1. Tính cấp thiết của đề tài Với tư cách là “đầu ra cuối cùng” trong toàn bộ hoạt động của hệ thống tư pháp hình sự 1 , thi hành án hình sự là một hoạt động độc lập, giữ vai trò quan trọng đối với việc giáo dục người phạm tội trở thành người có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng. Hiện nay, hình phạt tù vẫn là hình phạt được áp dụng phổ biến nhất trong hệ thống hình phạt theo qui định của luật hình sự Việt Nam. Mặc dù Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nâng cao hiệu quả thi hành án hình sự, nhất là án phạt tù, nhưng luôn luôn tồn tại một tỉ lệ không nhỏ số người tái phạm. Theo thống kê, số phạm nhân có tiền án chiếm tỉ lệ 23,5%, số tái phạm nguy hiểm chiếm 10,8% tổng số phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam 2 . Kết quả thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên cho thấy có 6,9% tái phạm ngay khi còn ở độ tuổi chưa thành niên, có 1,3% phạm nhân là người chưa thành niên có nhiều tiền án, tiền sự 3 ; chưa kể số tái phạm khi đã bước sang tuổi thành niên và nằm trong con số thống kê phạm nhân có tiền án nêu trên. Người phạm tội trong trường hợp tái phạm bao giờ cũng nguy hiểm hơn vì họ có kinh nghiệm phạm tội và có thể họ đã tiêm nhiễm những tính cách, kỹ năng xấu từ môi trường tập trung phạm nhân trong trại giam trước đây, nhờ đó họ còn có kinh nghiệm che giấu tội phạm, đối phó với cơ quan bảo vệ pháp luật. Nếu người tái phạm đó là người mà trước đây là phạm nhân là người chưa thành niên thì tính chất, mức độ nguy hiểm còn cao hơn gấp bội bởi vì tuổi đời họ còn trẻ và dễ dàng đi vào con đường phạm tội chuyên nghiệp. Trong những năm gần đây, các báo cáo tổng kết công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của ngành Công an đều có chung nhận định: tình hình tội phạm gia tăng về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội (bạo lực, hung hãn, manh động hơn), đối tượng phạm tội có xu hướng ngày càng trẻ hóa, tội phạm do người chưa thành niên thực hiện gia tăng. Nếu như trước năm 2010, phạm nhân là người chưa thành niên chiếm số lượng không đáng kể thì những năm gần đây luôn dao động trong khoảng trên dưới 900 phạm nhân là người chưa thành niên và chiếm tỉ lệ trên 0,8% tổng số phạm nhân đang chấp hành án phạt tù 4 . Căn cứ vào các qui định của luật hình sự Việt Nam về áp dụng hình phạt tù có thời hạn, về miễn giảm hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì có thể nhận định rằng phạm nhân là người chưa thành niên đến khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù sẽ đa số ở trong độ tuổi dưới 30 tuổi. Đây là độ tuổi có sức lao động sung mãn, có khả năng đóng góp lớn cho xã hội nhưng đồng thời cũng là độ tuổi có khả năng cao tiếp tục rơi vào con đường phạm tội nếu người đó chưa thực sự được giáo dục tốt (theo thống kê, nhóm phạm nhân đông đảo, phổ biến nhất trong cơ cấu phạm nhân theo độ tuổi chính là số phạm nhân từ 18 đến dưới 30 tuổi, chiếm tỉ lệ 45,2% tổng số phạm nhân ). Như vậy, nếu việc thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên không đạt hiệu quả cao thì sẽ càng làm gia tăng nguồn tội phạm (tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp) và còn gây lãng phí một nguồn lao động trẻ của xã hội. Do đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào để những phạm nhân là người chưa thành niên sau khi chấp hành án xong phạt tù thì không tái phạm và thực sự trở thành người có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng thành công? Phạm nhân là người chưa thành niên là một loại người chấp hành án đặc biệt trong thi hành án phạt tù. Người chưa thành niên do chưa phát triển đầy đủ và toàn diện về thể chất, trí lực và tinh thần nên dù là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù trong trại giam họ vẫn cần được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục bằng những chế độ đặc biệt để có thể tiếp tục phát triển về mọi mặt một cách bình thường. Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên đề cao mục tiêu giáo dục, ưu tiên thực hiện những biện pháp giáo dục, giúp họ sửa chữa sai lầm và trở thành người có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng. Trong khi đó, phạm nhân là người chưa thành niên dễ tiếp nhận các tác động giáo dục hơn so với phạm nhân thành niên. Đúng ra, thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên phải đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn và cần phải như thế. Tuy vậy, đánh giá một cách tổng quan, có thể nhận thấy: - Lý luận về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên vẫn chưa hoàn thiện và chưa có tính hệ thống, đặc biệt là chưa làm rõ được đặc thù và sự khác biệt của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên so với thi hành án phạt tù đối với phạm nhân thành niên và nguồn gốc, cơ sở của điều đó. - Pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên vẫn còn thiếu nhiều qui định về bảo vệ phạm nhân là người chưa thành niên, chưa phản ánh đúng mức chính sách ưu tiên bảo vệ, chăm sóc và giáo dục người chưa thành niên phạm tội bằng những biện pháp và phương thức tổ chức phù hợp với đặc thù của phạm nhân là người chưa thành niên hoặc tuy đã có qui định nhưng chưa đồng bộ, đầy đủ và rõ ràng, chưa có văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện. Mặc khác, kể từ ngày 01/01/2018 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 có hiệu lực thi hành và có nhiều qui định mới về chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về lĩnh vực thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên. - Thực tiễn thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên đã và đang gặp nhiều khó khăn, bất cập, hiệu quả giáo dục chưa cao. Phạm nhân là người chưa thành niên có tỉ lệ khen thưởng rất ít, chỉ chiếm 1,4%, nhưng tỉ lệ kỷ luật lại cao hơn nhiều, đến 7,5% 6 . So với kết quả thi hành án phạt tù đối với phạm nhân thành niên, tỉ lệ phạm nhân là người chưa thành niên được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá cũng ít hơn phạm nhân thành niên, chỉ chiếm 42,3% (trong khi tỉ lệ này ở phạm nhân thành niên là 60%) 7 mặc dù pháp luật qui định nhiều điều kiện ưu tiên hơn dành cho phạm nhân là người chưa thành niên. Việc thực hiện chế độ giam giữ phạm nhân là người chưa thành niên tồn tại nhiều hạn chế về cơ sở vật chất phục vụ giam giữ, chưa bảo đảm phân hóa phạm nhân, chưa triệt để giam giữ riêng, tách phạm nhân là người chưa thành niên khỏi ảnh hưởng của phạm nhân thành niên trong trại giam. Việc thực hiện chế độ lao động, học tập đối với phạm nhân là người chưa thành niên chưa bảo đảm tính chất và mục đích giáo dục. Các chế độ chấp hành án khác vẫn chưa bảo đảm chính sách dành những lợi ích tốt nhất và ưu tiên bảo vệ, chăm sóc, giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên. Các hoạt động chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng, đặc biệt là việc dạy nghề cho phạm nhân là người chưa thành niên, còn thiếu chủ động và có nhiều lúng túng. Những tồn tại, hạn chế nói trên đặt ra nhu cầu cần tổng kết rút kinh nghiệm về thực tiễn thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên.
