1, Kết luận chung của đề tài Sự phát triển của một ngôn ngữ thứ hai – tiếng Anh đang trở nên ngày càng cấp thiết và được chú trọng hơn cả. Khi mà thế giới đang trong thời kì hội nhập và giao lưu giữa các quốc gia với nhau; tiếng Anh trở thành một ngôn ngữ chung, thiết yếu để kết nối nhân loại với nhau, trở thành ngôn ngữ chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Chính bởi lẽ đó việc tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp phát triển KN so sánh kích thước cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển cả về nhận thức và ngôn ngữ tiếng Anh, có ý nghĩa lớn đối với cuộc sống của trẻ. Kết quả điều tra thực trạng cho thấy mặc dù phần lớn GV đã nhận thức đúng đắn và sự cần thiết của hoạt động đối với trẻ tuy nhiên GV chưa thực sự chú trọng, đầu tư vào cách tổ chức cho trẻ. GV chưa linh hoạt, sáng tạo trong các BP và cách tổ chức hoạt động dẫn đến mức độ phát triển KN so sánh kích thước của trẻ trong hoạt động LQVTA còn chưa cao. Căn cứ vào các cơ sở lí luận và thực tiễn đã điều tra được, chúng tôi đã đề xuất được một số BP để tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp phát triển KN so sánh kích thước cho trẻ 5 – 6 tuổi. Đó là những BP thiết thực không những giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tiếng Anh mà trẻ còn phát triển KN so sánh kích thước. Các BP này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại, bổ sung cho nhau trong quá trình tổ chức các hoạt động LQVTA tích hợp phát triển KN so sánh kích thước cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi và cần GV chủ động, linh hoạt, sáng tạo khi sử dụng. Kết quả TN bước đầu cho thấy tính khả thi và tính hiệu quả của các BP được đề xuất, qua đó khẳng định giả thuyết khoa học của đề tài đã được chứng minh. Từ đó, có thể khẳng định rằng, dưới tác động có ý nghĩa của các BP đã đề xuất, trẻ tích cực, chủ động tham gia hoạt động vì vậy mức độ phát triển KN so sánh kích thước của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động LQVTA ở trường MẦM NONđược nâng cao. 2, Một số kiến nghị sư phạm Dựa trên các kết luận mà chúng tôi đã đề cập ở trên, chúng tôi đã đưa ra một số kiến nghị sau: • Đối với các nhà quản lí giáo dục và cơ sở đào tạo Các nhà quản lý giáo dục cần tăng cường đầu tư hơn nữa về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học, đồ dùng đồ chơi hỗ trợ tốt cho việc tổ chức các hoạt động LQVTA tích hợp KN so sánh kích thước cho trẻ; thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, trao đổi kinh nghiệm, trau dồi ngoại ngữ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho GVTA. Đặc biệt là chú ý đến năng lực tổ chức hoạt động LQVTA và khả năng phối hợp sử dụng các đồ dùng trực quan sao cho hiệu quả nhất. • Đối với giáo viên Cần tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, thường xuyên cập nhật kiến thức mới về cách tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp KN so sánh kích thước. GV biết cách xây dựng và sử dụng BP nhằm phát triển KN so sánh kích thước cho trẻ trong hoạt động LQVTA để tự mình thay đổi cho phù hợp với thực tiễn của trường, lớp và khả năng nhận thức của trẻ ở nhóm lớp mình phụ trách. GV biết vận dụng linh hoạt các BP đã xây dựng để tổ chức tốt hoạt động LQVTA tích hợp phát triển KN so sánh kích thước cho trẻ mầm non. GV luôn cần phải cân nhắc các yếu tố như: lứa tuổi, đặc điểm tâm lý, sinh lý và ngôn ngữ của trẻ khi tổ chức hoạt động. Việc dạy học cần mang tính khoa học, hợp lý, logic và hiệu quả. GV cần luôn tạo cảm giác an toàn, thoải mái để trẻ có thể tự do thể hiện khả năng của mình. Việc GV có thể khuyến khích và phát huy tính tự chủ cho trẻ hay không trong giờ học quyết định hiệu quả của hoạt động.
