Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm, tiến hành nghiên cứu các sản phẩm hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên; các văn bản chỉ đạo ởtừng nhà trường liên quan đến hoạ
Trang 1tài liệu số liệu trích dẫn trong luận án đều trung thực và có xuất xứ rõ rang, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.
Tác giả luận án
Nguyễn Văn Liên
Trang 201 Cán bộ quản lý CBQL
07 Lao động - Thương binh và xã hội LĐ-TB&XH
Trang 31.2 Những công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo trên cơ sở
ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường đại học, cao đẳng 271.3 Khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và
những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết 34
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRÊN CƠ
SỞ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRONG BỐI CẢNH
2.1 Những vấn đề lý luận về đào tạo ở các trường cao đẳng
trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 392.2 Những vấn đề lý luận về quản lý đào tạo trên cơ sở ứng
dụng công nghệ thông tin ở các trường cao đẳng trong bối
2.3 Những yếu tố tác động đến quản lý đào tạo trên cơ sở ứng
dụng công nghệ thông tin ở các trường cao đẳng trong bối
CƠ SỞ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở
3.1 Khái quát chung về các trường cao đẳng hiện nay 75
3.2 Cách thức tổ chức khảo sát đánh giá thực trạng 78
3.3 Thực trạng đào tạo ở các trường cao đẳng hiện nay 80
3.4 Thực trạng quản lý đào tạo trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông
3.5 Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến quản 105
Trang 4đào tạo trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường
Chương 4 BIỆN PHÁP VÀ KHẢO NGHIỆM, THỬ NGHIỆM CÁC
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRÊN CƠ SỞ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRONG BỐI CẢNH CÁCH
4.1 Biện pháp quản lý đào tạo trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin
ở các trường cao đẳng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 1134.2 Khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi các biện pháp 139
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
Trang 52 3.2 Tổng hợp kết quả khảo sát về tính hiệu quả sử dụng
phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo ở các nhà trường 83
3 3.3 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát sinh viên về nội dung
điều hành hoạt động học của sinh viên trên cơ sở ứng
4 3.4 Tổng hợp hệ thống cơ sở hạ tầng CNTT ở 5 trường cao đẳng 96
5 3.5 Kết quả khảo sát CBQL, giảng viên về quản lý sinh
6 3.6 Kết quả khảo sát ở CBQL, giảng viên và sinh viên về
9 3.9 Tổng hợp ý kiến đánh giá của cán bộ, giảng viên, chuyên
viên chuyên môn về thực trạng mức độ ảnh hưởng của
10 3.10 Tổng hợp ý kiến đánh giá của cán bộ, giảng viên, chuyên
viên chuyên môn về thực trạng mức độ ảnh hưởng của
11 4.1 Cụ thể hóa các tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng sử dụng
CNTT ứng dụng trong thực hiện các nhiệm vụ của đội
12 4.2 Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của các biện pháp 142
13 4.3 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp 142
14 4.4 Kết quả tương quan giữa sự cần thiết và tính khả thi của các
4.5 Các chuyên đề bồi dưỡng cho đối tượng là CBQL,
chuyên viên chuyên môn và giảng viên 150
15 4.6 Kết quả kiểm tra trước khi tiến hành thử nghiệm 152
17 4.8 Bảng so sánh kết quả lớp thứ nhất trước khi thử
18 4.9 Bảng so sánh kết quả lớp thứ hai trước khi thử nghiệm
Trang 620 3.2 Biểu đồ biểu thị mức độ đánh giá của CBQL, ĐNGV
tính hiệu quả trong kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo 86
21 3.3 Tổng hợp kết quả khảo sát CBQL, giảng viên về thực trạng
xây dựng kế hoạch đào tạo trên cơ sở ứng dụng CNTT 88
22 3.4 Biểu đồ biểu thị kết quả khảo sát sinh viên về nội dung
điều hành hoạt động học của sinh viên trên cơ sở ứng
23 3.5 Biểu đồ biểu thị kết quả khảo sát CBQL, giảng viên về
quản lý sinh viên trên cơ sở ứng dụng CNTT 98
24 3.6 Biều đồ biểu thị kết quả khảo sát sinh viên về quản lý
kết quả học tập trên cơ sở ứng dụng CNTT 102
25 4.1 So sánh mức độ về tính cần thiết của các biện pháp 142
26 4.2 So sánh mức độ về tính khả thi của các biện pháp 143
27 4.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các
28 4.4 So sánh kết quả lớp thứ nhất trước khi thử nghiệm
29 4.5 So sánh kết quả lớp thứ hai trước khi thử nghiệm 156
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
TT Tên sơ
1 3.1 Khái quát về cơ cấu tổ chức các trường cao đẳng 76
Trang 7Đối với lĩnh vực giáo dục, đây là một trong những lĩnh vực có vị trí, vai tròquan trọng hàng đầu đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Nhận thức sâu sắcvấn đề đó, Đảng ta đã xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Phát triển giáodục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”[30, tr.114] Để thực hiện được vấn đề này, Đảng ta đã tiến hành thực hiện đồng
bộ nhiều phương hướng, giải pháp khác nhau, trong đó khẳng định rõ việc ứngdụng CNTT vào trong GD&ĐT là vấn đề cần thiết, có ý nghĩa vô cùng quantrọng Do đó, khi đất nước bắt đầu bước sang thế kỷ 21, trong Chỉ thị số 58-CT/
TW ngày 17 tháng 10 năm 2000, Đảng ta đã xác định cần “Đẩy mạnh ứng dụngCNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học”
[4] Đồng thời, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ rõ “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [25] Quán triệt sâu sắc quan điểm
trên, Bộ GD&ĐT cũng đã chỉ đạo “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin
Trang 8vào các hoạt động của nhà trường, nhất là ứng dụng trong giảng dạy, học tập vàquản lý giáo dục”[8] Tập trung “Ứng dụng tin học để thực hiện giáo án điện tử,xây dựng ngân hàng đề kiểm tra tất cả các môn, xây dựng bộ tài liệu hướng dẫngiáo viên đổi mới phương pháp dạy học, phát triển và ứng dụng các phần mềm
mô phỏng phục vụ dạy học”[9]
Đối với các trường cao đẳng ở nước ta hiện nay, đây là những nhà trườngnằm trong hệ thống giáo dục quốc dân có mục tiêu, yêu cầu đào tạo “nguồnnhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp theo hướng ứngdụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thịtrường lao động trong nước và quốc tế” [29] Để thực hiện có hiệu quả vấn đềtrên, những năm gần đây, các trường cao đẳng đã tăng cường ứng dụng CNTTvào trong thực tiễn đào tạo, QLĐT và bước đầu đạt được những hiệu quả nhấtđịnh, góp phần quan trọng trong nâng cao CLĐT ở các nhà trường Tuy nhiên,
từ thực tiễn cho thấy, trước vai trò của ứng dụng CNTT trong GD&ĐT ngàycàng lớn, nhưng việc ứng dụng CNTT ở các nhà trường thời gian qua vẫn cònnhiều hạn chế, bất cập Điều này được thể hiện trên các vấn đề như: Hệ thốngcác trang thiết bị CNTT, ở một số nhà trường còn thiếu về số lượng, chưa đảmbảo tính đồng bộ và còn lạc hậu so với thực tiễn; quá trình ứng dụng CNTT vàotrong thiết kế bài giảng, xây dựng cơ sở dữ liệu, kiểm tra, đánh giá kết quả dạy
và học của giảng viên, sinh viên, trao đổi bài giảng qua mạng… còn chưathường xuyên, tính hiệu quả chưa cao Việc ứng dụng các thành tựu CNTT trongdạy học, giáo dục khi triển khai thực hiện còn chậm và gặp nhiều lúng túng Đặc biệt, trong QLĐT dựa trên cơ sở ứng dụng CNTT còn gặp nhiều khókhăn, bất cập từ khâu xây dựng kế hoạch ứng dụng; kiến thức, kỹ năng sử dụngCNTT của các chủ thể quản lý, cho đến các điều kiện đảm bảo cho việc ứngdụng… Điều này làm cho chất lượng, hiệu quả QLĐT ở các nhà trường thờigian qua chưa thực sự đáp ứng tốt với mục tiêu, yêu cầu đề ra; “còn mang tínhbao cấp, ôm đồm, sự vụ và chồng chéo, phân tán; trách nhiệm và quyền hạn quản lýchuyên môn chưa đi đôi với trách nhiệm, quyền hạn quản lý về nhân sự và tàichính…” [113] Đây vừa là thực trạng, nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân cơ
Trang 9bản làm cho CLĐT “còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳmới và so với trình độ của các nước có nền giáo dục tiên tiến trong khu vực, trên thếgiới; năng lực nghề nghiệp sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu củacông việc…” [113] Một bộ phận không nhỏ sinh viên sau khi tốt nghiệp khôngtìm được việc làm, hoặc không thể học chuyển tiếp lên bậc học cao hơn…
Để khắc phục những hạn chế, bất cập trên, thời gian qua, ở nước ta đã cónhiều công trình nghiên cứu, đề cập đa chiều, trên nhiều khía cạnh khác nhauxung quanh đến đào tạo, QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT Điều này góp phầnquan trọng trong cung cấp những luận cứ, luận chứng khoa học cả trên phươngdiện lý luận, thực tiễn để từng nhà trường vận dụng vào nâng cao chất lượng,hiệu quả QLĐT Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, trước sự tác động của bốicảnh CMCN 4.0 đến lĩnh vực GD&ĐT; trước thực tiễn đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục ở các cấp học, bậc học đã và đang đặt ra những yêu cầu mới trongQLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT các trường cao đẳng, nhưng chưa có côngtrình khoa học nào nghiên cứu đảm bảo có tính hệ thống, khoa học, chuyên sâu
cả lý luận và thực tiễn về vấn đề này Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả lựa
chọn: “Quản lý đào tạo trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường cao đẳng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0” làm luận án tiến sĩ.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án tập trung phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn QLĐT trên cơ
sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng, trên cơ sở đó đề xuất các biện phápQLĐT trên cơ sở có ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng trong bối cảnhCMCN 4.0, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả QLĐT đáp ứng yêu cầu quản
lý ở các nhà trường và xu hướng phát triển của giáo dục trong bối cảnh mới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở cáctrường cao đẳng trong bối cảnh CMCN 4.0
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng và chỉ rõ nguyên nhân thực trạngđào tạo và QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng hiện nay
Trang 10Đề xuất các biện pháp QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trườngcao đẳng trong bối cảnh CMCN 4.0.