Trang 1NGUYỄN QUANG VŨ
THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, 2019
Trang 2Phụ lục 1: Thống kê số lượng phạm nhân là người chưa thành niên trong trại
giam, giai đoạn 2012-2018
được tiếp nhận vào trại giam chấp hành án phạt tù, giai đoạn 2012-2018
Phụ lục 3: Thống kê số lượng phạm nhân là người chưa thành niên theo giới
tính, độ tuổi và trình độ văn hóa, giai đoạn 2012-2018
danh, giai đoạn 2012-2018
án, giai đoạn 2012-2018
Phụ lục 6: Thống kê số lượng phạm nhân là người chưa thành niên theo tiền
án, tiền sự, giai đoạn 2012-2018
Phụ lục 7: Thống kê số lượng phạm nhân là người chưa thành niên có tiền
sử nghiện ma túy, giai đoạn 2012-2018
Phụ lục 8: Thống kê tình hình khen thưởng, kỷ luật, phạm tội mới của phạm
nhân là người chưa thành niên, giai đoạn 2012-2018
chưa thành niên được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá, giai đoạn 2012-2018
Phụ lục 10: Danh mục trại giam có phạm nhân là người chưa thành niên Phụ lục 11: Thống kê số phạm nhân do phạm tội ở độ tuổi chưa thành niên
nay đã đủ tuổi thành niên đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam (tính đến ngày 15/12/2018)
Phụ lục 12: Kết quả điều tra bằng bảng hỏi đối với phạm nhân là người chưa
thành niên
Phụ lục 13: Thống kê về cán bộ quản giáo phụ trách các đội phạm nhân là
người chưa thành niên được điều tra bằng bảng hỏi
Trang 3Các chữ viết tắt
Danh mục các phụ lục
Mở đầu 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8
Chương 1: Những vấn đề lý luận và chuẩn mực quốc tế, pháp luật
của một số quốc gia về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là
người chưa thành niên 26
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thi hành án phạt tù đối với phạm
nhân là người chưa thành niên 26 1.2 Cơ sở của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa
thành niên 36 1.3 Nguyên tắc thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa
thành niên 47 1.4 Chuẩn mực quốc tế và pháp luật của một số quốc gia về thi hành án
phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên 53
Chương 2: Pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về thi hành
án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên ở Việt Nam 68
2.1 Pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa
thành niên 68 2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm
nhân là người chưa thành niên 79 2.3 Đánh giá về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa
thành niên ở Việt Nam 101
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thi hành án phạt tù đối
với phạm nhân là người chưa thành niên 114
3.1 Hoàn thiện pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là
người chưa thành niên 114 3.2 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thi hành án phạt tù đối
với phạm nhân là người chưa thành niên 133
Kết luận 152 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với tư cách là “đầu ra cuối cùng” trong toàn bộ hoạt động của hệ thống tư pháp hình sự1, thi hành án hình sự là một hoạt động độc lập, giữ vai trò quan trọng đối với việc giáo dục người phạm tội trở thành người có ý thức tuân theo pháp luật
và các quy tắc của cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng Hiện nay, hình phạt tù vẫn là hình phạt được áp dụng phổ biến nhất trong hệ thống hình phạt theo qui định của luật hình sự Việt Nam Mặc dù Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nâng cao hiệu quả thi hành án hình sự, nhất là án phạt tù, nhưng luôn luôn tồn tại một tỉ lệ không nhỏ số người tái phạm Theo thống kê, số phạm nhân có tiền án chiếm tỉ lệ 23,5%, số tái phạm nguy hiểm chiếm 10,8% tổng số phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam2 Kết quả thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên cho thấy có 6,9% tái phạm ngay khi còn ở độ tuổi chưa thành niên, có 1,3% phạm nhân là người chưa thành niên có nhiều tiền án, tiền sự3; chưa kể số tái phạm khi đã bước sang tuổi thành niên và nằm trong con số thống kê phạm nhân có tiền án nêu trên Người phạm tội trong trường hợp tái phạm bao giờ cũng nguy hiểm hơn vì họ
có kinh nghiệm phạm tội và có thể họ đã tiêm nhiễm những tính cách, kỹ năng xấu
từ môi trường tập trung phạm nhân trong trại giam trước đây, nhờ đó họ còn có kinh nghiệm che giấu tội phạm, đối phó với cơ quan bảo vệ pháp luật Nếu người tái phạm đó là người mà trước đây là phạm nhân là người chưa thành niên thì tính chất, mức độ nguy hiểm còn cao hơn gấp bội bởi vì tuổi đời họ còn trẻ và dễ dàng đi vào con đường phạm tội chuyên nghiệp
Trong những năm gần đây, các báo cáo tổng kết công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của ngành Công an đều có chung nhận định: tình hình tội phạm gia tăng về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội (bạo lực, hung hãn, manh động hơn), đối tượng phạm tội có xu hướng ngày càng trẻ hóa, tội phạm do người chưa thành niên thực hiện gia tăng Nếu như trước năm 2010, phạm nhân là người chưa thành niên chiếm số lượng không đáng kể thì những năm gần đây luôn dao động trong khoảng trên dưới 900 phạm nhân là người chưa thành niên và chiếm tỉ lệ trên
1
Lê Văn Cảm (2009), Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, HN, tr 135
2 Theo Báo cáo tổng kết công tác thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp năm 2017 của Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp, Bộ Công an (nay là Cục Cảnh sát Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng)
3 Xem Phụ lục 6
Trang 50,8% tổng số phạm nhân đang chấp hành án phạt tù4 Căn cứ vào các qui định của luật hình sự Việt Nam về áp dụng hình phạt tù có thời hạn, về miễn giảm hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì có thể nhận định rằng phạm nhân là người chưa thành niên đến khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù sẽ đa số ở trong độ tuổi dưới 30 tuổi Đây là độ tuổi có sức lao động sung mãn, có khả năng đóng góp lớn cho xã hội nhưng đồng thời cũng là độ tuổi có khả năng cao tiếp tục rơi vào con đường phạm tội nếu người đó chưa thực sự được giáo dục tốt (theo thống kê, nhóm phạm nhân đông đảo, phổ biến nhất trong cơ cấu phạm nhân theo độ tuổi chính là số phạm nhân từ 18 đến dưới 30 tuổi, chiếm tỉ lệ 45,2% tổng số phạm nhân5) Như vậy, nếu việc thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên không đạt hiệu quả cao thì sẽ càng làm gia tăng nguồn tội phạm (tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp) và còn gây lãng phí một nguồn lao động trẻ của xã hội Do đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào để những phạm nhân là người chưa thành niên sau khi chấp hành án xong phạt tù thì không tái phạm và thực sự trở thành người có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng thành công?