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: “Một số biện pháp tổ chức hoạt động làm quen với tiếng Anh tích hợp phát triển kỹ năng so sánh kích thước cho trẻ 5 - 6 tuổi”
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Đây làkhâu quan trọng đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách toàn diện của trẻ và cho trẻbước vào học phổ thông Việc hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mầm non cómột vai trò to lớn
Ở trường mầm non, hoạt động làm quen với toán là một môn học rất quantrọng, là điều kiện không thể thiếu trong quá trình dạy học nhằm phát triển trí tuệ vànhững mặt nhân cách toàn diện cho trẻ
Hiện nay tiếng anh đang trở thành ngôn ngữ thứ hai và là ngôn ngữ giao tiếptrên toàn thế giới, chính vì thế việc cho trẻ tiếp xúc và LQVTA khi còn nhỏ là điều cầnthiết mà mỗi gia đình, nhà trường và xã hội phải quan tâm đến Các nhà khoa học đãnghiên cứu và cho thấy rằng não bộ và thần kinh của trẻ phát triển ở lứa tuổimẫu giáo Đây là giai đoạn các em học ngoại ngữ nhanh và dễ tiếp thu nhất.Việc tổ chức cho trẻ so sánh kích thước kết hợp với hoạt động làm quen Tiếnganh là một hoạt động vô cùng có ý nghĩa và là hoạt động lí tưởng cho việc họcngôn ngữ thứ hai nhằm giúp trẻ hứng thú học tập, nâng cao khả năng tiếp thu
và đạt hiệu quả cao trong quá trình tiếp nhận ngôn ngữ mới Trẻ có khả năngtiếp nhận kiến thức nhanh chóng thông qua các hình ảnh, đồ dùng trực quan do
GV cung cấp, có khả năng so sánh các vật, thêm vào đó là tăng vốn từ vựngTiếng anh thông qua các trò chơi Hơn thế nữa, kĩ năng so sánh kích thước củatrẻ cũng được nâng cao khi GV thiết kế một số hoạt động phù hợp Tuy nhiênthực trạng hiện nay tại các trường mầm non chưa có các biện pháp cụ thể đểgiúp trẻ tiếp cận với hoạt động có hiệu quả nhất
Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn và nghiên cứu đề
tài “Một số biện pháp tổ chức hoạt động làm quen với tiếng Anh tích hợp phát triển
kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi”, để mong muốn tìm được một số biện
pháp góp phần phát triển kĩ năng so sánh kích thước trong quá trình tiếp cận ngôn ngữthứ hai
Trang 31 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất một số BP giúp trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi LQVTA tích hợpphát triển kĩ năng so sánh kích thước
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
-Khách thể nghiên cứu: Hoạt động làm quen với tiếng Anh của trẻ 5-6 tuổi.-Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp pháttriển kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi
4 Giả thuyết khoa học
Thực trạng sử dụng BP tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp phát triển KN sosánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non còn hạn chế Nếu ta ápdụng một số BP như tạo môi trường lớp học, sử dụng phiếu bài tập để có thể kết hợpdạy so sánh kích thước cho trẻ mẫu giáo bằng tiếng anh thì kĩ năng so sánh kích thướccủa trẻ 5-6 tuổi và vốn từ liên quan đến hoạt động sẽ được nâng cao Hơn thế nữa việc
áp dụng một số BP sẽ không gây nhàm chán trong các hoạt động, tạo cho trẻ hứng thúkhi tham gia và giúp cho trẻ tiếp thu một cách có hiệu quả
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về BP tổ chức hoạt động LQVTA tích hợpphát triển kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi
5.2 Điều tra thực trạng sử dụng BP tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp kĩ năng
so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non
5.3 Đề xuất và TN một số BP nhằm tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp kĩ năng
so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số BP tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp KN so sánh kíchthước cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
7.2.2 Phương pháp đàm thoại
7.2.3 Phương pháp điều tra
Trang 47.2.4 Phương pháp thực nghiệm
7.2.5 Phương pháp thống kê
7.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của trẻ
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TIẾNG ANH TÍCH HỢP KỸ NĂNG SO SÁNH KÍCH THƯỚC
CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu về việc học ngôn ngữ của trẻ nói chung và cho trẻ làm quen với tiếng Anh nói riêng.