Tiến hành khảo nghiệm và thử nghiệm để khẳng định tính đúng đắn,khả thi, hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất
3 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý đào tạo trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳngtrong bối cảnh CMCN 4.0
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về QLĐT trên cơ sở
ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng trong bối cảnh CMCN 4.0; không nghiêncứu về đào tạo có ứng dụng CNTT
Phạm vi về địa bàn, khách thể và thời gian khảo sát:
Phạm vi về địa bàn khảo sát: Luận án khảo sát ở các trường cao đẳng
trên địa bàn khu vực miền Bắc, Trung, Nam và Tây nguyên của cả nước
Phạm vi về khách thể khảo sát: Khảo sát ở 10 trường cao đẳng tiêubiểu ở các tỉnh, thành khu vực miền Bắc, Trung, Nam và Tây nguyên, cụthể: Ở miền Bắc là 5 trường: Trường Cao đẳng Bách khoa Hà Nội, TrườngCao đẳng Công nghệ cao Hà Nội, Trường Cao đẳng Kỹ thuật - Mỹ nghệ ViệtNam, Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Trung ương 1, Trường Cao đẳngCông nghệ và Kinh tế Hà Nội Ở miền Trung là 2 trường: Trường cao đẳngkinh tế - Kỹ thuật số 1 Nghệ An, Trường Cao đẳng Kinh tế Kế hoạch ĐàNẵng Ở tây Nguyên là 1 trường: Trường Cao đẳng Công nghệ Tây Nguyên
Ở miền Nam và Thành phố Hồ Chí Minh là 2 trường: Trường Cao đẳng Côngnghiệp cao su và Trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thủ Đức
Trang 11Phạm vi về thời gian khảo sát: tiến hành khảo sát từ tháng 01/2018 đếntháng 3/2018.
Phạm vi về thời gian: các số liệu nghiên cứu sinh sử dụng cho quá trình
nghiên cứu luận án được khảo sát, điều tra, tổng hợp từ năm 2013 đến 2018
3.4 Giả thuyết khoa học
Quản lý đào tạo trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng hiện nay
là vấn đề rất quan trọng, góp phần quyết định đến chất lượng, hiệu quả quản lý ở
các nhà trường Theo đó, nếu các chủ thể ở từng nhà trường nhận thức sâu sắc vị trí,
vai trò của CNTT; đồng thời thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các vấn đề cụ thể như:
Tổ chức giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho đội ngũ CBQL, giảng viên về
vị trí, vai trò, ý nghĩa của QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT; xây dựng kế hoạch đàotạo trên cơ sở ứng dụng CNTT đảm bảo tính khoa học, toàn diện, bám sát và phù hợpvới sự phát triển của CNTT; hoàn thiện cơ chế chính sách và xây dựng môi trườngthuận lợi trong QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các nhà trường; thường xuyên tổchức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng sử dụng CNTT trong thực hiện các nhiệm vụ chođội ngũ CBQL, giảng viên, chuyên viên chuyên môn; thường xuyên tổ chức kiểm
tra, giám sát kết quả QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các nhà trường; thì chất
lượng, hiệu quả quản lý sẽ được nâng lên, góp phần nâng cao CLĐT của các nhàtrường đáp ứng yêu cầu đặt ra trong bối cảnh cmcn 4.0 hiện nay
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quántriệt đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về GD&ĐT, nhất lànhững quan điểm trong đào tạo, QLĐT có ứng dụng CNTT để luận giải cácnội dung luận án Đồng thời đề tài dựa các quan điểm tiếp cận:
* Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Quản lý đào tạo trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳngtrong bối cảnh CMCN 4.0 là một trong những nội dung quan trọng trongquản lý giáo dục ở các nhà trường Đồng thời, trong QLĐT trên cơ sở ứng dụng
Trang 12CNTT bao hàm nhiều nội dung và có sự tham gia bởi nhiều chủ thể khác nhau.Tất cả những yếu tố này đều tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất và có mốiquan hệ tác động tương hỗ lẫn nhau Theo đó, luận án sử dụng phương pháp tiếpcận hệ thống - cấu trúc để chỉ ra mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa các yếu tố đótrong cùng một hệ thống Đồng thời, trong phân tích, trình bày các kết quả, nộidung luận án đảm bảo có tính hệ thống, khoa học, lôgic, khúc chiết, chặt chẽ cao
* Quan điểm thực tiễn
Luận án sử dụng quan điểm tiếp cận thực tiễn trong nghiên cứu chỉ ranhững mâu thuẫn, tính cấp thiết của nội dung nghiên cứu; trong phân tích, đánhgiá thực trạng đào tạo và QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường caođẳng hiện nay như: những ưu điểm, những hạn chế, bất cập và chỉ ra nhữngnguyên nhân của ưu điểm, hạn chế, bất cập đó; đề xuất được những biện phápQLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các nhà trường đảm bảo phù hợp với tìnhhình thực tiễn Đồng thời, luận án sử dụng quan điểm thực tiễn trong kiểmchứng những kết quả nghiên cứu mà đã đạt được
Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp luận nghiên cứu, quan điểm tiếpcận trên, trong quá trình nghiên cứu, đề tài còn tiếp cận vấn đề theo quan điểmphức hợp; quan điểm lịch sử - lô gíc, quá trình
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận án, tác giả vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứukhác nhau, cụ thể là các phương pháp:
* Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, bao gồm các phương pháp:
Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát, hệ thống hoá các vấn đề qua nghiêncứu hệ thống tài liệu lý luận, chuyên khảo, các bài báo khoa học thuộc phạm vinghiên cứu của đề tài Cụ thể trong nghiên cứu, trình bày nội dung tổng quantình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài; phân tích những cơ sở lý luận đểđưa ra những nhận định, đánh giá theo quan điểm riêng của tác giả
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, bao gồm các phương pháp:
Trang 13Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu các văn bản, báo cáo
tổng kết liên quan đến đào tạo và QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở cáctrường cao đẳng hiện nay nhằm tạo ra cơ sở vững chắc để củng cố, khẳngđịnh những nhận định các nội dung thực trạng vấn đề nghiên cứu đảm bảo cótính đúng đắn, khách quan và chính xác cao Đồng thời, sử dụng phương phápnghiên cứu này trong nghiên cứu những cách làm hay, có giá trị trong thựctiễn mà từng nhà trường khái quát được để vận dụng vào trong đề xuất cácbiện pháp QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng trong bốicảnh CMCN 4.0 đảm bảo có tính thiết thực, khả thi cao
Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát QTĐT và QLĐT trên cơ sở
ứng dụng CNTT ở 10 trường cao đẳng là Trường Cao đẳng Bách khoa Hà Nội,Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội, Trường Cao đẳng Kỹ thuật - Mỹ nghệViệt Nam, Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Trung ương 1, Trường Caođẳng Công nghệ và Kinh tế Hà Nội, Trường cao đẳng kinh tế - Kỹ thuật số 1Nghệ An, Trường Cao đẳng Kinh tế Kế hoạch Đà Nẵng, Trường Cao đẳng Côngnghệ Tây Nguyên, Trường Cao đẳng Công nghiệp cao su và Trường cao đẳngKinh tế - Kỹ thuật Thủ Đức để làm cơ sở đưa ra những nhận định trong đánh giáthực trạng đào tạo và QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳnghiện nay, cũng như trong thử nghiệm các biện pháp mà luận án đề xuất
Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm, tiến hành nghiên cứu các sản phẩm
hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên; các văn bản chỉ đạo ởtừng nhà trường liên quan đến hoạt động đào tạo trên cơ sở ứng dụng CNTT nhằmđưa ra những luận cứ, luận chứng để chứng minh thực trạng vấn đề nghiên cứu
Phương pháp điều tra xã hội học: Xây dựng bộ phiếu điều tra, khảo sát với
04 đối tượng là CBQL, chuyên viên chuyên môn (100 phiếu), ĐNGV (150 phiếu),sinh viên (1000 phiếu) ở 10 trường cao đẳng là Trường Cao đẳng Bách khoa HàNội, Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội, Trường Cao đẳng Kỹ thuật -
Mỹ nghệ Việt Nam, Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Trung ương 1,Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Hà Nội, Trường cao đẳng kinh tế -
Trang 14Kỹ thuật số 1 Nghệ An, Trường Cao đẳng Kinh tế Kế hoạch Đà Nẵng,Trường Cao đẳng Công nghệ Tây Nguyên, Trường Cao đẳng Công nghiệpCao su và Trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thủ Đức
Phương pháp tọa đàm, trao đổi: Tiến hành tọa đàm, trao đổi với các
đồng chí lãnh đạo nhà trường, CBQL các phòng, ban, ĐNGV và sinh viên ở
10 trường cao đẳng trên xung quanh vấn đề nghiên cứu
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của các nhà khoa học về kết quả
nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở đó tiếp thu những ý kiến hay, có giá trị đểchỉnh sửa, bổ sung, đảm bảo luận án có chất lượng tốt nhất
Phương pháp khảo nghiệm và thử nghiệm: Xây dựng kế hoạch và tổ
chức khảo nghiệm, thử nghiệm tại Trường Cao đẳng Giao thông Vận tảiTrung ương 1 Cụ thể là khảo nghiệm để khẳng định tính cần thiết, tính khảthi của các biện pháp và thử nghiệm biện pháp 3 để khẳng định tính cần thiết,khả thi và tính hiệu quả các biện pháp luận án đề xuất
* Phương pháp hỗ trợ: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương
pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu điều tra, khảo sát để phục vụ cho đánhgiá thực trạng và khảo nghiệm, thử nghiệm các biện pháp luận án đề xuất
5 Những đóng góp mới của luận án
