Trong khuôn khổluận án và điều kiện nghiên cứu, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu chủ trươngcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới, quá trình Đảng chỉ đạo xâydựng khung pháp lý về b
Trang 1TRẦN THỊ CHIÊN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TỪ
NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016
LUẬN ÁN TIẾN SĨCHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRẦN THỊ CHIÊN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TỪ
NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016
LUẬN ÁN TIẾN SĨCHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả
Trần Thị chiên
Trang 4MỤC LỤC
Trang
1.1 Những công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án 71.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã
công bố liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề luận án tập 27trung nghiên cứu
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN
31 BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM
2.2 Cơ sở thực tiễn về thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam 43
Chương 3 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ THỰC HIỆN BÌNH
63 ĐẲNG GIỚI TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016
3.2 Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới 73
4.1 Nhận xét về quá trình lãnh đạo của Đảng và kết quả thực hiện
109bình đẳng giới từ năm 2006 đến năm 2016
4.2 Một số kinh nghiệm của Đảng về lãnh đạo thực hiện bình đẳng
137giới từ năm 2006 đến năm 2016
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN
151 QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sự tiến bộcủa con người được xem là tiêu chuẩn cao nhất của sự phát triển xã hội Sựphát triển xã hội đòi hỏi phải đem lại công bằng, bình đẳng cho mọi người(nam và nữ) trong cơ hội, điều kiện cống hiến cũng như hưởng thụ các thànhquả của phát triển Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến việcphát triển nguồn lực con người; “đặt con người vào trung tâm của sự phát
triển” Đảng coi chiến lược phát triển nguồn lực con người là “chiến lược của các chiến lược”; coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển; coi việc phát triển nguồn lực con người là nhân tố quyết định đến thành
công của công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ởViệt Nam hiện nay Thực hiện bình đẳng giới sẽ góp phần quan trọng vào việcgiải phóng lực lượng sản xuất, khai thác và phát huy một cách có hiệu quả laođộng nữ, đảm bảo cho sự phát triển, tiến bộ của xã hội và tiến tới đạt mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở Việt Namhiện nay, phụ nữ ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình Họkhông chỉ tham gia công tác quản lý, tham gia tích cực vào mọi hoạt động xãhội, sản xuất có hiệu quả mà còn làm phần lớn công việc gia đình Mặc dù có
sự đóng góp lớn cho sự phát triển, nhưng trên thực tế, những cống hiến củaphụ nữ chưa được thừa nhận đầy đủ Phụ nữ còn chịu nhiều thiệt thòi trongphát triển cá nhân; là nạn nhân của nhiều vấn đề gây nhức nhối và bức xúctrong xã hội Sự hạn chế về cơ hội phát triển ở phụ nữ không chỉ làm giảm sútphúc lợi gia đình và xã hội, cản trở việc phát huy nguồn lực con người mà còntạo ra những bất ổn định trong xã hội và gián tiếp cản trở thành công của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việc giải phóng phụ nữ, thựchiện bình đẳng giới, phát huy tiềm năng của phụ nữ là đòi hỏi khách quan vàbức thiết của sự phát triển xã hội
Trang 6C ng với việc tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế, Đảng Cộng sản ViệtNam ngày càng nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của việc thực hiệnchính sách xã hội nhằm cải thiện đời sống nhân dân, trong đó có việc quan tâm đếnviệc hoạch định chủ trương, chính sách, pháp luật về bình đẳng giới nhằm tạo điềukiện cho phụ nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo, quản lý, được bình đẳng trong cơhội, cống hiến và hưởng thụ các thành quả của xã hội và
được bình đẳng giới trong gia đình
Tuy nhiên, trong xã hội, những định kiến về giới vẫn còn tồn tại kháphổ biến không chỉ trong nam giới mà ngay trong chính bản thân phụ nữ.Định kiến giới mặc định nam giới là trụ cột trong gia đình và ngoài xã hội cònphụ nữ luôn gắn với công việc nhà, nội trợ, chăm sóc con cái và gia đình.Những định kiến đó tạo ra không ít những rào cản, mâu thuẫn, thách thức làmhạn chế vị thế, vai trò của nữ giới Đó là những rào cản về mặt tâm lý xã hộitrong nhìn nhận, đánh giá năng lực, vị thế của phụ nữ; là mâu thuẫn giữaviệc thực hiện các vai trò, chức năng làm vợ, làm mẹ trong gia đình với vaitrò, trách nhiệm của người công dân, người lao động trong xã hội; mâu thuẫngiữa yêu cầu ngày càng cao, càng gay gắt của cơ chế thị trường trong xu thếtoàn cầu hóa với những hạn chế về sức khỏe, kiến thức, kỹ năng, trình độchuyên môn kỹ thuật, nắm bắt công nghệ cao của một bộ phận nữ giới Tưtưởng đó đã tạo ra cách nhìn lệch lạc về vai trò của nam giới và nữ giới, dẫnđến thiếu sự chia sẻ của nam giới với phụ nữ trong công việc gia đình và cáchoạt động xã hội, đồng thời hạn chế sự phát triển năng lực cá nhân của phụ
nữ Những hạn chế đó đã và đang gây cản trở việc thực hiện chính sách, phápluật về bình đẳng giới, phát huy nguồn lực lao động nữ trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành vấn đề cấp thiết, đòi hỏi Đảng và cáccấp chính quyền phải giải quyết một cách có hệ thống trên cả phương diện lýluận và thực tiễn
Từ những lý do nêu trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Đả sả
Trang 8quan điểm, chủ trương và quá trình chỉ đạo thực tiễn của Đảng Cộng sản ViệtNam về thực hiện bình đẳng giới Từ đó, đ c kết một số kinh nghiệm qua thựctiễn lãnh đạo thực hiện bình đẳng giới những năm 2006 - 2016 của Đảngnhằm tiếp tục thực hiện tốt hơn bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.
- Tổng quan các công trình nghiên cứu về giới, bình đẳng giới nói chung
và bình đẳng giới trên các lĩnh vực chính trị; kinh tế, lao động, việc làm; gia
đình nói riêng
- Hệ thống hóa những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ và
các yếu tố tác động đến quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện bình đẳng giới từ năm 2006 đến năm 2016
- Phân tích, luận giải hệ thống những quan điểm, đường lối, chủ trươngcủa Đảng và quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới từ năm 2006 đếnnăm 2016
- Đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan, khoa học về những ưuđiểm, hạn chế và nguyên nhân của quá trình lãnh thực hiện bình đẳng giới từ năm
Trang 93.2 Phạm vi
- Về thời gian: Giới hạn nghiên cứu của luận án từ năm 2006 đến năm
2016 Năm 2006 là năm Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam Đây là mốc đánh dấu lần đầu tiên Nhà nước Việt
Nam ban hành bộ luật riêng về vấn đề bình đẳng giới Năm 2016 là mốc tròn
10 năm Luật Bình đẳng giới được ban hành Tuy nhiên, lịch sử là một quá
trình liên tục nên luận án đã đề cập đến tình hình thực hiện bình đẳng giới ởViệt Nam trước năm 2006
- Về không gian: Luận án nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo thực hiện bình đẳng giới trên phạm vi cả nước
- Về nội dung:
+ ình đẳng giới thực chất không chỉ là việc giữa hai giới nam và nữ
mà nó còn bao gồm cả trẻ em, nhóm người khuyết tật, cộng đồng những
người LGBT (LGBT là tên viết tắt của cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và hoán tính hay còn gọi là người chuyển giới (Transgender) Tuy
nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh chỉ tập trunglàm rõ bình đẳng giới giữa hai giới nam và nữ
+ Đây là đề tài lớn, với nhiều nội dung phong ph Trong khuôn khổluận án và điều kiện nghiên cứu, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu chủ trươngcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới, quá trình Đảng chỉ đạo xâydựng khung pháp lý về bình đẳng giới; lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trongchiến lược, chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế xã hội; xây dựng,kiện toàn bộ máy cơ quan quản lý Nhà nước và nâng cao năng lực của đội ngũcán bộ hoạt động làm công tác bình đẳng giới; công tác tuyên truyền, phổbiến, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới; xây dựng và duy trì các mô hìnhcung cấp dịch vụ, hỗ trợ bình đẳng giới; hoạt động hợp tác quốc tế về bìnhđẳng giới; công tác thống kê, công bố thông tin, số liệu về bình đẳng giới và
Trang 10công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới cũngnhư kết quả thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2016trên 3 lĩnh vực: chính trị; kinh tế, lao động, việc làm; gia đình và kết quả củaquá trình đó.