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về KN so sánh kích thước của trẻ
1.2 Một số khái niệm
1.2.1 Biện pháp
Biện pháp là cách làm cụ thể, cách giải quyết một vấn đề cụ thể hay hướng tớigiải quyết nhiệm vụ từng phần, cụ thể Trong một số trường hợp, biện pháp cũng cóthê giải quyết được các nhiệm vụ khác nhau như một phương pháp
1.2.2 Tích hợp
Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nộidung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (Theo cách hiểu truyền thống từtrước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vàonhững nội dung vốn có của môn học
1.2.3 Kỹ năng
Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện một cách có hiệu quả một hànhđộng, công việc nào đó để đạt được mục đích đã xác định trên cơ sở nắm vững phươngthức thực hiện và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với những điềukiện nhất định
1.2.4 So sánh
So sánh là một trong những kĩ năng quan trọng của quá trình tư duy, nhằm thựchiện chức năng đem sự vật này đối chiếu với sự vật kia để tìm sự giống nhau hay khácnhau của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
1.2.5 Kích thước
Kích thước là khái niệm chỉ toàn thể nói chung những đại lượng như chiều dài,chiều rộng, chiều cao, xác định độ lớn của một vật
1.2.6 Kỹ năng so sánh kích thước
Trang 6Kỹ năng so sánh kích thước là khả năng của con người thực hiện một cách cóhiệu quả hành động so sánh các đại lượng kích thước như chiều dài, chiều rộng, chiềucao, xác định độ lớn của một vật trên cơ sở nắm vững phương thức thực hiện và vậndụng những tri thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với những điều kiện nhất định.
1.2.7 Hoạt động làm quen với tiếng Anh.
Hoạt động làm quen với tiếng Anh là hoạt động cho trẻ bước đầu tiếp xúc vớingôn ngữ mới – tiếng Anh, thông qua đó cho trẻ tìm hiểu, khám phá những yếu tố cơbản của tiếng Anh như các từ vựng đơn giản, các cấu trúc câu ngắn và cách phát âm
1.2.8 Biện pháp tổ chức hoạt động làm quen với tiếng Anh tích hợp phát triển kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi.
Biện pháp tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp phát triển KN so sánh kích
thước cho trẻ 5-6 tuổi là cách thức tổ chức hoạt động cho trẻ bước đầu tiếp xúc với
ngôn ngữ tiếng Anh trong đó đan cài, lồng ghép các mục tiêu phát triển KN so sánhkích thước như là thực hiện một cách có hiệu quả hành động so sánh các đại lượngkích thước như chiều dài, chiều rộng, chiều cao, xác định độ lớn của một vật trên cơ sởnắm vững phương thức thực hiện và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có phùhợp với những điều kiện nhất định
1.3 Sự phát triển biểu tượng kích thước ở trẻ 5-6 tuổi
Tiểu kết chương 1
Qua việc nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài, chúng tôi rút ra được một số kếtluận cho việc xây dựng một số BP tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp phát triển KN
so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi như sau:
Quá trình phát triển KN so sánh kích thước cho trẻ đã được các nhà tâm lý –giáo dục học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Họ chủ yếu tập trung nghiêncứu những vấn đề khái quát về đặc điểm hình thành, nội dung, phương pháp phát triểnkhả năng so sánh kích thước cho trẻ ở các độ tuổi khác nhau mà chưa chú trọng đến
