MAI HỒNG NHUNGĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN SAU TỔN THƯƠNG TỦY SỐNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI TỈNH SƠN LA NĂM 2018 Chuyên ngành: Quản lý bệnh viện Mã số: 60.72.07.01
Trang 1MAI HỒNG NHUNG
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN SAU TỔN THƯƠNG TỦY SỐNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG TẠI TỈNH SƠN LA NĂM 2018
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
HÀ NỘI – 2018
Trang 2MAI HỒNG NHUNG
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN SAU TỔN THƯƠNG TỦY SỐNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG TẠI TỈNH SƠN LA NĂM 2018
Chuyên ngành: Quản lý bệnh viện
Mã số: 60.72.07.01
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS.Đỗ Đào Vũ
2 PGS.TS.Trần Thị Thanh Hương
HÀ NỘI – 2018
Trang 3ASIA American Spinal Cord Injury Association
SCIM Spinal Cord IndependenceMeasure
Trang 4Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Sơ lược giải phẫu chức năng tuỷ sống 3
1.2 Đại cương về tổn thương tủy sống 3
1.2.1 Định nghĩa tổn thương tủy sống 3
1.2.2 Dịch tễ học tổn thương tủy sống 3
1.2.3 Nguyên nhân tổn thương tủy sống 5
1.2.4 Dấu hiệu lâm sàng của TTTS 5
1.2.5 Một số thương tật thứ cấp thường gặp 7
1.2.6 Phân loại tổn thương tủy sống 8
1.3 Phục hồi chức năng tổn thương tủy sống 9
1.3.1 Định nghĩa 9
1.3.2 Các giai đoạn PHCN cho bệnh nhân tổn thương tủy sống 9
1.3.3 Những khó khăn của bệnh nhân tổn thương tủy sống ở giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng 11
1.4 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tổn thương tủy sống và phương pháp đánh giá 12
1.4.1 Khái niệm chất lượng cuộc sống 12
1.4.2 Phương pháp đánh giá chất lượng cuộc sống 12
1.4.3 Các bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân tổn thương tủy sống 14
1.4.4 Giới thiệu về bộ công cụ đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân sau tổn thương tủy sống tại cộng đồng 15
1.5 Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người bệnh TTTS 17
1.5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 17
1.5.2 Một số nghiên cứu về chất lượng của bệnh nhân TTTS ở Việt Nam giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng 21
Trang 51.7.1 Tỉnh Sơn La 24
1.7.2 Bệnh viện Phục Hồi chức Năng tỉnh Sơn La 25
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 27
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 27
2.2.4 Địa điểm nghiên cứu 28
2.2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 28
2.3 Các tiêu chuẩn đánh 31
2.4 Xác định biến số nghiên cứu 31
2.4.1 Biến số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 31
2.4.2 Biến số về khả năng độc lập của bệnh nhân TTTS (SCIM) 31
2.4.3 Các biến số về mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS 32
2.4.4 Biến số về yếu tố ảnh hưởng giữa chất lượng cuộc sống với yếu tố cá nhân, xã hội và dịch vụ y tế 32
2.5 Phân tích số liệu 32
2.5.1 Xử lý số liệu nghiên cứu định lượng 32
2.5.2 Xử lý số liệu nghiên cứu định tính 32
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 32
2.7 Sai sô của nghiên cứu và cách khắc phục 33
2.7.1 Sai số có thể gặp của nghiên cứu 33
2.7.2 Biện pháp khắc phục 33
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 34
Trang 63.3.1 Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống theo bảng
đánh giá mức độ độc lập SCIM 36
3.3.2 Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống theo bảng đánh giá mức độ đau VAS 38
3.3.3 Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống theo bảng đánh giá mức độ đau VAS và mức độ độc lập SCIM 39
3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống 39
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 44
4.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 44
4.2.Chất lượng sống của bệnh nhân tổn thương tủy sống 44
4.3 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của BN sau TTTS 44 DỰ KIẾN KẾT LUẬN 44
DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.2 Thông tin chung của bệnh nhân 34
Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân theo mức độ tổn thương 35
Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân theo vị trí tổn thương 35
Bảng 3.5 Phân bố bệnh nhân theo nguyên nhân 36
Bảng 3.6 Phân bố bệnh nhân theo khả năng tự chăm sóc bản thân 36
Bảng 3.7 Phân bố bệnh nhân theo chức năng hô hấp và cơ tròn 37
Bảng 3.8 Phân bố bệnh nhân theo khả năng di chuyển trong phòng và ra bồn cầu 37
Bảng 3.9 Phân bố bệnh nhân theo khả năng di chuyển trong nhà và bên ngoài 38 Bảng 3.10 Phân bố mức độ đau của bệnh nhân theo thang điểm VAS 38
Bảng 3.11 Phân bố chất lượng cuộc sống bệnh nhân chấn thương tủy sống theo đánh giá mức độ đau VAS và mức độ độc lập SCIM 39
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa tuổi và chất lượng sống của bệnh nhân 39
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa giới và chất lượng sống của bệnh nhân 39
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa phương pháp điều trị và chất lượng sống của bệnh nhân 40
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thời gian điều trị và chất lượng sống của BN 40
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa mức độ tổn thương và chất lượng sống của bệnh nhân 40
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa vị trí tổn thương và chất lượng sống của bệnh nhân 41
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa nghề nghiệp (hiện tại) và chất lượng sống của bệnh nhân 41
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa điều kiện kinh tế và chất lượng sống của bệnh nhân 41 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và chất lượng sống của BN .42
Trang 8sống của bệnh nhân 42Bảng 3.23 Mối liên quan giữa sự hài lòng với thái độ của cán bộ y tế và
chất lượng sống của bệnh nhân 43Bảng 3.24 Mối liên quan giữa khoảng cách từ nhà đến viện và chất lượng
sống của bệnh nhân 43
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổn thương tủy sống (TTTS) đã và đang là vấn đề cấp bách của y họcđối với mọi quốc gia, mọi dân tộc trên thế giới hiện nay TTTS để lại nhiều dichứng nặng nề đặc biệt là chức năng vận động Nó làm giảm hoặc mất hoàntoàn khả năng vận động chủ yếu của con người, gây rối loạn cảm giác và ảnhhưởng đến chức năng của các cơ quan khác như bàng quang, đường ruột, hôhấp, tim mạch và loét do tỳ đè dẫn tới làm giảm một cách đáng kể chất lượngcuộc sống [1] Nghiêm trọng hơn, TTTS làm cho BN mất khả năng độc lậptrong cuộc sống, do đó mất cơ hội việc làm, cơ hội tham gia vào các hoạtđộng xã hội và thay đổi tâm lý sức khỏe nặng nề [2]
Theo số liệu điều tra dịch tễ học, hàng năm trên thế giới tỷ lệ TTTSthay đổi theo vùng và có xu hướng gia tăng với 80% nạn nhân là nam giới,đang trong độ tuổi lao động (lứa tuổi đóng góp nhiều nhất cho xã hội) [3].Điều này cho thấy TTTS không chỉ ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sốngcủa người bệnh mà còn là gánh nặng cho cả gia đình và xã hội, gây thiệt hạilớn về kinh tế của mỗi quốc gia Theo Mawson và cộng sự (1988) ở Mỹ phảichi phí tới 66 triệu USD để điều trị loét đè ép cho các BN TTTS mới tại cácbệnh viện/ năm [4] Krueger H và cộng sự (2013) cũng cho biết hàng năm,gánh nặng kinh tế liên quan đến TTTS ở Canada là khoảng 2,67 tỷ USDtrong đó bao gồm các chi phí nhập viện, thiết bị và sủa đổi nhà cửa, chăm sóc
và người chăm sóc…[5]
Tổn thương tuỷ sống từng được mô tả là “một bệnh không chữa được”.Cho đến Thế chiến thứ hai Lugwing Guttman và George Bedbrook cho thấyrằng nếu được chăm sóc và điều trị đúng cách thì những người bị TTTS cóthể sống một cuộc sống gần như người bình thường
Chất lượng cuộc sống của BN sau TTTS phụ thuộc nhiều vào việc chămsóc, phục hồi chức năng, định hướng nghề nghiệp và tái hòa nhập cộng đồng.Hiện nay, ở một số nước trên thế giới đã xây dựng nhiều Trung tâm PHCNhiện đại đồng thời hình thành mạng lưới chăm sóc cho BN TTTS (bao gồm cácbác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên và nhân viên xã hội, chuyên gia hướng
Trang 10nghiệp) Bệnh nhân khi ra viện trở về cộng đồng sẽ được quan tâm theo dõimột cách có hệ thống, được tư vấn tái khám thường xuyên để phát hiện cácbiến chứng và điều trị kịp thời, được tư vấn và trợ giúp để tiếp tục làm côngviệc cũ hoặc tham gia đào tạo nghề và tìm việc làm mới [6] Điều này giúp cho
BN có nhiều có hội được PHCN, giảm các thương tật thứ cấp, độc lập trongsinh hoạt và hòa nhập xã hội, từng bước cải thiện chất lượng sống
Tại Việt Nam vấn đề điều trị và PHCN cho BN TTTS cũng đang ngàycàng được quan tâm Đã có rất nhiều nghiên cứu về hiệu quả PHCN vậnđộng, cảm giác, rối loạn chức năng bàng quang, rối loạn chức năng tim mạch
và hô hấp… như nghiên cứu của các tác giả Đỗ Đào Vũ và Cao Minh Châu,Lương Tuấn Khanh, Nguyễn Phương Sinh [7], [8], [9]… Tuy nhiên vấn đềchất lượng cuộc sống của bệnh nhân TTTS còn ít được quan tâm, đặc biệt là
ở giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng Phần lớn các bệnh nhân TTTS thường chỉđược quan tâm điều trị trong giai đoạn cấp, sau khi điều trị PHCN ra việnchưa được theo dõi và đánh giá về tình trạng sức khỏe, khả năng độc lập trongsinh hoạt, nghề nghiệp, quan hệ xã hội… Do vậy để góp phần cung cấp cácthông tin thiết thực, giúp các nhà chuyên môn có biện pháp cải thiện, nângcao chất lượng điều trị, đồng thời phối hợp với các nhà hoạch định chính sách
xã hội xây dựng phát triển các mạng lưới PHCN dựa vào cộng đồng, cáctrung tâm hướng nghiệp, giúp cho BN TTTS tái hòa nhập cộng đồng và có
chất lượng cuộc sống tốt hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau tổn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại Tỉnh Sơn La năm 2018”.