Phạm nhân là người chưa thành niên là một loại người chấp hành án đặc biệt trong thi hành án phạt tù Người chưa thành niên do chưa phát triển đầy đủ và toàn diện về thể chất, trí lực và tinh thần nên dù là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù trong trại giam họ vẫn cần được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục bằng những chế độ đặc biệt để có thể tiếp tục phát triển về mọi mặt một cách bình thường Thi hành án phạt
tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên đề cao mục tiêu giáo dục, ưu tiên thực hiện những biện pháp giáo dục, giúp họ sửa chữa sai lầm và trở thành người có
ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng Trong khi đó, phạm nhân là người chưa thành niên dễ tiếp nhận các tác động giáo dục hơn so với phạm nhân thành niên Đúng ra, thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên phải đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn và cần phải như thế Tuy vậy, đánh giá một cách tổng quan, có thể nhận thấy:
- Lý luận về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên vẫn chưa hoàn thiện và chưa có tính hệ thống, đặc biệt là chưa làm rõ được đặc thù
và sự khác biệt của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
Trang 6so với thi hành án phạt tù đối với phạm nhân thành niên và nguồn gốc, cơ sở của điều đó
- Pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên vẫn còn thiếu nhiều qui định về bảo vệ phạm nhân là người chưa thành niên, chưa phản ánh đúng mức chính sách ưu tiên bảo vệ, chăm sóc và giáo dục người chưa thành niên phạm tội bằng những biện pháp và phương thức tổ chức phù hợp với đặc thù của phạm nhân là người chưa thành niên hoặc tuy đã có qui định nhưng chưa đồng bộ, đầy đủ và rõ ràng, chưa có văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện Mặc khác, kể từ ngày 01/01/2018 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 có hiệu lực thi hành và có nhiều qui định mới về chính sách hình sự đối với người dưới
18 tuổi phạm tội nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về lĩnh vực thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
- Thực tiễn thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
đã và đang gặp nhiều khó khăn, bất cập, hiệu quả giáo dục chưa cao Phạm nhân là người chưa thành niên có tỉ lệ khen thưởng rất ít, chỉ chiếm 1,4%, nhưng tỉ lệ kỷ luật lại cao hơn nhiều, đến 7,5%6 So với kết quả thi hành án phạt tù đối với phạm nhân thành niên, tỉ lệ phạm nhân là người chưa thành niên được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá cũng ít hơn phạm nhân thành niên, chỉ chiếm 42,3% (trong khi tỉ lệ này ở phạm nhân thành niên là 60%)7 mặc dù pháp luật qui định nhiều điều kiện ưu tiên hơn dành cho phạm nhân là người chưa thành niên Việc thực hiện chế
độ giam giữ phạm nhân là người chưa thành niên tồn tại nhiều hạn chế về cơ sở vật chất phục vụ giam giữ, chưa bảo đảm phân hóa phạm nhân, chưa triệt để giam giữ riêng, tách phạm nhân là người chưa thành niên khỏi ảnh hưởng của phạm nhân thành niên trong trại giam Việc thực hiện chế độ lao động, học tập đối với phạm nhân là người chưa thành niên chưa bảo đảm tính chất và mục đích giáo dục Các chế độ chấp hành án khác vẫn chưa bảo đảm chính sách dành những lợi ích tốt nhất
và ưu tiên bảo vệ, chăm sóc, giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên Các hoạt động chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng, đặc biệt là việc dạy nghề cho phạm nhân là người chưa thành niên, còn thiếu chủ động và có nhiều lúng túng Những tồn tại, hạn chế nói trên đặt ra nhu cầu cần tổng kết rút kinh nghiệm về thực tiễn thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
6
Số liệu thống kê tại Phụ lục 8
7 Số liệu thống kê tại Phụ lục 9
Trang 7- Mặt khác, các điều ước quốc tế có liên quan đến thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên mà Việt Nam đã là thành viên đặt ra nhu cầu nội luật hóa một cách phù hợp, đồng thời những giá trị, chuẩn mực quốc tế về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên cũng đang tác động nhất định đến nhu cầu hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam
Từ những vấn đề trên cho thấy cần phải nghiên cứu, đánh giá về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên một cách toàn diện, trên nhiều mặt, nhiều yếu tố được xem là những yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng thi hành
án phạt tù để có cơ sở tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng của nó, góp phần phòng, chống tội phạm và xây dựng một xã hội tốt đẹp Vì thế, nghiên cứu sinh
chọn đề tài “Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam” để nghiên cứu làm luận án Tiến sĩ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu toàn diện về lý luận, pháp luật và thực tiễn thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên, Luận án sẽ đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích trên, Luận án thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận pháp lý về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên;
- Nghiên cứu làm rõ quá trình phát triển pháp luật, nội dung các qui định của pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay, tìm ra những hạn chế, bất cập;
- Nghiên cứu những chuẩn mực quốc tế và pháp luật của một số quốc gia về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt với pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên ở Việt Nam;
- Khảo sát thực trạng thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên ở Việt Nam, tìm ra những hạn chế, vướng mắc và xác định nguyên nhân
Trang 83 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên;
- Pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên;
- Thực tiễn áp dụng pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và nghiên cứu toàn diện pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên, trọng tâm là các vấn đề theo khung lý thuyết nghiên cứu đã xác định, bao gồm: mô hình quản lý, tổ chức thi hành án phạt tù, chế độ giam giữ, giáo dục, các chế độ khác và việc chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng đối với phạm nhân là người chưa thành niên
Luận án nghiên cứu khảo sát thực tiễn thi hành án phạt tù đối với phạm nhân
là người chưa thành niên tại các trại giam thuộc Bộ Công an có quản lý giam giữ phạm nhân là người chưa thành niên
Các thông tin, số liệu sử dụng để nghiên cứu được thu thập trên phạm vi cả nước trong thời gian từ khi Luật Thi hành án hình sự năm 2010 có hiệu lực thi hành (từ năm 2012 đến năm 2018)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận án được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Về mặt phương pháp luận, Luận án được thực hiện dựa trên phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin Luận án sử dụng kết hợp những phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với từng chương, từng vấn đề nghiên cứu
- Đối với phần tổng quan về vấn đề nghiên cứu, Chương 1 và tiết thứ nhất của Chương 2, Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận lôgic để khái quát hóa tình hình nghiên cứu
có liên quan đến Luận án, luận giải các vấn đề mang tính lý luận hay phân tích để tìm ra những mâu thuẫn, hạn chế trong các qui định pháp luật Việc đánh giá quá trình hình thành và phát triển pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên ở Việt Nam luôn được đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể, trong điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam Việc nghiên cứu mức độ tương thích giữa pháp luật Việt Nam với chuẩn mực quốc tế và pháp luật của một số quốc gia về thi