KN so sánh kích thước của trẻ Theo các nhà nghiên cứu, đồ vật, đồ chơi có vai trò lớntrong việc giúp trẻ phát triển KN so sánh kích thước, thông qua đó trẻ sử dụng toàn bộgiác quan để có thể phân biệt sự khác nhau giữa 2 hay 3 đối tượng
Trẻ mẫu giáo sử dụng các thao tác, các phép thử để so sánh kích thước của cácđối tượng, điều này giúp trẻ tích lũy được kinh nghiệm và có khả năng phân biệt nhanh
Trang 7các chiều đo của vật Đặc biệt trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi có khả năng ước lượng kíchthước của vật bằng mắt, trẻ có thể phân biệt nhanh chóng kích thước của 2, 3 đốitượng mà không cần thực hiện các hành động thực tiễn như xếp chồng, xếp cạnh,
Bên cạnh các nghiên cứu về phát triển KN so sánh kích thước, các nhà giáo dụccũng đưa ra quan điểm về sự phát triển ngôn ngữ nước ngoài của trẻ nói chung và việctrẻ LQVTA ở độ tuổi mẫu giáo nói riêng nhưng lại chưa thực sự đi sâu vào nghiên cứucác hoạt động tổ chức cho trẻ LQVTA tại các trường mầm non Qua đó tôi cho rằngbản chất của quá trình phát triển khả năng so sánh kích thước cho trẻ ở trường mầmnon trong hoạt động LQVTA là tổ chức các hoạt động cho trẻ bước đầu tiếp xúc vớingôn ngữ tiếng Anh nhằm phát triển KN so sánh kích thước cho trẻ
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi rút ra rằng KN so sánh kích thước là khảnăng của con người thực hiện một cách có hiệu quả hành động so sánh các đại lượngkích thước như chiều dài, chiều rộng, chiều cao, xác định độ lớn của một vật trên cơ sởnắm vững phương thức thực hiện và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có phùhợp với những điều kiện nhất định
Những kết quả nghiên cứu trên là cơ sở lý luận để đưa ra một số BP tổ chứchoạt động LQVTA tích hợp KN so sánh kích thước cho trẻ 5 – 6 tuổi
Trang 8CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TIẾNG ANH TÍCH HỢP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SO SÁNH KÍCH THƯỚC CHO TRẺ 5 –
6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON I.1 Mục đích khảo sát thực trạng
2.2 Địa bàn và khách thể khảo sát
2.2.1 Địa bàn và thời gian khảo sát
- Mầm non Vinschool (quận Đống Đa), mầm non “Bống và Bin” (quận Bắc TừLiêm), thành phố Hà Nội
- Thời gian khảo sát: Từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 3 năm 2019
2.2.2 Khách thể điều tra
Chúng tôi tiến hành khảo sát trên:
+ 15 GV tiếng Anh phụ trách lớp 5-6 tuổi
+ 20 trẻ 5-6 tuổi đang học tại trường mầm non
2.3 Nội dung và phương pháp khảo sát thực trạng.
2.3.1 Nội dung khảo sát
2.3.2 Phương pháp khảo sát thực trạng
* Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (Anket)
* Phương pháp quan sát
* Phương pháp đàm thoại
* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
* Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê:
* Đôi nét về đối tượng điều tra
Trong số 15 GV được điều tra, có 100% GV đã từng dạy tiếng Anh lớp mẫugiáo lớn 5-6 tuổi và các GV đều có kinh nghiệm dạy Tiếng Anh lớp mẫu giáo lớn 5-6tuổi ít nhất là 1 năm Trong số 15 GV có 10 GV trình độ đại học, 4 GV trình độ cao
Trang 9đẳng và 1 GV có trình độ trung cấp, không có GV nào có trình độ sơ cấp Hầu hết các
GV đều đã có chứng chỉ tiếng Anh
* Thực trạng nhận thức của GV về khái niệm tích hợp phát triển kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ trong hoạt động LQVTA.