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược giải phẫu chức năng tuỷ sống
Tủy sống là phần thần kinh trung ương nằm trong ống sống nhưngkhông chiếm hết chiều dài ống sống Tủy sống dài 45cm, nặng 30gram,đường kính thay đổi theo từng đoạn Ở trên, tủy sống liên tiếp với hành não ởngang mức bờ trên đốt sống cổ 1, đầu dưới tủy sống ở ngang mức bờ trên đốtsống thắt lưng 2 Tủy sống có hình trụ dẹt, màu trắng xám, có hai chỗ phình làphình cổ phình thắt lưng – cùng Tủy sống là nơi đi qua của các bó chất trắngdẫn truyền xung động thần kinh từ ngoại vi về não và ngược lại, tủy sốngcũng là trung tâm phản xạ tủy Tủy sống được cấu tạo bằng chất trắng bao bọc
ở ngoài và chất xám bao bọc ở trong, ở giữa chất xám có ống trung tâm [10]
[11].
1.2 Đại cương về tổn thương tủy sống
1.2.1 Định nghĩa tổn thương tủy sống
Tổn thương tủy sống là tình trạng bệnh lý gây liệt hoặc giảm vận động
tứ chi hoặc hai chân kèm theo các rối loạn khác như: cảm giác, hô hấp, timmạch, bàng quang, đường ruột, loét do tì đè v.v do nguyên nhân chấnthương hoặc do các bệnh lý khác của tủy sống, thường để lại nhiều di chứngnặng nề và dẫn tới tàn tật nếu không được điều trị, chăm sóc và phục hồi chứcnăng tốt [12]
1.2.2 Dịch tễ học tổn thương tủy sống
1.2.2.1 Tình hình TTTS trên thế giới
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, tỷ lệ TTTS có xu hướng ngàycàng gia tăng ở mỗi quốc gia Theo Cripps R.A và cộng sự (2011), tỷ lệ hiệnmắc TTTS toàn cầu khoảng 236- 1.009 người/ 1 triệu dân [13] Nghiên cứu
Trang 12của Singh A và cộng sự (2013) cho biết tỷ lệ TTTS cao nhất tại ở Hoa Kỳ(906 người/triệu dân) và thấp nhất ở vùng Rhone-Alpes, Pháp (250 người/ 1triệu dân) và Helsinki, Phần Lan (280 người/1 triệu dân) Đối với các quốc giatrong khu vực Bắc Mỹ, tỷ lệ mắc TTTS hàng năm cao nhất ở Alaska (83người/1 triệu dân) và Mississipi (77người/ 1 triệu dân) và thấp nhất ởAlabama (29,4 người/1 triệu dân) [14].
Tại Ấn Độ, năm 2004, Sinha D cho biết tỷ lệ TTTS ở Ấn độ là 20.000trường hợp/năm, trong đó 80% BN trong độ tuổi lao động [15] Theo số liệunăm 2011, Schoenfeld và cộng sự cho biết tỷ lệ TTTS trong quân đội Hoa Kỳ
là 429 trường hợp/triệu quân nhân [16] Tại Canada, năm 2006, theoGwynedd E và cộng sự tỷ lệ tổn thương tủy sống là 42,4 người/triệu dân, tậptrung độ tuổi 15 đến 64 tuổi [17]
1.2.2.2 Tình hình TTTS tại Việt Nam
Ở nước ta mặc dù chưa có nghiên cứu thống kê đầy đủ và đại diện cho
cả nước về tỷ lệ TTTS Nhưng trong những năm gần đây tỷ lệ này ngày mộttăng do tốc độ phát triển nhanh của việc đô thị hóa, đặc biệt là về giao thôngtại các thành phố lớn trên cả nước Theo số liệu thống kê tại Bệnh viện Chấnthương Chỉnh hình và Chợ rẫy có khoảng 1.500 ca TTTS mỗi năm
Vũ Thị Hiền Trinh (2005) cho thấy số bệnh nhân TTTS đến điều trị tạiTrung tâm Phục hồi chức năng – Bệnh viện Bạch Mai tăng dần theo từngnăm Năm 2004 số BN TTTS cao gấp 6,4 lần so với năm 2000, trong đó tỷ lệnam cao gấp 3,2 lần nữ, độ tuổi 20-59 chiếm 79,3%[18]
Theo số liệu khảo sát năm 2008 tại Bệnh viện Bạch Mai có khoảng 200bệnh nhân TTTS đến điều trị Số lượng BN tăng đều trong các năm sau vàđến nay có hơn 1000 bệnh nhân đã được điều trị tại Trung tâm Phục hồi chứcnăng [9]
Tại Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Sơn La, theo số liệu thống kê từ
Trang 13năm 2010 đến nay có khoảng hơn 100 bệnh nhân TTTS đến điều trị tại Bệnh viện.
1.2.3 Nguyên nhân tổn thương tủy sống
Có nhiều nguyên nhân gây TTTS:
- Do chấn thương cột sống bao gồm: TN giao thông, TN lao động, TNsinh hoạt, TN thể thao, chiến tranh, hành hung
- Các bệnh tủy sống: U tủy, ung thư, xơ rải rác, nhiễm trùng…
- Các biến dạng cột sống: vẹo, thoát vị, gai đôi…
- Bệnh mạch máu hay huyết khối mạch tủy…
Nhưng các nghiên cứu trên thế giới cho thấy TTTS phần lớn là do chấnthương, như Krebs và Pannek báo cáo 30/34 bệnh nhân (85,7%) là do chấnthương cột sống Nguyên nhân tai nạn giao thông, ngã cao luôn chiếm vị tríhàng đầu, rồi đến tai nạn thể thao, tai nạn lao động [19]; Theo nghiên cứu củaPagliacci MC và cộng sự có 67,5% BN tổn thương tủy do chấn thương và32,5% số BN tổn thương tủy không do chấn thương Các bệnh nhân nhómTTTS do chấn thương có tuổi đời trẻ hơn nhóm không do chấn thương (tuổitrung bình là 34 so với nhóm kia là 58 tuổi) [20]
Ở Việt Nam, theo Cầm Bá Thức tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất
và Đỗ Đào Vũ tai nạn giao thông là nguyên nhân gây chấn thương cột sống cổcao nhất 44,4%, rồi đến tai nạn lao động 33,3% và tai nạn sinh hoạt 22,2% [6][7] Vũ Thị Hiền Trinh cho biết TTTS do TNGT chiếm tỷ lệ cao nhất 44,6%,tiếp theo là TNLĐ chiếm 32,6%, TNSH chiếm 21,7%, nguyên nhân khácchiếm 1,1% [18]
1.2.4 Dấu hiệu lâm sàng của TTTS [21]
1.2.4.1 Các dấu hiệu lâm sàng
Dấu hiệu lâm sàng của TTTS phụ thuộc vào hai yếu tố: vị trí tổnthương và mức độ tổn thương Tủy sống bị tổn thương sẽ có các biểu hiện rối
Trang 14loạn về vận động và cảm giác.