Trang 9hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên không mang tính chất khen chê hay phân biệt đẳng cấp cao thấp mà chỉ nhằm mục đích tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt, đồng thời từ những điểm khác biệt ấy để định hướng việc nội luật hóa pháp luật Việt Nam về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên, bảo đảm phù hợp với những đòi hỏi của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay
- Đối với tiết thứ hai của Chương 2, Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp thống kê hình sự, khảo sát thực tế, phương pháp bảng hỏi Các phương pháp này có ưu điểm cho phép thu thập những số liệu, dữ liệu mang tính định lượng và điển hình, phù hợp với nghiên cứu thực trạng về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên ở Việt Nam Để đánh giá về thực trạng thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên, Luận án tiếp tục sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, suy luận lôgic dựa trên cơ sở những số liệu, dữ liệu
đã thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu cụ thể trước đó
- Đối với Chương 3, Luận án sử dụng phương pháp tổng hợp, suy luận lôgic
để đi từ các kết quả nghiên cứu ở Chương 1 và Chương 2 đến việc xác định các yêu cầu và nội dung của nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên, đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
Như vậy, Luận án được thực hiện trên cơ sở kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng một cách hợp lý nhằm phát huy ưu điểm của từng
phương pháp, mang lại hiệu quả nghiên cứu tối ưu
5 Điểm mới của luận án
- Thứ nhất, Luận án đã phân tích và làm sáng tỏ về mặt lý luận khái niệm phạm nhân là người chưa thành niên và thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên; đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở, nguyên tắc của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên;
- Thứ hai, Luận án phân tích các vấn đề pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên;
- Thứ ba, Luận án đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về thi hành án phạt
tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân;
- Thứ tư, trên cơ sở nghiên cứu lý luận, pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật, Luận án đã đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thi hành án phạt tù đối
Trang 10với phạm nhân là người chưa thành niên, bao gồm các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên và các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ góp phần đưa ra cơ sở khoa học có giá trị tham khảo đối với các nhà lập pháp trong việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam và làm phong phú thêm lý luận về bảo vệ người chưa thành niên, về thi hành án phạt tù trong luật học
- Luận án cũng có giá trị tham khảo hữu ích đối với cán bộ làm công tác thực tiễn trong thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
- Việc thực hiện những giải pháp của Luận án về hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự sẽ giúp bảo vệ tốt hơn phạm nhân là người chưa thành niên, bảo đảm cho họ có điều kiện phát triển bình thường về các mặt thể chất, trí lực và tinh thần, thể hiện bản chất nhân đạo và tiến bộ của nhà nước ta, đồng thời nâng cao hiệu quả giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên, giúp họ trở thành người biết tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
Ngoài phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án có kết cấu gồm ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và chuẩn mực quốc tế, pháp luật của một số quốc gia về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
Chương 2: Pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
Trang 11TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý, khả năng nhận thức của người chưa thành niên, từ tầm quan trọng và ý nghĩa của việc xử lý tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, việc giáo dục người chưa thành niên phạm tội và xây dựng một xã hội lành mạnh, văn minh, vấn đề tư pháp người chưa thành niên nói chung và thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên nói riêng luôn được quan tâm nghiên cứu trong khoa học tư pháp hình sự ở cả trong và ngoài nước
Ở Việt Nam từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận án tiến
sĩ, luận văn thạc sĩ, bài báo khoa học viết về các vấn đề liên quan đến người chưa thành niên và lĩnh vực thi hành án hình sự Các công trình này khá đa dạng, phong phú về nội dung, mục đích nghiên cứu và không chỉ giới hạn trong lĩnh vực luật học
mà còn có cả ở lĩnh vực xã hội học, tâm lý học, giáo dục học
- Về hướng nghiên cứu các vấn đề liên quan đến người chưa thành niên có
thể kể đến một số công trình như: luận án “Nguồn gốc xã hội của việc vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên hiện nay (năm 2002) của TSKH Hồ Diệu Thúy; chuyên khảo “Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách” của TS
Nguyễn Đình Đặng Lục (nhà xuất bản CTQG xuất bản năm 1997 và tái bản năm
2005 và 2013); chuyên khảo “Người chưa thành niên phạm tội – đặc điểm tâm lý và chính sách xử lý” của TS Đặng Thanh Nga và TS Trương Quang Vinh (NXB Tư pháp, Hà Nội, 2011); luận án “Bảo đảm quyền của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự ở Việt Nam” của TS Lê Minh Thắng (2012) v.v…
- Về hướng nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lĩnh vực thi hành án hình sự
có thể kể đến một số công trình như: chuyên khảo “Một số vấn đề về thi hành án hình sự” của TS Trần Quang Tiệp (NXB CAND, HN, 2002); luận án “Hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự” của TS Vũ Trọng Hách (2004); chuyên khảo “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giáo dục phạm nhân trong giai đoạn hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Hữu Duyện (NXB CAND, 2010); đề tài khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự ở Việt Nam” do TS Nguyễn Đức Phúc chủ nhiệm (2016); chuyên khảo “Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở Việt Nam” của TS Ngô Văn Trù (NXB CAND, 2017); luận án “Bảo đảm quyền con người của người bị kết án phạt
tù trong thi hành án hình sự ở Việt Nam” của TS Lê Hữu Trí (2017) v.v…
Trang 12Kết quả nghiên cứu của các công trình nói trên có liên quan đến nội dung của Luận án này như sau:
+ Chuyên khảo “Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách” của TS Nguyễn Đình Đặng Lục đã nghiên cứu làm rõ lý luận về sự hình
thành, phát triển nhân cách và vai trò của pháp luật trong sự hình thành, phát triển nhân cách của người chưa thành niên; những đặc điểm tâm lý, ý thức pháp luật của người chưa thành niên Nghiên cứu này đã mang lại tiền đề lý luận cho việc luận giải chính sách giam giữ, giáo dục và các chính sách chấp hành án khác trong thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
+ Cũng liên quan đến chính sách giam giữ phạm nhân, chuyên khảo “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giáo dục phạm nhân trong giai đoạn hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Hữu Duyện đã nghiên cứu, phân tích đặc điểm tâm lý,
đặc điểm về trình độ văn hóa, hiểu biết, tính cách, thái độ của các nhóm phạm nhân khác nhau (nhóm phạm nhân xâm phạm an ninh quốc gia, nhóm phạm nhân xâm phạm trật tự an toàn xã hội, nhóm phạm nhân phạm tội lần đầu, phạm nhân nguyên