Chúng tôi thấy hầu hết các GV đã nắm được khái niệm tích hợp phát triển
kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ trong hoạt động LQVTA, điều này có ảnh hưởng rấtlớn tới quá trình tổ chức cũng như đưa ra một số BP để tổ chức hoạt động LQVTA tíchhợp phát triển kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ mầm non 5-6 tuổi
*Thực trạng nhận thức của GV về khái niệm BP tổ chức hoạt động LQVTA tích
hợp kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi
Chúng tôi thấy rằng phần lớn GV có quan niệm đúng đắn về khái niệm BP tổchức hoạt động LQVTA tích hợp kĩ năng so sánh kích thước.Tuy nhiên còn một vài
GV có nhầm lẫn về khái niệm này Nguyên nhân dẫn đến điều này có thể là do GV chỉchú trọng vào phần tìm nội dung dạy học cho trẻ mà chưa thực sự chú trọng vào nộidung phù hợp để giúp trẻ có thể phát triển kĩ năng so sánh kích thước
2.4.3 Thực trạng việc tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp phát triển kĩ năng
so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi
* Thực trạng về hình thức tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp kĩ năng so sánh
kích thước cho trẻ 5-6 tuổi của GV:
Chúng tôi thấy các GV đã thực sự quan tâm đến việc lựa chọn hình thức để
tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi Phầnlớn các GV lựa chọn hình thức tổ chức trong lớp và tập thể vì tin rằng sẽ đạt được hiệuquả như mong đợi Nguyên nhân cơ bản có thể do các GV thường lựa chọn các loạihình thức phổ biến, quen thuộc với trẻ và đặc biệt là dễ dàng thực hiện mà không mấtquá nhiều thời gian chuẩn bị
* Thực trạng về cách đánh giá kĩ năng so sánh kích thước của trẻ khi tham gia vào hoạt động LQVTA
Mỗi GV đều có quan điểm riêng khi đánh giá KN so sánh kích thước của trẻ khichúng tham gia vào hoạt động LQVTA tích hợp kĩ năng so sánh kích thước Phần lớncác GV đánh giá kĩ năng so sánh kích thước của trẻ qua quan sát, qua sản phẩm hoạtđộng, và cách giao tiếp của bé hàng
Trang 10Bên cạnh đó một vài GV thường đánh giá trẻ qua các bài test, đặt các câu hỏihoặc qua phiếu bài tập của trẻ nhưng chiếm tỉ lệ không cao
* Thực trạng về thời gian tổ chức hoạt động LQVTA.
Từ kết quả điều tra thực trạng, chúng tôi thấy đa số GV có cách sắp xếp hợp lí
về thời gian tổ chức hoạt động Đa số các GV đều cho rằng tổ chức 1 hoạt động trong
30 phút là hợp lí nhất để trẻ có thể tiếp thu hiệu quả
Bên cạnh đó, có một số GV cho rằng tổ chức hoạt động phải tùy theo bài học,
có thể dài hơn (40 hoặc 45 phút để kết thúc), như vậy mới đạt được hiệu quả mongmuốn cho trẻ
* Thực trạng phương pháp GV đã và đang sử dụng để phát triển KN so sánh kích thước cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động làm quen với tiếng Anh.
Qua khảo sát, tôi có thể thấy phương pháp tổ chức trò chơi được 100% GV
sử dụng để phát triển KN so sánh kích thước cho trẻ trong hoạt động LQVTA Phươngpháp này được các thầy cô rất tin tưởng mang lại hiệu quả tốt, nó giúp học sinh tiếpthu kiến thức theo kiểu học mà chơi, chơi mà học, rất tự nhiên mà gây làm cho họcsinh bị căng thẳng Ngoài ra, thực hiện hệ thống bài tập cũng chiếm tỉ lệ cao
* Thực trạng phương tiện GV sử dụng trong hoạt động LQVTA tích hợp kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi.