- Rối loạn vận động:
• Liệt vận động: mất cảm giác vận động dưới mức tổn thương
• Liệt tứ chi: có thể kèm liệt cơ hô hấp và cơ hoành Khó khănkhi thở, ho và khạc đờm
• Liệt hai chân kèm liệt cơ thân mình
- Rối loạn cảm giác:
• Rối loạn cảm giác nông: cảm giác đau, nóng lạnh, sờ mó…
• Rối loạn cảm giác sâu: vị trí, tư thế…
• Rối loạn dị cảm: tê bì, kiến bò…
• Rối loạn cơ tròn: đại tiểu tiện không tự chủ
• Mất khả năng kiểm soát bàng quang và đường ruột
• Tăng phản xạ hoặc co cứng
• Giảm khả năng tình dục
1.2.4.2 Diễn biến lâm sàng
- Giai đoạn choáng tủy:
Choáng tủy là hậu quả của việc cắt đứt về mặt sinh lý và giải phẫu củatủy sống, là hiện tượng mất hoàn toàn tạm thời của tất cả hoặc hầu hết cáchoạt độngphản xạ tủy tại mức tổn thương và dưới mức tổn thương.Giai đoạnnày thường xảy ran gay sau tai nạn, biểu hiện lâm sàng như sau:
• Liệt mềm nhẽo hoàn toàn dưới mức thương tổn
• Mất hoàn toàn cảm giác nông và cảm giác sâu dưới mức thương tổn
• Mất các phản xạ gân xương, dấu hiệu babinski (phản xạ da bànchân) hai bên không đáp ứng
• Đại tiểu tiện không tự chủ
Giai đoạn này khó xác định vị trí, mức độ tổn thương Thời gian từ khi
bị thương đến khi xuất hiện hồi phục đầu tiên càng ngắn thì kết quả phục hồi
Trang 15chức năng càng tốt
- Giai đoạn hồi phục:
Bắt đầu khi có sự xuất hiện trở lại của bất kỳ dấu hiệu thần kinh nàogồm: phản xạ, vận động, cảm giác ở dưới mức thương tổn Lúc này bệnh cảnhlâm sàng rõ rệt tùy theo vị trí và mức độ tổn thương với các hội chứng rốiloạn vận động, rối loạn cảm giác, rối loạn cơ tròn, rối loạn dinh dưỡng, rốiloạn thần kinh thực vật
- Về hệ tiết niệu: TTTS ảnh hưởng đến thần kinh chi phối bàng quanggây nên tiểu tiện không tự chủ, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu, sỏiđường tiết niệu, viêm đài bể thận
- Về đường ruột: không có khả năng kiểm soát đường ruột tự chủ do đógây đại tiện khó khăn, không tự chủ
- Về hô hấp: hạn chế chức năng hô hấp do yếu cơ thành bụng và ngực, dễ
bị viêm phổi, suy hô hấp
Trang 16chậm, cảm giác hốt hoảng, lo sợ
- Teo cơ: thường gặp do bệnh nhân bất động lâu, không vận động nên cơbắp yếu và teo nhỏ dần (cơ giảm sức mạnh, kích thước và sự đàn hồi)
- Cứng khớp (co rút cơ, mô mềm):
Là tình trạng hạn chế tầm vận động thu động của khớp, do nguyên nhântại khớp, cơ hoặc phần mềm quanh khớp Bất động khớp trong một thời giandài sẽ làm giảm chiều dài của sợi cơ trong tư thế nghỉ ngơi, các sợi collagentrong bao khớp và các phần mềm khác của khớp co ngắn lại, dẫn đến tầm vậnđộng của khớp sẽ dần bị hạn chế
Hậu quả gây biến dạng khớp ở tư thế gập, duỗi hoặc xoay, ảnh hưởngtrực tiếp đến khả năng vận động, đi lại cũng như thực hiện các sinh hoạt tựchăm sóc hàng ngày của bệnh nhân Có thể làm hạn chế việc chăm sóc daxung quanh, gây ra loét
- Đau:
+ Đau tiếp nhận:
Đau cơ xương khớp: đau với tính chất đau tăng khi vận động và giảmkhi nghỉ ngơi, đau âm ỉ, đau nhức Có thể do một số nguyên nhân: hội chứngvận động quá mức, co cứng, đau do các bệnh lý (thoái hóa, loãng xương)
Đau nội tạng: do một số bệnh lý (sỏi tiết niệu; rối loạn chức năng bàngquang, ruột), biểu hiện: đau liên tục, cảm giác bỏng rát, bó chặt
+ Đau thần kinh: xuất hiện ở những vùng bị rối loạn cảm giác với đặcđiểm đau như dao đâm, đạn bắn, điện giật, bỏng rát, đột ngột
1.2.6 Phân loại tổn thương tủy sống
Có nhiều cách phân loại TTTS, nhưng hiện nay thế giới thường sửdụng cách phân loại của Hiệp hội tổn thương tủy sống Mỹ ASIA: (AmericanSpinal Cord Injury Assocition) Phân loại này dựa vào sự chi phối thần kinh
Trang 17của tứ chi để đánh giá theo tổng điểm vận động và cảm giác, chia TTTS làm 5mức độ[24]
+ ASIA A: Tổn thương hoàn toàn: không còn chức năng vận động, cảmgiác ở dưới mức tổn thương thần kinh, bao gồm cả các khoanh tủy cùng S4-S5.+ ASIA B: Tổn thương không hoàn toàn: chức năng cảm giác còn nhưngmất chức năng vận động dưới mức tổn thương thần kinh, bao gồm cả cáckhoanh tủy cùng S4-S5
+ ASIA C: Tổn thương không hoàn toàn: còn chức năng vận động dướimức thần kinh tổn thương và hơn nửa số cơ chính dưới mức tổn thương cóbậc cơ dưới 3
+ ASIA D: Tổn thương không hoàn toàn: còn chức năng vận độngdưới mức tổn thương thần kinh và hơn nửa số cơ chính dưới mức tổn thương
có bậc cơ lớn hơn hoặc bằng 3
+ ASIA E = Bình thường: chức năng vận động, cảm giác bình thường
1.3 Phục hồi chức năng tổn thương tủy sống
1.3.1 Định nghĩa
Phục hồi chức năng bệnh nhân bị TTTS là dùng các biện pháp y học, xãhội học, giáo dục học, kinh tế và kỹ thuật PHCN nhằm đảm bảo cho họ tái hội nhập xã hội, có cơ hội bình đẳng tham gia các hoạt động trong gia đình,
xã hội, có cuộc sống bình thường tối đa so với hoàn cảnh của họ
1.3.2 Các giai đoạn PHCN cho bệnh nhân tổn thương tủy sống
- Giai đoạn đầu: Là giai đoạn có tính chất cấp tính, từ lúc BN bị TTTS
đến lúc cột sống đã ổn định Trong giai đoạn này chăm sóc cho bệnh nhân làquan trọng nhất, tốt nhất là chăm sóc tại bệnh viện hoặc trung tâm y tế
Mục tiêu:
+ Tìm nguyên nhân và giải quyết nguyên nhân
+ Phòng ngừa các thương tật thứ cấp: loét do đè ép, nhiễm trùng phổi,
Trang 18nhiễm trùng tiết niệu, co rút, cứng khớp.
