại, được
đo lường bằng giá trị logarit tự nhiên của Z-score
: Biến đại diện quy mô hoạt động của ngân hàng thương mại, được đo lường bằng logarit tự nhiên của Tổng tài sản
Trang 27 : Biến đại diện cho giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, được
đo lường bằng giá cổ phiếu cuối năm trên giá trị sổ sách của cổ phiếu Biến này chỉ thu thập được đối với các ngân hàng thực hiện niêm yết trên hai sàn chứng khoán của Việt Nam là HOSE, HNX
: Biến đại diện cho quản trị doanh nghiệp, được đo lường bằng trung vị giá trị bằng tiền của lượng cổ phẩn sở hữu bởi các cá nhân thuộc Ban giám đốc
: Biến đại diện cho tỷ lệ sở hữu của CEO, được đo lường bằng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu cuối năm của CEO
: Biến đại diện cho số năm thành lập của các ngân hàng thương mại Được đo lường bằng năm quan sát trừ đi năm thành lập ngân hàng
: Biến đại diện cho giai đoạn khủng hoảng Nhận giá trị bằng 1 cho năm 2009 và 0 cho các năm từ 2010 trở đi
Kết quả của các hệ số , , , , , sẽ là cơ sở diễn giải cho mối tương quan giữa các biến độc lập bao gồm quy mô hoạt động, giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, biến đại diện cho quản trị doanh nghiệp, tỷ lệ sở hữu của Tổng giám đốc, tuổi của ngân hàng, yếu tố khủng hoảng và biến phụ thuộc là mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Tác giả sử dụng các phương pháp hồi quy là phương pháp hồi quy Robust (Robust regression) để giảm thiểu ảnh hưởng của các giá trị nhiễu trong dữ liệu (outliers), phương pháp hồi quy mô hình ước lượng bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS) và có điều chỉnh cho hiện tượng phương sai thay đổi có thể có (robus), mô hình hồi quy hiệu ứng cố định (FEM), và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) để xem x t tương quan giữa quy mô hoạt động và mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Tiếp theo đó, tác giả sử dụng kết quả thống kê F và kiểm định Hausman để lựa chọn trong ba phương pháp Pool OLS, FEM và REM, phương pháp hồi quy nào là phù hợp nhất với dữ liệu thu thập được Trong bài nghiên cứu này, do tình hình thực tế ở Việt Nam không có các ngân hàng đầu tư và số lượng quá ít các công ty bảo hiểm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam nên tác giả loại bỏ các biến giả đại diện cho ngân hàng đầu tư, các công ty bảo hiểm nhân thọ
Trang 28Đây là sự khác biệt trong đối tượng nghiên cứu của bài luận văn này so với bài nghiên cứu gốc của Sanjai Bhagat và các cộng sự
Các nghiên cứu trong l nh vực tài chính doanh nghiệp trên Thế giới đã được các tác giả công bố thường gặp khó khăn với vấn đề nội sinh trong mô hình nghiên cứu Bài nghiên cứu này của tác giả cũng không ngoại lệ Theo kết quả nghiên cứu của Brewer
và Jagtiani (2009) chỉ ra rằng, các ngân hàng sẵn sàng chi trả các khoản chi phí lớn để thực hiện các thương vụ mua lại các ngân hàng/công ty khác nhằm gia tăng quy mô để nhằm đạt đến trạng thái "Quá lớn để sụp đổ" Do đó, tuy rằng các ngân hàng có nhiều khả năng theo đuổi các hoạt động có mức độ rủi ro cao khi quy mô của các ngân hàng