Thông qua kết quả điều tra thực trạng, chúng tôi thấy các GV thường lựachọn những phương tiện đơn giản, có sẵn, dễ tìm kiếm và gần gũi xung quanh trẻ Vậtthật và phương tiện media ( đĩa, clip, máy chiếu, ) là hai phương tiện có lựa chọn caonhất Tranh ảnh và đồ chơi cũng được GV lựa chọn nhiều, tuy nhiên hai phương tiệnnày đôi khi gây khó khăn trong việc tổ chức hoạt động tập thể vì có tính trừu tượngcao, gây khó khăn trong việc so sánh Đối với các phần mềm học tiếng Anh cũng đượcmột số GV lựa chọn, điều này cho thấy thực trạng hiện nay tại các trường mầm nonđang đưa các phần mềm vào để dạy trẻ ngày càng phổ biến nhằm thu hút trẻ hơn, tạođiều kiện thuận lợi hơn cho GV trong việc tổ chức hoạt động
* Thực trạng nội dung chủ đề của hoạt động LQVTA tích hợp kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi.
Tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổithường được các GV lựa chọn nhiều chủ đề khác nhau để giúp trẻ có thể hiểu và tiếp
Trang 11thu kiến thức một cách tốt nhất chúng tôi thấy thế giới động vật và trường mầm non làhai chủ đề được GV lựa chọn nhiều nhất, mỗi chủ đề
* Thực trạng mức độ thuận lợi và khó khăn GV gặp phải khi tổ chức hoạt
động LQVTA tích hợp phát triển kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi
Đa số GV cho rằng học liệu là thuận lợi nhất đối với họ Với kinh nghiệm vàtrình độ chuyên môn của các GV đều có thể đưa ra nội dung và hoạt động phù hợpgiúp trẻ có thể phát triển tốt nhất
Vấn đề số lượng học sinh trong 1 lớp đôi khi vẫn còn chưa đảm bảo, đây là vấn
đề mà số lượng GV gặp khó khăn nhiều nhất Nếu trong 1 lớp số học sinh quá đôngdẫn đến việc tổ chức hoạt động mất rất nhiều thời gian, kết quả đạt được không nhưmong đợi vì GV không thể bao quát toàn bộ trẻ
Phân bố thời gian hợp lí để tổ chức hoạt động và nội dung bài học phù hợp vớimức thời gian mà GV đã dự kiến thuận lợi cho trẻ có thể tiếp thu được tốt nhất Tuynhiên vẫn còn khó khăn với một số GV trong việc phân bố thời gian cho phù hợp vớihoạt động
Về vấn đề không gian lớp học, phần lớn các GV gặp thuận lợi trong việc tổchức tiết học trong một không gian lớp học tốt, thoáng mát, sạch sẽ, đầy đủ tiện nghi.Bên cạnh đó thì vẫn có một số GV đôi khi gặp khó khăn trong vấn đề này bởi lẽ lớpnhỏ so với số lượng học sinh hoặc
Vấn đề đào tạo chuyên môn đang dần được cải thiện, thuận lợi hơn Điều nàycho thấy trường mầm non đang chú trọng không chỉ vào nội dung dạy mà còn cả đàotạo chuyên môn cho các GV, đào tạo bài bản và có khoa học
Về vấn đề người hỗ trợ, hầu hết các GV đều thuận lợi Người hỗ trợ ở đây tức
là người giúp đỡ GV chính chuẩn bị, tổ chức hoạt động, giúp bao quát lớp học, quản líhọc sinh, hỗ trợ GV chính khi cần Ngoài ra người hỗ trợ ở đây còn có các phụ huynh,trên lớp kết hợp với ở nhà sẽ giúp trẻ tiếp thu tốt hơn