+ Chăm sóc đường tiết niệu
+ Chăm sóc đường tiêu hóa
+ Chăm sóc đường hô hấp
- Giai đoạn hai: Là giai đoạn hồi phục của tủy sống, có thể phục hồi tại
viện hoặc tại nhà Trong giai đoạn này bệnh nhân học cách thích nghi với cơ thể tàn tật của mình, biết cách tự chăm sóc bản thân bằng các khả năng còn lạinhằm ngăn ngừa các biến chứng
Mục tiêu:
+ Hướng dẫn bệnh nhân tự chăm sóc da
+ Phục hồi chức năng đường tiết niệu
+ Phục hồi chức năng đường ruột
+ Tập sức mạnh cơ và tập di chuyển
+ Tập với xe lăn
+ Tập luyện với các dụng cụ trợ giúp
+ Thực hiện các hoạt động trị liệu (vệ sinh cá nhân, tự ăn uống, tự mặc quần áo)
- Giai đoạn ba: Tái hội nhập vào cộng đồng và xã hội Đây là giai đoạn
rất quan trọng
Mục tiêu của giai đoạn này là tạo cho người bệnh một môi trườngthích nghi với gia đình và cộng đồng, giải quyết được vấn đề tâm lý củangười bệnh, làm giảm bớt gánh nặng cho xã hội
Tạo điều kiện cho người tàn tật đi lại dễ dàng: đường bằng phẳng, cócầu bắc qua kênh rãnh, có xe lăn cho người bệnh, nhà cao tầng phù hợp với
xe lăn, các vật xung quanh nhà vừa với tầm với; nhà bếp, nhà vệ sinh bố tríphù hợp
Tham gia mọi sinh hoạt của gia đình và xã hội
Trang 19Tư vấn, tạo điều kiện cho bệnh nhân tham gia lao động để có thêm thu
nhập cho bản thân, gia đình và hướng nghiệp [23]
1.3.3 Những khó khăn của bệnh nhân tổn thương tủy sống ở giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng [25]
Người bệnh TTTS ở giai đoạn này có thể phải đối mặt với một số khókhăn về vận động, tự chăm sóc bản thân, học tập,việc làm, thay đổi tâm lý vàkhả năng hòa nhập, tham gia các hoạt động của gia đình và xã hội
Người bệnh tổn thương tuỷ sống có thể bị mất cảm giác ở da nên da
có thể bị loét, bị bỏng mà không biết
• Khó khăn trong việc chăm sóc bản thân
Người bệnh tổn thương tuỷ sống sẽ gặp khó khăn khi thực hiện cácchức năng sinh hoạt hàng ngày như đánh răng, rửa mặt, đi vệ sinh, tắm rửa,chăm sóc cơ thể Tuy nhiên họ vẫn có thể tự chăm sóc được mình và làmđược nhiều việc nếu được hướng dẫn đúng và có sự giúp đỡ của gia đình
• Thay đổi tâm lý
Đa số người bị tổn thương tuỷ sống là trẻ lớn hoặc người trẻ đang tuổilao động Khi tuỷ sống bị tổn thương thì người đó mất hết khả năng vận động
và cảm giác ở một phần cơ thể như là phần đã chết Gia đình và bản thân họkhông chấp nhận điều này Họ vô cùng lo sợ và không biết tương lai ra sao
Họ trở nên rất chán nản, thất vọng, cáu gắt và không hợp tác, thậm chí từ chối
sử dụng xe lăn bởi vì điều đó là chấp nhận mình không còn khả năng đi lại
• Học hành của trẻ bị tổn thương tuỷ sống
Trang 20Trẻ bị gián đoạn hoặc không thể tiếp tục theo học ở trường do khókhăn đi lại, do các vấn đề về da, đường tiết niệu, đường ruột, không thể kiểmsoát được Mặt khác, do tâm lý thay đổi nên trẻ và gia đình không muốn tiếptục học tập
• Khó khăn duy trì các công việc trước đây đã làm
Người bị liệt 2 chân, đặc biệt liệt tứ chi sẽ rất khó khăn khi đi lại, làm việc Do vậy cần tìm ra các công việc thích hợp sau này
• Khó khăn về mặt xã hội, gia đình
Người bị tổn thương tuỷ sống khó tham gia công việc của gia đình và
xã hội, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội Vì vậy giúp cho họ cóđược việc làm phù hợp là vô cùng quan trọng
Những khó khăn mà người bị tổn thương tuỷ sống phải đối mặt vẫn cókhả năng khắc phục nếu họ được hỗ trợ những điều kiện cần thiết và trongmột môi trường thuận lợi
1.4 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tổn thương tủy sống và phương pháp đánh giá
1.4.1 Khái niệm chất lượng cuộc sống
Theo Nhóm nghiên cứu về chất lượng cuộc sống thuộc Tổ chức Y tế Thếgiới (WHOQOL- Group - World Health Organization Quality of Life) năm
1997 thì Chất lượng cuộc sống là những cảm nhận của các cá nhân về cuộc sốngcủa họ trong bối cảnh văn hóa, các hệ thống giá trị mà họ đang sống và liên quanđến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ [26]
1.4.2 Phương pháp đánh giá chất lượng cuộc sống
Đánh giá chất lượng cuộc sống là vấn đề rất cần thiết đối với người bệnhtổn thương tủy sống, vì thông qua đó sẽ phản ánh được tác động của bệnh đếntình trạng sức khỏe thể chất, khả năng hoạt động, đời sống tâm lý hoặc tinh thầncủa người bệnh Để đánh giá chất lượng cuộc sống, nhiều bộ công cụ khác nhau
Trang 21đã được xây dựng và được phân loại là đánh giá chung (Generic measures), hoặcđánh giá theo bệnh đặc thù (Disease specific QOL measures)
* Đánh giá chất lượng cuộc sống chung
Các bộ câu hỏi đánh giá chung có thể là những bộ công cụ mô tả về sứckhỏe hoặc là các đánh giá phụ trợ Các bộ công cụ mô tả về sức khỏe như bộđánh giá kết quả đầu ra về sức khỏe rút gọn 36 câu hỏi (Short Form– 36/SF-36), đánh giá kết quả đầu ra về sức khỏe rút gọn 12 câu hỏi (ShortForm–12/SF-12) Những bộ công cụ này có thể sử dụng để đánh giá ở bệnhnhân chấn thương tủy sống giai đoạn tại cộng đồng Các đánh giá chung có thểgiúp ích trong việc đưa ra các quyết định định hướng về y tế Tuy nhiên, cácđánh giá chung thường không đi sâu vào ảnh hưởng của bệnh nên không thểhiện rõ sự thay đổi theo diễn biến của bệnh
* Đánh giá chất lượng cuộc sống theo bệnh đặc thù
Đánh giá chất lượng cuộc sống theo bệnh đặc thù tập trung chủ yếu vàocác mặt chính liên quan đến bệnh đặc thù vì thế sẽ giúp cho các nhà nghiêncứu có thể đánh giá chính xác hơn tác động của bệnh tới chất lượng cuộcsống, cũng như phản ánh rõ hơn hiệu quả can thiệp, đó cũng là cơ sở để tiếnhành nghiên cứu và tìm ra các phương pháp điều trị mới, có hiệu quả caonhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh
Whitehouse P.J và cộng sự cho thấy những người có khả năng trí tuệbình thường có thể đưa ra những nhận định phức tạp mang tính chủ quan vềcuộc sống của họ Các tác giả cũng cho rằng đối với chất lượng cuộc sống củangười bệnh sau tổn thương tủy sống thì sự an toàn độc lập và không đau đớn
có thể chiếm vị trí quan trọng nhất [27]
Theo Donnelly C, Eng JJ (2005) thì đau là vấn đề chính của TTTS, ảnhhưởng đến các hoạt động và khả năng hội nhập cộng đồng của người bệnh[28]
* Đánh giá chất lượng cuộc sống trong bệnh tổn thương tủy sống
Trang 22Có nhiều phương pháp để đánh giá CLCS như người bệnh tự đánhgiá, đánh giá thay thế qua người chăm sóc hay quan sát trực tiếp các hành vi
và hoạt động liên quan đến chất lượng cuộc sống
Trên người bệnh TTTS thường sử dụng phương pháp tự đánh giá, yêucầu người bệnh trực tiếp đánh giá CLCS bằng những cảm nhận của mình sẽgiúp người bệnh dễ dàng lựa chọn câu trả lời, ít bị ảnh hưởng bởi các mongmuốn, niềm tin của người khác, hoặc không thể chắc chắn rằng các hành viquan sát được có phải là điều bệnh nhân cho là quan trọng đối với chất lượngcuộc sống của họ hay những sai lệch từ phía người quan sát
1.4.3 Các bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân tổn thương tủy sống
Hiện tại có rất nhiều các bộ công cụ đánh giá CLCS ở bệnh nhân TTTSđược áp dụng tuy nhiên nó có thể khác nhau về các lĩnh vực đánh giá.Bochkezanian và cộng sự (2015) đánh giá CLCS ở bệnh nhân TTTS thôngqua mức độ độc lập [29] David S và cộng sự (2015) đã sử dụng bộ công cụSCI-QoL (Spinal cord injury - Quality of Life ) để đánh giá CLCS của bệnhnhân TTTS thông qua tình trạng sức khỏe [30]
Smith và cộng sự (2015) đánh giá CLCS của BN TTTS thông qua việcxác định mức độ của rò rỉ phân ngoài ý muốn ảnh hưởng đến CLCS bằng bộcông cụ FIQL (fecal incontinence quality of life) [31] Daniel M và cộng sự(2015) lại đánh giá các khía cạnh trong CLCS của bệnh nhân TTTS bao gồmhoạt động giải trí, quan hệ xã hội, hạnh phúc, công việc có ý nghĩa, đời sốngtình dục và chất lượng sống nói chung [32]