là cán bộ, nhân dân lao động, nhóm phạm nhân có nhiều tiền án, tiền sự, thực hiện tội phạm có sử dụng bạo lực), từ đó chỉ ra tính chất cực kỳ phức tạp của môi trường tập trung phạm nhân trong trại giam, nơi chủ yếu giam giữ các phạm nhân đã thành niên Nghiên cứu này cho phép rút ra hệ quả: nếu bộ phận phạm nhân là người chưa thành niên chiếm thiểu số cũng được bố trí chấp hành án phạt tù chung trại giam với phạm nhân thành niên thì sẽ không thể tránh khỏi những tác động xấu của môi
Trang 13trường trại giam đa loại phạm nhân Đây là một tiền đề lý luận để luận giải về chính sách giam giữ phạm nhân là người chưa thành niên
- Liên quan đến nghiên cứu về nguyên tắc thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên:
Chuyên khảo “Người chưa thành niên phạm tội – đặc điểm tâm lý và chính sách xử lý” của TS Đặng Thanh Nga và TS Trương Quang Vinh đã xác định một
số nguyên tắc cơ bản về tư pháp người chưa thành niên Chuyên khảo “Một số vấn
đề về thi hành án hình sự” của TS Trần Quang Tiệp đã nghiên cứu làm rõ về khái
niệm, nhiệm vụ, các nguyên tắc của pháp luật thi hành án hình sự Chuyên khảo
“Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giáo dục phạm nhân trong giai đoạn hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Hữu Duyện đã làm rõ những nội dung cơ bản
về triết lý giáo dục cải tạo phạm nhân của Việt Nam, làm rõ những vấn đề lý luận chung về giáo dục phạm nhân, các nguyên tắc, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục phạm nhân Những nghiên cứu nói trên đã tạo ra tiền đề lý luận cho Luận
án trong việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu lý luận về nguyên tắc thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên, đặc biệt là những nguyên tắc đặc thù
Về pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật:
- Liên quan đến nghiên cứu về mô hình quản lý, tổ chức thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên:
+ Luận án “Hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự” của TS Vũ Trọng Hách (2003) đã chỉ ra mô hình quản lý, tổ chức thi hành án
phạt tù ở Việt Nam theo Pháp lệnh Thi hành án phạt tù 1993, theo đó hệ thống trại giam được chia thành ba loại trại giam (loại I, loại II và loại III) khác nhau về đối tượng giam giữ, về tổ chức cán bộ, đặc thù quản lý, giam giữ phạm nhân, trong đó
21 trại giam loại III trên toàn quốc là những trại giam có tổ chức giam giữ phạm nhân là người chưa thành niên Tuy nhiên, kể từ năm 2007 mô hình này đã thay đổi, không còn phân chia ba loại trại giam nữa Vì vậy, vấn đề mô hình quản lý, tổ chức thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên cần phải được nghiên cứu, khảo sát lại Hơn nữa, TS Vũ Trọng Hách nghiên cứu mô hình quản lý,
tổ chức thi hành án phạt tù từ góc độ quản lý nhà nước chứ chưa tiếp cận từ góc độ đáp ứng yêu cầu đặc thù của giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên
+ Đánh giá về đội ngũ cán bộ trại giam, thông qua nghiên cứu việc bảo vệ và
tổ chức thực hiện các quyền con người của người bị kết án phạt tù, luận án “Bảo đảm quyền con người của người bị kết án phạt tù trong thi hành án hình sự ở Việt
Trang 14Nam” của TS Lê Hữu Trí (2017) đã phát hiện một số hạn chế về phẩm chất, trình
độ, năng lực của đội ngũ cán bộ thi hành án phạt tù nói chung Chuyên khảo
“Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giáo dục phạm nhân trong giai đoạn hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Hữu Duyện cũng đánh giá đội ngũ cán bộ
quản giáo và các cán bộ khác ở trại giam không có chuyên môn sư phạm, tâm lý cần thiết cho hoạt động giáo dục phạm nhân Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đi sâu đánh giá phẩm chất, trình độ, năng lực của cán bộ trực tiếp quản lý, giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên
- Liên quan đến nghiên cứu về chế độ giam giữ, chế độ giáo dục và các chế
độ khác đối với phạm nhân là người chưa thành niên:
+ Đề tài khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự ở Việt Nam” do TS Nguyễn Đức Phúc chủ nhiệm (2016) đã
khảo sát thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật thi hành án hình sự ở Việt Nam Đối với pháp luật thi hành án phạt tù, đề tài đã khảo sát, đánh giá về trình tự, thủ tục thi hành án phạt tù, chế độ quản lý giam giữ, giáo dục phạm nhân và việc thực hiện một số quyền cơ bản của phạm nhân, từ đó chỉ ra một số hạn chế đáng chú ý: có lúc,
có nơi còn tình trạng giam chung phạm nhân là người chưa thành niên với phạm nhân thành niên; pháp luật chưa qui định cụ thể chế độ sinh hoạt của phạm nhân (như mẫu thiết kế, diện tích thư viện, khu vui chơi, sân thể thao cho phạm nhân), chưa qui định chi tiết nội dung học tập, học nghề, chế độ lao động đối với từng loại phạm nhân; hoạt động học tập của phạm nhân chưa được quan tâm đúng mức, chưa chú trọng chất lượng, hiệu quả và có biểu hiện hình thức Những nghiên cứu này được tiến hành cách đây không lâu và có độ tin cậy cao nhưng chưa đi sâu vào các chế độ áp dụng với phạm nhân là người chưa thành niên, tiếp cận từ góc độ xem xét các quyền của phạm nhân nhưng chưa chú trọng đặt các quyền đó trong mối liên hệ với mục đích giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên nhận thức và sửa chữa sai lầm, hoàn thiện nhân cách, chuẩn mực hóa hành vi xử sự
+ Trong chuyên khảo “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giáo dục phạm nhân trong giai đoạn hiện nay”, PGS.TS Nguyễn Hữu Duyện coi chế độ
lao động là một nội dung của giáo dục phạm nhân (giáo dục thông qua lao động) và chỉ ra những hạn chế trong giáo dục lao động đối với phạm nhân là nặng về lao động sản xuất, coi nhẹ tính chất và mục tiêu giáo dục Kết quả nghiên cứu này cần được kế thừa trong Luận án Việc coi lao động là một nội dung của giáo dục phạm nhân đã gợi mở một cách tiếp cận nghiên cứu mới, có nhiều ưu điểm để áp dụng
Trang 15trong nghiên cứu pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về chế độ lao động của phạm nhân là người chưa thành niên
+ Chuyên khảo “Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở Việt Nam” của TS
Ngô Văn Trù (2017) đã nghiên cứu sâu về hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân dưới góc độ giáo dục học và đã phát hiện ra một số hạn chế trong hoạt động này, như: cán bộ giáo dục thiếu và trình độ không đồng đều, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm kém; người học (phạm nhân) có trình độ kém và phân hóa cao, phức tạp về nhân thân và tâm lý, thái độ nhưng trong tổ chức thực hiện việc dạy học chưa sàng lọc, phân loại cho phù hợp; còn nặng tính hình thức, không thực chất về chất lượng, hiệu quả Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đi sâu vào đối tượng giáo dục là phạm nhân là người chưa thành niên nên Luận án cần coi kết quả nghiên cứu này là nền tảng để trên cơ sở đó tiếp tục khảo sát sâu về giáo dục pháp luật cho phạm nhân là người chưa thành niên
- Liên quan đến nghiên cứu về việc chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân là người chưa thành niên:
Luận án “Bảo đảm quyền của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự ở Việt Nam” (năm 2012) của TS Lê Minh Thắng đã nghiên cứu tất cả các quyền của
người chưa thành niên trong tố tụng hình sự kể từ khi bắt đầu quá trình xử lý vụ án hình sự cho đến thi hành án hình sự; đối tượng nghiên cứu gồm hai loại người là người chưa thành niên phạm tội và người chưa thành niên là người làm chứng, người bị hại Luận án đã nghiên cứu các qui định về chế độ chấp hành án phạt tù của phạm nhân là người chưa thành niên và rút ra một số hạn chế nhất định trong