Luận án bổ sung, luận giải làm rõ cơ sở lý luận về QLĐT trên cơ sởứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng trong bối cảnh CMCN 4.0 Cụ thể bổsung, làm rõ những vấn đề lý luận về đào tạo và QLĐT trên cơ sở ứng dụngCNTT ở các trường cao đẳng trong bối cảnh CMCN 4.0 như: làm rõ kháiniệm đào tạo, đặc điểm đào tạo ở các trường cao đẳng trong bối cảnh CMCN4.0; xây dựng khái niệm QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT và làm rõ vai tròcủa ứng dụng CNTT trong đào tạo và QLĐT ở các trường cao đẳngtrong bối cảnh CMCN 4.0; chỉ ra nội dung và phân tích những nhân tố kháchquan, chủ quan tác động đến QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trườngcao đẳng trong bối cảnh CMCN 4.0
Luận án đánh giá chính xác, khách quan thực trạng đào tạo và QLĐTtrên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng hiện nay Đồng thời đề xuất
hệ thống các biện pháp QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao
Trang 15đẳng trong bối cảnh CMCN 4.0 đảm bảo có tính thiết thực, khả thi cao, gópphần nâng cao chất lượng, hiệu quả QLĐT, cũng như CLĐT ở các nhà trườngđáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra hiện nay.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần bổ sung, phát triển lý luận về đào tạo và QLĐT trên
cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng trong bối cảnh CMCN 4.0 Đặc
biệt, luận án đã đưa ra những biện pháp QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở
các trường cao đẳng trong bối cảnh CMCN 4.0 có tính thiết thực, khả thi cao
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của luận án giúp cho từng trường caođẳng nhìn nhận đúng đắn về thực trạng đào tạo và QLĐT trên cơ sở ứng dụngCNTT hiện nay Đồng thời, luận án làm tài liệu tham khảo và giúp cho cáctrường cao đẳng vận dụng ngay vào trong thực tiễn QLĐT trên cơ sở ứngdụng CNTT, từ đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả QLĐT đáp ứngthiết thực với yêu cầu của quản lý đặt ra hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Phần mở đầu, 4 chương (15 tiết), kết luận và kiến nghị,danh mục công trình khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HINH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Những công trình nghiên cứu về đào tạo ở các trường đại học và cao đẳng
1.1.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Có thể khẳng định, những tư tưởng liên quan đến giáo dục (đào tạo) đãđược đề cập từ rất sớm Trong thời cổ đại có nhiều nhà giáo dục như Khổng
Tử (551 - 479 TCN), Platon (427-348 TCN) đã có những tư tưởng đề cậpđến vấn đề này Mặc dù không đề cập trực tiếp tới đào tạo, nhưng bước đầucác nhà giáo dục đã chỉ ra vai trò của giáo dục (đào tạo) đối với sự phát triểncon người và xã hội Đồng thời, cũng đưa ra những quan điểm mang tính địnhhướng nhằm giúp cho các chủ thể quá trình giáo dục, nhất là là người dạy xácđịnh chương trình, nội dung, phương pháp phù hợp nhằm đáp ứng tốt với mụctiêu giáo dục đã đề ra
Theo thời gian, từ thời kỳ cận đại cho tới những năm gần đây, việcnghiên cứu về giáo dục (đào tạo) ngày càng được nhiều tác giả quan tâm,nghiên cứu Đặc biệt, việc nghiên cứu về đào tạo ở các trường đại học và caođẳng đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu đảm bảo có tính hệ thống,
khoa học, chuyên sâu Năm 1876, tác giả Fukuzawa Yukichi (1835 1901) nhà giáo dục nổi tiếng người Nhật Bản đã xuất bản cuốn sách “Gacumon no susume -Khuyến học” [38] Trong cuốn sách này tác giả nhận định rằng
-phương Tây là một xã hội có nền kinh tế, xã hội phát triển hiện đại đòi hỏiNhật Bản cần phải hướng tới Muốn vậy, các trường đại học trong QTĐT phảigắn liền với thực tiễn Ông đề ra yêu cầu trong đào tạo, các nhà trường NhậtBản cần thay đổi những phương pháp dạy học truyền thống bằng việc dạy họccác ngành khoa học thực tiễn phương Tây Bởi vì, chỉ khi làm được điều đó,nền giáo dục mới góp phần làm cho đất nước được thịnh vượng và đạo đức,
chất lượng xã hội sẽ tăng lên… [38, tr.22].
Trong cuốn sách“Education etsociologie - Giáo dục và xã hội), tác giả
Emile Durkheim cho rằng, trường học không chỉ là nơi mọi người được tiếp
Trang 18nhận sự giáo dục, đặc biệt là giáo dục luân lý, mà còn là nơi mọi người đượcdạy dỗ và học những môn học cụ thể “Mục tiêu của chúng ta không phải làbiến mỗi học sinh trở thành một nhà khoa học mà trở thành một con người duylý…Ngày nay, chúng ta phải đào tạo những người duy lý, hay có thể nói lànhững người chú trọng vào việc suy nghĩ thấu đáo Nhưng cũng phải làmnhững người duy lý mới hiểu biết về mọi thứ, kể cả liên quan đến con người
hay sự vật…” [82, tr.59].
Nghiên cứu sâu về việc xây dựng nội dung đào tạo nhằm đáp ứng với
thiết thực với cuộc sống thực tại của con người, trong tác phẩm “Những mục
tiêu của giáo dục và các tiểu luận khác” [1] của tác giả Alfred North
Whitehead (đã xác định chủ trương: Đối với giáo dục đại học “không dạy quá nhiều môn học” và “dạy cái gì thì phải dạy cho thấu đáo” Dạy ít, nhưng là
những nội dung quan trọng, mà người học biến được tri thức đó thành của
mình và “biết cách áp dụng chúng ngay lập tức trong những tình huống của cuộc đời thực” [1].
Theo tác giả Polat trong cuốn sách “Distance learning theory and practice - Đào tạo từ xa lý luận và thực tiễn” [35] cho rằng: đào tạo được hiểu
là "hoạt động cùng nhau có hướng đích của người dạy và người học mà trong
đó thực hiện sự phát triển nhân cách, trình độ học vấn và mức độ giáo dục củanhân cách"; còn tác giả Cenzo & Robbins định nghĩa: “Đào tạo là tiến trìnhbao gồm những phương pháp được sử dụng tác động lên quá trình học tậpnhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành” [35]
Nghiên cứu chuyên sâu về lý thuyết đào tạo theo tín chỉ, trong công trình
nghiên cứu về “The credibility of the credit hour: History, use and shortcomings
of the credit system - Độ tin cậy của giờ tín chỉ: Lịch sử, áp dụng và hạn chế của
hệ thống tín chỉ” [156] tác giả Heffernan J cho rằng đào tạo theo hệ thống tín
chỉ là xu hướng tất yếu của nền giáo dục hiện đại Dựa trên cơ sở đó, tác giả lầnlượt đi vào luận giải qúa trình hình thành của tín chỉ, các lý do hệ thống tín chỉđược áp dụng, lan rộng trong giáo dục đại học Bên cạnh đó, tác giả đã hệ thốnglại những ý kiến, quan điểm về những hạn chế của tín chỉ; đưa ra những cáchthức giải quyết và những thay đổi cần thiết để tháo gỡ những hạn chế của đào
Trang 19tạo theo tín chỉ như: Sự cần thiết phải đưa ra các yêu cầu, cấu trúc chương trình
và các nội dung liên quan đến công tác quản lý hành chính [156]
Đặc biệt, khi thế giới bước sang thế kỷ XXI, trước sự bùng nổ mạnh mẽcủa CNTT, việc nghiên cứu ứng dụng CNTT trong giáo dục nói chung, ở cáctrường đại học và cao đẳng nói riêng là vấn đề được các tổ chức quốc tế coitrọng hơn bao giờ hết; đồng thời nó được coi là yếu tố quan trọng nhằm nângcao chất lượng của nền giáo dục ở mỗi quốc gia và được đưa vào các trươngtrình nghị sự theo định kỳ Năm 2000, trong tuyên bố chung của Hội nghị Bộtruởng Giáo dục các nuớc thành viên tổ chức APEC lần thứ 2 về vấn đề
“Giáo dục trong xã hội học tập ở thế kỷ XXI” tổ chức vào ngày 07/4/2000 đã
xác định một trong những nhiệm vụ chiến lược ở các quốc gia là phải coi
“CNTT và truyền thông như là năng lực cốt lõi dành cho học sinh, sinh viêntrong tuơng lai Tiếp cận và khai tháctiềm năng của CNTT& truyền thông đểnâng cao chất luợng học tập và giảng dạy, khuyến khích học tập suốt đời”[17]
Năm 2003, tác giả Victoria L.Tinnio đã viết cuốn sách “Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục” [164] Cuốn sách này được trình
bày trong dung lượng 49 trang và chia làm 5 phần khác nhau, trong đó:
Phần 1: Định nghĩa thuật ngữ
Phần 2: Triển vọng của ICT đối với giáo dục
Phần 3: Sử dụng ICT trong giáo dục
Phần 4: Những vấn đề về sử dụng ICT trong giáo dục
Phần 5: Những thách thức trong việc lồng ghép ICT vào giáo dục.Với cách trình bày khoa học, lô gic dựa trên 5 phần trên, công trình đã
khái quát rõ nét trên các khía cạnh: Thứ nhất, những ích lợi tiềm năng của việc
sử dụng CNTT và truyền thông trong giáo dục và các cách ứng dụng CNTT và
truyền thông khác nhau đã được sử dụng trong giáo dục từ trước đến nay Thứ hai, đặt ra bốn vấn đề cơ bản trong việc sử dụng CNTT và truyền thông trong giáo dục là tính hiệu quả, chi phí, sự hợp lý và tính ổn định Thứ ba, những thách
thức quan trọng mà các nhà hoạch định chính sách ở các nước đang phát triểncần lưu ý khi đưa ra các quyết định về việc ứng dụng CNTT và truyền thông vào
Trang 20giáo dục, đó là các vấn đề chính sách, quy hoạch giáo dục, cơ sở hạ tầng, quy môxây dựng, ngôn ngữ, nội dung, và vốn cấp [164].
Nghiên cứu việc ứng dụng CNTT đảm bảo phù hợp với chiến lược pháttriển giáo dục, cũng như đặc thù ở một quốc gia nhất định, nhóm 3 tác giảSharmela Devi, Mohammad Ziwaan, Shubash Chander trong bài viết
“Information and communication technology for quality education in India Công nghệ thông tin và truyền thông cho chất lượng giáo dục ở Ấn Độ” [159]
-đã nhấn mạnh việc ứng dụng CNTT và truyền thông trực tiếp nâng cao chấtlượng giáo dục chính quy và không chính quy; trong phát triển nội dung giáodục, quản lý giáo dục Các tác giả khẳng định: “CNTT và truyền thông là mộttrong những thành phần không thể thiếu ở xã hội đương đại trong tất cả các cấphọc ở Ấn Độ Tiếp cận CNTT và truyền thông trong giai đoạn đầu của nền giáodục sẽ giúp cho thế hệ trẻ đối diện với những gì ở phía trước” [159, tr.5]
Chỉ ra mối quan hệ giữa CNTT với giáo dục, tác giả Seyling Wen (có
công trình “Công nghệ thông tin và nền giáo dục trong tương lai” [100].