4 Cơ sở u n, hương h nghi n cứu
4
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về giải phóng phụ nữ, thực hiệnbình đẳng nam nữ và bình đẳng giới
Phương pháp mà nghiên cứu sinh sử dụng chủ yếu trong luận án làphương pháp lịch sử và lôgic Ngoài ra, một số phương pháp khác cũng đượcnghiên cứu sinh sử dụng trong quá trình nghiên cứu như:
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích, được nghiên cứu sinh sử dụngtrong quá trình thu thập và đánh giá các nguồn tài liệu: các văn kiện của Đảng
và Nhà nước; các công trình nghiên cứu về bình đẳng giới đã được công bốtrong và ngoài nước;
+ Phương pháp thống kê được dùng trong quá trình xử lý các số liệu trongcác báo cáo thường niên của Chính phủ và các tổ chức chính trị - xã hội
5 Đ ng g ới về h a học v ngh a thực tiễn của u n n
- Góp phần hệ thống hóa sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về bình đẳng giới từ năm 2006 đến năm 2016
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện bình đẳng giới ởViệt Nam, luận án rút ra nhận xét về ưu điểm, hạn chế trên ba lĩnh vực: nhận thức,chỉ đạo thực tiễn, kết quả thực hiện và bước đầu đ c kết một số kinh nghiệm quathực tiễn quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện
bình đẳng giới từ năm 2006 đến năm 2016
Trang 11- Cung cấp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội và chương trình hành động thực hiện chiến lượcbình đẳng giới của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6 Bố cục của u n n
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình đã công bố củatác giả liên quan đến luận án, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dungcủa luận án gồm 4 chương, 9 tiết
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
ình đẳng giới là một trong những vấn đề thu h t sự quan tâm của cácnhà lãnh đạo, quản lý, của các tổ chức Chính phủ và phi chính phủ, của cácnhà khoa học trong và ngoài nước Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sảnViệt Nam đã nhận thức được vị trí, vai trò của phụ nữ và công tác bình đẳnggiới Tuy nhiên, việc nghiên cứu về phụ nữ, về giới chỉ được đặt ra và giải
quyết như một môn khoa học khi Trung tâm nghiên cứu phụ nữ ra đời năm
1987 Dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, cho đến nay, nhiều côngtrình khoa học, bài viết đã đề cập tương đối toàn diện về vấn đề này Liênquan trực tiếp đến luận án có thể khái quát thành mấy nhóm cơ bản sau:
1.1.1 Nhóm các công trình nghi n cứu chủ ngh a M c - L nin, tư tưởng
Hồ Ch Minh, đường ối của Đảng, ch nh s ch của Nh nước về vấn đề giới
v bình đẳng giới
Cuốn sách Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam,
ộ ngoại giao Việt Nam [21], được coi là “sách trắng về vấn đề nhân quyền”
ở Việt Nam vì lần đầu tiên những thành tựu về nhân quyền ở Việt Nam đượccông bố Cuốn sách gồm 4 chương, trong đó dành phần lớn dung lượng để
nêu lên các quan điểm, chính sách của Việt Nam về quyền con người vànhững thành tựu quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người về dân sự vàchính trị; về kinh tế, văn hóa và xã hội; về phụ nữ, chăm sóc và bảo vệ trẻ em,gia đình, người già, người tàn tật Trong những thành tựu mà cuốn sách đềcập đến, có thành tựu bảo đảm quyền của phụ nữ, xóa bỏ mọi hình thức phânbiệt đối xử với phụ nữ
Cuốn sách Những vấn đề giới từ lịch sử đến hiện đại, Phan Thanh Khôi
-Đỗ Thị Thạch (Đồng chủ biên) [94], là công trình của tập thể các nhà khoa học
Trang 13của Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ ChíMinh Cuốn sách đã phân tích vấn đề giới nói chung và bình đẳng giới nóiriêng trong lịch sử nhân loại và Việt Nam Cùng với việc đề cập đến vấn đềgiới trong truyền thông và Internet, vấn đề giới trong sách giáo khoa giáo dụcphổ thông, cuốn sách đã phân tích vấn đề giới trong những tác phẩm kinh điểncủa C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh; đồng thời, dành mộtdung lượng đáng kể nghiên cứu vấn đề giới trong đường lối, chính sách phápluật của của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Cuốn sách Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và công
cuộc đổi mới đất nước, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam [79], làm rõ vị trí, vai trò
và sức mạnh to lớn của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến năm 2007; đồng thời,cuốn sách cũng nêu bật những quan điểm của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đốivới phụ nữ và phong trào phụ nữ Trên cơ sở nghiên cứu những đóng góp to lớncủa phụ nữ, cuốn sách không chỉ làm rõ những đóng góp to lớn của các tầng lớpphụ nữ, phong trào phụ nữ Việt Nam, mà còn khẳng định sự đ ng đắn trong chủtrương và quá trình lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ, góp phần giảiphóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam
Chương trình hợp tác chung giữa Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp
Quốc về bình đẳng giới, Hệ thống các văn bản quy định hiện hành về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình [42], đã hệ thống các văn bản chỉ đạo của Đảng; các văn bản quy định hiện hành về bình đẳng giới của Quốc
hội, Chính phủ, của các bộ, ngành; các văn bản hiện hành về phòng, chốngbạo lực gia đình, của Quốc hội, Chính phủ, của các bộ, ngành; các văn bảnquy định hiện hành về tổ chức bộ máy bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ
nữ và phòng, chống bạo lực gia đình của Quốc hội, Chính phủ, của các bộ,ngành; và một số trích đoạn của các văn kiện quốc tế có liên quan
Cuốn sách Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh
về phụ nữ và công tác phụ nữ [132], đã tập hợp toàn văn hoặc trích dẫn các
Trang 14bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng, Nhà nước
về phụ nữ và công tác phụ nữ Nội dung của cuốn sách cung cấp cho ngườiđọc cái nhìn toàn diện và chính xác về các quan điểm của Chủ tịch Hồ ChíMinh, của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phụ nữ, công tác phụ nữ và vềbình đẳng giới
Luận án tiến sĩ Hồ Chí Minh học của tác giả Trần Thị Huyền, Tư tưởng
Hồ Chí Minh về bình đẳng nam nữ và vận dụng vào thực hiện bình đẳng giới
ở Việt Nam hiện nay [86] Dưới góc độ chuyên ngành Hồ Chí Minh học, tác
giả đã làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng nam nữ, thực trạng vậndụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng nam nữ vào thực hiện bình đẳng giới ởViệt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra những vấn đề đặt ra, những nhân
tố mới tác động, đồng thời nêu ra quan điểm, giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ ChíMinh về bình đẳng nam nữ vào thực hiện bình
đẳng giới ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
Đề tài cấp Nhà nước, Điều tra cơ bản về thực trạng bình đẳng giới và đánh giá tác động của chính sách đối với phụ nữ và nam giới nhằm phục vụ công tác hoạch định chính sách ở Việt Nam do Đỗ Hoài Nam làm Chủ nhiệm
[117] Trên cơ sở tiến hành điều tra cơ bản về thực trạng bình đẳng giới ở ViệtNam, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu vàhạn chế, tác giả đã đánh giá sự tác động của những chính sách đối với phụ nữ,nam giới trên các v ng miền và trên các lĩnh vực khác nhau Đồng thời, tác giảcũng đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản, nhằm phục vụ côngtác hoạch định chính sách ở Việt Nam, góp phần thực hiện bình đẳng giới vànâng cao hiệu quả của chính sách đối với cả phụ nữ và nam giới
Tác giả Lê Lục trong công trình Công tác tuyên truyền của Đảng nahừm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế tri thức [106],
khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ trong phát triển kinh tế tri thức.Nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế tri thức, bài viếtđưa ra một số giải pháp, trong đó nhấn mạnh giải pháp nâng cao nhận thức
Trang 15cũng như vai trò của các cấp ủy Đảng, chính quyền trong thực hiện mục tiêubình đẳng giới trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.
Viết về quan điểm của Hồ Chí Minh, về vai trò của phụ nữ, tác giả Thái
Sơn có bài viết “Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ” [146] Bài viết
phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của phụ nữ trong cáchmạng Việt Nam Từ đó, tác giả khẳng định: công cuộc giải phóng phụ nữ gắnvới sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.Trong bài viết, tác giả cũng chỉ ra, để phát huy vai trò của phụ nữ, thực hiệnbình đẳng giới phải có chủ trương, chính sách, pháp luật cụ thể của Đảng vàNhà nước, để đưa họ tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội.Tuy nhiên, sự nghiệp giải phóng phụ nữ phụ thuộc vào chính sự cố gắng,phấn đấu vươn lên của bản thân phụ nữ
Nguyễn Thị Mỹ Trang, Nguyễn Lê Tâm, “Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giải phóng phụ nữ” [179], đã bàn về quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin về giải phóng phụ nữ Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến các giảipháp mà chủ nghĩa Mác - Lênin đặt ra để giải phóng phụ nữ: đưa nữ giới thamgia vào nền sản xuất xã hội và thủ tiêu chế độ tư hữu; xã hội hóa công việc giađình đối với phụ nữ; tạo điều kiện để phụ nữ khẳng định vị trí, vai trò củamình trong gia đình và xã hội; bản thân phụ nữ phải nâng cao ý thức tự giảiphóng
Vương Thị Hanh, “Phụ nữ Việt Nam và việc tham gia chính trị” [65],
nêu ra các chính sách của Đảng, Nhà nước về bình đẳng giới Tác giả cũngphân tích một số nét về tình hình phụ nữ tham gia chính trị ở Việt Nam trongcác công việc chung của cộng đồng và quốc gia; sự tham gia lãnh đạo và raquyết định của phụ nữ trong các cấp ủy Đảng, trong Quốc hội, và Hội đồngnhân dân và chính quyền các cấp Đồng thời, bài viết cũng làm rõ những yếu
tố ảnh hưởng tích cực, tiêu cực đến tình hình tham gia chính trị của phụ nữ
Từ đó, đưa ra kiến nghị về xây dựng công tác cán bộ nữ và đội ngũ cán bộ
Trang 16nữ để đảm bảo phụ nữ được bình đẳng thực sự trong tham gia vào bộ máyquyền lực.