2.4.4 Thực trạng mức độ phát triển kĩ năng so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với tiếng Anh.
2.4.4.1 Tiêu chí đánh giá
*Tiêu chí 1: Trẻ thực hiện thao tác so sánh kích thước một cách chính xác theoyêu cầu bằng tiếng Anh
Trang 12Mức độ Điểm Nội dung
1 Không đạt Tối đa 1 điểm
+ Trẻ chưa xác định được vật lớn hơn hay nhỏ hơn, dài hơn hay ngắn hơn, cao hơn hay thấp hơn
+ Trẻ chưa đọc được kết quả + Trẻ chưa khái quát được kết quả so sánh bằng lời
+ Trẻ chưa khái quát được kết quả sosánh bằng lời
3 điểm
+ Trẻ so sánh được độ lớn, chiều caohay độ dài của 2 hay nhiều vật với nhau+ Trẻ đọc được kết quả so sánh
+ Trẻ chưa khái quát được kết quả so sánh bằng lời
3 Thành
thạo
Tối đa 5 điểm
4 điểm + Trẻ so sánh được hai hay nhiều vật
với nhau một cách chính xác
+ Trẻ đọc được kết quả so sánh+ Trẻ gặp khó khăn trong việc kháiquát kết quả so sánh bằng lời
5 điểm + Trẻ so sánh được hai hay nhiều vật
với nhau một cách chính xác
+ Trẻ đọc được kết quả so sánh+ Trẻ khái quát được kết quả so sánh bằng lời một cách nhanh chóng
+ Trẻ so sánh hai hay nhiều vật với nhau một cách chậm chạp
+ Trẻ khái quát kết quả so sánh một cách chậm chạp
Mức độ 2: Lúc chậm lúc nhanh ( 2 điểm )
Trang 13+ Trẻ so sánh hai hay nhiều vật với tốc độ không ổn định, lúc nhanh lúc chậm.+ Trẻ khái quát kết quả so sánh một cách chậm chạp
Mức độ 3: Nhanh ( 2,5 điểm )
+ Trẻ so sánh hai hay nhiều vật với nhau với tốc độ nhanh
+ Trẻ khái quát kết quả so sánh với tốc độ nhanh
*Tiêu chí 3: Tính độc lập trong quá trình thực hiện nhiệm vụ so sánh kíchthước
Mức độ 1: Không đạt ( 1,5 điểm )
+ Trẻ thờ ơ, thực hiện nhiệm vụ một cách gượng ép
+ Trẻ không tự thực hiện được nhiệm vụ
Mức độ 2: Đạt ( 2 điểm )
+ Trẻ hứng thú thực hiện nhiệm vụ khi tham gia hoạt động
+ Khi thực hiện nhiệm vụ, trẻ cần có bạn hoặc GV giúp đỡ thực hiện nhiệm vụ
Mức độ 3: Thành thạo ( 2,5 điểm )
+ Trẻ hào hứng thực hiện nhiệm vụ
+ Trẻ thực hiện nhiệm vụ mà không cần bất kì sự giúp đỡ nào
2.4.4.2 Thang đánh giá
*Mức độ 1: Thành thạo: 7,5 < x < 10 điểm
*Mức độ 2: Đạt : 5 ≤ x ≤ 7,5 điểm
*Mức độ 3: Không đạt : x < 5 điểm
2.4.4.3 Phân tích kết quả khảo sát.
Thông qua kết quả điều tra thực trạng mức độ phát triển kĩ năng so sánh kíchthước trong hoạt động LQVTA của trẻ 5-6 tuổi, tôi xin đưa ra bảng số liệu khái quátnhư sau
Bảng 2.10 Thực trạng mức độ phát triển kĩ năng so sánh kích thước trong hoạt
động LQVTA của trẻ 5-6 tuổi
Từ kết quả của bảng số liệu, chúng tôi thấy mức độ phát triển kĩ năng so sánhkích thước trong hoạt động LQVTA của trẻ khá tốt, phần lớn trẻ đều ở mức độ đạt
Trang 14chiếm 60% Số lượng trẻ đạt ở mức thành thạo còn thấp (5%) trong khi mức độ khôngđạt chiếm tỉ lệ cũng khá cao với 35% trong tổng số 20 trẻ Nguyên nhân chủ yếu là dotrẻ gặp khó khăn trong việc biểu đạt kết quả so sánh bằng ngôn ngữ Tiếng Anh, trẻchưa được luyện tập nhiều ở trong lớp cũng như ở nhà và nhiều trẻ còn chưa thực sựtập trung lắng nghe khi cô đưa ra yêu cầu Bên cạnh đấy, trong quá trình dự giờ cáctiết học LQVTA tích hợp phát triển kĩ năng so sánh kích thước, chúng tôi thấy các GVcũng chưa thực sự chú trọng vào việc hướng dẫn và động viên trẻ khái quát kết quả sosánh bằng lời.