đó tăng lên, nhưng ngược lại, các ngân hàng có hoạt động kinh doanh có rủi ro cao sẽ cần có sự bảo đảm hỗ trợ của các cơ quan quản lý khi họ gặp khó khăn, vì thế các ngân hàng này có động cơ gia tăng quy mô để đạt được đến trạng thái "Quá lớn để sụp đổ" Để giải quyết vấn đề nội sinh xảy ra trong mô hình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy hai giai đoạn - Two-Stage Least Squares IV (2SLS) với các biến công cụ (IV), cụ thể là các biến logarit tự nhiên của số lượng nhân viên của ngân hàng (Employee), logarit tự nhiên tài sản cố định hữu hình (PPE), các biến này cũng đã được Sanjai Bhagat, Brian Bolton, Jun Lu (2015) sử dụng trong bài nghiên cứu của mình
Phương trình (2) - Mô hình biến công cụ giai đoạn hai:
Phương trình (3) - Mô hình biến công cụ giai đoạn một:
Trong đó:
: Logarit tự nhiên của số lượng nhân viên của các ngân hàng thương mại
Trang 29 : Logarit tự nhiên của tài sản cố định của các ngân hàng thương mại
Các biến còn lại được định ngh a tương tự như ở phương trình (1)
Z-score được cấu thành bởi 3 yếu tố là ROA, CAR và σ(ROA) Khi giá trị ROA tăng lên và tỷ lệ an toàn vốn - CAR tăng lên sẽ khiến cho giá trị Z-score tăng lên, ngược lại, khi độ lệch chuẩn của ROA - σ(ROA) tăng lên sẽ khiến Z-score giảm xuống Do
đó, trong trường hợp có mối quan hệ tích cực giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ rủi ro, có thể nguyên nhân bắt nguồn từ việc ROA giảm xuống, hoặc tỷ lệ an toàn vốn
- CAR giảm xuống và/hoặc độ lệch chuẩn của ROA - σ(ROA)tăng lên Vì thế, quy mô hoạt động tác động lên mức độ rủi ro của doanh nghiệp được đo lường băng Z-score
sẽ tác động thông qua các thành phần cấu tạo nên Z-score Để tìm hiểu thêm về cách các thành phần cấu tạo nên Z-core tương quan với quy mô doanh nghiêp, tác giả chạy hồi quy với từng thành phần cấu tạo nên Z-core như một biến phụ thuộc riêng biệt Tác giả thực hiện chạy hồi quy theo phương pháp 2SLS tương tự như phương trình (2), (3) với các biến phụ thuộc là ROA, CAR và
3.2 Mô tả biến nghiên cứu
3.2.1 Mức độ rủi ro – Bank Risk, (Biến phụ thuộc)
Dựa theo các nghiên cứu của Laeven và Levine (2009) , Sanjai Bhagat, Brian Bolton, Jun Lu (2015), tác giả sử dụng Z-score là thước đo đo lường mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại Z-score được tính theo công thức sau:
ROA là tỷ số Lợi nhuận sau thuế chia cho Tổng tài sản (tính theo năm) Hiện nay, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đang từng bước áp dụng các quy định Basel II trong việc quản lý rủi ro của mình Một trong những quy định của Basel II là quy định
về tỷ lệ an toàn vốn - CAR Theo Basel II, CAR được tính theo công thức CAR = (Vốn cấp I + Vốn cấp II + Vốn cấp III)/(Tài sản có rủi ro tín dụng + Tài sản có rủi ro hoạt động + Tài sản có rủi ro thị trường) Tuy nhiên, việc thu thập Vốn cấp I, Vốn cấp
II, Vốn cấp III theo định ngh a của Basel II tại Việt Nam là không khả thi, do tại Việt Nam, các ngân hàng không phân biệt Vốn cấp I và Vốn cấp II mà dùng chung một khái niệm là vốn chủ sở hữu Đến thời điểm năm 2018, việc báo cáo về các loại Vốn
Trang 30theo định ngh a của Basel II vẫn chưa được thực hiện và công bố trên báo cáo thường niên, báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại mà chỉ dùng để báo cáo nội bộ
và báo cáo cho các cơ quan quản lý để thực hiện tính toán tỷ lệ tài sản vốn nhằm đáp ứng các quy định của pháp luật cũng như đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn Basel II Bên cạnh đó, trong các bài nghiên cứu của Laeven và Levine (2009), của Houston cùng với các cộng sự (2010), các tác giả đã phát triển một phương pháp tính giá trị tỷ