Tiêu chí của các bộ công cụ đánh giá CLCS cho bệnh nhân TTTS đượclựa chọn để phản ánh các lĩnh vực làm ảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân
Có nhiều công cụ đánh giá khách quan CLCS, tuy nhiên với bệnh nhân TTTSchưa có một bộ công cụ nào đánh giá đầy đủ các khía cạnh ảnh hưởng đến
Trang 23CLCS của bệnh nhân Đối với bệnh nhân đang sinh sống tại cộng đồng, chúngtôi tập trung đánh giá các khía cạnh chính làm ảnh hưởng nhiều nhất đếnCLCS của bệnh nhân là khả năng độc lập trong sinh hoạt, mức độ đau, và khảnăng tham gia các công việc gia đình và cộng đồng Tương ứng với từng khíacạnh trên chúng tôi sử dụng các bộ công cụ phù hợp để thu thập thông tinbệnh nhân thông qua các thang điểm SCIM, VAS Các bộ công cụ này đãđược hiệp hội tổn thương tủy sống thế giới khuyến cáo sử dụng cho đánh giátrên bệnh nhân CTTS trên toàn thế giới Các thang điểm này đã được dịchsang nhiều thứ tiếng và áp dụng rộng rãi ở các nước và là bộ công cụ được sửdụng phổ biến nhất trên thế giới để đánh giá khả năng độc lập của bệnh nhânTTTS như Hy Lạp[33], Tây Ban Nha[34], Thụy Điển[35], Hoa Kỳ[36], ThổNhĩ Kỳ[37], được chứng minh có độ tin cậy cao và đã được sử dụng trong rấtnhiều nghiên cứu Ở Việt Nam, bộ công cụ SCIM đã được dịch ra phiên bảntiếng việt, được thử nghiệm, chỉnh sửa để phù hợp với văn phong tiếng Việtcho dễ hiểu hơn và đã được sử dụng thường quy để đánh giá khả năng độc lậpcủa bệnh nhân sau CTTS tại Trung tâm PHCN bệnh viện Bạch Mai từ năm
2008 và đưa vào quy trình kỹ thuật của chuyên ngành Thang điểm đánh giámức độ đau theo thang điểm nhìn VAS, đã được sử dụng phổ biến trong nhiềulĩnh vực chuyên khoa y học có độ tin cậy và có tính giá trị cao [38],[39], [40],[41],[42] Như vậy, thang công cụ SCIM và VAS đáp ứng được những mụctiêu nghiên cứu của đề tài đánh giá những khía cạnh lớn làm ảnh hưởng đếnCLCS của BN trong giai đoạn tại BV
1.4.4 Giới thiệu về bộ công cụ đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân sau tổn thương tủy sống tại cộng đồng
* Bộ công cụ đánh giá sự độc lập sau tổn thương tủy sống SCIM (Spinal Cord Independence Measure)
Bệnh nhân sau TTTS và các chuyên gia về tủy sống đã cùng nhau xemxét các tiêu chí này để đảm bảo giá trị và tính chính xác Thang điểm SCIM
Trang 24gồm 16 câu hỏi đánh giá các lĩnh vực: khả năng tự chăm sóc, chức năng hô hấp
và kiểm soát cơ tròn, khả năng di chuyển trong phòng và nhà vệ sinh, khả năng
di chuyển ở trong nhà và bên ngoài (chi tiết xin xem trong phần phụ lục 2).
Câu trả lời dựa trên 2 mức độ của thang điểm (1 = không tốt (0-60điểm), 2 = tốt (61-100 điểm)) Tổng điểm SCIM nằm trong khoảng từ 0 đến
100 với điểm số cao hơn tương ứng với chất lượng cuộc sống tốt hơn
Thang điểm SCIM đánh giá 4 lĩnh vực từ khả năng tự chăm sóc đến khảnăng di chuyển trong nhà vệ sinh, bồn tắm hay di chuyển ra khỏi nhà Đây làbảng công cụ phản ánh khá toàn diện những yếu tố liên quan đến khả năng độclập của BN sau CTTS Hơn nữa với cấu trúc khá đơn giản, dễ hiểu sẽ giúp choviệc sử dụng đánh giá chính xác hơn các chức năng của BN Chính với những
ưu điểm vậy, Hiệp hội tổn thương tủy sống đã áp dụng và khuyến cáo sử dụngcho việc đánh giá sự độc lập của BN sau CTTS Tuy nhiên thang điểm SCIMcũng có những mặt hạn chế đó là không phản ánh được một số khía cạnh kháccủa BN sau CTTS như yếu tố tâm thần, khả năng tham gia vào các hoạt độngvui chơi, hòa nhập tại cộng đồng Với phạm vi nghiên cứu của chúng tôi lànhững BN được đánh giá tại Trung tâm PHCN bệnh viện Bạch Mai với haikhía cạnh rõ ràng đó là khả năng độc lập và mức độ đau ảnh hưởng đến chấtlượng sống của BN Thang điểm SCIM hoàn toàn đáp ứng được tính chính xác,khánh quan và đầy đủ thông tin của nhà nghiên cứu
* Bộ công cụ đánh giá mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS ( Visual Analogue Scale)
Bộ công cụ đánh giá mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS là bộ công
cụ được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới để đo lường mức độ đau của BN
Bộ công cụ VAS được chứng minh có độ tin cậy cao và đã được sử dụngtrong rất nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước [38],[39],[40],[41],[42]
Trang 25Tương ứng với mức điểm càng cao thì CLCS càng kém (chi tiết xin xem trong phần phụ lục 2).
Trang 261.5 Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người bệnh TTTS
1.5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
- PH Smith và RM Decter (2015) sử dụng bộ công cụ đánh giá CLCScủa bệnh nhân sau TTTS (FIQL) để xác định mức độ rò rỉ phân ngoài ý muốnảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân Điểm CLCS (FIQL) được thể hiện ở 4lĩnh vực: cách sống, cách ứng phó, sự buồn chán/tự nhận thức hay sự xấu hổ.Nghiên cứu thực hiện trên 17 bệnh nhân có thời gian trung bình là 33 năm sauphẫu thuật Kết quả cho thấy có tới 85% bệnh nhân TTTS trải qua các mức độcủa phân bón nặng, việc điều trị ban đầu của táo bón liên quan đến thần kinhruột rối loạn chức năng nói chung bao gồm sự kết hợp của phương pháp điềutrị răng miệng, thuốc đạn và dung dịch thụt tháo, phương pháp điều trị nhưvậy có lợi ích của việc không xâm lấn Các ACE (Antegrade continenceenema) cho phép bệnh nhân quản lý hiệu quả việc kiểm soát phân, các (ACE)cung cấp cải thiện đáng kể ở bệnh nhân (FIQL) là bộ công cụ đáng tin cậy vàhợp lệ để đo CLCS liên quan đến không kiểm soát phân Hơn nữa, khi phântích tính cho thấy mối tương quan của (FIQL) phù hợp với bộ công cụ đánhgiá CLCS toàn cầu SF-36, và nó đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiêncứu về CLCS ở bệnh nhân chấn thương tủy sống [31]
- V Bochkezanian, J Raymond, de Oliveira và cộng sự (2015) dùngkết hợp bài tập aerobic và những bài tập tăng sức mạnh theo vòng tròn đối với
BN TTTS Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau TTTS được đánh giáthông qua khả năng độc lập với việc sử dụng thang PEDro (PhysiotherapyEvidence Database); nghiên cứu thực nghiệm bởi hai nhà nghiên cứu khácnhau Kết quả: Nghiên cứu phân tích 7981 BN, trong đó 9 thử nghiệm đạt tiêuchuẩn lựa chọn Từ 9 thử nghiệm trên, 7 cho kết quả của việc tập aerobic, và
2 trong số đó cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê 5 nghiên cứu cho kếtquả tăng sức mạnh cơ, 4 trong số đó có kết quả có ý nghĩa thống kê, 2 nghiên
Trang 27cứu khác xem xét chất lượng cuộc sống và 1 trong 2 nghiên cứu cho thấy sựkhác nhau có ý nghĩa giữa các nhóm Có nhiều tác giả đã đánh giá và phântích thể dục thể chất đối với BN bị TTTS, bao gồm tập thể dục aerobic hoặcsức mạnh cơ bắp được đánh giá riêng biệt, nhưng chưa có ai điều tra được sựkết hợp của những bài tập Ở đây tác giả đã chỉ ra rằng khi có sự can thiệp tậpthể dục kết hợp BN sẽ có sự suy yếu về thể chất do đó nó ảnh hưởng đến khảnăng tập thể dục, dẫn đến CLCS ở những BN CTTS giảm theo[29]
- D M Cushman, K Thomas, D Mukherjee (2015) đã sử dụng bảngcâu hỏi điều tra của các bác sĩ PM&R (Physical Medicine and Rehabilitation)