Dưới đây là biểu đồ thể hiện thực trạng mức độ phát triển kĩ năng so sánh kíchthước trong hoạt động LQVTA của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo phần trăm:
5.00%
35.00%
60.00%
Không đạt Đạt Thành thạo
Biểu đồ 2.1 Thực trạng mức độ phát triển kĩ năng so sánh kích thước trong hoạt
động LQVTA của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Từ biểu đồ trên, chúng tôi thấy có sự chênh lệch khá lớn giữa ba mức độ thànhthạo, đạt và không đạt Tuy nhiên, thông qua bảng 2.10 cũng như biểu đồ 2.1 chúng tamới chỉ thấy mức độ phát triển chung của trẻ mà chưa thấy được sự phát triển mộtcách cụ thể Vì vậy, chúng tôi tiến hành khải sát và lập bảng mức độ phát triển kĩ năng
so sánh kích thước trong hoạt động LQVTA của trẻ qua các bài tập với kết quả nhưsau:
Mức độ Thành thạo Đạt Không đạt
Số lượng % Số lượng % Số lượng %
Trang 15Bài tập 1 4 20 10 50 6 30Bài tập 2 2 10 10 50 8 40Bài tập 3 3 15 6 30 11 55
Bảng 2.11 Thực trạng mức độ phát triển KN so sánh kích thước trong hoạt động
LQVTA của trẻ qua các bài tập
Dựa vào kết quả của bảng số liệu, chúng tôi thấy có sự chênh lệch khá lớn giữacác bài tập Đối với dạng bài tập thứ nhất mức độ thành thạo chỉ chiếm 20% trong khibài tập thứ nhất và bài tập thứ hai có tỉ lệ thấp hơn là 10% và 15% Bên cạnh đấy, mức
độ không đạt yêu cầu ở bài tập 3 cũng rất cao chiếm hơn một nửa số học sinh là 55%trong khi hai bài tập còn lại chỉ dao động từ 30%
Bên cạnh đó, từ kết quả của cả ba bài tập trên chúng tôi cũng nhận thấy KN sosánh kích thước của trẻ khi sử dụng tiếng Anh còn yếu, một số trẻ còn lúng túng khiphân biệt được kích cỡ của 3 đối tượng và đặc biệt đa số trẻ đều gặp khó khăn trongviệc khái quát lại kết quả so sánh khi sử dụng tiếng Anh, điều này bởi lẽ GV chưa thực
sự chú trọng vào việc rèn luyện thường xuyên những KN này cho trẻ Ngoài ra, trongquá trình khảo sát, chúng tôi thấy nhiều trẻ vẫn chưa thực sự hào hứng, tham gianhiệm vụ một cách tích cực, tốc độ thực hiện còn chậm; do đó số lượng trẻ đạt điểmtối đa trong tiêu chí 2 và tiêu chí 3 là rất ít Đó cũng chính là cơ sở để chúng tôi đưa ramột số BP tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp KN so sánh kích thước cho trẻ mẫugiáo phù hợp với thực tế và khả năng hiện tại của trẻ đồng thời kiểm chứng tính khảthi của đề tài
Tiểu kết chương 2
Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp phát triển KN
so sánh kích thước cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi hiện nay cho thấy phần lớn GV đã nhậnthức đúng đắn về việc sử dụng tiếng Anh để tổ chức cho trẻ so sánh kích thước tronghoạt động làm quen với toán Tuy nhiên việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục này của GVlại diễn ra không thường xuyên do nhiều nguyên nhân khác nhau
Kết quả khảo sát việc GV áp dụng các BP tổ chức hoạt động LQVTA tích hợp
KN so sánh kích thước cho trẻ 5-6 tuổi cũng còn nhiều bất cập Nhiều GV còn gặp khókhăn trong việc tổ chức hoạt động, có thể do số lượng học sinh hoặc do chưa có nhữnghoạt động phù hợp tổ chức cho trẻ Điều này dẫn tới hiệu quả của việc thực hiện nhiệm