Nguyễn Thị Ngân, “Chủ trương của Đảng, Nhà nước về giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam” [123], và “Thực hiện quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới” [124] Trong hai bài
viết, tác giả khẳng định, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việcthực hiện bình đẳng giới Điều đó thể hiện trong các văn kiện Đại hội đại biểutoàn quốc và các Nghị quyết, Chỉ thị của ộ Chính trị, của an í thư và được cụthể hóa trong chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chiến lược, chươngtrình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Thực hiện chủ trương của Đảng,chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới, bình đẳng giới ở Việt Nam đã đạtđược nhiều thành tựu quan trọng Vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia đình và
xã hội ngày càng được khẳng định Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế trongquá trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới: một số chủ trương lớn còn thiếunhạy cảm về giới; kỹ năng lồng ghép giới còn hạn chế; định kiến giới còn tồntại dai dẳng trong xã hội;
Tác giả Vũ Thị Cúc trong công trình “Quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn
đề giới” [43], đã nghiên cứu và chỉ ra nguyên nhân của bất bình đẳng giới là tư
tưởng “trọng nam khinh nữ”, ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong xã hội ViệtNam và cách hiểu máy móc không ch ý đến sự khác biệt về giới, hạn chế trongnhận thức của người dân và bản thân phụ nữ về bình đẳng giới Bài viết cũng bànđến các giải pháp đấu tranh cho bình đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh Đểđạt được bình đẳng giới, theo Hồ Chí Minh, một mặt phải nâng cao nhận thứccủa nam giới và xã hội về phụ nữ, vai trò của phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam
nữ Mặt khác, bản thân phụ nữ phải tự mình phấn đấu vươn lên, xóa bỏ “địnhkiến giới” trong chính bản thân mình để giành quyền bình đẳng Tuy nhiên, việcgiành lại quyền bình đẳng nam nữ không phải là việc riêng của phụ nữ mà làviệc chung của Đảng, của giai cấp công nhân và toàn thể nhân
Trang 17dân Tác giả cũng khẳng định, để thực hiện được những giải pháp trên theoquan điểm của Hồ Chí Minh, vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc đấutranh cho bình đẳng giới rất quan trọng Trên thực tế, Đảng, Nhà nước đã đưa
ra nhiều chủ trương, chính sách, đặc biệt là hệ thống pháp lý bảo vệ quyềnbình đẳng của phụ nữ Bài viết là gợi ý cho tác giả khi phân tích nguyên nhâncủa những hạn chế trong thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam và nhận xét vaitrò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo thực hiện bình đẳng giớitrong quá trình viết luận án
Bên cạnh đó còn có các bài viết: Nguyễn Thị ình, “Phát huy hơn nữa vai trò của phụ nữ trong tham gia quản l Nhà nước”[14]; Đặng Thị Lương,
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng Phụ nữ” [107]; Hiền Lương,
“Hồ Chí Minh về công tác cán bộ nữ”[108]; Nguyễn Thị Mão, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng Phụ nữ và xây dựng đội ngũ cán bộ nữ” [114]; Nguyễn Thị Kim Dung, “Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ” [45]; Hà Thị Khiết, “Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CP/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII về một số vấn
đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” [91]; Hà Thị Khiết, “Quan tâm hơn nữa việc thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện cho Phụ nữ tham gia các hoạt động quản l Nhà nước, xã hội” [92]; i Hồng Vạn, “Quan điểm của Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới” [190];
Cùng với các công trình khoa học ở trong nước, còn có các công trìnhnghiên cứu của các học giả cũng như tổ chức nước ngoài bàn đến vấn đề chínhsách, pháp luật Việt Nam trong thực hiện bình đẳng giới dựa trên Công ước loại
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Convention on the Elimination ofall Forms of Discrimination against Women - Công ước CEDAW):
Rea Abada Chiongson, CEDAW và pháp luật: Nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt Nam trên cơ sở quyền và giới qua lăng kính CEDAW, Lê
Thành Long (Chủ biên dịch) [144] Đây là công trình nghiên cứu nhằm mục
Trang 18đích rà soát, đánh giá và hoàn thiện văn bản pháp luật Việt Nam dựa trên cơ
sở giới và quyền lấy Công ước CEDAW làm khuôn khổ và công cụ phân tích.
Nghiên cứu đã chỉ ra những nhu cầu sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật,những khuyến nghị trong tương lai Những nội dung được đưa ra trong côngtrình giúp nghiên cứu sinh có đánh giá chính xác hơn về quá trình chỉ đạo xâydựng khung pháp lý về bình đẳng giới và lồng ghép bình đẳng giới trong cácchiến lược, chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của ĐảngCộng sản Việt Nam
UN Women, (United Nations Entity for Gender Equality and theEmpowerment of Women - Cơ quan Phụ nữ Liên Hợp Quốc về bình đẳng
giới và trao quyền cho phụ nữ) Pháp luật của chúng ta có thúc đẩy bình đẳng giới, Sổ tay nghiên cứu rà soát pháp luật dựa trên công ước CEDAW, (Bản dịch tiếng Việt: Hà Ngọc Anh) [185] Đối tượng chính của cuốn sổ tay là các
cán bộ thực thi bình đẳng giới ở khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam.Nội dung Sổ tay bàn đến là dựa trên khung tham chiếu Công ước CEDAW,các cán bộ thực thi bình đẳng giới của Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ,các cơ quan, viện nghiên cứu, các nhóm phụ nữ rà soát và đánh giá pháp luậtcủa quốc gia mình có tuân thủ Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt, đối
xử với phụ nữ hay không Từ đó, đưa ra các khuyến nghị phù hợp
Các công trình, bài viết kể trên, dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau,phần nào đã nêu rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giới và bìnhđẳng giới Đây chính là nguồn tài liệu quý, cung cấp cho tác giả những vấn đề lýluận và thực tiễn quan trọng trong quá trình nghiên cứu, triển khai đề tài luận án
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về phụ nữ và bình đẳng giới
Nghiên cứu về phụ nữ và bình đẳng giới được rất nhiều học giả quan tâm
Có thể kể đến một số công trình khoa học tiêu biểu:
Trang 19Tiếp cận dưới góc độ gắn liền vấn đề phụ nữ với nghiên cứu về giới, tác
giả Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng trong công trình Phụ nữ, giới và phát triển [4], đã phân tích mối quan hệ giữa bình đẳng giớivà phát triển xã hội Đồng thời, các tác giả khẳng định chính sách xã hội đối với phụ nữ có
ảnh hưởng không nhỏ đến bình đẳng giới và phát triển xã hội Trong thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, đây có thể coi là luận cứkhoa học cho việc thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội và bình đẳng giới
Tác giả Lê Thi trong công trình Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới
ở Việt Nam [156], trên cơ sở nghiên cứu quan điểm tiếp cận giới, quan điểm
của Đảng, Nhà nước về các vấn đề liên quan đến bình đẳng giớivà phân tích thựctrạng đời sống của lao động nữ trong thời kỳ đổi mới, tác giả chỉ ra những vấn đềđặt ra, đồng thời đề xuất ý kiến về một số chính sách xã hội nhằm thực hiện bìnhđẳng giới trong tình hình mới
Cuốn sách Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, của tác giả Đỗ Thị Thạch [150] Nghiên cứu về trí thức
nữ dưới một góc nhìn mới, tác giả của cuốn sách làm rõ những quan niệm về tríthức, trí thức nữ; phân tích sự hình thành, tính đặc thù của nguồn lực trí tuệ củađội ngũ trí thức nữ Việt Nam và những đóng góp của họ đối với sự phát triển củađất nước Bên cạnh đó, công trình còn đề cập đến những nhân tố tác động
đến sự phát triển của trí tuệ nữ và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nguồnlực trí thức nữ Việt Nam trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Những nhận thức mới mà công trình đề cập đến đã khẳng định vaitrò to lớn của phụ nữ đối với sự phát triển của xã hội, góp phần quan trọngtrong việc xóa bỏ định kiến giới, tiến tới thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam
Cuốn sách của Trần Thị Minh Đức, Đỗ Hoàng, Hoàng Thị Xuân Dung,
Định kiến và phân biệt đối xử theo giới: lý thuyết và thực tiễn [60], đã phân tích
những vấn đề lý thuyết và phương pháp nghiên cứu định kiến và phân biệt đối xửtheo giới, đồng thời chỉ ra thực tiễn với những hình thức biểu hiện của định kiến
và phân biệt đối xử theo giới Các tác giả cũng dành một phần dung lượng
Trang 20của cuốn sách để bàn về nguyên nhân dẫn đến định kiến, phân biệt đối xử vớingười phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội Định kiến, phân biệt đối xử vớingười phụ nữ không chỉ từ phía đàn ông mà ngay trong chính bản thân phụ
nữ Nhiều phụ nữ mặc định vị trí, vai trò của mình thấp, nhỏ bé hơn đàn ông