Trong công trình này, tác giả đã khẳng định rằng nhận thức việc đổi mới giáodục không còn là một khẩu hiệu, mà là những hành động cụ thể Hiên nay cảthể giới đã đi vào cuộc cải cách giáo dục với mục tiêu là giáo dục trở thànhnền tảng căn bản nhất trong thế kỷ 21 Đặc biệt, trong thế kỷ này, CNTT vàtruyền thông đã tạo ra sự biến đổi xã hội một cách sâu sắc, toàn diện thì giáodục không thể nằm ngoài sử tác động của nó CNTT và truyền thông đã làmthay đổi mạnh mẽ cách thức dạy, học và quản lý Vì vậy, mọi tổ chức cá nhângiáo dục có thể chọn cách thức hiệu quả nhất đối với công việc cụ thể [100]
Đề cập trực tiếp đến vai trò của CNTT và truyền thông đối với giáodục hiện nay, tác giả Sukanta Sarkar thuộc Khoa quản lý Trường Đại học
ICFAL của Ấn Độ trong bài viết “The Role of Information and Communication Technology (ICT) in Higher Education for the 21 st - Vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục đại học của thế kỷ 21” [161] cho rằng CNTT và truyền thông đã tác động vào thực tiễn giáo
dục, góp phần tăng trưởng đáng kể cho các hoạt động giáo dục đại học…Tiếp tục nhấn mạnh tới vấn đề này, tác giả Sukanta Sarkar còn xem việc tíchhợp CNTT và truyền thông trong giảng dạy và học tập là vấn đề quan trọng
Trang 21trong đổi mới giáo dục đại học Nó được coi là “Một khía cạnh thiết yếu của
bộ công cụ văn hóa giảng dạy trong thể kỷ 21” [161]
Trong công trình nghiên cứu: “ICT in Education Practice - Các mô hình ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục hiện đại” năm 2010, các tác giả Lim,
CP, C.S Chai and D Churchill, Leading đã đưa ra bộ công cụ nâng cao năng lựccho các trường đào tạo giáo viên ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Luận giảitính cấp thiết phải ứng dụng CNTT vào nhà trường sư phạm, các tác giả cho rằng:
“Mặc dù đã có nhiều bằng chứng cho thấy CNTT có tiềm năng lớn trong việc cảithiện chất lượng dạy và học cũng như việc tiếp cận CNTT ngày càng dễ dàng hơn,
đa số giáo viên trên thế giới ngày nay vẫn chưa sử dụng công nghệ thành thạo haythường xuyên để có thể khai thác tiềm năng của nó” [158, tr.13] Từ đó, các tácgiả đưa ra những phương tiện đánh giá từ các bài kiểm tra trình độ được chuẩnhóa đến hồ sơ bài dạy điện tử đã được sử dụng để đánh giá trình độ tích hợpCNTT phục vụ cho giảng dạy của các giáo viên Việc đánh giá dựa trên bốnphương diện, đó là: khả năng sử dụng CNTT, thái độ và niềm tin đối với việc sửdụng CNTT, lý luận sư phạm và việc sử dụng CNTT trong thực tế [158]
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, trên thế giới hiện nay còn córất nhiều các công trình nghiên cứu khác về đào tạo và đào tạo trên cơ sở ứngdụng CNTT ở các trường đại học và cao đẳng Mặc dù có nhiều cách tiếp cận
và quan niệm khác nhau về đào tạo, tuy nhiên nhìn chung, các công trình đã đisâu vào nhấn mạnh vai trò của đào tạo ở các trường đại học và cao đẳng đối với
sự phát triển nguồn nhân lực ở mỗi quốc gia; nhấn mạnh vai trò của việc đổimới các nhân tố như: chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, cách thứchọc tập của sinh viên trong nâng cao chất lượng đào tạo ở các nhà trường Đặc biệt, khi nghiên cứu về đào tạo trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trườngđại học và cao đẳng, các công trình đều khẳng định giá trị to lớn và sự cần thiếtcủa việc ứng dụng CNTT ở các nhà trường; đưa ra những ý tưởng, quan điểm,cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu các ứng dụng CNTT vào trong dạy vàhọc Trong đó tập trung chỉ ra những điểm thuận lợi, khó khăn và những điềukiện cần thiết khi ứng dụng và sử dụng CNTT trong đào tạo ở các trường đạihọc và cao đẳng ở mỗi quốc gia sao cho đảm bảo đạt hiệu quả tốt nhất Nhìnchung, tất cả các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài được coi là
Trang 22cơ sở lý luận, thực tiễn quan trọng để tác giả kế thừa, phát triển và nghiên cứuvận dụng trong quá trình giải quyết những nhiệm vụ mà luận án đặt ra.
1.1.2 Những công trình nghiên cứu ở trong nước
Ở nước ta, sau khi đất nước được thống nhất (1975), vấn đề phát triển
GD&ĐT luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, coi trọng Theothời gian, cho đến nay đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới đổimới nâng cao chất lượng GD&ĐT đáp ứng thiết thực với yêu cầu phát triểncủa đất nước Trong các nghiên cứu đó, có nhiều công trình nghiên cứu trựctiếp đến đào tạo ở các trường đại học và cao đẳng, tiêu biểu có:
Trong cuốn sách “Dạy học dựa vào nghiên cứu trường hợp ở đại học”
[67] tác giả Vũ Thị Lan cho rằng đào tạo ở các trường đại học và cao đẳng nước
ta hiện nay phải tập trung hướng tới giúp sinh viên trở thành “người lao độngnăng động, sáng tạo, có kiến thức và có kỹ năng chuyên nghiệp, sẵn sàng gánhvác trọng trách công việc Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm là mộttrong những giá trị cần có của người lao động thời đại mới và cũng là cấp thiết
từ các tổ chức kinh doanh, sản xuất ” Xuất phát từ vấn đề trên, tác giả nhấnmạnh “Để trang bị cho năng lực giải quyết vấn đề cho người lao động cần có sựvào cuộc của giáo dục từ rất sớm, nhất là giáo dục đại học Giáo dục đại học phảikhông ngừng đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học để đào tạonguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội” [67, tr.18]
Trong nghiên cứu về “Cơ hội và thách thức giáo dục đại học Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa” [91] tác giả Võ Thị Phiến đã đi sâu vào phân tích
bối cảnh toàn cầu hóa đã ảnh hướng đến nhu cầu về số lượng, chất lượngnguồn nhân lực Trên cơ sở đó, theo tác giả để nâng cao chất lượng giáo dụcđại học cần giải quyết tốt 4 vấn đề cơ bản, đó là: “1) Cần thay đổi nhận thức
về tư duy giáo dục và cạnh tranh bình đẳng giữa giáo dục đại học công lập với
tư nhân 2) Cần cập nhật chương trình đào tạo đổi mới phù hợp với khu vực
và thế giới” 3) Đổi mới công tác quản lý và điều hành các trường đại họccùng với sự cần thiết đầu tư, bồi dưỡng nâng cao năng lực và trình độ chuyênmôn của giảng viên ở Việt Nam 4) Ứng dụng những thành tựu mới nhằmphát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ trong giáo dục đại học trên cơ sở các
Trang 23bản quyền, phát minh, sáng chế, sở hữu trí tuệ theo các định chế quốc tế; kếtnối các sản phẩm nghiên cứu khoa học với thực tiễn nhu cầu của thị trường và
xã hội 5) Từng bước xác lập hệ thống định chuẩn, đánh giá và kiểm định chấtlượng giáo dục và đào tạo theo khu vực và thế giới” [91]
Đi sâu vào nghiên cứu đánh giá những hạn chế, bất cập trong đào tạo ởcác trường đại học và cao đẳng nước ta hiện nay, tác giả Phạm Thành Khánh
có công trình nghiên cứu “Giáo dục đại học Việt Nam trước những yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện” [59] Trong công trình này, tác giả cho rằng giáo
dục đại học nước ta vẫn còn tồn tại những hạn chế như: chất lượng, hiệu quảcòn thấp so với yêu cầu; chưa hiệu quả thiết thực; xu thế “vị bằng cấp” ngàycàng phổ biến; còn thiếu và nghèo nàn về cơ sở vật chất và trang thiết bị Từthực trạng này, tác giả đã đưa ra 6 giải pháp nhằm đổi mới chất lượng giáodục đại học đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn, cụ thể: 1) Quản lý tốt nền giáodục nói chung và giáo dục đại học nói riêng về cả chất lượng và mức đầu tư.2) Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học theo hướng tăng tính cạnh tranh ởcác cơ sở đào tạo, giảm “sức gánh”, mức đầu tư của nhà nước 3) Thay đổicăn bản hệ thống đánh giá từ kiểm tra kiến thức sang đánh giá năng lực 4)Tiếp tục xây dựng chương trình giảng dạy theo chuẩn đầu ra 5) Chuẩn hóabậc đào tạo đại học làm căn cứ đánh giá năng lực người học 6) Cần có nhữnggiải pháp đồng bộ và toàn diện [59]
Tiếp cận dưới góc độ bàn về nâng cao CLĐT giáo viên ở các trường đạihọc và cao đẳng sư phạm, năm 1996, Trường Đại học Sư phạm đã tổ chức
Hội thảo "Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước" [132] Trong hội thảo này có nhiều bài
viết bàn về các vấn đề khác nhau liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việcnâng cao chất lượng giáo viên và vai trò của trường sư phạm Nhìn chung, cácbài viết đều khẳng định chất lượng giáo dục phụ thuộc chặt chẽ vào chấtlượng đào tạo giáo viên; sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcđang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác đào tạo giáo viên tại cáctrường sư phạm - với tư cách là đòn bẩy để tạo nên sự đổi mới của cả hệthống giáo dục Một số bài viết đã đi vào nghiên cứu, đề xuất những giải phápliên quan đến chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo giáo viên, coi
Trang 24đây là những khâu đột phá nhằm thiết thực đổi mới quá trình đào tạo giáoviên để đáp ứng những biến đổi về kinh tế, xã hội… đất nước [132].