chế độ dạy nghề đối với phạm nhân là người chưa thành niên Chuyên khảo “Người chưa thành niên phạm tội – đặc điểm tâm lý và chính sách xử lý” của TS Đặng
Thanh Nga và TS Trương Quang Vinh (năm 2011) đã chỉ ra một số hạn chế của chính sách hình sự trong hoạt động chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng và đánh giá các trại giam chỉ chú trọng lao động bắt buộc mà không có khả năng đào tạo nghề cho các em Nhìn chung, những nghiên cứu này tiến hành đã lâu, phạm vi nghiên cứu rộng nên chưa nghiên cứu, đánh giá toàn diện về việc chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân và chưa đi sâu vào phạm nhân là người chưa thành niên với tư cách là một loại người chấp hành án đặc biệt
Ngoài các luận án tiến sĩ, công trình chuyên khảo kể trên, còn có nhiều bài báo khoa học có nội dung liên quan đến luận án Các bài báo liên quan đến chính
sách thi hành án hình sự mà luận án cần nghiên cứu, như: bài “Một số đặc điểm tâm
Trang 16lý của người chưa thành niên phạm tội” của Đặng Thanh Nga đăng trên tạp chí Luật học số tháng 1/2008, bài “Tư pháp phục hồi trong việc xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật” của Đỗ Hoàng Yến đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp
số 136 (tháng 12/2008), bài báo “Xã hội hóa công tác thi hành án theo tinh thần cải cách tư pháp” của Lưu Bình Nhưỡng đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật số
7/2015 v.v… Các bài báo liên quan đến các chế độ chấp hành án đối với phạm nhân
là người chưa thành niên mà luận án cần nghiên cứu, như: bài “Quyền của người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” của Vũ Thị Thu Quyên đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 5/2012, bài “Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên” của Hoàng Thị Minh Sơn đăng trên tạp chí Luật học số 9/2015, bài “Chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại trại giam và các trường giáo dưỡng – thực trạng và giải pháp” của Trương Quang Vinh đăng trên tạp chí Luật học số 4/2006, bài “Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong đấu tranh phòng, chống người chưa thành niên phạm tội” của Trần Quang Tiệp đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 201 tháng 1/2005, bài “Điều kiện đảm bảo hiệu quả hoạt động thi hành án hình sự” của Bùi Kiên Điện đăng trên tạp chí Luật học số
tháng 6/2007 v.v…
Nhìn chung, các bài báo nói trên đã phản ánh sự quan tâm và những kết quả nghiên cứu mang tính thời sự của nhiều tác giả trong nước Mỗi bài báo trong khuôn khổ giới hạn của nó đã nêu lên một hoặc một số vấn đề hạn chế của pháp luật hay vướng mắc trong thực hiện pháp luật có liên quan đến vấn đề người chưa thành niên và vấn đề thi hành án hình sự, đồng thời phản ánh quan điểm khoa học của cá nhân tác giả Các vấn đề được nêu ra và các quan điểm khoa học đó sẽ là nguồn tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu vấn đề thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng sách chuyên khảo, tài liệu tham khảo, giáo trình, báo cáo khoa học… Các công trình này khá đa dạng, phong phú về nội dung, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu, song có thể rút ra một số kết quả nghiên cứu có liên quan đến Luận án như sau:
Trang 17tâm nghiên cứu quốc tế về nhà tù (International Centre for Prison Studies), Vương
quốc Anh, tái bản lần thứ 2 vào năm 2009, nhấn mạnh đến một số vấn đề, như là:
+ Phạm nhân là người chưa thành niên là đối tượng dễ tiếp nhận những tác động tích cực từ sự huấn luyện và giáo dục;
+ Đối xử với phạm nhân là người chưa thành niên cần hạn chế tối thiểu những yếu tố cưỡng bức, chỉ sử dụng yếu tố mang tính cưỡng bức đến mức cần thiết
để huấn luyện và phát triển nhân tính;
+ Cần chống bệnh nghề nghiệp và xây dựng các kỹ năng cần có của nhân viên nhà tù người chưa thành niên: nhân viên nhà tù thường có thói quen đối xử nghiêm khắc với phạm nhân như là một biện pháp phòng hộ, kể cả với phạm nhân
là người chưa thành niên Nhân viên nhà tù người chưa thành niên cần tránh điều này và phải tài giỏi, có những kỹ năng khác với khi ở nhà tù người thành niên Thực
ra, môi trường nhà tù người chưa thành niên là môi trường làm việc căng thẳng, phạm nhân là người chưa thành niên là những người hay đổi thay, khó đoán, khó lường, không hề kém nguy hiểm Vì thế, nhân viên nhà tù người chưa thành niên cần có khả năng chế ngự những cảm xúc, phản ứng tự nhiên không phù hợp trong tình huống làm việc với phạm nhân là người chưa thành niên Họ cần phải có kỹ năng kết hợp những yêu cầu an toàn và biết lựa chọn cách xử lý tối ưu với lòng quan tâm giáo dục, giúp đỡ phạm nhân là người chưa thành niên tiến bộ
- Liên quan đến nghiên cứu vấn đề chính sách thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên:
+ Bộ báo cáo khoa học toàn diện về tư pháp hình sự Mỹ trong thế kỷ XX của
Học viện Tư pháp Quốc gia Mỹ mang tựa đề Criminal Justice 2000 (tạm dịch là Tư pháp hình sự 2000) đã đánh giá những tri thức, chính sách hình sự, những thành tựu
của tư pháp hình sự Mỹ hơn 100 năm qua và đưa ra những định hướng lớn khi bước
vào thế kỷ XXI Criminal Justice 2000 gồm có 4 tập, trong đó tập một mang tựa đề The Nature of Crime: continuity and change (tạm dịch là Bản chất của tội phạm: sự tiếp nối và biến đổi) bao gồm 10 báo cáo chuyên đề, trong đó chuyên đề thứ tám mang tựa đề A Century of Juvenile Justice (tạm dịch là Một thế kỷ của tư pháp chưa
Trang 18thành niên) do Philip W Harris, Wayne N Welsh và Frank Butler trình bày Trong
chuyên đề khoa học này, các tác giả đã đặt ra câu hỏi nghiên cứu rằng: điều gì đã tạo nên tình trạng phạm tội của người chưa thành niên – do bản năng xấu xa của cá nhân người phạm tội hay do sự non nớt trong nhân cách? Việc xử lý tội phạm do người chưa thành niên thực hiện nên đặt trọng tâm vào việc xử lý đối với hành vi phạm tội hay vào việc tập trung bù đắp những mảng còn thiếu trong phẩm chất cá nhân của người chưa thành niên? Kết quả nghiên cứu đã đi đến một số kết luận đáng chú ý sau đây: nhìn chung tội phạm ở người chưa thành niên chủ yếu là tội phạm xâm phạm sở hữu và tội phạm ít nghiêm trọng (tội phạm bạo lực ở người chưa thành niên là không đáng kể, chỉ chiếm khoảng 4% tổng số tội phạm bạo lực) Nguyên nhân chủ yếu của tội phạm chưa thành niên ở Mỹ trong thế kỷ XX là những yếu tố liên quan đến sự suy giảm năng lực của các thiết chế quản lý xã hội, sự bùng
nổ thông tin, sự biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, tôn giáo, cộng đồng dân cư… trong xã hội Mỹ hiện đại đã làm lệch lạc tâm lý và hành vi của người chưa thành niên phạm tội Khi bị đưa vào quá trình xử lý của hệ thống tư pháp chưa thành niên, họ ở trong trạng thái vừa trong sạch vừa thối rữa, vừa liêm khiết vừa tinh ranh, vừa thiên thần vừa hung bạo Vì thế, điều quan trọng trong chính sách xử
lý người chưa thành niên phạm tội là phải dành những điều tốt nhất cho họ để chỉnh sửa những phẩm chất cá nhân sai lệch
+ Trong quyển sách Juvenile Justice: an introduction (tạm dịch là Tư pháp chưa thành niên: bước đầu tìm hiểu), ấn phẩm tái bản lần thứ 7 của nhà xuất bản
Elsevier năm 2013, các tác giả John T Whitehead và Steven P Lab đã nghiên cứu một cách khá toàn diện về tư pháp chưa thành niên, khái quát lịch sử tư pháp chưa thành niên kể từ khi lần đầu tiên một trại cải tạo (Bridewell Institution) dành riêng