và những việc gia đình, nội trợ con cái thuộc về phụ nữ Định kiến nàykhiến cho phụ nữ ít, thậm chí không có cơ hội phát triển cá nhân và chịunhiều thiệt thòi so với nam giới Đây chính là một trong những nguyên nhânquan trọng dẫn đến bất bình đẳng giới trong gia đình và xã hội
Đề cập đến lịch sử hình thành tư tưởng nữ quyền và một số quan điểm
cơ bản về tư tưởng nữ quyền, các trường phái lý thuyết, những cống hiếncũng như những hạn chế của lý thuyết nữ quyền, tác giả Lê Ngọc Văn, trong
Nghiên cứu gia đình - lý thuyết nữ quyền - quan điểm giới [191], đã chỉ ra rằng, nghiên cứu vấn đề này chính là cơ sở khoa học của việc xây dựng chính
sách, chiến lược phát triển gia đình nói riêng và bình đẳng giới nói chung
Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh (Đồng chủ biên), Bình đẳng giới ở Việt Nam [5], trên cơ sở điều tra cơ bản về bình đẳng giới trong hai
năm 2005 - 2006, các tác giả đã chỉ ra thực trạng bình đẳng giới về cơ hộicũng như khả năng nắm bắt cơ hội của phụ nữ và nam giới; đồng thời, nghiêncứu này cũng chỉ ra tương quan giữa hai giới trên một số lĩnh vực của đờisống gia đình và xã hội Qua đó, thấy được vai trò của phụ nữ trong giải quyếtcác vấn đề xã hội nói chung và trong chính trị; kinh tế, lao động, việc làmcũng như trong gia đình nói riêng
Trên phương diện chính trị - xã hội, các tác giả Trịnh Quốc Tuấn và Đỗ
Thị Thạch (Đồng chủ biên), trong cuốn sách chuyên khảo Khoa học giới Những vấn đề lý luận và thực tiễn [174], đã chỉ ra lịch sử phát triển của khoa
-học giới, từ sự ra đời của lý thuyết giới đến cơ sở lý luận và thực tiễn cho việcnghiên cứu khoa học giới ở Việt Nam Nghiên cứu của các tác giả cũng chỉ racác khái niệm cơ bản của khoa học giới: giới và giới tính; vai trò giới; nhu cầu
Trang 21giới; bình đẳng giới cũng như các công cụ phân tích giới Công trình cũngdành chương 9 để bàn về một số quan điểm phát triển phụ nữ, giới và phươngpháp lồng ghép giới trong các chương trình phát triển Bên cạnh đó, nhóm tácgiả còn nghiên cứu vấn đề giới dựa trên cách tiếp cận 8 lĩnh vực: trong kinh tế
- lao động; trong chiến lược giảm nghèo; trong lãnh đạo, quản lý; trong hoạchđịnh và thực hiện chính sách; trong văn hóa; giáo dục, đào tạo; trong gia đình
và chiến lược dân số
Cũng nghiên cứu về vấn đề giới, tác giả Bùi Thế Cường (Chủ biên)
trong cuốn sách Phụ nữ Việt Nam trong kỷ nguyên biến đổi xã hội nhanh [44],
đã nêu quan điểm: trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam, giới là một nội dungquan trọng, là chủ đề then chốt, xuyên suốt mọi chủ đề khác Cuốn sách là tậphợp những chuyên đề của các tác giả bàn đến nhiều vấn đề như: Vận dụngtiếp cận giới vào nghiên cứu ở Việt Nam trong thập niên 2000; phụ nữ quản lý
và lãnh đạo trong khu vực công ở Việt Nam; giới trong giáo dục - đào tạo;phụ nữ và gia đình; phụ nữ vươn lên vượt khó; từ nhận thức đến hành động:những câu chuyện thành công
Trên cơ sở tổng hợp kết quả của các hoạt động hợp tác của một số đối
tác phát triển, Báo cáo Đánh giá vấn đề Giới tại Việt Nam của Ngân hàng Thế
giới [119, 120, 121], đã phân tích các vấn đề giới ở Việt Nam Đồng thời, Báocáo cũng đưa ra các khuyến nghị liên quan đến các vấn đề giới thực tiễn Việcphân tích và đưa ra các khuyến nghị là một trong những căn cứ để tác giả đưa
ra nhận xét về thực hiện bình đẳng giới dưới sự lãnh đạo của Đảng trong luận
án của mình
Đề tài khoa học cấp Bộ Lồng ghép giới hướng tới bình đẳng và phát triển
bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, do tác giả Phạm Thu Hiền làm
Chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2010 [69], đã phân tích lồng ghép giới trong cáclĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội như: chính trị; kinh tế, lao động, việclàm; văn hóa - xã hội; giáo dục; y tế và gia đình Trên cơ sở phân tích các nội
Trang 22dung trên, tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị trong lồng ghép giớinhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, phát triển bền vững ở Việt Nam.
Tiếp cận quá trình toàn cầu hóa như là một tất yếu khách quan tác độngđến các mặt của đời sống xã hội,mọi khu vực và quốc gia trên thế giới, đề tàikhoa học cấp cơ sở của Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trịquốc gia Hồ Chí Minh do tác giả Đỗ Thị Thạch làm chủ nhiệm, với tiêu đề
Tác động của toàn cầu hóa đối với thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay [151], đã phân tích những tác động hai mặt của toàn cầu hóa đến thực
hiện bình đẳng giới ở Việt Nam trên các lĩnh vực lao động, việc làm; thunhập; văn hóa - xã hội; gia đình Từ sự phân tích đó, tác giả đề xuất một sốgiải pháp để phát huy những tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêucực của toàn cầu hóa đến thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam
Trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ tái cơ cấu kinh tế nâng cao năng lực cạnhtranh Việt Nam” (Dự án RCV), Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương(CIEM) tổ chức Hội thảo “Hội nhập kinh tế quốc tế và bình đẳng giới” Tại Hội
thảo, tác giả Đặng Thị Thu Hoài với bài viết “Tác động của hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực đến bình đẳng giới ở Việt Nam” [71] đã khẳng định: ở góc độ
tiếp cận phát triển con người,hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đã cải thiện và
r t ngắn được khoảng cách, mức độ phát triển của nữ giới so với nam giới
ở Việt Nam Tuy nhiên, bất bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn tồn tại do ViệtNam chưa tận dụng được hết các cơ hội do hội nhập đem lại cho phụ nữ, nhất làtrong việc tham gia vào thị trường lao động Khả năng và điều kiện tham gia củaphụ nữ vào các ngành nghề có khả năng được hưởng lợi tích cực từ hội nhập vẫncòn hạn chế Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số biện pháp về chính sách để ViệtNam có thể tận dụng tối đa các cơ hội mà hội nhập đem lại cho phụ nữ, r t ngắnkhoảng cách bất bình đẳng giới: tạo điều kiện dịch chuyển lao động nữ giữa cácngành, khu vực; các chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nên tập trung vào một số ngànhđược hưởng lợi từ hội nhập;
Trang 23“Phụ nữ trong đổi mới: Thành tựu và thách thức”, là bài viết của tác
giả Lê Thị Quý [141] Trong bài viết, tác giả đã đưa ra nhận định: ở ViệtNam, trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng
và Nhà nước đã quan tâm và có những chính sách tạo điều kiện cho phụ nữphát triển Tuy nhiên, giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới không chỉđơn giản là vấn đề chính sách mà phải đưa chính sách vào thực tiễn Nhữngthành tựu đạt được và nhất là những thách thức đặt ra trong nhận thức về bìnhđẳng giới, định kiến giới đòi hỏi phải có những giải pháp cụ thể để đạt đượcbình đẳng giới trong thực tiễn
Tác giả Hoàng Bá Thịnh trong bài viết “Về làn sóng nữ quyền và ảnh hưởng của nữ quyền đến địa vị của phụ nữ Việt Nam”[158], đã chỉ ra sự phân
chia các làn sóng nữ quyền và ảnh hưởng của các làn sóng nữ quyền đến địa
vị của phụ nữ Việt Nam Tác giả cũng khẳng định: nếu như ở các nướcphương Tây, phong trào nữ quyền diễn ra khá mạnh mẽ thì ở Việt Nam, mặc
dù không có làn sóng nữ quyền nhưng có các phong trào phụ nữ, nhằm thựchiện mục tiêu giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ, tiến tới bìnhđẳng giới, do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đứng đầu, dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam
Bài viết “Chất lượng nguồn nhân lực nữ qua lăng kính giới” của tác giả
Lưu Song Hà, Phan Thị Thu Hà [63], trên cơ sở phân tích các khía cạnh thểlực, trí lực và tâm lực của chất lượng nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam, các tácgiả đã đề ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhânlực nữ tiến tới thực hiện bình đẳng giới
Lê Thị Quý, “Bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay” [142], đã phân tích
quan niệm về bình đẳng giới và quá trình phát triển nhận thức giới ở Việt Nam.Bài viết cũng khẳng định Việt Nam đã có những tiến bộ về giới và có nhiều biểuhiện của bình đẳng giới thực chất: Phụ nữ được độc lập về kinh tế, được tham
Trang 24gia và thừa nhận trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội vàngay trong gia đình Phụ nữ còn tham gia những vị trí lãnh đạo, quản lý caocấp bình đẳng giới ở Việt Nam đã được thừa nhận trong pháp luật Thânphận, địa vị của người phụ nữ đã thay đổi Tuy nhiên, một số biểu hiện củabình đẳng giới hình thức cũng được tác giả chỉ ra: sự bất cập giữa pháp luật
bình đẳng giới và thực thi, vai trò “kép” của phụ nữ, chính sách quy định độ
tuổi nghỉ hưu của nữ giới và nam giới,
Là một chuyên gia nghiên cứu về vấn đề giới và bình đẳng giới, tác giả