lệ an toàn vốn - CAR khác và được áp dụng phổ biến trong các nghiên cứu gần đây là:
ro, hay nói cách khác, Z-score càng lớn thì mức độ rủi ro của ngân hàng càng nhỏ Tuy nhiên, theo Sanjai Bhagat, Brian Bolton, Jun Lu (2015), Z-score có sự phân bố chệch lớn, nên tác giả sử dụng logarit tự nhiên của Z-score làm thước đo đo lường rủi
ro cho luận văn Cũng theo các nghiên cứu của Sanjai Bhagat và các cộng sự (2015), Laeven và Levine (2009),và của Houston cùng với các cộng sự (2010), tác giả tính toán giá trị Z-score theo năm và tính toán giá trị là độ lệch chuẩn của ROA hàng năm với 5 năm liền trước cho mỗi quan sát Cụ thể, giá trị của biến vào năm 2009 sẽ được tính trong khoảng thời gian từ 2005 – 2009, tương tự cho các năm tiếp theo
Để tìm hiểu sâu hơn sự tác động của các biến độc lập đến Z-score, tác giả sử dụng các biến cấu thành nên Z-score là Tỷ số Lợi nhuận sau thuế chia cho Tổng tài sản (ROA),
Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và độ lệch chuẩn của tỷ số lợi nhuận trên tài sản ROA ( ) là các biến phụ thuộc trong các mô hình hồi quy Với việc phân tích sự tác động của các biến phụ thuộc tác động lên từng thành phần cấu tạo của Z-score, tác giả
Trang 31có thể biết được chính xác cách mà các biến độc lập tác động lên Z-score và từ đó có thể đưa ra các biện pháp để kiểm soát mức độ rủi ro một cách tốt nhất
Một thước đo đo lường mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại khác được tác giả sử dụng trong luận văn là độ lệch chuẩn của lợi nhuận cổ phiếu theo ngày - dựa trên nghiên cứu của Saunders, Stock và Travlos (1990) và Vyas (2011) Giá trị thể hiện phản ứng của thị trường về mức độ rủi ro của các ngân hàng phản ánh vào sự biến động giá cổ phiếu theo ngày với ý ngh a giá trị càng cao thì mức độ rủi ro càng cao
3.2.2 Quy mô hoạt động
Trong các bài nghiên cứu trước đây, có rất nhiều cách để đo lường quy mô hoạt động của các ngân hàng thương mại Trong đó có thể kể đến các phương pháp thường được
sử dụng là dựa trên các số liệu trong Báo cáo tài chính là Tổng tài sản hoặc Tổng doanh thu của các doanh nghiệp Hoặc dựa trên số liệu thị trường là giá trị Vốn hóa của các doanh nghiệp niêm yết trên các sàn chứng khoán
Tuy nhiên, ở thị trường Việt Nam, số lượng ngân hàng niêm yết trên hai sàn chứng khoán là không nhiều, do đó, tác giả chọn phương pháp dựa trên các số liệu trong Báo cáo tài chính là Tổng tài sản (Asset) làm thước đo quy mô hoạt động của các ngân hàng thương mại cho luận văn của mình và sử dụng Tổng doanh thu (Revenue) để kiểm định tính vững của mô hình Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, tác giả dự kiến sử dụng biến Quy mô hoạt động để xác định các ngân hàng có quy mô lớn nhất là các ngân hàng đạt đến trạng thái “Quá lớn để sụp đổ” và từ đó xác định biến giả TBTF – “Too big to fail” để kiểm tra sự tác động của trạng thái “Quá lớn để sụp đổ” đến mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Tuy nhiên, sau quá trình tìm hiểu, hiện nay chưa có bài nghiên cứu nào xác định được ngưỡng giá trị cho trạng thái “Quá lớn để sụp đổ” của các ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam Do đó, tác giả đã không sử dụng biến giả cho trạng thái “Quá lớn để sụp đổ” trong bài nghiên cứu của mình
Theo nghiên cứu của Sanjai Bhagat và các cộng sự (2015), tác giả cũng áp dụng phương pháp tính logarit tự nhiên của Tổng tài sản và Tổng doanh thu làm thước đo cho quy mô hoạt động của các ngân hàng thương mại trong bài nghiên cứu của mình