và EM (Emergency Medicine) Người tham gia nghiên cứu là các bác sĩ cóchứng chỉ thuộc Hiệp hội PHCN Mỹ và giảng viên tại các trường đại học Ykhoa của Mỹ và Canada Nghiên cứu nhằm đánh giá các khía cạnh trongCLCS của bệnh nhân CTTS bao gồm hoạt động giải trí, quan hệ xã hội, hạnhphúc, công việc có ý nghĩa, đời sống tình dục và chất lượng sống nói chung.Kết quả cho thấy trong tổng số 91 bác sĩ cấp cứu và 89 bác sĩ PHCN đượchỏi, thì số lượng bác sĩ PHCN nhiều hơn so với bác sĩ cấp cứu cho rằng bệnhnhân sẽ có CLCS tốt hơn không kể đến mức độ chấn thương hay khía cạnhcuộc sống nào được nói đến (P < 01) Bác sĩ nữ, không kể đến chuyên ngành,chọn mức thấp hơn cho câu hỏi liệu bệnh nhân có muốn kết thúc cuộc sốngnếu bị CTTS không (P = 0.03) Cả hai nhóm bác sĩ đều có xu hướng khôngđồng ý với nhận định mức độ chấn thương thấp hơn thì cho chất lượng cuộcsống cao hơn Thái độ của bác sĩ có thể có một tác động đáng kể về y tế chămsóc, và nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các bác sĩ đánh giá thấp chất lượngcuộc sống đối với của người sống khuyết tật[32]
- Kelly E Ravenek, Michael J.(2012) cho ra một nghiên cứu tổng hợp
sử dụng dữ liệu từ PubMed và CINAHL để đánh giá các nghiên cứu sử dụngcông cụ đo CLCS và đánh giá hiệu quả của hoạt động thể chất hay sử dụng
Trang 28hoạt động thể chất để xác định mối liên hệ giữa hoạt động thể chất và CLCS.Kết quả cho thấy 13 bài báo đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn Trong số đó, 9 công
cụ đo CLCS được sử dụng: 2 thước đo khách quan là (SF-36) và QWB(Quality of Well-being) và 7 thước đo chủ quan tự đánh giá CLCS PqoL(Perceived Quality of Life), Thang điểm thỏa mãn cuộc sống SWLS(Satisfaction with Life Scale), Chỉ số CLCS của BN CTTS - phiên bản III,Thang thỏa mãn cuộc sống LISAT (Life Satisfaction), Phản hồi chất lượngcuộc sống, Hồ sơ chất lượng cuộc sống: Phiên bản cho người khuyết tật thểchất và giác quan QOLP-PSD (Quality of Life Profile - Physical and SensoryDisabilities Version) và CLCS theo đánh giá chủ quan SQOL (SubjectiveQuality of Life) Bảng tự đánh giá CLCS (PQoL) là công cụ được dùng phổbiến nhất trong 4 nghiên cứu và được sử dụng ở 2 trong 3 thử nghiệm ngẫunhiên có đối chứng 12 trên 13 nghiên cứu đánh giá tích cực ảnh hưởng hoạtđộng thể chất với CLCS [43]
- Worawat Limthongkul (2014) và cộng sự nghiên cứu phân tích cáccông cụ cho thông tin về CLCS liên quan đến sức khỏe HRQoL (Health-related quality-of-life), bao gồm Bản điều tra ngắn (SF-36), Bản điều trangắn 36 dành cho cựu chiến binh (SF-36V), Bản điều tra ngắn 12 (SF-12),Bản điều tra ngắn 6 dành cho người khuyết tật (SF-6D), Hồ sơ ảnh hưởng củabệnh thật (SIP-68), Bảng tự đánh giá chất lượng cuộc sống (QWB-SA),Qualiveen và Công cụ bệnh nhân tự đánh giá ảnh hưởng của co cứng(PRISM) Trong số 22 bài báo với 8 công cụ đánh giá chất lượng cuộc sốngliên quan đến sức khỏe của bệnh nhân TTTS cho thấy bệnh nhân TTTS cóchất lượng cuộc sống kém hơn nhiều so với dân số nói chung, đặc biệt là vềthể chất [44]
- Theo Shin J.C và cộng sự (2012), số bệnh nhân trầm cảm sau khi chấnthương 6 tháng chiếm 63,9%; nhóm chưa có gia đình có CLCS cao hơn so với
Trang 29nhóm đã lập gia đình (p<0,05) Ở nhóm liệt hoàn toàn, mức độ trầm cảm vàcăng thẳng cao hơn, CLCS thấp hơn hóm liệt không hoàn toàn (p<0,05) [45].
- Y Akkoc, M Ersoz và N Yıldız (2013) nghiên cứu các BN CTTS ítnhất 6 tháng sau chấn thương (n = 195, 74.4% nam) Các bệnh nhân trên đượcchia vào 5 nhóm: tiểu tiện bình thường, tiểu tiện có hỗ trợ, bệnh nhân tự thôngtiểu ngắt quãng, thông tiểu ngắt quãng do người khác trợ giúp và thông tiểulưu Bảng điều tra câu hỏi King được sử dụng để đánh giá CLCS của bệnhnhân sau TTTS Kết quả là các nhóm bệnh nhân quản lý bàng quang giốngnhau về tuổi, thời gian sau chấn thương, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân
và nghề nghiệp Không có sự khác biệt nào về sức khỏe nói chung, mối quan
hệ cá nhân, điểm giấc ngủ/năng lượng Trong khi nhóm tiểu tiện bình thường
có điểm số thấp nhất (nghĩa là có CLCS cao nhất), nhóm có người giúp đặtthông tiểu có CLCS tồi nhất Vậy yếu tố BN khi có sự can thiệp để có thể tiệutiện và tiện cho việc chăm sóc và theo dõi có là yếu tố ảnh hưởng đến CLCScủa bệnh nhân sau TTTS [46]
- E Ataoglu và cộng sự (2013) nghiên cứu tổng cộng 140 BN CTTS (104nam và 36 nữ) đã được điều trị nội trú PHCN Kết quả cho thấy nguyên nhânphổ biến nhất ảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân sau TTTS là ngã (35.0%)
và tai nạn xe cộ (34.2%), 78% BN bị đau mãn tính Bệnh nhân có việc làmtrước khi bị thương và BN tổn thương hoàn toàn có điểm xếp hạng thấp hơn(p< 0,05) Nhóm 1 có điểm đau thể chất và hoạt động xã hội thấp hơn nhóm2(P < 0,05) Bệnh nhân TTTS bị đau mãn tính có tỉ lệ buồn chán và điểm (BDI)cao hơn tương quan với một vài những lĩnh vực trong bảng SF-36 [47]
- Nghiên cứu của N A Erosa1, J.W Berry, T.R Elliott (2014), chothấy khuyết tật chức năng lớn và tình trạng đau làm giảm sự tham gia hoạtđộng, sự tham gia hoạt động có giá trị tiên đoán với CLCS đối với bệnhnhân sau TTTS và yếu tố hài lòng trong cuộc sống gia đình có ảnh hưởnggián tiếp tới CLCS của bệnh nhân sau CTTS [48]
Trang 30- WB Mortenson, L Noreau và WC Miller (2010) nghiên cứu mộtnhóm bệnh nhân CTTS Số liệu được thu thập thông qua chỉ số chất lượngsống QLI (Quality of Life Index) 197 BN được điều tra, nhưng do bỏ nghiêncứu hay không tham gia đầy đủ, chỉ còn lại 93 trường hợp Chất lượng sốngđược điều tra tại thời điểm 3 và 15 tháng sau khi hết điều trị PHCN Kết quả
là điểm trung bình CLCS không khác nhau ở thời điểm 3 và 15 tháng (p<0.85) Chỉ số chính dự đoán CLCS ở thời điểm 3 tháng là tình trạng sức khỏe
và trạng thái tâm lý Chỉ số chính dự đoán CLCS ở thời điểm 15 tháng là mức
độ chất lượng sống ở thời điểm 3 tháng, tình trạng sức khỏe và sự hỗ trợ củagia đình Ở cả 2 thời điểm trên, những yếu tố cá nhân giải thích được gần hếtđược CLCS của bệnh nhân sau CTTS, trong khi đó sự tham gia hoạt động vàyếu tố môi trường có vai trò ít quan trọng [49]
1.5.2 Một số nghiên cứu về chất lượng của bệnh nhân TTTS ở Việt Nam giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng
- Cầm Bá Thức (2008) Nghiên cứu thực trạng bệnh nhân liệt hai chidưới do chấn thương tủy sống tại cộng đồng và đề xuất một số giải pháp canthiệp Nghiên cứu 80 BN liệt 2 chi dưới do chấn thương tủy sống, sống tạicộng đồng Kết quả: có tới 81,3% số bệnh nhân cần trợ giúp trong chăm sócbản thân, 88,8% bệnh nhân không tham gia và các công việc gia đình; 11,2%chỉ làm các công việc nhẹ, 77,5% thất nghiệp sau khi ra viện trở về sống tạicộng đồng [6]
- Theo Đỗ Thị Ngọc Anh (2015) nghiên cứu trên 30 BN TTTS tại cộngđồng thì có hơn một nửa số bệnh nhân có CLCS ở mức thấp chiếm 53,3%;CLCS ở mức cao chiếm 23,3%; mức trung bình chiếm 16,7%; mức rất thấpchiếm 6,7% và không có BN nào có CLCS ở mức cao [50]
Trang 311.6 Khung lý thuyết
Trên cơ sở tìm hiểu các nghiên cứu đã làm trong nước và ngoài nước vềchất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống cũng như thamkhảo các nghiên cứu, tài liệu về chấn thương tủy sống nói chung, chúng tôitiến hành xây dựng khung lý thuyết của đề tài nghiên cứu dựa trên các tác giảnhư Cầm Bá Thức (2008) [6], Đỗ Đào Vũ và cộng sự (2006) [7], Tow AM, vàcộng sự [51]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu thực trạng chấtlượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và xác định một sốyếu tố liên quan Các yếu tố này được chia ra thành 03 nhóm: nhóm 1 yếu tố
cá nhân, nhóm 2 môi trường xã hội – gia đình, nhóm 3 gồm dịch vụ điều trịphục hồi chức năng tổn thương tủy sống
Trang 32Yếu tố cá nhân
Nhân khẩu học, tình trạng bệnh
-Tuổi, giới, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn
nhân, điệu kiên kinh tế, học vấn, vị trí tổn
thương, mức độ tổn thương, thời gian bị bệnh.