Đỗ Thị Thạch trong bài “Nữ trí thức Việt Nam trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [152], đã đưa ra quan điểm trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đội ngũ
nữ trí thức Việt Nam phải đảm bảo ba phẩm chất cơ bản: phẩm chất chính trịvững vàng; có trí tuệ cao; có trách nhiệm xã hội Từ đó, tác giả đưa ra một sốgiải pháp nhằm phát huy vai trò của nữ trí thức đáp ứng yêu cầu công nghiệphóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam
ên cạnh đó, còn nhiều bài viết bàn đến vấn đề giới, tiêu biểu như:
Phan Thị Thanh, “Giới và việc nhận thức về giới trong hệ thống tổ chức nhà nước” [148]; Cao Huyền Nga, “Bất bình đẳng giới - nguồn gốc của sự xung đột tâm lý trong quan hệ vợ chồng” [122]; Bùi Thị Tỉnh, Phụ nữ và giới [72]; Các bài viết này ở các góc độ khác nhau cũng đã bàn đến vấn đề giới,
phụ nữ và phát triển cũng như bình đẳng giới
Bên cạnh những công trình nói trên, nghiên cứu sinh mạnh dạn tiếp cận
và tham khảo những công trình của các tác giả và các tổ chức nước ngoài vềvấn đề giới và bình đẳng giới:
Cuốn Mười khái niệm lớn của xã hội học của tác giả Jean Cazennenva được Sông Hương dịch [87] Giới là một trong 10 khái niệm lớn của xã hội
học mà tác giả đề cập đến trong cuốn sách Đây chính là nội dung tham khảocho nghiên cứu sinh khi đưa ra các khái niệm liên quan trong luận án
Trang 25Công trình Đảm bảo các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ phục vụ toàn
thể nhân dân: Các phương pháp tiếp cận đáp ứng Giới dựa trên các quyền con người của UNIFEM (United Nations Development Fund for Women - Quỹ phát
triển phụ nữ Liên Hợp Quốc) [180], không chỉ chỉ ra vai trò quan trọng của cácphương pháp tiếp cận đáp ứng giới dựa trên các quyền con người, công trìnhkhoa học còn chỉ ra các cách thức tiếp cận nhằm đảm bảo các Mục tiêu phát triểnthiên niên kỷ Đây là nội dung quan trọng góp phần hỗ trợ các nhà làm công táchoạch định cũng như thực thi chính sách và giám sát các chiến lược để đạt đượccác Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, góp phần thực hiện bình đẳng giới
Báo cáo Cách tiếp cận có trách nhiệm giới đối với các mục tiêu phát triển
[181] của UNIFEM mặc dù mới chỉ dừng lại ở việc tổng hợp chung, chưa đưa ranhững gợi ý cụ thể khi thực hiện lồng ghép giới vào Mục tiêu phát triển Thiênniên kỷ (bởi tùy hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia khác nhau thì cách tiếp cận
và lồng ghép giới vào Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của mỗi quốc gia khácnhau) nhưng Báo cáo đã chỉ ra bất bình đẳng giới chính là lực cản đối với việcthực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ Đồng thời, áo cáo cũng lý giải các chiềucạnh của bất bình đẳng giới trong việc thực hiện 8 Mục tiêu phát triển Thiên niên
kỷ mà 189 quốc gia (trong đó có Việt Nam) đã cam kết thực hiện
Cũng trong năm 2008, cuốn sách Giới và Trách nhiệm giải trình của
UNIFEM [182] đã cho thấy những nỗ lực của thế giới trong việc xóa bỏ bấtbình đẳng giới và thực hiện lồng ghép giới nhằm đáp ứng tốt hơn quyền lợicho phụ nữ Bên cạnh đó, cuốn sách còn phân tích lồng ghép giới vào một sốlĩnh vực của đời sống chính trị (tư pháp), kinh tế (dịch vụ, thị trường), xã hội(hỗ trợ và an sinh) Nội dung cuốn sách góp phần thay đổi cách tư duy vềtrách nhiệm giải trình đối với vấn đề giới
Trên cơ sở khẳng định những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội củaViệt Nam trong hơn 30 năm, báo cáo của UN Women (United Nations
Trang 26Entity for Gender Equality and the Empowerment of Women - Cơ quan phụ
nữ Liên Hợp Quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ), Thúc đẩy quyền của phụ nữ tại Việt Nam [187] đã nhấn mạnh để Việt Nam tiếp tục phát
triển kinh tế - xã hội thì thực hiện bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ làviệc cơ bản và cần thiết
Như vậy, những công trình nghiên cứu về giới và bình đẳng giới nóichung của các tác giả trong và ngoài nước đã cho thấy những cách tiếp cận,những góc độ khác nhau về vấn đề này Đó là những tài liệu tham khảo quantrọng cả về lý luận và thực tiễn để nghiên cứu sinh kế thừa trong quá trìnhnghiên cứu và viết luận án của mình
1.1.3 Nh c c công trình nghi n cứu về bình đẳng giới tr n
nh vực cụ thể: ch nh trị; inh tế, a động, việc ; gia đình
ột số
Mặc dù cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau nhưngnhững công trình nghiên cứu về bình đẳng giới trên các lĩnh vực chính trị;kinh tế, lao động và việc làm; gia đình khá phong phú Tiêu biểu là:
Cuốn sách Bình đẳng giới trong lao động và việc làm với tiến trình hội nhập ở Việt Nam: Cơ hội và thách thứccủa tác giả Nguyễn Nam Phương
[130], đã đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn nữa bìnhđẳng giới trong lao động, việc làm ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở phân tích
cơ sở lý luận và thực trạng bình đẳng giới trên lĩnh vực lao động, việc làm ởViệt Nam
Nguyễn Thị Hòa là tác giả của cuốn Giới, việc làm và đời sống gia đình [70] Cuốn sách đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề giới,
việc làm và đời sống gia đình; đánh giá thực trạng thông qua điều tra xã hộihọc, và đề ra những giải pháp ph hợp với thực tiễn
Gia đình, bình đẳng giới, phụ nữ và trẻ em 2007 - 2008 là cuốn sách của
tập thể các tác giả Nguyễn Thị Huệ - Nguyễn Đức Tuyến - Lê Thị Hồng Hải[83] Các tác giả đã phân tích khá sâu sắc những vấn đề lý luận về gia đình, bình
Trang 27đẳng giới, phụ nữ và trẻ em Thông qua các kết quả thu thập trong 2 năm 2007
- 2008, đánh giá toàn diện về thực trạng của các vấn đề trên, đồng thời, chỉ rõnguyên nhân của những thành tựu và hạn chế Từ đó, tập thể tác giả đề ra một
số giải pháp nhằm xây dựng gia đình, thực hiện bình đẳng giới
àn đến vấn đề phụ nữ lãnh đạo quản lý, tác giả Trần Thị Rồi trong
cuốn sách Quyền bình đẳng nam nữ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý nhà nước ở Việt Nam qua tiến trình phát triển của lịch sử[143], đã khái quát lại
tình hình bình đẳng nam nữ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý Nhà nước ởViệt Nam từ thời Văn Lang - Âu Lạc đến nay Từ đó, tác giả đề xuất một sốgiải pháp để thực hiện bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý Nhà nước ở ViệtNam hiện nay
Cuốn sách Vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực
hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam của tác giả Phạm Minh Anh [1], đã
phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lýcấp cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam Thông quaphân tích các yếu tố tác động và đánh giá thực trạng vai trò của cán bộ lãnh đạo,quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, tác giả đề xuấtmột số giải pháp nâng cao vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trongviệc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
Bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay, tác giả Chu Thị Thoa [160], đã trình bày khá sâu sắc phần lý luận bình
đẳng giới, phương pháp tiếp cận giới khi nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới ởViệt Nam, nhất là quá trình thực hiện bình đẳng giới trong gia đình Việt Namqua các thời kỳ lịch sử ằng phương pháp điều tra xã hội học, luận án đánh giáthực trạng bình đẳng giới trong gia đình trên mối quan hệ xã hội giữa vợ vớichồng ở nông thôn khu vực đồng bằng sông Hồng Từ đó, đề ra một sốphương hướng và giải pháp thực hiện bình đẳng giới ở nông thôn khu vựcnày
Trang 28Luận án tiến sĩ Triết học của tác giả Nguyễn Thị Tuyết, Phụ nữ lãnh đạo, quản l trong hệ thống chính trị vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ đổi mới [178], đã chỉ ra một số vấn đề cơ bản về lãnh đạo, quản lý trong hệ thống
chính trị; phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn vềphụ nữ lãnh đạo, quản lý trong
hệ thống chính trị v ng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ đổi mới Trong luận án,tác giả phân tích thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của thực trạng và những vấn
đề đặt ra đối với phụ nữ lãnh đạo quản lý trong hệ thống chính trị ở v ng Đồngbằng sông Hồng Từ đó, đưa ra một số quan điểm, nhóm giải pháp và kiếnnghị nhằm tăng cường phụ nữ lãnh đạo quản lý trong hệ thống chính trị ở v ngĐồng bằng sông Hồng nói riêng và bình đẳng giới nói chung
Đề tài cấp ộ do Nguyễn Hữu Minh làm chủ nhiệm, Những vấn đề cơ bản
về gia đình và giới ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020 [116] Trên cơ sở
phân tích cơ sở lý luận, chỉ ra những vấn đề cơ bản, đánh giá thực trạng nhữngvấn đề cơ bản gia đình và giới dựa trên những kết quả điều tra xã hội học
ở Việt Nam trong những năm gần đây, tác giả đưa ra những dự báo khoa học về gia đình và giới trong giai đoạn 2011 - 2020 Từ đó, đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm xây dựng gia đình và thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam.