Trang 323.2.3 Quản trị doanh nghiệp – Director Ownership
Bắt nguồn từ ý tưởng “Các giám đốc thuộc Ban giám đốc của các ngân hàng sẽ có động lực hơn trong việc giám sát, tư vấn và làm tròn trách nhiệm hơn với ngân hàng
mà họ có nắm giữ cổ phiếu”, trong bài nghiên cứu được công bố vào năm 2008, Bhagat và Bolton (2008) đã nghiên cứu và sử dụng phương pháp đo lường sự quản trị của ngân hàng bằng cách tính trung vị giá trị bằng tiền của lượng cổ phẩn sở hữu bởi các cá nhân thuộc Ban giám đốc Dựa trên phương pháp đó, tác giả tiến hành đo lường biến quản trị doanh nghiệp theo phương pháp lấy logarit tự nhiên của trung vị giá trị bằng tiền của lượng cổ phẩn sở hữu bởi các cá nhân thuộc Ban giám đốc
Trên thực tế, các ngân hàng đang có xu hướng trả thưởng cho các CEO bằng cổ phiếu
để gắn lợi ích của CEO với lợi ích của ngân hàng, còn với các thành viên Ban giám đốc, số lượng cổ phần của họ thường đến từ việc họ tự bỏ tiền ra mua, do đó, với các thành viên thuộc Ban giám đốc, họ có động lực để tập trung vào việc gia tăng giá trị bằng tiền của cổ phiếu ngân hàng, từ đó gia tăng giá trị bằng tiền của lượng cổ phần
họ nắm giữ hơn là việc gia tăng tỷ lệ sở hữu của họ tại ngân hàng đang làm việc, điều này cũng đã được đề cập trong các nghiên cứu trước đây như Shleifer và Murphy (2004), và Milavonic (2004) …
Do data về số lượng cổ phần sở hữu tại các ngân hàng thương mại của Vietstock cung cấp không đầy đủ, tác giả đã tiến hành thu thập giá trị tỷ lệ sở hữu của các thành viên trong Ban giám đốc bằng tay từ các cáo báo thường niên, bản cáo bạch của các ngân hàng thương mại bị thiếu dữ liệu
3.2.4 Tỷ lệ sở hữu của CEO - CEO Ownership
Theo các nghiên cứu của Jensen và Mecking (1976), Amihud và Lev (1981), Các nhà quản lý thuộc trường phái e ngại rủi ro thường có xu hướng giảm thiểu mức rủi ro xuống thấp hơn mức rủi ro tối ưu của các ngân hàng thương mại nhằm bảo vệ những nguồn lợi mà họ được hưởng, bởi vì thu nhập của họ thường gắn liền với những sự thay đổi trong giá trị của công ty Trong các nghiên cứu trước đây, vấn đề này được gọi là vấn đề người đại diện Với việc các CEO nắm giữ cổ phiếu của các ngân hàng thương mại mà họ đang phục vụ, họ sẽ có động lực cao hơn để tối đa hóa giá trị của các ngân hàng, qua đó gia tăng lợi nhuận mà họ nhận được
Trang 33Có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về sự tác động của cấu trúc sở hữu lên mức độ rủi ro của các công ty Theo nghiên cứu của Agawal và Mandelker (1987) trong l nh vực phi tài chính đã cho thấy có mối quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ sở hữu của các nhà quản lý với sự thay đổi trong giá trị doanh nghiệp John, Litov và Yeung (2008) lại cho thấy rằng các nhà quản lý nắm giữ lượng cổ phần lớn thường thận trọng hơn trong việc ra các quyết định đầu tư Trong l nh vực ngân hàng, Saunder, Strock và Travlos (1990) lại cho thấy rằng các nhà các cổ đông kiểm soát ngân hàng với mức rủi ro cao hơn so với việc các nhà quản lý kiểm soát ngân hàng Kết quả nghiên cứu của Laeven
và Levine (2009) cũng cho thấy các ngân hàng có sự chi phối của các cổ đông thì có rủi ro cao hơn
Do data về tỷ lệ sở hữu tại các ngân hàng thương mại của Vietstock cung cấp không đầy đủ, tác giả đã tiến hành thu thập giá trị tỷ lệ sở hữu của CEO bằng tay từ các cáo báo thường niên, bản cáo bạch của các ngân hàng thương mại bị thiếu dữ liệu