- Các hậu quả, biến chứng sau CTTS
- Khả năng di chuyển trong phòng và ra bồn cầu
- Chức năng hô hấp, tình trạng rối loạn cơ tròn
- Khả năng tự ăn uống và vệ sinh cá nhân trong
sinh hoạt hàng ngày
- Mức độ đau bệnh nhân phải chịu đựng (0-10)
Yếu tố môi trường
và xã hội
Chất lượng cuộc sống của
- Khả năng di chuyển trong nhà và ra ngoài nhà
- Hỗ trợ của chương trình CTTS tổ chức phi
chính phủ
- Khả năng nhận thức của cộng đồng
Dịch vụ điều trị PHCN chấn thương tủy sống
-Tư vấn điều trị của Cán bộ y tế
- Khả năng tiếp cận khám, điều trị PHCN: hiểu
biết của BN, khoảng cách từ nhà đến viện, sự
hợp tác giữa các chuyên khoa, giữa các bệnh
viện (100% BN được chuyển từ khoa ngoại về
PHCN)
-Sự hài lòng của BN về cơ sở vật chất của bệnh
viện và chuyên môn của cán bộ y tế
-Tinh thần thái độ của cán bộ y tế
Trang 331.7 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu
1.7.1 Tỉnh Sơn La
Sơn La là tỉnh miền núi cao ở phía Tây Bắc nước Việt Nam, có diệntích 14.125 km² Phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, Yên Bái; phía Đông giáp tỉnhPhú Thọ, Hoà Bình; phía Tây giáp tỉnh Điện Biên; phía Nam giáp tỉnh ThanhHoá và nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Sơn La có đường Biên Giớiquốc gia dài 250 km , chiều dài giáp giang với các tỉnh khác là 628 km Toàntỉnh có 12 đơn vị hành chính (1 thành phố và 11 huyện) 204 xã phường vớiđặc điểm kinh tế, văn hóa, chính trị tương đối ổn định Dân số 1.195.107người mật độ 81 người/ km² Gồm 12 dân tộc Đa phần là dân tộc thái (chiếm54%) Địa hình Sơn La rất phức tạp, núi rừng trùng điệp, hiểm trở, bị chia cắtnhiều bởi những dãy núi đá vôi tạo nên những thung lũng, lòng chảo, bồn địa
và cao nguyên Vùng cao chiếm 3/5 diện tích, với độ cao từ 800 - 1000m.Điểm cao nhất là đỉnh Tà Phìn (Bắc Yên) cao 2.879m Dải núi phía bắc chạydài từ Tây Bắc về đến Đông Nam qua các huyện Quỳnh Nhai, Mường La,Bắc Yên, Phù Yên, Mộc Châu là một phần của dãy Hoàng Liên Sơn, có độdốc lớn Vùng rừng núi phía Nam và Tây Nam gồm các huyện: Thuận Châu,Sông Mã, Sốp Cộp, Mai Sơn, Yên Châu và một phần đất Mộc Châu, dọc theochiều dài biên giới Việt - Lào, địa hình bị chia cắt bởi nhiều dải núi đá vôi vàphụ lưu sông Mã, có đỉnh núi cao tới 1940m Xen giữa 2 dãy núi trên là 2 caonguyên Nà Sản (còn gọi là cao nguyên Sơn La) có độ cao 700m và caonguyên Mộc Châu cao 1050m, nằm trên trục đường quốc lộ 6 Do vị trí địa lý,khí hậu và đặc điểm địa hình, địa chất, nên Sơn La luôn chịu ảnh hưởng củanhiều loại thiên tai, nhất là mưa lớn gây lũ quét và sạt lở đất, gây thiệt hạinặng nề đến con người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt độngkinh tế - xã hội, đó cũng là nguyên nhân làm gia tăng các tai nạn gây chấnthương cột sống
Trang 341.7.2 Bệnh viện Phục Hồi chức Năng tỉnh Sơn La
Bệnh viện Phục hồi chức năng Tỉnh Sơn La được đặt tại Tổ 6 PhườngChiềng Lề, Thành phố Sơn La, Tỉnh Sơn La Được thành lập ngày 16/9/1966với tên là “Viện Điều dưỡng cán bộ tỉnh” theo Quyết định: 1669/QĐ/TCCBcủa UBND tỉnh Sơn La Do yêu cầu thực tiễn, trải qua 3 lần đổi tên đến năm
2014 đổi tên thành “Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Sơn La” theo Quyếtđịnh số 3544/QĐ-UBND ngày 24/12/2014 của UBND tỉnh Sơn La, là Bệnhviện chuyên khoa hạng II tuyến tỉnh có quy mô 100 giường điều trị nội trú.Bệnh viện có các khoa chuyên ngành gồm: vật lý trị liệu, vận động trị liệu,hoạt động trị liệu, âm ngữ trị liệu, xưởng chỉnh hình, có 1 đơn vị điều trị tủysống được thành lập từ năm 2010
BN TTTS tại Bệnh viện có chế độ chăm sóc và PHCN riêng biệt, hàngngày vào các đầu giờ buổi sáng và buổi chiều BN sẽ được thực hiện các kỹthuật vật lý trị liệu (làm giảm đau, giảm co cứng cơ…) và các kỹ thuật vậnđộng trị liệu như thay đổi vị thế, tập theo tầm vận động khớp, tập mạnh cơ,tập kéo giãn, tập thăng bằng-điều hợp, tập dáng đi…Sau khi tập xong BNchuyển sang hoạt động trị liệu nhằm giúp BN có thể tự chăm sóc bản thântrong sinh hoạt và đời sống thường ngày như ăn uống, tắm rửa, vệ sinh cánhân và cải thiện các chức năng nhận thức cao cấp của hệ thần kinh như: trínhớ, tư duy trìu tượng, tư duy logic, Đối với những BN nặng phải nằm mộtchỗ thì BN và người nhà sẽ được hướng dẫn tư thế đúng, lăn trở phòng loét
do đè ép, hướng dẫn chăm sóc đường niệu, đường ruột, phòng tránh cácthương tật thứ cấp (teo cơ, cứng khớp, viêm phổi, viêm đường tiết niệu, viêmtắc tĩnh mạch sâu ) Tất cả BN và người nhà đều được hướng dẫn các kỹnăng chăm sóc, tập luyện, cách sử dụng xe lăn và các dụng cụ trợ giúp dichuyển… cho BN trong quá trình điều trị tại Bệnh viện và sau khi ra viện đểphòng ngừa các thương tật thứ cấp và các biến chứng có thể xảy ra giúp tạothuận cho quá trình tái hòa nhập cuộc sống với cộng đồng
Trang 35Trong những năm gần đây, số bệnh nhân đến điều trị và Phục hồi chứcnăng hàng năm tại Bệnh viện luôn đạt và vượt chỉ tiêu: năm 2015 bệnh nhânnội trú đạt 153.3% và bệnh nhân ngoại trú đạt 171.3% Năm 2016 bệnh nhânnội trú đạt 121.1% và bệnh nhân ngoại trú đạt 118% Năm 2017 bệnh nhânnội trú đạt 126.1% và bệnh nhân ngoại trú đạt 100%, công suất sử dụnggiường bệnh đạt 151% Đặc biệt số lượng bệnh nhân tổn thương tủy sốngđược phục hồi chức năng tại Bệnh viện đều tăng qua các năm Theo thống kê
từ 2010 đến 2018 (nay) có trên 100 bệnh nhân sau chấn thương đã điều trịphục hồi chức năng tại Bệnh viện
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những bệnh nhân đã được điều trị TTTS tại Bệnh viện Phục hồichức năng tỉnh Sơn La trong vòng 4 năm từ năm 2013 đến năm 2017, hiệnđang sống tại tỉnh Sơn La
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
- Tuổi từ 18-75 tuổi
- Bệnh nhân được chẩn đoán là TTTS sau khi kết thúc quá trình điều trịtại bệnh viện PHCN tỉnh Sơn La được chuyển về điều trị phục hồi chức năngtại cộng đồng
- Bệnh nhân giao tiếp được
- Bệnh nhân tự nguyện, đồng ý hợp tác tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Bệnh nhân có các bệnh lý kèm theo: tai biến mạch máu não, bệnh cơxương khớp, bệnh hệ tiết niệu, tâm thần
- Những người đã bệnh tử vong hoặc chuyển đi nơi khác
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.2.2.1 Nghiên cứu định lượng
Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện: Chọn toàn bộ số bệnh nhân
đã được BV PHCN tỉnh Sơn La chẩn đoán là TTTS đủ tiêu chuẩn lựa chọn,
Trang 37đã xuất viện về nhà, đang sống tại cộng đồng tỉnh Sơn La, đồng ý đến thamgia nghiên cứu.