Hội thảo Về Công ước CEDAW và sự tham gia của phụ nữ vào vị trí quản
l , lãnh đạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội [17] Nội dung Hội thảo xoay
xung quanh các vấn đề: giới thiệu tổng quan về Công ước CEDAW; đánh giáthực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay; chia sẻ kinh nghiệm và giải pháp
thực hiện bình đẳng giớitrong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011 - 2020 và Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai
đoạn 2011 -2015 Hội thảo cũng là diễn đàn bàn luận về việc đảm bảo quyền
và sự tham gia của phụ nữ vào vị trí quản lý, lãnh đạo ở Việt Nam
Trong bài viết “Về công bằng, bình đẳng giới trong hệ thống chính trị ở
Việt Nam” [112] của mình, tác giả Võ Thị Mai, phân tích một số khái niệm công
bằng; công bằng giới xét trên 3 cấp độ: khác biệt giới, bất bình đẳng giới, áp bức
Trang 29giới; bình đẳng; bình đẳng giới theo 2 nghĩa: bình đẳng về nguyên tắc (mục tiêubình đẳng) và bình đẳng toàn diện (lý tưởng bình đẳng); bình đẳng giới trong hệthống chính trị Bên cạnh đó, trên cơ sở tiến hành khảo sát thực tế, bài viết chỉ ranhững mô hình công bằng, bình đẳng giới trong hệ thống chính trị như: mô hìnhcông bằng giới của tỉnh Tuyên Quang (luôn bảo đảm tính bền vững của cán bộ
nữ qua từng nhiệm kỳ); mô hình luân phiên lãnh đạo ở một số nơi như ở xã EaTiêu, huyện Krông Ân, tỉnh Đăk Lăk (luân phiên vị trí í thư và Chủ tịch xã củanam và nữ trong các nhiệm kỳ); mô hình cân bằng quyền lực giới của Thụy Điển(hướng tới cả về mặt số lượng và chất lượng); đồng thời là những mô hình vẫncòn tồn tại sự bất bình đẳng giới trong hệ thống chính trị như: mô hình độcquyền nam giới Trên cơ sở khẳng định “phụ nữ có quá nhiều rào cản từ phía xãhội, gia đình, văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán Đặc biệt là sự nhậnthức, định kiến của xã hội, của nam giới còn rất lâu mới có thể giải phóng được
tư tưởng “trọng nam khinh nữ” ” [112, tr.19], tác giả đưa ra một số giải pháp:Nâng cao nhận thức, quan điểm về công bằng, bình đẳng giới trong hệ thốngchính trị và trong toàn xã hội; đa dạng hóa giá trị, tăng quyền và mở rộng cơ hộilựa chọn cho cả hai giới; hoàn thiện khung pháp lý về công bằng, bình đẳng giớitrên cơ sở xây dựng các mục tiêu, chỉ tiêu, chỉ số giám sát cụ thể; hoàn thiện cơchế, chính sách hỗ trợ cán bộ nữ; xã hội hoá công tác cán bộ nữ trong đó nângcao vai trò to lớn của Hội Liên hiệp Phụ nữ và Ủy ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ;thành lập bộ phận cán bộ chuyên trách công tác cán bộ nữ; xây dựng mô hìnhlãnh đạo cân xứng giới trong hệ thống chính trị
Tác giả Lại Thị Thu Hà trong công trình “Một số vấn đề về bình đẳng giới
trong lao động, việc làm ở nước ta hiện nay”[62], trên cơ sở phân tích thực trạng
lao động, việc làm ở Việt Nam, tác giả chỉ ra nguyên nhân của thực trạng bấtbình đẳng giới trong lao động, việc làm Đồng thời, tác giả bài viết cũng chorằng cần phải có một quan niệm mới về chính sách việc làm, lồng ghép các vấn
đề triển vọng về vấn đề giới để đề cập đến những tiêu cực đối với giới tính trongnhững phương thức lao động, việc làm để tận dụng những cơ hội có được Điều
Trang 30đó đòi hỏi phải khắc phục các định kiến giới trong gia đình; xóa bỏ nhữngphân biệt đối xử trong quan hệ nghề nghiệp và mọi hình thức đối xử liên quanviệc làm ở cán bộ lãnh đạo, quản lý, các nhà hoạch định chính sách, chủ thểtuyển dụng lao động; điều chỉnh các chính sách việc làm; triển khai các công
cụ để những đóng góp của các công việc không được trả lương của phụ nữđược thừa nhận và đưa vào hệ thống thanh toán quốc gia; lồng ghép vấn đề vềgiới tính vào mọi chính sách, chương trình vĩ mô và vi mô; cần phải côngnhận và đánh giá những đóng góp do lao động mang lại dưới mọi hình thức,kinh nghiệm, tri thức và những giá trị của nam, nữ trong xã hội
Tác giả Phạm Võ Quỳnh Hạnh, trong bài viết “Đảm bảo bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” [66], đã nêu lên thực
trạng phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong các cấp ủy Đảng, trong các cơquan dân cử tăng lên đáng kể Tuy nhiên, tỷ lệ lãnh đạo nữ trong các cấp, cácngành còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng cũng như sự đóng góp của
phụ nữ và chưa đạt được chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới
đã đề ra Cùng với việc đưa ra thực trạng, tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân củanhững hạn chế, từ đó, đề xuất 4 giải pháp nhằm đảm bảo bình đẳng giới trongchính trị ở Việt Nam hiện nay
Cũng bàn về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, tác giả Trần Thị
Huyền, “Thực hiện bình đẳng giới về chính trị trong thời kỳ đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [85], đã dành một dung lượng không nhỏ của bài viết
bàn về Hồ Chí Minh với bình đẳng nam nữ về chính trị Cũng trong bài viết,tác giả chỉ ra thực trạng và những khó khăn trong thực hiện bình đẳng giới vềchính trị trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam Từ đó, đ c r t 4 bài học kinhnghiệm nhằm thực hiện tốt hơn nữa bình đẳng giới trên lĩnh vực chính trị ởViệt Nam hiện nay
Tác giả Lê Văn Sơn trong bài viết “Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở Việt Nam (2001-2016)” [147] đã chỉ ra một số quan điểm
chủ trương của Đảng, Nhà nước về bình đẳng giới; thực trạng bình đẳng giới
Trang 31trong lao động và việc làm ở Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2006, từ đó, tácgiả đề xuất 6 giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn nữa bình đẳng giới trong laođộng và việc làm ở Việt Nam hiện nay.
Jean Munro, Sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo và quản lý ở
Việt Nam [88], đã chỉ ra các xu hướng tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính
trị và hành chính của Việt Nam; mô tả tổng quan khung chính sách hiện tại củaViệt Nam về bình đẳng giới nói chung và phụ nữ lãnh đạo, quản lý nói riêng baogồm các Công ước quốc tế và chính sách, pháp luật trong nước; những cản trở vàthách thức trong thể chế và quan niệm đối với sự thăng tiến của phụ nữ trong khuvực nhà nước Đồng thời, Báo cáo rà soát và phân tích các kết quả nghiên cứu,các báo cáo gần đây của chính phủ về sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực raquyết sách Trên cơ sở rà soát và phân tích các báo cáo của chính phủ, báo cáonhấn mạnh, mặc dù Việt Nam đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong thúc đẩybình đẳng giới, nhất là trong lĩnh vực phụ nữ tham chính và trao quyền cho phụ
nữ, giữa mục tiêu được đề cập trong các văn bản của chính phủ với con số thực
tế về sự tham gia của phụ nữ vẫn còn khoảng cách
Bên cạnh đó, còn có nhiều sách, bài hội thảo, bài viết đăng trên các tạpchí khoa học đề cập đến vấn đề bình đẳng giới trên các lĩnh vực cụ thể: chínhtrị; kinh tế, lao động, việc làm và trong gia đình Có thể kể đến như: Chu Thị
Thoa,“Bình đẳng giới trong gia đình Việt Nam trong lịch sử” [159]; Nguyễn Thị Tuyết, “Vấn đề giới trong lãnh đạo và ra quyết định ở Việt Nam Hiện trạng và giải pháp” [175]; Dương Thị Minh, Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình hiện nay [115]; Trần Thị Quốc Khánh,
“Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, xã hội” [89]; Nguyễn Thị Cẩm Nhung, “Quyền lực của vợ và chồng trong quyết định các công việc của gia đình” [127]; Lê Trọng ằng, “Bình đẳng giới trên một số lĩnh vực tại vùng sâu,vùng xa,vùng đồng bào dân tộc ít người và vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn” [12]; Vũ Thị Thành, “Bình đẳng giới ở Việt Nam qua
Trang 32các chỉ số trong báo cáo phát triển con người” [154]; Lê Thị Thục, “Nghiên cứu bình đẳng giới trong lãnh đạo chính trị ở Việt Nam: Một số phát hiện từ tổng quan có tính phê phán” [171]; Cao Tuấn Anh, “Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc làm thời kỳ hội nhập và toàn cầu hoá” [3]; Đặng Thị Tuyết, “Một số rào cản khi phụ nữ tham chính” [177]; Nguyễn Thị Vân Hạnh,
“Sự tham gia của phụ nữ vào hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay” [67]
Các công trình khoa học kể trên đã đề cập đến vấn đề bình đẳng giới ởnhững khía cạnh và góc độ tiếp cận nghiên cứu khác nhau; đã luận giải và đưa
ra các quan niệm về bình đẳng giới; đánh giá thực trạng bình đẳng giới trêncác lĩnh vực chính trị; kinh tế, lao động, việc làm và trong gia đình; chỉ ranguyên nhân của thực trạng, từ đó, đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm thựchiện tốt hơn nữa bình đẳng giới trong giai đoạn tiếp theo
1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN
ÁN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công
bố i n quan đến đề tài lu n án
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án khá đa dạng vềchuyên ngành, phong phú về số lượng và tập trung giải quyết những vấn đề cơbản sau:
- Dưới góc độ lý luận,các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa cácquan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ
nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ nói chung hoặc trên các lĩnh vực cụ thể nói riêng
Về sự lãnh đạo của Đảng đối với thực hiện bình đẳng giới, các nhà nghiên cứu đãbước đầu hệ thống các văn kiện của Đảng, Nhà nước về bình
đẳng giới: các văn bản về tổ chức kiện toàn bộ máy làm công tác bình đẳnggiới, về bình đẳng giới vì sự tiến bộ của phụ nữ, góp phần quan trọng trongviệc xóa bỏ định kiến giới, khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ trong quátrình tiến hành sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 33- Các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập đến nội dung cơ bản vềmục tiêu, chủ trương, quan điểm, giải pháp thực hiện bình đẳng giới, nhằm th cđẩy và nâng cao chất lượng của bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.