3.2.5 Tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách – Market-to-Book
Tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách được sử dụng để tìm giá trị của một công ty bằng cách so sánh giá trị sổ sách của một công ty với giá trị thị trường của nó Giá trị
sổ sách được tính bằng cách xem xét chi phí lịch sử của công ty hoặc giá trị kế toán Giá trị thị trường được xác định trên thị trường chứng khoán thông qua giá trị vốn hóa thị trường
Tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, đã được xác định là một yếu tố quan trọng trong các tài liệu định giá tài sản Ví dụ, Fama và French (1992) chỉ ra rằng các công
ty có tỷ lệ giá trị sổ sách trên thị trường cao (hoặc giá trị thị trường trên giá trị sổ sách thấp) có nhiều khả năng rơi vào khủng hoảng tài chính hơn Trong bài nghiên cứu này, tác giả tính toán biến Tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách bằng cách chia giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu cho giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu cho mỗi doanh nghiệp theo từng năm
3.2.6 Số năm thành lập ngân hàng – Age
Với các ngân hàng được thành lập lâu đời và có lịch sử phát triển lâu dài thì đã có thị phần ổn định và có một lượng khách hàng trung thành nhất định Cùng với đó là uy tín
và nền tảng danh tiếng vững chắc Do đó, với các ngân hàng có tuổi đời lớn, họ
Trang 34thường có ít động lực nhằm tham gia vào các thương vụ có rủi ro lớn để bảo vệ danh tiếng cũng như tập trung phát triển kinh doanh với đối tượng khách hàng đang có Ngược lại, với các ngân hàng mới được thành lập, nhằm tìm kiếm thị phần, gia tăng lợi nhuận, cũng như khẳng định tên tuổi, thương hiệu của ngân hàng, các ngân hàng này có nhiều động lực hơn trong việc chấp nhận nhiều rủi ro hơn Vì thế với các ngân hàng có tuổi đời lớn sẽ có xu hướng ít rủi ro hơn so với các ngân hàng mới được thành lập
Các ngân hàng hoạt động lâu trên thị trường thường có xu hướng rủi ro ít hơn so với các ngân hàng mới thành lập, nguyên nhân do các ngân hàng thành lập lâu đã có thị phần ổn định và có nền khách hàng vững chắc do đó họ có ít động lực hơn để gia tăng rủi ro nhằm phát triển thị phần Còn đối với các ngân hàng mới thành lập, họ có động lực để gia tăng rủi ro nhằm tìm kiếm thị phần mới, gia tăng lợi nhuận và ngoài ra còn giúp cho nhà quản lý ngân hàng thể hiện năng lực quản lý của mình trước các cổ đông Do đó, tác giả sẽ dùng biến số năm thành lập ngân hàng như là biến kiểm soát với kỳ vọng rằng các ngân hàng hoạt động lâu năm sẽ quản trị rủi ro tốt hơn và ít rủi
ro hơn so với các ngân hàng mới thành lập
3.2.7 Khủng hoảng tài chính - Crisis
Khủng hoảng tài chính Thế giới diễn ra từ cuối năm 2007 đến hết năm 2009, trong thời gian này, hệ thống tài chính Toàn cầu sụp đổ Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập với kinh tế Thế giới Do đó, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Thế giới vào cuối năm 2007 đến 2009 cũng tác động không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam Trong các đề tài nghiên cứu trên Thế giới, rất nhiều tác giả đã quy định những năm từ 2007 đến 2009 là quãng thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế Toàn cầu
Do đó, trong bài nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng biến giả Khủng hoảng tài chính với giai đoạn năm 2009