2.2.2.2 Nghiên cứu định tính
Chọn mẫu có chủ đích phỏng vấn sâu: 01 lãnh đạo xã, 03 người nhàtrực tiếp chăm sóc bệnh nhân, 03 bệnh nhân, (cán bộ Y tế xã, cán bộ phòng
CĐ Tuyến BV PHCN)
2.2.3 Thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành từ 01/08/2018 đến 01/06/2019
2.2.4 Địa điểm nghiên cứu
- Tại tỉnh Sơn La
2.2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.2.5.1 Nghiên cứu định lượng
Tiến hành thu thập số liệu bằng :
- Thu thập số liệu sẵn có từ hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân đã ra viện
về các thông tin chung của bệnh nhân (tuổi, giới tính, địa chỉ, tình trạng hônnhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, mức độ tổn thương, vịtrí tổn thương, nguyên nhân TTTS, thời gian bị bệnh, phương pháp điều trịtrước khi điều trị PHCN)
- Phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân qua bộ câu hỏi bao gồm bộ câu hỏi vềđánh khả năng độc lập của BN sau TTTS (SCIM), đánh giá mức độ đau theothang điểm nhìn VAS và bộ câu hỏi về các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS củangười bệnh
Các bước thực hiện :
Bước 1 : Tra cứu hồ sơ bệnh án để lấy thông tin liên lạc và các thongtin chung của đối tượng nghiên cứu
Bước 2 : Gọi điện mời bệnh nhân đến tham gia nghiên cứu
Bước 3 : Thu thập số liệu theo mẫu bệnh án nghiên cứu
Trang 38Địa điểm tổ chức phỏng vấn bệnh nhân là tại BVPHCN Sơn La (nơibệnh nhân đang sinh sống)
Công cụ thu thập số liệu SCIM
Sử dụng bộ câu hỏi đánh khả năng độc lập của BN sau CTTS (SCIM) đãđược đưa vào quy trình của ngành Điều tra viên là kĩ thuật viên, điều dưỡngviên tại Bệnh viện có kinh nghiệm tham gia điều tra, thu thập số liệu cho các nghiêncứu trước đó và được tập huấn sử dụng thành thạo bộ công cụ SCIM Cách tiếnhành: Phỏng vấn BN qua 16 câu hỏi liên quan đến khả năng độc lập
+ Phỏng vấn BN về các hoạt động tự chăm sóc bản thân thông qua 4 câuhỏi: ăn (0-4 điểm), tắm rửa thân trên và thân dưới (0-3 điểm), mặc quần - áo (0-
3 điểm), vệ sinh vùng đầu mặt (0-4 điểm) Sau khi hỏi xong 4 câu hỏi ta cộngtổng điểm lại, tổng điểm phần này dao động trong khoảng (0-20 điểm)
+ Phỏng vấn BN thông qua 4 câu hỏi liên quan đến rối loạn chức năng
hô hấp, chức năng đại tiểu tiện: hô hấp chia 6 mức (0-10 điểm), rối loạn tiểutiện chia làm 5 mức (0-15 điểm), rối loạn đại tiên chia 3 mức (0-5-10 điểm),
đi vệ sinh chia 6 mức (0-5 điểm) Sau khi hỏi xong 4 câu hỏi ta cộng tổngđiểm lại, tổng điểm phần này dao động trong khoảng (0-40 điểm)
+ Phỏng vấn BN về khả năng di chuyển trong phòng và tại bồn cầuthông qua 3 câu hỏi: khả năng di chuyển trên giường để phòng ngừa loét do
tỳ đè chia 7 mức độ từ (0-6 điểm), di chuyển từ giường ra xe lăn và ngượclại chia 3 mức độ (0-2 điểm), di chuyển từ xe lăn ra bồn cầu, bồn tắm vàngược lại chia làm 3 mức độ (0-2 điểm) Sau khi hỏi xong 3 câu hỏi ta cộngtổng điểm lại, tổng điểm của phần này dao động trong khoảng (0-10 điểm)
+ Phỏng vấn BN về khả năng di chuyển ở trong nhà và ngoài nhà thôngqua 5 câu hỏi: di chuyển trong nhà chia 9 mức (0-8 điểm), di chuyển vớikhoảng cách vừa phải 10-100 mét được chia làm 9 mức (0-8 điểm), di chuyểnbên ngoài nhà trên 100 mét được chia làm 9 mức (từ 0-8 điểm), đi thang bộchia làm 4 mức (0-3 điểm), di chuyển từ xe lăn vào ô tô (xe máy) và ngược lại
Trang 39được chia làm 4 mức (0-3 điểm) Sau khi hỏi xong 5 câu hỏi ta cộng tổngđiểm lại, tổng điểm của phần này dao động trong khoảng (0-30 điểm).
Sau đó cộng điểm của 4 phần lại ta có điểm từ 0 đến 60 là khả năng
độc lập không tốt, điểm từ 61 đến 100 là khả năng độc lập tốt (chi tiết xin xem trong phần phụ lục 2).
Công cụ thu thập số liệu mức độ đau VAS
Bộ công cụ đánh giá mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS là bộ công
cụ được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới để đo lường mức độ đau củangười bệnh Bộ công cụ VAS được chứng minhcó độ tin cậy cao và đã được
sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước [38],[39],[40],[41],[42]
+ Cấu tạo thước VAS
Một mặt không số dành cho bệnh nhân biểu hiện tình trạng từ khôngđau đến đau tồi tệ nhất Một mặt có số dành cho người nghiên cứu đọc gồmcác chữ số từ 0 đến 10 Thanh trượt có thể di chuyển để chọn mức độ đau
+ Cách đánh giá
Quay mặt không số của thước VAS về phía BN; một đầu tương ứng vớimức độ không đau, một đầu tương ứng với mức độ đau tồi tệ nhất BN có thểtưởng tượng được BN sẽ so sánh mức độ đau của mình và kéo thanh trượt từđầu không đau đến vị trí tương ứng với mức độ đau của mình trên băng trống.Điểm BN đánh dấu sẽ tương ứng với điểm đau trên mặt kia của thước dongười đánh giá đọc
Điểm đau VAS được phân loại mức độ theo Salley L Collens và CS [40].+ VAS = 0 điểm: Không đau
+ VAS ≤ 2 điểm: Đau nhẹ
+ VAS từ 3- 6 điểm: Đau trung bình
+ VAS ≥ 7 điểm: Đau nhiều
Trang 40Tương ứng với mức độ đau càng nhiều thì chất lượng cuộc sống bị ảnhhưởng càng nhiều
Chất lượng cuộc sống tốt và không tốt
+ Chất lượng cuộc sống tốt: khi VAS ≤ 5 và SCIM > 60
+ Chất lượng cuộc sống không tốt: khi VAS >5 hoặc SCIM ≤ 60
2.4 Xác định biến số nghiên cứu
2.4.1 Biến số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Bao gồm các biến số: giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học
vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, mức độ tổn thương theo ASIA, vị trí tổn
thương, nguyên nhân, thời gian bị bệnh.(chi tiết xin xem trong phần phụ lục 3)
2.4.2 Biến số về khả năng độc lập của bệnh nhân TTTS (SCIM)
- Bao gồm các biến số đó là: ăn, tắm, mặc quần áo, vệ sinh vùng đầumặt, hô hấp, cơ thắt bàng quang, cơ thắt hậu môn, đi vệ sinh, di chuyển trêngiường và hoạt động để tránh loét tì đè, dịch chuyển từ giường ra xe lăn vàngược lại, dịch chuyển từ xe lăn ra bồn cầu, bồn tắm, di chuyển trong nhà, dichuyển khoảng cách vừa phải, di chuyển bên ngoài (hơn 100m), đi thang bộ,