Đi sâu vào nghiên cứu nâng cao CLĐT nguồn nhân lực ở một địa bàn
cụ thể, tác giả Nguyễn Thị Thu Lan có công trình luận án tiến sĩ “Giáo dục và đào tạo đáp ứng phát triển nguồn nhân lực các khu công nghiệp Đồng Nai trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [68] Trong công trình này, tác
giả đã đi sâu vào đề cập đến yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa vớiphát triển nguồn nhân lực; chỉ ra thực trạng việc đào tạo nghề ở các trườngđại học và cao đẳng còn nhiều hạn chế, bất cập, nhất là chưa đảm bảo chấtlượng so với yêu cầu của các doanh nghiệp Từ những vấn đề trên, tác giả đã
đề xuất các nhóm giải pháp, trong đó tập trung đi sâu vào nhóm giải pháp liênkết giữa các doanh nghiệp với các trường đại học và cao đẳng trên địa bàntrong đào tạo nguồn nhân lực ở các khu công nghiệp Đồng Nai [68]
Để nâng cao CLĐT ở các trường đại học trong quân đội, trong cuốn
sách “Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [11] do tác giả Trần Đăng Bộ chủ biên đã khẳng định: “Việc căn cứ vào nhu cầu thực tiễn quân
đội, xã hội để làm cơ sở để các trường đại học quân đội đổi mới nội dung,chương trình, phương pháp dạy và học là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyếtđịnh đến chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của quân đội
và đất nước trong thời kỳ mới” [11].
Tiếp cận dưới góc độ xây dựng nội dung, chương trình đào tạo đội ngũcán bộ chính trị nhằm đáp ứng với yêu cầu thực tiễn xây dựng quân đội hiện
nay, đề tài cấp bộ “Nghiên cứu giải pháp đổi mới nội dung, phương thức đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội trong tình hình mới” [77] do tác giả Nguyễn
Bình Minh làm chủ nhiệm đã khẳng định: đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội
là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, được tổ chức chặt chẽ củacác chủ thể sư phạm trong nhà trường quân đội tới các đối tượng học viên làmcho họ lĩnh hội hệ thống các kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng và hình thành cácphẩm chất nhân cách cần thiết để tiến hành công tác đảng, công tác chính trị ởcấp phân đội Dựa trên cơ sở đó, công trình đã tập trung đi sâu vào phân tích
Trang 25khá rõ nét đặc điểm tình hình, xu thế phát triển kinh tế, chính trị, xã hội ởtrong nước quốc tế; chỉ rõ những vấn đề mới đã và đang đặt ra trong xây dựngquân đội hiện nay Đồng thời công trình đi vào đánh giá thực trạng, đề xuất 5giải pháp đổi mới nội dung, phương thức đào tạo cán bộ chính trị cấp phân độitrong tình hình mới [77].
Đặc biệt, trước sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và vai trò của CNTTđối với sự phát triển của giáo dục, trong những năm gần đây, ở nước ta, có rấtnhiều công trình nghiên cứu về đào tạo trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các
trường đại học Năm 2002, tác giả Lê Hồng Sơn có nghiên cứu về “Công nghệ thông tin và truyền thông với giáo dục, đào tạo ở Việt Nam” [101] Trong công
trình này, tác giả đã tập trung chỉ rõ vai trò của CNTT và truyền thông trong đổimới, nâng cao chất lượng GD&ĐT ở nước ta, trong đó nhấn mạnh: “Công nghệthông tin và truyền thông là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thôngtin Tốc độ phát triển vũ bão của công nghệ làm cho việc luân chuyển thông tintrở nên cực kỳ nhanh chóng và vai trò của thông tin ngày càng trở nên quantrọng Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của CNTT và truyền thông đãnhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy vàquan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người….Trong lĩnh vựcGD&ĐT, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng CNTT- truyền thông trongdạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ramột môi trường giáo dục mang tính tương tác cao” [101]
Tác giả Trần Đình Tuấn trong công trình nghiên cứu “Ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học các môn khoa học xã hội - nhân văn ở các trường quân sự” [136] đã nhấn mạnh vai trò của ứng dụng
CNTT trong quá trình dạy học Tác giả nêu ra những vấn đề chung về ứngdụng CNTT trong giáo dục, đào tạo; đồng thời, đưa quan điểm và biện phápứng dụng và quản lý CNTT trong nhà trường, đặc biệt tác giả đã đề xuất cáchình thức tổ chức ứng dụng CNTT trong dạy học các kỹ thuật chuẩn bị sửdụng các phương tiện CNTT trong giờ dạy [136, tr.28]
Nghiên cứu dưới góc độ chỉ ra những vấn đề chung nhất khi ứng dụng
CNTT trong các nhà trường, tác giả Trần Trung đã chủ biên cuốn sách “Ứng
Trang 26dụng công nghệ thông tin trong nhà trường” [116].Trong cuốn sách này, tác
giả đã khẳng định rõ vị trí, vai trò của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục ởnước ta hiện nay, cụ thể: “Trong xu thế hội nhập quốc tế,giáo dục Việt Namcập nhật được những tiến bộ trong cách dạy, cách học và phương thức quản lýgiáo dục tiên tiến trên thế giới Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của xuhướng giáo dục hiện đại là sự thay đổi trong mô hình giáo dục với quan điểmlấy học sinh làm trung tâm Và như vậy, trường học phải thay đổi môi trườnggiáo dục Mọi tài nguyên, nguồn lực trong mỗi trường học cần tập trung vàoviệc tạo lập một môi trường học tập cởi mở, sáng tạo cho học sinh Một môitrường giáo dục hiện đại sẽ cung cấp tối đa khả năng tự học, tìm kiếm thôngtin cho mỗi học sinh Khi đó, CNTT trở thành công cụ hữu hiệu, cần thiết,phục vụ hiệu quả các hoạt động trong trường học” [116, tr.1]
Trong đề tài khoa học cấp Học viện năm 2013 về “Ứng dụng bài giảng điện tử trong thực hiện phương pháp dạy học tích cực ở Học viện Chính trị”
[140], tác giả Phan Văn Tỵ (chủ nhiệm) đi sâu phân tích, chỉ ra cách thức ứngdụng CNTT, khai thác, kỹ thuật sử dụng các phần mềm phù hợp với từng bộmôn để làm thay đổi cách dạy và học nhằm đạt hiệu quả cao trong dạy học bộmôn Đề tài cũng đã đề xuất biện pháp để CBQL các cấp của Học viện xây dựngchủ trương, xác định kế hoạch và tổ chức chỉ đạo ứng dụng vào thực tiễn [140]
Năm 2015, tác giả Nguyễn Thanh Trà có công trình nghiên cứu về
“Hiện đại hóa hoạt động thông tin - thư viện các trường đại học trong thời kỳ đại công nghệ góp phần đổi mới chất lượng giáo dục đại học Việt Nam”
[114] Theo tác giả, để thực hiện hiện đại hoá hoạt động thông tin - thư việntrong các trường đại học cần thực hiện tốt 5 giải pháp khác nhau, cụ thể: 1)Cần có chính sách đầu tư thích đáng cho thư viện 2) Cần có chính sách đầu
tư thích đáng cho thư viện 3) Xây đựng đội ngũ người làm thư viện năngđộng, sáng tạo và hiểu các vấn đề công nghệ, có kỹ năng tốt 4) Ưu tiên pháttriển nguồn tài liệu điện tử song song với các giải pháp số hoá và xây dựngcác bộ sưu tập số trong thư viện các trường đại học 5) Dịch vụ thông tin năngđộng tiếp cận với sinh viên, gần gũi, thân thiện với các ứng dụng Web [114]
Trang 27Trong dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (SREM) ở nước ta, tác giả
Nguyễn Thị Thái đã chủ biên cuốn sách “Công nghệ thông tin trong trường học” [108] Nội dung cuốn sách được thể hiện trong dung lượng 216 trang và
chia làm 6 chương khác nhau, trong đó tập trung làm rõ các vấn đề: Vị trí, vaitrò của CNTT trong mô hình giáo dục hiện đại; các kiến thức cơ bản củaCNTT; một số kỹ năng và thủ thuật cơ bản khi sử dụng các phần mềm cơ bản;một số yêu cầu của hiệu trưởng về ứng dụng CNTT trong trường học; khai thácứng dụng CNTT cho các nghiệp vụ quản lý ở nhà trường; các tình huống khiứng dụng CNTT trong các nhà trường Theo đó, cuốn sách này sẽ giúp cho cácnhà quản lý giáo dục có những kỹ năng cơ bản nhất trong quản lý nhà trườngtheo chức trách, nhiệm vụ của mìnhnhư trong quản lý giáo viên, quản lý họcsinh, quản lý thư viện và tài sản cố định, lập kế hoạch giảng dạy, quản lý tàichính, quản lý công văn đi - đến, quản lý công tác thanh tra giáo dục… [108]
Trong cuốn sách “Công nghệ thông tin trong dạy học tích cực” năm
2010, các tác giả Jef Peeraer và Trần Nữ Mai Thi, Trần Thị Thái Hà cho rằng:
“ứng dụng CNTT không chỉ đơn thuần là về bản thân công cụ mà cả về giáodục và cách thức giáo viên và người học sử dụng các công cụ này để hỗ trợviệc dạy và học” [89, tr.51] Cuốn sách đưa ra bộ công cụ bao gồm 7 mô-đun,trong mỗi mô-đun giới thiệu ngắn gọn về một công cụ và thiết kế hướng dẫn,cho phép thấy tác dụng của thiết kế hướng dẫn thúc đẩy công nghệ đó Cuốnsách được sử dụng làm tài liệu tự học về CNTT cho dạy học tích cực và giớithiệu một số khả năng ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy và học Bộ công
cụ có thể được sử dụng cho các mục đích tập huấn; đồng thời là tài liệu thamkhảo cho tập huấn về công nghệ và phương pháp, cũng như chương trình học
tổng thể ứng dụng CNTT trong Ngành Giáo dục như sau:
1) Kiện toàn tổ chức chỉ đạo và quản lý ứng dụng CNTT trong toàn ngành.2) Xây dựng các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển khai ứng dụng CNTT.3) Xây dựng hệ thống đơn vị công tác chuyên trách về CNTT trong ngành
Trang 284) Thiết lập hạ tầng kết nối mạng giáo dục tới tất cả các cơ sở giáo dục 5) Thiết lập Trung tâm điều khiển mạng giáo dục.