Bảng 3.1: Tóm tắt biến và kỳ vọng dấu
Z-score Là biến đại diện đo lường
mức độ rủi ro của các ngân
Laeven và Levine
Trang 35hàng thương mại tại Việt Nam Được đo lường theo công thức:
Trong đó, ROA là tỷ số Lợi nhuận sau thuế chia cho Tổng tài sản (tính theo năm), CAR = (Tổng tài sản- Tổng nợ) chia cho Tổng Tài sản, σ(ROA) là độ lệch chuẩn của tỷ số lợi nhuận trên tài sản – ROA, được tính trong khoảng thời gian
5 năm cho mỗi quan sát score càng cao thì ngân hàng càng ổn định, và càng
Z-có ít rủi ro
(2009), Sanjai Bhagat, Brian Bolton, Jun
Lu (2015), Houston cùng với các cộng sự (2010)
Asset Logarit tự nhiên của Tổng
Sanjai Bhagat, Brian Bolton, Jun
+
Bhagat và Bolton (2008)
CEO Ownership Tỷ lệ sở hữu của CEO vào +/- John, Litov
Trang 36thời điểm đầu năm và Yeung
(2008), Laeven và Levine (2009)
Lu (2015)
Sanjai Bhagat, Brian Bolton, Jun
Lu (2015)
Sanjai Bhagat, Brian Bolton, Jun
Lu (2015) Nguồn: tác giả tự tổng hợp
3.3 Dữ liệu và mẫu nghiên cứu
Dữ liệu đầu vào liên quan đến biến phụ thuộc, biến giả và biến kiểm soát được sử dụng trong bài nghiên cứu là dữ liệu bảng gồm 200 quan sát được thu thập và tập hợp
từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và bản cáo bạch của 24 ngân hàng thương mại cổ phần đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn từ năm
2009 đến năm 2017, trong đó có 11 ngân hàng thương mại cổ phần đang niêm yết trên
Trang 37Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội (HNX), 13 ngân hàng chưa thực hiện niêm yết hoặc niêm yết trên sàn OTC Trong bài nghiên cứu của mình, nhằm đảm bảo kết quả nghiên cứu mang tính khách quan với độ tin cậy cao, tác giả cũng không sử dụng các công ty bị thiếu thông tin và dữ liệu trong giai đoạn nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của bài nghiên cứu được tác giả thu thập chủ yếu từ trang cung cấp dữ liệu chứng khoán tài chính hàng đầu Việt Nam là www.vietstock.vn Tuy nhiên, nguồn dữ liệu từ Vietstock là không đầy đủ cho một số dữ liệu đầu vào cần thiết cho bài nghiên cứu như các biến về số lượng nhân viên nhân hàng, tỷ lệ sở hữu của CEO,
số lượng cổ phần của các thành viên Ban Giám đốc, … Do đó, bên cạnh nguồn dữ liệu thu thập từ Vietstock, tác giả đã tiến hành thu thập thủ công từ các bản cáo bạch, báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các ngân hàng để đảm bảo sự hoàn chỉnh của
bộ dữ liệu
Trang 38CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong chương 4, tác giả sẽ trình bày phần phân tích chi tiết kết quả hồi quy theo các phương trình đã được trình bày trong chương 3 Từ kết quả thu được, tác giả sẽ trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đã được trình bày ở các chương trước, từ đó đưa ra nhận
x t và đánh giá về mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, mức độ tác động của các biến độc với đối với biến phụ thuộc
4.1 Phân tích thống kê mô tả
Bảng 4.1 dưới đây trình bày chi tiết số liệu thống kê mô tả của các biến được trình bày trong mô hình, bao gồm các giá trị số lượng quan sát, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất của từng biến số