để xử lý trẻ em ăn xin được thành lập ở Anh quốc vào đầu năm 1555 cho đến nay, nghiên cứu hệ thống các cơ sở cải huấn, các chương trình giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội và phạm pháp ở Mỹ và nêu lên một số xu hướng hiện nay trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội, như:
* Cách tiếp cận cân bằng (The Balanced Approach): xử lý người chưa thành
niên phạm tội trên cơ sở bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu phát triển thể chất, trí lực, tinh thần, ý thức về trách nhiệm cá nhân đối với hành vi phạm tội đã thực hiện với nhu cầu bảo đảm an toàn của cộng đồng, xã hội và nhu cầu khắc phục thiệt hại
do tội phạm gây ra Từ đó, quan điểm này nhấn mạnh việc tổ chức cho người chưa thành niên phạm tội bồi thường thiệt hại và lao động phục vụ cộng đồng
Trang 19* Tư pháp phục hồi (Restorative Justice): cho rằng tội phạm do người chưa
thành niên thực hiện có bản chất là hành vi chống lại và gây thiệt hại cho con người
và cộng đồng, cho nên trong xử lý tội phạm cần tập trung vào việc tổ chức cho người phạm tội thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại, hòa giải với người bị hại Trừng phạt không mang lại hiệu quả trong việc thay đổi hành vi và thậm chí còn cản trở sự tái hòa nhập cộng đồng
* Sứ giả hòa giải (Peacemaking): cho rằng trong thi hành hình phạt và các
biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội và phạm pháp cần phải đề cao mục tiêu chính là xây dựng đội ngũ cán bộ cải huấn, nhân viên tư vấn trong nhà
tù, nhân viên quản chế có những đức tính trung thực, dũng cảm, nhân hậu và hài hước để có khả năng làm cho đối tượng giáo dục cải tạo của mình cảm thấy thoải mái tư tưởng và tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống của họ
* Tư pháp cộng đồng (Community Justice): nhấn mạnh cộng đồng phải có
trách nhiệm và thực hiện trách nhiệm giáo dục người chưa thành niên phạm tội, không được phó thác trách nhiệm đó cho đội ngũ nhân viên cải huấn
Bên cạnh đó, các tác giả của Juvenile Justice: an introduction cũng chỉ ra
hạn chế của những xu hướng tư pháp nói trên, như là: tư pháp phục hồi chỉ có thể thực hiện được đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng và không phải là tội phạm bạo lực; việc hòa giải giữa người phạm tội với người bị hại trên thực tế không đơn giản; người chưa thành niên phạm tội thường không có thiện chí, không tự nguyện, tự giác khi đưa vào các chương trình giáo dục hòa giải v.v…
Về thực tiễn:
- Liên quan đến nghiên cứu vấn đề mô hình quản lý, tổ chức thi hành án phạt
tù và chế độ giam giữ đối với phạm nhân là người chưa thành niên:
+ Trong quyển Guidance Notes on Prison Reform (tạm dịch là Hướng dẫn cải cách nhà tù) của Giáo sư Andrew Coyle, Trung tâm nghiên cứu quốc tế về nhà
tù Vương quốc Anh, xuất bản năm 2004, tác giả cho rằng người chưa thành niên khi
bị đưa vào nhà tù thì rất dễ bị tổn thương, họ không đủ nhận thức để hình dung và đón nhận sự tồi tệ mà mình phải gánh chịu do việc bị kết án tù và thi hành án phạt
tù, quá trình thi hành án phạt tù cần phải đối xử phục hồi với họ Tác giả đưa ra quan điểm cho rằng nhà tù dành cho phạm nhân là người chưa thành niên nên là một thể chế không hoàn toàn đến mức nhà tù đúng nghĩa, nếu có thể được Thể chế
đó nên là một thể chế mang tính giáo dục và nâng đỡ để họ chuẩn bị cho cuộc sống tương lai sau khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù Bằng cấp đạt được do học tập
Trang 20trong nhà tù không nên biểu thị những thông tin cho thấy họ đã có được nó do học tập trong nhà tù Tác giả cũng nhấn mạnh cần phải quan tâm cải thiện điều kiện giam cầm; nhân viên nhà tù phải đối xử đúng đắn với phạm nhân là người chưa thành niên, chú trọng thực hiện các chương trình văn hóa, giáo dục kỹ năng sống, tạo dựng mối liên hệ với gia đình và thế giới bên ngoài, đồng thời cần phải nổ lực hoàn thiện pháp luật về thi hành án phạt tù phù hợp với chuẩn mực quốc tế
+ John T Whitehead và Steven P Lab (tác giả quyển sách Juvenile Justice:
an introduction đã đề cập ở trên) cũng khẳng định việc giam cầm người chưa thành
niên trong các nhà tù người lớn là không hiệu quả trong việc ngăn chặn tội phạm trong tương lai bởi vì họ sẽ bị tổn thương và rất ít có hy vọng phục hồi hành vi, cải tạo tốt trong một đời sống tù hãm và chịu định kiến của các nhân viên nhà tù (xu hướng chỉ nhìn thấy sự nguy hiểm do hành vi phạm tội của phạm nhân chưa thành niên hơn là nhận thức được về sự phát triển chưa đầy đủ của họ) Các tác giả nhấn mạnh nên tập trung đầu tư cho giáo dục người chưa thành niên phạm tội thay vì lại
đi quan tâm giáo dục cải tạo đối tượng phạm tội là người thành niên, đối tượng phạm tội chuyên nghiệp vốn dĩ hiệu quả thấp và không có nhiều ý nghĩa
+ Trong cuốn Exploring Corrections in America (tạm dịch là Khám phá Cải huấn ở Mỹ) của John T Whitehead, Mark Jones và Michael C Braswell, tái bản lần
thứ 2 vào năm 2008 bởi nhà xuất bản Anderson Publishing, các tác giả đã nghiên cứu lịch sử cải huấn ở Mỹ, đánh giá thực tiễn công tác cải huấn, vấn đề đội ngũ cán
bộ cải huấn, quản lý cải huấn, vấn đề thi hành án phạt tù, tử hình tại Mỹ và nhận định về tương lai của cải huấn Mỹ Về vấn đề thi hành án phạt tù đối với phạm nhân
là người chưa thành niên, các tác giả nêu lên thực trạng khó khăn về cơ sở vật chất, điều kiện tổ chức giam giữ loại đối tượng này Ở những tiểu bang nào không có cơ
sở dành riêng cho phạm nhân là người chưa thành niên, cơ quan thi hành án buộc
phải đưa họ vào nhà tù dành cho người lớn Mặc dù Đạo luật tư pháp chưa thành niên và phòng ngừa phạm pháp năm 1974 (The Juvenile Justice and Delinquency Prevention Act) qui định phạm nhân là người chưa thành niên đưa vào trong nhà tù
dành cho người thành niên phải bảo đảm họ được tách biệt về âm thanh và tầm nhìn với phạm nhân thành niên, song thực tế nhà tù không thể đáp ứng yêu cầu này Từ
đó, tác giả khuyến cáo rằng tốt nhất là qui định cấm hẳn việc để phạm nhân là người chưa thành niên chung môi trường một nhà tù với phạm nhân thành niên Đồng thời, các tác giả cũng nêu lên cách tiếp cận mới trong cải huấn người chưa thành niên phạm tội, gọi là xu hướng xử lý hỗn hợp, đó là thực tiễn ở tiểu bang Texas, người
Trang 21chưa thành niên phạm tội bạo lực hoặc phạm tội thường xuyên, mức án dài từ 10 năm tù trở lên thì đưa đi thi hành án trong nhà tù dành cho người thành niên, còn lại các trường hợp khác thì đưa đi thi hành án ở các cơ sở cải huấn dành riêng cho người chưa thành niên
- Liên quan đến nghiên cứu về chế độ giáo dục đối với phạm nhân là người chưa thành niên:
Tom Tyler, giáo sư tâm lý học tại Đại học Tổng hợp New York, đã chỉ ra yếu tố cốt lõi tác động đến ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống
đối với người phạm tội Trong bài viết Obeying the Law in America: Procedural Justice and the Sense of Fairness (tạm dịch là Việc tuân thủ pháp luật ở Hoa Kỳ: thủ tục tố tụng và những nguyên tắc công bằng) đăng tại Tạp chí điện tử của Bộ
Ngoại giao Hoa Kỳ, số chuyên đề về các vấn đề dân chủ, 7/2001, Tom Tyler đặt vấn đề: bằng cách nào, một xã hội có thể duy trì được trật tự thông qua các thể chế