- Các công trình, bài viết của các tác giả nêu trên đã luận giải nhữngvấn đề về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ và bình đẳng giới; khẳngđịnh vai trò của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng, trong đời sống chính trị - xãhội Vị trí, vai trò của phụ nữ gắn với vấn đề lãnh đạo, quản lý chính trị, kinh tế -
xã hội; với kinh tế, lao động, việc làm; với gia đình; chính sách xã hội đối với phụ
nữ và ảnh hưởng của chính sách xã hội đối với phụ nữ và thực hiện bình đẳng giới.Các công trình nghiên cứu kể trên đã phần nào gợi mở tính cấp thiết của việcnghiên cứu về phụ nữ, về bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong chínhtrị; trong kinh tế, lao động, việc làm; và bình đẳng giới trong gia đình nói riêngcũng như một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để thực hiện tốt hơn nữa bìnhđẳng giới trong giai đoạn hiện nay
Với mục đích, nhiệm vụ cũng như phạm vi nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh kế thừa:
- Về tư liệu: các công trình khoa học nghiên cứu ở các lĩnh vực vàchuyên ngành khác nhau đã khai thác một khối lượng tư liệu lưu trữ khá lớn.Những tư liệu của các tác giả kể trên là tài liệu quý về cơ sở lý luận và thực tiễn đểnghiên cứu sinh tham chiếu trong quá trình triển khai mục tiêu và nhiệm vụ nghiêncứu của luận án
- Về phương pháp: tiếp cận vấn đề giới và bình đẳng giới dưới nhiềugóc độ khác nhau, những công trình khoa học trên sử dụng rất nhiều phương phápnghiên cứu khác nhau: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp nghiên cứuliên ngành; phương pháp điều tra xã hội học Đó là những phương pháp mà tácgiả có thể kế thừa trong quá trình hoàn thành luận án
- Về nội dung: Những công trình khoa học trên trong chừng mực nhấtđịnh đã bước đầu hệ thống hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, của HồChí Minh cũng như chủ trương của Đảng về giới và bình đẳng giới; phân tích
Trang 34thực trạng bình đẳng giới trên một số lĩnh vực và một số địa phương; bướcđầu nêu ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao kết quả bình đẳng giớitrong thời gian tới.
Kết quả của những công trình nghiên cứu kể trên ở những mức độ khácnhau vừa soi rọi, vừa là cơ sở để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với thực hiện bình đẳng giới trongnhững năm 2006 - 2016
Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau nênnhững thông tin trong các nghiên cứu đó chỉ giới hạn ở một số lĩnh vực, ở một
số địa phương, v ng miền cụ thể, theo từng giai đoạn lịch sử nhất định, hoặcchỉ mô tả thực trạng bình đẳng giới trong đời sống chính trị, kinh tế và giađình mà thiếu vắng những công trình nghiên cứu mang tính hệ thống sự lãnhđạo của Đảng trong thực hiện bình đẳng giới trên phạm vi cả nước
- Các công trình kể trên đã chỉ ra vai trò quan trọng của Đảng Cộng sảnViệt Nam trong lãnh đạo thực hiện bình đẳng giới nhưng chưa nghiên cứu mộtcách cơ bản và hệ thống những quan điểm, chủ trương của Đảng cũng như quátrình chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới trên các lĩnh vực, đặc biệt trên lĩnh vựcchính trị; kinh tế, lao động, việc làm và trong gia đình dưới góc độ chính trị - xã
hội thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi có Luật Bình đẳng giới vẫn là một “khoảng trống”.
- Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo thực hiện bìnhđẳng giới là rất quan trọng Nhưng việc chỉ ra những kinh nghiệm chủ yếu trongquá trình lãnh đạo ấy vẫn còn mờ nhạt, chưa có công trình nào đ c r t những kinhnghiệm trong quá trình lãnh đạo của Đảng một cách toàn diện và hệ thống trên cả
ba phương diện nhận thức, chỉ đạo thực hiện và kết quả đạt được trong giai đoạn
2006 - 2016
Cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách cơbản và có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với việcthực hiện bình đẳng giới từ năm 2006 đến năm 2016
Trang 351.2.2 Những vấn đề u n n t trung nghi n cứu
Từ kết quả của các công trình nghiên cứu đã trình bày, trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, luận án tập trung nghiên cứu những nội dung sau:
- Hệ thống hóa những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề bình đẳng giới và phân tích các yếu tố tác động đến quátrình Đảng lãnh đạo thực hiện bình đẳng giới từ năm 2006 đến năm 2016
- Phân tích, luận giải làm sáng tỏ những quan điểm, chủ trương của
Đảng về bình đẳng giới kể từ khi có Luật Bình đẳng giới (từ năm 2006 đến
năm 2016)
- Phân tích quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới trên cácphương diện: xây dựng khung pháp lý về bình đẳng giới; lồng ghép vấn đềbình đẳng giới trong chiến lược, chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh
tế xã hội; xây dựng, kiện toàn bộ máy cơ quan quản lý Nhà nước và nâng caonăng lực của đội ngũ cán bộ hoạt động làm công tác bình đẳng giới; công táctuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới; xây dựng và duytrì các mô hình cung cấp dịch vụ, hỗ trợ bình đẳng giới; hoạt động hợp tácquốc tế về bình đẳng giới; công tác thống kê, công bố thông tin, số liệu vềbình đẳng giới và công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bìnhđẳng giới
- Nhận xét khách quan, khoa học về những ưu điểm, hạn chế và chỉ rõnguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo thực hiệnbình đẳng giới
- ước đầu đ c kết một số kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình Đảnglãnh đạo thực hiện bình đẳng giới từ năm 2006 đến năm 2016 nhằm thực hiện tốt hơn nữa bình đẳng giới trong giai đoạn hiện nay
Trang 36Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM 2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm giới v bình đẳng giới
* Khái ni m giới (Gender)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về phụ nữ, về bình đẳng giữa nam và
nữ được đề cập chủ yếu trong sử học, trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật Thời
kỳ lịch sử Việt Nam cận hiện đại, người phụ nữ trong các công trình ấy
được đề cập dưới góc độ họ đã có đóng góp lớn cho gia đình, xã hội nhưng vịthế lại vô cùng thấp kém Các nghiên cứu về phụ nữ đi sâu nhấn mạnh mặt tựnhiên của họ, nhất là chức năng sinh sản và ảnh hưởng của nó đến sức khỏecũng như hoạt động của người phụ nữ Điều đó không sai Nhưng nhiều người
đã xem sự khác nhau về mặt tự nhiên giữa nam và nữ là nguyên nhân của sựkhông bình đẳng giữa họ về mặt xã hội Và như vậy, vô hình chung quanđiểm này đã đồng nhất khái niệm giới trên phương diện sinh học - giới tính
Giới tính (sex - còn gọi là giống đực và giống cái): dùng để chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ Sự khác biệt giữa hai giới này chủ yếu do các yếu tố di
truyền và chức năng sinh sản, tái sản xuất giống nòi
Tuy nhiên, nếu chỉ tuyệt đối hóa mặt tự nhiên, coi đó là yếu tố khôngthể thay đổi được, chi phối các đặc điểm có tính chất xã hội là hoàn toàn sailầm Sẽ còn sai lầm hơn nữa khi nghiên cứu về phụ nữ với tư cách là một nửacủa xã hội loài người lại không đặt nó trong mối liên hệ với nửa xã hội còn lại
là nam giới Chính sự phiến diện trong quan niệm cũng như nghiên cứu vềphụ nữ đã hạn chế sự phát triển của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội.Đây cũng là câu trả lời cho câu hỏi vì sao công cuộc giải phóng phụ nữ, thựchiện bình đẳng nam nữ ở Việt Nam chưa tương xứng với những thành tựu màViệt Nam đạt được trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội Vì vậy, phải nghiên cứu
Trang 37về con người với tư cách là một thực thể tự nhiên đã được nhân loại hóa, tức
là đề cập tới con người cả về mặt tự nhiên và mặt xã hội Nói cách khác, bêncạnh khái niệm giới tự nhiên cũng cần tìm hiểu khái niệm giới xã hội
Theo Luật Bình đẳng giới năm 2006 (Điều 5), Giới (Gender - còn gọi
là giới xã hội) chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội Trong khi các đặc điểm về giới tính rất ít thay đổi thì các đặc điểm, vị trí, vai trò của giới lại có sự khác nhau và thay đổi theo bối cảnh lịch
sử cụ thể, chịu sự tác động của nhiều nhân tố: xã hội, kinh tế, pháp lý, chính
sách và đời sống dân sự Như vậy, giới là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội Sự khác biệt đó thể hiện trong các mối quan hệ xã hội cũng như trong mối tương quan về địa vị xã hội giữa nữ giới và nam giới trong bối cảnh xã hội cụ thể.