6) Liên lạc qua Internet: email theo tên miền riêng, cho giáo viên, học sinh7) Liên lạc tương tác qua mạng: Họp qua mạng, học qua mạng
8) Hệ thống thông tin: websites
9) Ứng dụng CNTT trong công tác chỉ đạo, điều hành, hỗ trợ ra quyếtđịnh của lãnh đạo (xếp lịch công tác của lãnh đạo, quản lý công văn đi/đến,gửi công văn qua email…)
10) Hệ thống thông tin quản lý giáo dục và các cơ sở dữ liệu giáo dục.11) Tin học hoá quản lý tại các cơ sở giáo dục: hệ thống quản lý trường học.12) Ứng dụng CNTT hỗ trợ đổi mới nội dung và phương pháp giảngdạy Công nghệ e Learning Tích hợp CNTT trong các môn học
13) Ứng dụng phần mềm mã nguồn mở
14) Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về CNTT
15) Mô hình trường học điện tử [87]
Bên cạnh các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, ở nước ta còn có rấtnhiều các công trình khác nhau đề cập đến đào tạo và đào tạo trên cơ sở ứngdụng CNTT ở các trường đại học, cao đẳng Đó là những cuốn sách, các đềtài nghiên cứu khoa học các cấp, luận văn, luận án, các bài báo khoa học, bàitham luận được đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, kỷ yếu hộithảo khoa học…Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này đã đề cập đa chiều,trên nhiều góc độ, ở nhiều phạm vi, đối tượng khác nhau Tất cả các kết quảnghiên cứu này là cơ sở quan trọng để tác giả kế thừa trong giải quyết nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn của luận án đặt ra
1.2 Những công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường đại học, cao đẳng
Tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu về phương pháp luận trong về QLĐT
có ứng dụng CNTT, trong cuốn sách “Quản lý giáo dục” của nhóm tác giả
Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo bên cạnh khẳng định sự cầnthiết của ứng dụng CNTT trong nâng cao tính hiệu quả quản lý giáo dục, các
Trang 29tác giả coi CNTT như là “nền” của quản lý giáo dục trong nhà trường Công
cụ CNTT sẽ là phương tiện để xử lý, chọn lọc thông tin cho hoạt động quản lý
và quản lý đào tạo trong nhà trường [45]
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong công tácquản lý, điều hành các hoạt động GD&ĐT; đồng thời nhằm cung cấp nhữngluận cứ, luận chứng khoa học trong ứng dụng CNTT, năm 2010, Trường Đại
học Vinh đã tổ chức Hội thảo khoa học “Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý nhà trường” Những bài viết trong hội thảo liên quan đến quản lý ứng
dụng CNTT trong GD&ĐT đã được Nxb Đại học Vinh xuất bản trong cuốn
kỷ yếu “Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý nhà trường” [133].
Theo đó, những bài viết trong cuốn kỷ yếu chủ yếu tập trung vào việc đặt vấn
đề, nêu bài toán làm thế nào để nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng CNTTvào các lĩnh vực hoạt động cụ thể của đơn vị Bên cạnh đó, các giải pháp quản
lý, bài học kinh nghiệm trong việc triển khai các ứng dụng CNTT trongtrường đại học cũng được giới thiệu qua các bài viết trong cuốn kỷ yếu này
Trong nghiên cứu về “Ứng dụng công nghệ thông tin góp phần đổi mới quản lý giáo dục đại học” [137], tác giả Nguyễn Quang Tuấn coi trọng
và nhấn mạnh việc tăng cường, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức CNTT cho cán
bộ, giảng viên; xác định đây là một nội dung quan trọng trong quản lý ứngdụng CNTT trong quản lý ở các cơ sở giáo dục đại học Theo đó, tác giả đềxuất: “Đưa công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức CNTT cho cán bộ, côngchức vào nhiệm vụ và kế hoạch hàng năm của các đơn vị Bố trí đủ cán bộchuyên trách về công nghệ thông tin và tạo điều kiện cho họ được nâng caotrình độ quản lý, kỹ thuật, nghiệp vụ Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ củaTrung tâm Công nghệ phần mềm và Trung tâm Đào tạo và Ứng dụng côngnghệ thông tin, Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học có đủ năng lực tổ chức vàđiều hành hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin của các đơn vị và Nhàtrường Đa dạng hoá các loại hình đào tạo, liên kết đào tạo nhân lực côngnghệ thông tin với các trường, trung tâm trong và ngoài nước Xây dựng vàphát triển Trung tâm Đào tạo và Ứng dụng công nghệ thông tin của Trườngvới các chương trình đào tạo tiên tiến và cơ sở vật chất hiện đại” [137, tr.25]
Trang 30Đi sâu vào nghiên cứu ứng dụng CNTT trong quản lý học sinh, sinh
viên, tác giả Ngô Quang Sơn có công trình nghiên cứu về “Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông đổi mới công tác quản lý học viên hệ đào tạo
từ xa ở các trường đại học, viện và học viện” [104] Trong nghiên cứu này,
tác giả đã đi vào phân tích thực trạng việc quản lý học viên hệ đào tạo từ xa ởcác trường đại học, viện, học viện theo phương pháp quản lý truyền thống trêncác vấn đề như: Quản lý về thông tin học viên, quản lý quá trình học tập của họcviên, quản lý quá trình tích lũy các học phần của học viên… Trên cơ sở phântích thực trạng trên, tác giả đã đề xuất mô hình hệ thông quản lý học viên hệ đàotạo từ xa nhằm mục đích đổi mới công tác quản lý học viên Mô hình này đượctác giả xây dựng trên 3 phương diện chính, đó là thông tin đầu vào, xử lý vàthông tin đầu ra Tác giả cũng chỉ rõ quy trình và cách thức xây dựng mô hình
đó Tác giả đã nhận định: “Mô hình này đã đưa ra được cách lưu trữ, xử lý dữliệu về học viên hệ từ xa gồm các thông tin cá nhân, điểm, quá trình đã học…nhanh và chính xác Các quy trình mềm dẻo rất thuận lợi cho phép người quản lýthực hiện các tác nghiệp đến từng học viên…” [104, tr.8]
Tiếp cận nghiên cứu ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động khoa học,tác giả Lưu Lâm có công trình luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục nghiên cứu về
“Cơ sở lý luận và thực tiễn ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của Ngành Giáo dục Việt Nam” [71] Trong nghiên cứu này, bên cạnh việc xây dựng hệ thống cơ sở lý
luận, đưa ra một số kinh nghiệm quốc tế và đánh giá thực trạng ứng dụng CNTTtrong quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của Ngành Giáo dục Việt Nam,tác giả đã đề xuất 5 nhóm giải pháp quản lý hoạt động khoa học và công nghệcủa Ngành Giáo dục Việt Nam hiện nay, cụ thể: 1) Nâng cao nhận thức củaCBQL khoa học công nghệ các cấp 2) Hoàn thiện các văn bản pháp quy về ứngdụng CNTT trong quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của Ngành Giáodục 3) Xây dựng hệ thống quản lý thông qua mối quan hệ điện tử giữa tổ chức
và cá nhân 4) Tăng cường năng lực cơ sở hạ tầng CNTT - truyền thông 5) Xâydựng mới phần mềm hỗ trợ quản lý khoa học công nghệ ngành giáo dục [71]
Trang 31Năm 2013, tác giả trong nghiên cứu về “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục - đào tạo tại Học viện Cảnh sát nhân dân” [94],
tác giả Trần Hồng Quang đã đề cập đến những quan điểm của Đảng, Nhànước ta xung quanh việc ứng dụng CNTT trong GD&ĐT Đồng thời, tác giả
đã đưa ra 4 yêu cầu cơ bản nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong GD&ĐT ởHọc viện Cảnh sát nhân dân hiện nay, cụ thể: 1) Nâng cao nhận thức về việcứng dụng công nghệ thông tin đối với công tác quản lý giáo dục - đào tạo tạiHọc viện Cảnh sát nhân dân 2) Học viện cần tập trung xây dựng kế hoạchtổng thể xây dựng, phát triển, ứng dụng CNTT tại Học viện gắn liền với Đề
án thành phần số 3 của Bộ 3) Tập trung số hoá toàn bộ dữ liệu trong công tácgiáo dục - đào tạo của Học viện trong các lĩnh vực: Thư viện, giảng dạy, quản
lý đào tạo, quản lý tài sản, quản lý tài chính, hành chính văn thư… 4) cần tậptrung đầu tư, xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng CNTT của Học viện từ hệthống mạng Internet, mạng cục bộ (LAN), phòng học vi tính, máy chiếu đanăng đến trang bị các phần mềm quản lý chuyên nghiệp trong tất cả các hoạtđộng nghiệp vụ liên quan của Học viện về giáo dục - đào tạo, cơ sở vật chất,thư viện, quản lý ký túc xá, quản lý tài chính, hành chính, văn thư…[94]
Coi nâng cao năng lực ứng dụng CNTT cho đội ngũ cán bộ là một nộidung quan trọng trong quản lý ứng dụng CNTT ở các cơ sở giáo dục đại họchiện nay, năm 2013, tác giả Nguyễn Hà Đông và Nguyễn Hữu Hảo có công
trình nghiên cứu về “Một số biện pháp nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin của đội ngũ cán bộ hành chính ở Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế” [33] Trong công trình này, theo các tác giả để nâng cao năng
lực ứng dụng CNTT cho đội ngũ này cần phải thực hiện tốt các biện pháp: 1)Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến nhận thức mới về việc ứng dụngCNTT 2) Hoàn thiện và tăng cường hiệu lực hệ thống các văn bản, các quyđịnh có liên quan đến hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, các chế định liênquan đến việc ứng dụng CNTT trong quản lý các hoạt động của nhà trường.3) Thường xuyên tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực ứngdụng CNTTT cho đội ngũ cán bộ với nhiều hình thức đa dạng 4) Tăng cường
Trang 32quản lý việc ứng dụng CNTT trong hoạt động chuyên môn nghiệp vụ 5) Đẩymạnh xây dựng và phát triển hạ tầng CNTT theo hướng hiện đại hóa [33].