Trong đó, biến phụ thuộc của mô hình là Z-score có giá trị trung bình là 45.91 cùng với độ lệch chuẩn là 40.09 Với độ lệch chuẩn khá cao và có dải giá trị rộng, từ 2.72 đến 247.75, điều này cho thấy có sự chênh lệch lớn về rủi ro của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam và điều này cũng thể hiện biến Z-score là một đại lượng chệch Do đó, theo phương pháp đã được Sanjai Bhagat, Brian Bolton và Jun Lu (2015) và Laeven và Levine (2009) áp dụng trong các bài nghiên cứu trước đây, tác giả sử dụng giá trị logarit tự nhiên của Z-score làm giá trị đo lường mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Trong luận văn, tác giả cũng sử dụng một biến khác đại diện cho mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam là σ(RET) được tính toán là độ lệch chuẩn của lợi nhuận cổ phiếu theo ngày (với những ngân hàng chưa niêm yết hoặc trong thời gian chưa niêm yết thì không có giá trị) σ(RET) có giá trị trung bình là 0.006980 với độ lệch chuẩn 0.010261 Biến Quy mô hoạt động (Asset) có giá trị trung bình là 169.85, độ lệch chuẩn là 211.73 Với độ lệch chuẩn lớn, và dải giá trị trải rộng từ 7.48 đến 1202.28, điều này cho thấy có sự khác biệt rất lớn về quy mô hoạt động của các ngân hàng thương mại Biến Quy mô hoạt động cũng là một đại lượng chệch Tác giả cũng sử dụng giá trị logarit tự nhiên của Quy mô hoạt động để đo lường quy mô hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Một biến đo lường quy mô hoạt động khác được tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu là Tổng doanh thu (Revenue) có giá trị trung bình đạt 4.455, độ lệch chuẩn
Trang 39là 5.612 và có dải giá trị từ 0 đến 30.955 Các biến biến tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản (ROA), tỷ lệ an toàn vốn (CAR), độ lệch chuẩn của tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản ROA – (σ(ROA)), Tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách (Market-to-Book) đều có giá trị trung bình thấp, cụ thể là ROA là 0.008, CAR là 0.096, σ(ROA) là 0.004 và Market-to-Book là 0.343, độ lệch chuẩn của các biến này giao động từ 0.004 đến 0.694 Biến quản trị doanh nghiệp (Director Ownership) có giá trị trung bình là 81.363, độ lệch chuẩn 181.968 và giải giá trị từ 0.014 đến 791.117 Biến tỷ lệ sở hữu của CEO và tuổi của ngân hàng có giá trị trung bình lần lượt là 0.012 và 22.405 với độ lệch chuẩn lần lượt là 0.053 và 11.264
Trang 40Bảng 4.1: Thống kê mô tả biến được sử dụng trong mô hình
Biến Số lượng quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
Nguồn: Kết quả được tác giả tính doán dựa trên mẫu dữ liệu nghiên cứu – Phụ lục 1
Ghi chú: Mức độ rủi ro (Z-score) được tính toán theo công thức (ROA + CAR)/ σ(ROA) ROA là tỷ số Lợi nhuận sau thuế chia cho Tổng tài sản (tính theo năm), tỷ lệ an toàn vốn CAR
= (Tổng tài sản- Tổng nợ) chia choTổng Tài sản, σ(ROA) là độ lệch chuẩn của tỷ số lợi nhuận trên tài sản ROA được tính trong khoảng thời gian 5 năm cho mỗi quan sát Quy mô hoạt động (Asset) là giá trị logarit tự nhiên của Tổng tài sản Revenue là giá trị logarit tự nhiên của Tổng doanh thu Tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách (Market to book) là Tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách của ngân hàng Tỷ lệ sở hữu của CEO (CEO Ownership) là Tỷ lệ sở hữu của CEO vào thời điểm đầu năm Quản trị doanh nghiệp (Director Ownership) là giá trị logarit tự nhiên của trung vị giá trị bằng tiền của lượng cổ phẩn sở hữu bởi các cá nhân thuộc Ban giám đốc Số năm thành lập ngân hàng (Age) Giá trị tài sản cố định (PPE) , Số lượng nhân viên (Employee) , Khủng hoảng tài chính (Crisis) được xác định là năm 2009