Về mặt tự nhiên cũng như xã hội, giữa nam và nữ có những đặc trưnghết sức khác nhau Về mặt tự nhiên, đó là sự khác nhau không thể thay đổicũng như không cần phải thay đổi Tuy nhiên, sự khác nhau giữa nam và nữ
về mặt xã hội do xã hội tạo ra là nguyên nhân dẫn tới sự bất bình đẳng giớigiữa nam và nữ Vì vậy, việc xóa bỏ bất bình đẳng giới nhằm thay đổi tươngquan địa vị xã hội giữa nam và nữ chứ không phải xóa bỏ sự khác biệt giữa họ
về mặt tự nhiên là điều cần thiết góp phần quan trọng vào thắng lợi của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thực hiện mục tiêu dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
* Khái ni Bì ẳng giới (Gender equality)
Con người luôn vươn tới khát vọng về một xã hội bình đẳng, trong đó
có bình đẳng về giới bình đẳng giới là một thuật ngữ mới xuất hiện trong xãhội hiện đại Tuy nhiên, lại có cách hiểu khá thống nhất trong luật pháp, tronggiới nghiên cứu cũng như trong thực tế cuộc sống
Khái niệm bình đẳng giới được đề cập đến trong Điều 5 của Luật Bình
đẳng giới (2006): “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau,
Trang 38được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” [137, tr.14].
ình đẳng giới ở đây được hiểu là nữ giới và nam giới đều có vị trí nhưnhau trong xã hội, nghĩa là bình đẳng về quyền cơ bản và về cơ hội phát triểnchứ không phụ thuộc vào giới của một người
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng bình đẳng giới không phải hiểu đơn giản là
cân bằng trong mọi hoạt động xã hội về mặt số lượng giữa nữ giới và nam giới
mà bình đẳng giới phải được hiểu là nữ giới và nam giới được công nhận và
hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội; những điểm tương đồng và khác biệt
của họ được xã hội thừa nhận và được coi trọng như nhau Nữ giới và nam giới
đều được hưởng các cơ hội ngang nhau để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ,đóng góp cho quá trình phát triển đất nước cũng như thụ hưởng những thành tựucủa quốc gia trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội một cách bìnhđẳng trên cơ sở đóng góp thực tế của mỗi giới cho xã hội Bình đẳng giới khôngđơn thuần chỉ là việc xác lập quyền bình đẳng giữa hai giới nam và nữ trên cơ sởxác lập vị trí, vai trò ngang nhau mà khi cần thiết, nó còn là cần phải quy địnhcác biện pháp th c đẩy bình đẳng giới nhằm đảm bảo bình đẳng giới thực chất
Từ sự phân tích trên, bình đẳng giới có thể được hiểu là việc nam giới,
nữ giới có vị trí, vai trò ngang nhau trong xã hội Nam giới và nữ giới đều được hưởng như nhau về điều kiện phát triển năng lực, cơ hội đóng góp cũng như thụ hưởng thành quả của sự phát triển trên cơ sở được thừa nhận và coi trọng như nhau những điểm tương đồng và khác biệt của họ.
Các lĩnh vực khác nhau của bình đẳng giới được đề cập đến trong Luật Bình đẳng giới (từ Điều 11 đến Điều 18): chính trị; kinh tế; lao động; giáo dục
và đào tạo; khoa học và công nghệ; văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao;
y tế và trong gia đình Trên cơ sở phạm vi nghiên cứu của luận án, nghiên cứu
sinh làm rõ 3 khái niệm: Bình đẳng giới về chính trị; Bình đẳng giới trong kinh tế, lao động, việc làm; Bình đẳng giới trong gia đình.
Trang 39Bình đẳng giới về chính trị được hiểu là việc nam giới và nữ giới có vị
trí, vai trò ngang nhau trong điều kiện phát triển năng lực cũng như cơ hộitham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị và thụhưởng những thành quả của sự phát triển đó trên cơ sở được thừa nhận và coitrọng như nhau những điểm tương đồng và khác biệt của họ
Bình đẳng giới trong kinh tế, lao động, việc làm được hiểu là việc nam
giới và nữ giới có vị trí, vai trò ngang nhau trong điều kiện phát triển năng lựccũng như cơ hội tham gia vào mọi hoạt động sản xuất, hoạt động tái sản xuất
và thụ hưởng những thành quả của sự phát triển đó trên cơ sở được thừa nhận
và coi trọng như nhau những điểm tương đồng và khác biệt của họ
Bình đẳng giới trong gia đình là việc giữa vợ và chồng, con trai và con
gái, các thành viên nam và nữ trong gia đình có vị trí, vai trò ngang nhau, vềđiều kiện và cơ hội phát huy năng lực cho sự phát triển của gia đình, về tráchnhiệm, nghĩa vụ đối với gia đình và thụ hưởng những thành quả phát triển củagia đình mang lại trên cơ sở được thừa nhận và coi trọng như nhau nhữngđiểm tương đồng và khác biệt của họ
Cùng với khái niệm bình đẳng giới là khái niệm bất bình đẳng giới Bất
bình đẳng giới là một khái niệm đối lập với bình đẳng giới, nó được coi là hệquả của của sự phân biệt, đối xử trên cơ sở giới Nghĩa là nam giới hoặc nữgiới được đối xử khác nhau dẫn đến cơ hội phát huy các tiềm năng cũng như
tiếp cận, hưởng thụ thành quả xã hội Bất bình đẳng giới có thể hiểu là sự khác biệt về địa vị xã hội giữa nam và nữ chủ yếu do các quan niệm sai lầm, phiến diện dẫn đến việc đối xử thiếu công bằng giữa nam và nữ Điều đó dẫn đến hạn chế hoặc loại trừ các cơ hội, điều kiện phát triển của phụ nữ hay nam
giới
Như vậy, đối xử công bằng, tạo cơ hội phát triển như nhau được xemnhư nhịp cầu để thủ tiêu bất bình đẳng giới, tiến tới bình đẳng giới thực sự
Trang 402.1.2 Quan điểm của chủ ngh a M c - Lênin, Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ
2 1 2 1 Qu ểm của chủ ĩ Má - Lênin
Sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất vào giữa thế kỷ XIX đãtạo ra tiền đề quan trọng cho sự nghiệp giải phóng các giai cấp bị áp bức vàbóc lột trong đó có phụ nữ C.Mác, Ph.Ăngghen đã làm rõ vai trò, vị trí củangười phụ nữ trong các xã hội cũ, nhất là xã hội tư bản chủ nghĩa; đồng thời,trên cơ sở vạch trần tính chất tàn bạo, dã man của phương thức sản xuất ấy,các ông đã chỉ ra con đường và điều kiện để giải phóng phụ nữ, thực hiện bìnhđẳng nam nữ
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, trên mọi bình diện từ trong giađình đến ngoài xã hội, phụ nữ đều có vai trò to lớn Họ luôn là lực lượng đôngđảo và quan trọng không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn tham gia tích cựcvào công cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc; tham gia vào các phongtrào nổi dậy của những người bị áp bức, bóc lột C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ
ra rằng: “Trong lịch sử nhân loại, không một phong trào to lớn nào của nhữngngười bị áp bức mà không có phụ nữ tham gia” [109, tr.60], muốn sửa sang xãhội mà thiếu vai trò của phụ nữ thì chắc không làm nổi.Các nhà kinh điển còncho rằng, sự tiến bộ của một quốc gia còn thể hiện ở chỗ vị trí của phụ nữtrong quốc gia đó được xem xét, đánh giá như thế nào Nó phụ thuộc nhiềuvào việc giải quyết vấn đề phụ nữ và địa vị của người phụ nữ trong gia đình
và xã hội
Tuy nhiên, địa vị của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội đã bịbiến đổi qua hai thời kỳ lịch sử lớn đó là thời kỳ chế độ mẫu quyền và chế độ
phụ quyền Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu, và của
nhà nước, Ph.Ăngghen viết: “Ngay cả trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấy
quyền cai quản, còn người đàn bà bị hạ thấp, bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho
sự dâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần” [116,