Đề xuất những giải pháp quản lý ứng dụng CNTT trong đào tạo ở một
nhà trường cụ thể, tác giả Vũ Lộc An có công trình nghiên cứu “Quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại trường đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố Hà Nội” [2] Tác giả cho rằng
để nâng cao hiệu quả việc ứng dụng CNTT ở nhà trường cần thực hiện đồng bộcác giải pháp khác nhau, trong đó dưới góc độ khoa học quản lý giáo dục cần tậptrung thực hiện tốt hai giải pháp cơ bản, đó là: “1) Đẩy mạnh công tác dự báo,lập kế hoạch ứng dụng CNTT trong nhà trường 2) Thành lập và tăng cườnghoạt động của Ban điều hành, triển khai ứng dụng CNTT” [2, tr.17]
Cũng theo tác giả Vũ Lộc An trong công trình “Quản lý bồi dưỡng cán bộ, công chức ở các trường chính trị tỉnh trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin” [3] đã đi sâu vào khái quát, luận giải đặc trưng bồi dưỡng cán bộ, công chức;
vai trò, nội dung ứng dụng CNTT và quản lý bồi dưỡng cán bộ, công chứctrên cơ sở ứng dụng CNTT; đánh giá làm rõ thực trạng bồi dưỡng và quản lýbồi dưỡng cán bộ, công chức ở các trường chính trị trên cơ sở ứng dụngCNTT; đồng thời đề xuất 7 biện pháp trong quản lý bồi dưỡng cán bộ, côngchức ở các trường chính trị trên cơ sở ứng dụng CNTT [3]
Nghiên cứu trực tiếp đến khía cạnh QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở
các trường ĐH&CĐ, trong công trình “Quản lý đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông ở các trường đại học tư thục miền Trung Việt Nam”
[42], tác giả Nguyễn Lê Hà đã đề xuất 7 giải pháp khác nhau liên quan đến vấn
đề này Trong đó, giải pháp 3 tác giả đề xuất giải pháp “Quản lý triển khai hệ thống phần mềm quản lý đào tạo dựa trên CNTT và truyền thông” Theo tác giả
thực hiện giải pháp này sẽ trực tiếp “Xây dựng, từng bước triển khai và hoànthiện việc đưa phần mềm dựa trên CNTT và truyền thông vào các khâu của quản
lý đào tạo; là nền tảng đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả quản lýđào tạo” Đồng thời, nó tập trung hóa dữ liệu của hoạt động đào tạo trong nhàtrường, giúp cho quá trình xử lý, tác nghiệp nhanh chóng, kịp thời, chính xác vàđồng bộ Bên cạnh các giải pháp trên, tác giả còn đề xuất các giải pháp khác
Trang 33như: Nâng cao nhận thức về quản lý đào tạo dựa trên CNTT và truyền thông chocán bộ, giảng viên và sinh viên; chuẩn hóa quy trình đào tạo; bồi dướng năng lựcCNTT và truyền thông trong quản lý đào tạo cho cán bộ quản lý giáo dục, giảngviên; tăng cường cơ sở vật chất, hạ tầng CNTT và truyền thông phục vụ quátrình đào tạo; hệ thống hóa và hoàn thiện các văn bản quy định; tăng cường kiểmtra, đánh giá hoạt động quản lý đào tạo dựa trên CNTT và truyền thông [42].
Cũng nghiên cứu theo hướng này, trong công trình “Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quản lý, đào tạo và nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại Đại học Thái Bình” [6], tác giả
Hoàng Phương Bắc cho rằng: “Nhà trường cần tích cực triển khai đầu tưmáy chủ đưa các phần mềm vào quản lý, cụ thể như: phần mềm quản lýtuyển sinh, sinh viên, quản lý đào tạo, quản lý học phí, quản lý văn bằngchứng chỉ Tăng cường sử dụng các phần mềm hiện đại để hỗ trợ tích cựccho việc xây dựng giáo án và tổ chức quá trình dạy học, nhất là các phầnmềm chuyên ngành như: phần mềm kế toán trong đào tạo kế toán; phầnmềm liên quan tới đào tạo ngành Công nghệ kỹ thuật Điện - Điện tử, côngnghệ thông tin ” [6, tr.215 - 216]
Tiếp cận nghiên cứu QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT với đối tượng
đào tạo cử nhân sư phạm, trong luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục về “Quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm theo TQM và ứng dụng công nghệ thông tin trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực” [63], tác giả Nguyễn Trung Kiên đã đi
sâu vào nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý, hệ thống thông tin trongquản lý giáo dục, quản lý và chất lượng đào tạo theo tiếp cận TQM; hệ thốngđảm bảo chất lượng; cơ sở lý luận về việc tổ chức, quản lý đảm bảo chất lượngđào tạo, ứng dụng CNTT trong QLĐT, quản lý chất lượng đào tạo trong cáctrường đại học Từ cơ sở lý luận này, tác giả đã đi vào khảo sát và đánh giáthực trạng đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm trong đạihọc đa ngành, đa lĩnh vực Từ đó, tác giả đã đề xuất hệ thống các giải phápquản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm theo TQM và ứng dụng CNTTtrong đại học đa ngành, đa lĩnh vực theo các hướng: 1) Nhóm giải pháp chung,
Trang 342) Nhóm giải pháp quản lý chất lượng đầu vào, 3) Nhóm giải pháp quản lý chấtlượng QTĐT, 4) nhóm giải pháp quản lý chất lượng đầu ra [63].
Nghiên cứu chuyên sâu việc xây dựng câu hỏi kiểm tra có ứng dụng
một CNTT cụ thể, năm 2012, tác giả Trần Thị Cẩm Thơ có công trình “ Sử dụng phần mềm Conquest trong xây dựng hệ thống câu hỏi kiểm tra ”
[111] Trong nghiên cứu này, tác giả đã đi vào trình bày, chỉ rõ khung lýluận về câu hỏi kiểm tra, phần mềm và ứng dụng phần mềm Conquest;ứng dụng phần mềm Conquest trong xây dựng hệ thống câu hỏi kiểm tra(phân tích, đánh giá câu hỏi trước khi đưa vào hệ thống câu hỏi kiểm tra) Vớinghiên cứu này, tác giả nhấn mạnh: “Sử dụng phần mềm Conquest trong xây dựng
hệ thống câu hỏi kiểm tra nhằm góp phầ đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả Phầnmềm Conquest giúp chúng ta lựa chọn được những câu hỏi tốt nhất để lưu trữ vàotrong hệ thống câu hỏi kiểm tra và xác định những câu hỏi chưa tốt để có thể loại bỏhay chỉnh sửa trước khi đưa vào hệ thống câu hỏi kiểm tra Trên cơ sở phân tích củaphần mềm, chúng ta có thể biệt được câu hỏi chưa tốt ở điểm nào, từ đó có hướngchỉnh sửa tốt hơn” [111, tr.38]
Bên cạnh những công trình nghiên cứu tiểu biểu trên, ở nước ta còn
có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác liên quan đến QLĐT trên cơ sởứng dụng CNTT ở các trường ĐH&CĐ Trong đó chủ yếu là những bài báokhoa học, bài tham luận được đăng trên các tạp chí chuyên ngành, các cuốn
kỷ yếu trong các cuộc hội thảo như: “Quản lý việc thiết kế và sử dụng hiệu quả giáo án điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện dưới góc nhìn của các nhà quản lý giáo dục- thực trạng và giải pháp” [103] của tác giả Ngô Quang Sơn; “Quản lý hoạt động đào tạo cơ sở giáo dục đại học theo ISO và sự trợ giúp của công nghệ thông tin” [41] của tác giả Nguyễn
Lê Hà; “Ứng dụng phần mềm nguồn mở Moodle xây dựng ngân hàng câu hỏi thi nâng cao chất lượng kiểm tra, đánh giá ở các cơ sở giáo dục” [95] của tác giả Lê Văn Quang; “Hệ thống quản lý đào tạo B-learning theo học chế tín chỉ cho các trường đại học và cao đẳng, dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin” [5] của tác giả Võ Đình Bảy; “Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ trên cơ sở tin học
Trang 35hóa và tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể TQM trong địa học đa ngành,
đa lĩnh vực” [88] của tác giả Đỗ Thị Ngọc Oanh… Nhìn chung, những
công trình này đều tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ khoa học Quản lý giáodục và tập trung đi vào giải quyết những vấn đề cơ bản về vị trí, vai trò củaQLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường ĐH&CĐ hiện nay Một sốcông trình đã đề xuất được những giải pháp nhằm tăng cường nâng caohiệu quả quản lý ứng dụng CNTT hoặc cách thức tổ chức ứng dụng vàotrong từng nội dung QLĐT ở từng phạm vi nhất định
1.3 Khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết
1.3.1 Khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liênquan đề tài, tác giả luận án rút ra một số vấn đề cơ bản sau:
Một là, việc nghiên cứu những vấn đề về đào tạo đã được nhiều tác giả
trên thế giới quan tâm, nghiên cứu Đặc biệt, khi thế giới bước sang thế kỷXXI, trước sự phát triển mạnh mẽ và tính hiệu quả của việc ứng dụng CNTTtrên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ở nước ta việc nghiên cứu về đào tạo nóichung, đào tạo trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường đại học và cao đẳng nóiriêng được nhiều tác giả nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc độ, đề cập đa chiều,trên nhiều khía cạnh khác nhau, đảm bảo tương đối hoàn chỉnh, có tính hệ thống,khoa học, chuyên sâu cả trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn Nhìn chung,những công trình này đã chỉ rõ được vị trí, vai trò của đào tạo ở các trường caođẳng; chỉ ra được những yếu tố cơ bản của QTĐT; nhiều công trình đã đề cập đếncác biện pháp nâng cao CLĐT theo từng đối tượng, phạm vi nghiên cứu nhấtđịnh Bên cạnh đó, xuất hiện nhiều công trình đề cập đến ứng dụng CNTT trongđào tạo; coi đó là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao CLĐT ở các nhà trường.Theo thời gian đã xuất hiện một số công trình đi sâu vào nghiên cứu, đã đề xuấtnhững giải pháp ứng dụng CNTT trong đào tạo đảm bảo có tính thiết thực, khả thicao và từng bước vận dụng, ứng dụng có hiệu quả trong thực tiễn
Hai là, ở nước ta, vấn đề nghiên cứu về QLĐT trên cơ sở ứng dụng
CNTT ở các trường ĐH&CĐ trong những năm gần đây ngày càng được coitrọng Những công trình này chủ yếu là những bài báo khoa học, các luận án
Trang 36tiến sĩ và thường tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ khoa học Quản lý giáo dục.Nhìn chung, các công trình đã tập trung đi sâu vào nghiên cứu và chỉ rõ được
vị trí, vai trò, sự cần thiết việc ứng dụng CNTT ở các nhà trường hiện nay; từ
đó khẳng định đây là vấn đề quan trọng, quyết định đến tính hiệu quả của việcứng dụng CNTT trong nâng cao CLĐT ở các nhà trường đáp ứng thiết thựcvới mục tiêu đào tạo, cũng như yêu cầu của thực tiễn xã hội trong từng thời
kỳ, giai đoạn nhất định Có một số công trình bước đầu đi sâu vào nghiên cứuchuyên sâu về từng nội dung cụ thể trong quản lý ứng dụng CNTT như: đàotạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ sử dụng CNTT của các chủ thể quản lý, xâydựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất CNTT…
Khi bàn đến QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các nhà trường, mỗitác giả trong mỗi công trình nghiên cứu đều có những cách nhìn nhận, đánh giáriêng Tuy nhiên, nhìn chung các công trình thường đi vào nghiên cứu ứng dụngCNTT trong QLĐT; từ đó tập trung phân tích, chỉ rõ được những nội dung cơ bản
và những kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong QLĐT ở các nhà trường ở một sốquốc gia có nền giáo dục phát triển trên thế giới Khi nghiên cứu về ứng dụngCNTT trong QLĐT ở các trường ĐH&CĐ thuộc từng địa bàn, phạm vi nhất địnhđều xây dựng được các khung tiêu chí, tiêu chuẩn, chỉ báo cụ thể, từ đó đánh giáđược thực trạng ứng dụng CNTT trong QLĐT theo từng đối tượng nghiên cứu.Đặc biệt, trong các công trình nghiên cứu trên đều đưa ra được những định hướng
và giải pháp ứng dụng CNTT trong QLĐT đảm bảo phù hợp với tính đặc thù,điều kiện, hoàn cảnh, yêu cầu, nhiệm vụ và chiến lược phát triển GD&ĐT của cácnhà trường, cũng như quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
Ba là, những công trình nghiên cứu về QLĐT trên cơ sở ứng dụng
CNTT trong các trường ĐH&CĐ ở nước ta thời gian gần đây đã từng bước đượcnghiên cứu Những công trình này nghiên cứu dựa trên sự kế thừa có hiệu quảnhững kết quả nghiên cứu về mặt lý luận, thực tiễn của các công trình liên quanđến quản lý giáo dục, đào tạo ở các nhà trường trên cơ sở ứng dụng CNTT trong
và ngoài nước trước đó Đồng thời, khi bàn về vấn đề này, các công trình chủ yếutiếp cận dưới góc độ của khoa học Quản lý giáo dục để luận giải, làm rõ một sốvấn đề lý luận cơ bản về QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT Theo đó, nhìn chung,những công trình đã khẳng định rõ việc ứng dụng CNTT trong QLĐT sẽ trực tiếp
Trang 37góp phần giúp cho các chủ thể quản lý thu thập, xử lý thông tin có liên quan mộtcách nhanh chóng, chính xác, kịp thời và hiệu quả, từ đó góp phần nâng cao hiệuquả QLĐT Cho đến hiện nay, có một số công trình đã bước đầu đi vào nghiêncứu quản lý một số vấn đề cụ thể trong QLĐT như: trong quản lý nhân lực, xâydựng câu hỏi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, trong quản lý hoạt động nghiêncứu khoa học trên cơ sở có ứng dụng CNTT Tất cả những vấn đề trên được coi
là cơ sở quan trọng để tác giả kế thừa, vận dụng vào giải quyết các vấn đề về lýluận và thực tiễn mà luận án đã và đang đặt ra
Tuy nhiên, qua tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến
đề tài cho thấy, dưới góc độ nghiên cứu của khoa học Quản lý giáo dục, cóthể nhận định, ở nước ta cho đến hiện nay có rất ít công trình nghiên cứubàn về QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng một cáchđầy đủ, có tính hệ thống, khoa học chuyên sâu
Mặc dù ở nước ta có số lượng tương đối lớn các trường cao đẳng (436trường cả công lập và ngoài công lập) và các nhà trường có vị trí, vai trò quantrọng trong đào tạo NNL phục vụ trên tất cả các lĩnh vực, ngành, nghề nhằmđáp ứng nhu cầu phát triển đất nước Bên cạnh đó, trong bối cảnh CMCN 4.0hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, vai trò của ứng dụng CNTTtrong GD&ĐT, nhất là là trong quản lý đào tạo ở các nhà trường, nhưng chođến hiện nay còn có rất ít các công trình nghiên cứu và các công trình nàychưa thực sự đưa ra được những luận cứ, luận chứng khoa học cả về lý luận,thực tiễn xung quanh vấn đề này Những công trình trước đó có liên quanmới chỉ dừng lại ở bước đầu, chủ yếu dưới hình thức mang tính gợi ý bằngcác bài viết, điểm qua tình hình và đề xuất đơn lẻ qua các hội thảo chuyên đề
mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu điển hình Chưa có công trình nghiêncứu nào chỉ ra được nội dung, những vấn đề mang tính đặc thù trong QLĐTtrên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng trong cả nước trước bốicảnh CMCN 4.0; chưa chỉ ra được những vấn đề mang tính lý luận, thực tiễn,nhất là trong đề xuất các biện pháp, yêu cầu cụ thể có tính thiết thực, khả thi caotrong QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT, từ đó góp phần nâng cao chất lượng,hiệu quả QLĐT ở các nhà trường đáp ứng tốt với mục tiêu và yêu cầu của thựctiễn đã và đang đặt ra
Trang 381.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết
Một là, luận án tiếp tục nghiên cứu bổ sung, làm rõ những vấn đề lý luận về
đào tạo và QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng trong bối cảnhCMCN 4.0 Trong đó tập trung chỉ rõ đặc điểm và yêu cầu đào tạo của các trườngcao đẳng trong bối cảnh CMCN 4.0; bổ sung, làm rõ vai trò của CNTT trong đàotạo và QLĐT ở các trường cao đẳng trong bối cảnh CMCN 4.0; xây dựng kháiniệm, phân tích bản chất, chỉ ra những nội dung và yếu tố tác động đến QLĐT trên
cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng hiện nay
Hai là, trong tất cả các công trình nghiên cứu được công bố, chưa có
công trình nào đánh giá cụ thể được thực trạng đào tạo và QLĐT trên cơ sởứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng hiện nay Do đó, luận án sẽ tiếp tục đivào chỉ rõ thực trạng vấn đề này ở các nhà trường thời gian qua Trên cơ sởphân tích thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân, luận án sẽ nêu ra những yêu cầu cụthể, những rào cản, vướng mắc trong QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở cáctrường cao đẳng Đây được coi là vấn đề mới, là cơ sở quan trọng để các chủthể ở các nhà trường, cũng như các cấp, ngành liên quan có sự nhìn nhận đúngđắn, khách quan về thực tiễn đào tạo và QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ởcác trường cao đẳng hiện nay
Ba là, mặc dù, trong các công trình nghiên cứu trước đó có đề cập đến
một số vấn đề liên quan đến QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT, nhưng nhữngcông trình này khi đề cập đến các biện pháp có liên quan mới chỉ dừng lại ở việcđưa ra một số biện pháp QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở một số nhà trườnghoặc ứng dụng CNTT trong quản lý một nội dung cụ thể; còn việc chỉ ra nhữngbiện pháp, yêu cầu cụ thể trong QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trườngcao đẳng ở nước ta hiện nay như thế nào thì chưa có công trình nào đề cập mộtcách trực tiếp, rõ ràng, có tính hệ thống, khoa học, chuyên sâu
Tình hình đó đặt ra cho luận án phải đề xuất và phân tích, làm rõ cácbiện pháp QLĐT trên cơ sở ứng dụng CNTT ở các trường cao đẳng hiện naysát với thực tiễn bối cảnh CMCN 4.0, đúng đối tượng, mục tiêu đào tạo… vàđảm bảo có tính thiết thực, khả thi cao Đây được coi là vấn đề cốt lõi, khôngchỉ góp phần nâng cao hiệu quả QLĐT ở các nhà trường, mà điều quan trọng,
Trang 39nó trực tiếp đảm bảo cho các chủ thể quản lý ở các nhà trường luôn thu thập,
xử lý mọi thông tin, tình huống diễn ra trong thực tiễn một cách nhanh chóng,chính xác, hiệu quả, từ đó góp phần nâng cao CLĐT đáp ứng tốt với yêu cầucủa thực tiễn đã và đang đặt ra hiện nay
Trang 40độ của khoa học Quản lý giáo dục để luận giải, bổ sung, làm rõ những vấn đề
lý luận, nhất là chỉ ra được các nội dung cơ bản của ứng dụng CNTT trongđào tạo và QLĐT ở các trường ĐH&CĐ trên từng địa bàn, phạm vi nghiêncứu cụ thể Nhiều công trình đã đề xuất được các biện pháp ứng dụng CNTTtrong QLĐT có tính thiết thực, khả thi cao, phù hợp với từng đối tượng, phạm
vi nghiên cứu và từng bước vận dụng có hiệu quả trong trong thực tiễn quản
lý ở các nhà trường
Tuy nhiên, qua tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
có thể khẳng định, cho đến hiện nay chưa có công trình khoa học nào nghiêncứu một cách có hệ thống, khoa học, chuyên sâu về QLĐT trên cơ sở ứngdụng CNTT ở các trường cao đẳng trong bối cảnh CMCN 4.0 Chính vì thế,việc nghiên cứu các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài tạo ra cơ
sở vững chắc để tác giả khẳng định đề tài luận án là công trình khoa học độclập, không trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã được công bố trước đó.Đồng thời, nó là yếu tố quan trọng để tác giả kế thừa, có chọn lọc trong giảiquyết những nhiệm vụ nghiên cứu đề tài luận án tiến sĩ của mình