đã đặt ra? Phải chăng trật tự này được duy trì dựa trên cơ sở nỗi lo sợ khi bị trừng phạt hay vì yếu tố nào khác? Tác giả đã đưa ra quan điểm cho rằng: động cơ cốt lõi của việc tuân thủ pháp luật chính là yếu tố đạo đức trong nhân cách mỗi cá nhân và hai yếu tố cấu thành then chốt của vấn đề này là tâm lý pháp luật và đạo đức Tom Tyler đã viện dẫn những công trình khoa học và đưa ra những căn cứ để chứng minh mối liên hệ thuận chiều giữa tính công bằng, đúng đắn của pháp luật và việc thực hiện pháp luật với niềm tin và ý thức tuân thủ pháp luật Kết quả nghiên cứu của Tom Tyler có liên quan trực tiếp đến vấn đề mục đích của thi hành án phạt tù và vấn đề nội dung, phương pháp giáo dục phạm nhân
Ngoài những tài liệu, công trình nghiên cứu đã phân tích ở trên, vẫn còn có nhiều báo cáo khoa học, sách tham khảo, bài báo khác có liên quan đến vấn đề thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên cả về mặt lý luận, pháp
luật và thực tiễn, như là: bộ báo cáo Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống
tư pháp ở năm nước chọn lọc (Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Cộng hòa Hàn Quốc và Liên bang Nga), bản dịch tiếng Việt của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam năm 2010; sách tham khảo Prison Rules – A Working Guide của Nancy Loucks xuất bản năm 2000 bởi Prison Reform Trust; sách tham khảo English Prison Law của Sally Ramage do nhà xuất bản iUniverse xuất bản năm 2009, bài báo Restorative Justice and the Practice of Imprisonment của Giáo
sư Gerry Johnstone đăng trên tạp chí Prison Service Journal số 174, tháng 11/2007 v.v… Đồng thời, chắc chắn ở mỗi quốc gia trên thế giới đều có những kết quả
Trang 22nghiên cứu nhất định có liên quan đến vấn đề thi hành án phạt tù đối với phạm nhân
là người chưa thành niên Tuy nhiên, sự phong phú của các ngôn ngữ trên thế giới là rào cản không cho phép người làm Luận án này có thể khảo cứu được tất cả Song, nhìn chung các kết quả nghiên cứu của những công trình nói trên cơ bản đã phản ánh những quan điểm phổ quát và những thành tựu nghiên cứu chủ yếu đã đạt được trong lĩnh vực này
1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ sự khảo cứu tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài có liên quan đến nội dung luận án, có thể rút ra một số đánh giá tổng quan sau đây:
- Thứ nhất, Luận án có thể kế thừa một số kết quả nghiên cứu đã đạt được ở
các công trình nghiên cứu trước đây
+ Trong nghiên cứu về đặc điểm của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân
là người chưa thành niên, Luận án có thể kế thừa kết quả nghiên cứu của Giáo sư
Andrew Coyle trong quyển sách A Human Rights Approach to Prison Management
về đặc điểm phạm nhân là người chưa thành niên dễ tiếp thu sự giáo dục, yêu cầu hạn chế yếu tố cưỡng bức trong thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên và đội ngũ cán bộ nhà tù phải có những kỹ năng nghiệp vụ phù hợp với tâm lý phạm nhân là người chưa thành niên
+ Trong nghiên cứu lý luận về chính sách thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên, Luận án có thể kế thừa kết quả nghiên cứu của
TSKH Hồ Diệu Thúy (luận án “Nguồn gốc xã hội của việc vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên hiện nay”) về bản chất xã hội của tình trạng người chưa
thành niên phạm tội và khuyến cáo chính sách nhân đạo, đề cao giáo dục trong xử
lý vấn đề này; kế thừa lý luận về sự hình thành, phát triển nhân cách và kết luận về tính chất phức tạp của môi trường trại giam ở các công trình nghiên cứu của TS
Nguyễn Đình Đặng Lục (chuyên khảo “Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách”), PGS.TS Nguyễn Hữu Duyện (chuyên khảo “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giáo dục phạm nhân trong giai đoạn hiện nay”) để
phục vụ việc xây dựng lý luận về chính sách giam giữ, giáo dục, các chính sách chấp hành án phạt tù khác đối với phạm nhân là người chưa thành niên Đồng thời,
Luận án cũng có thể kế thừa kết quả nghiên cứu ở công trình A Century of Juvenile Justice của Philip W Harris, Wayne N Welsh và Frank Butler về đề xuất chính
sách dành những điều tốt đẹp nhất cho người chưa thành niên phạm tội Chính sách
Trang 23hình sự của Việt Nam gần đây (trong Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017)
cũng trùng hợp với đề xuất này
+ Luận án cũng kế thừa từ chuyên khảo của PGS.TS Nguyễn Hữu Duyện về việc coi chế độ lao động là một nội dung giáo dục phạm nhân và lấy mục tiêu giáo dục làm một căn cứ (bên cạnh mục tiêu bảo vệ phạm nhân là người chưa thành niên) để đánh giá những ưu, nhược điểm của các chế độ chấp hành án phạt tù của phạm nhân là người chưa thành niên
- Thứ hai, một số kết luận, khuyến cáo của các công trình nghiên cứu ở nước
ngoài cần được tiếp tục nghiên cứu trong điều kiện áp dụng ở Việt Nam
+ Các xu hướng xử lý người chưa thành niên phạm tội do John T Whitehead
và Steven P Lab đề xuất (trong quyển Juvenile Justice: an introduction) và xu
hướng xử lý hỗn hợp do Mark Jones và Michael C Braswell nêu lên trong cuốn
Exploring Corrections in America tuy đã đạt được một số thành tựu ở nước ngoài
nhưng đồng thời cũng có những hạn chế nhất định, do đó cần xem xét, cân nhắc trong điều kiện áp dụng ở Việt Nam
+ Quan điểm đề xuất cấm hẳn việc giam chung phạm nhân là người chưa
thành niên cùng một nhà tù với phạm nhân thành niên (trong cuốn Exploring Corrections in America), nên tập trung đầu tư cho công tác giáo dục phạm nhân là
người chưa thành niên thay vì tốn nhiều kinh phí cho thi hành án phạt tù đối với
phạm nhân thành niên (trong quyển Juvenile Justice: an introduction) và khuyến
cáo xây dựng thiết chế nhà tù mang tính giáo dục và giúp đỡ phạm nhân là người
chưa thành niên (trong quyển A Human Rights Approach to Prison Management
của Andrew Coyle) là có cơ sở, song để áp dụng trong điều kiện thực tiễn ở Việt Nam thì cần phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ một số vấn đề, như: tính giáo dục trong môi trường trại giam dành cho phạm nhân là người chưa thành niên biểu hiện cụ thể
ở những tiêu chí gì? Cán bộ trại giam làm công tác quản lý, giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên cần phải có những phẩm chất, trình độ, kỹ năng gì? Trong điều kiện kinh tế có giới hạn của Việt Nam hiện nay thì mô hình quản lý, tổ chức thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên như thế nào là hợp lý?
- Thứ ba, Luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ nhiều vấn đề mới mà các
công trình trước đây chưa nghiên cứu hoặc đã nghiên cứu nhưng chưa sâu, chưa sát với đối tượng nghiên cứu của Luận án
Trang 24+ Luận án cần xây dựng khái niệm “phạm nhân là người chưa thành niên” và
“thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên” để làm cơ sở cho toàn bộ nội dung của luận án
+ Vấn đề chính sách và nguyên tắc thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên là những vấn đề lý luận quan trọng và mới mẻ mà Luận án
cần nghiên cứu xây dựng Trước đây, chuyên khảo “Người chưa thành niên phạm tội – đặc điểm tâm lý và chính sách xử lý” của TS Đặng Thanh Nga và TS Trương
Quang Vinh đã xác định một số nguyên tắc cơ bản về tư pháp người chưa thành
niên, chuyên khảo “Một số vấn đề về thi hành án hình sự” của TS Trần Quang
Tiệp đã nghiên cứu các nguyên tắc của pháp luật thi hành án hình sự nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu lý luận về chính sách, nguyên tắc thi hành án phạt
tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
+ Vấn đề mô hình quản lý, tổ chức thi hành án phạt tù theo kiểu chia 3 loại
trại giam trước đây đã được TS Vũ Trọng Hách nghiên cứu (luận án “Hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự” năm 2003) nhưng nay mô
hình này đã bị xóa bỏ Về vấn đề đội ngũ cán bộ thi hành án phạt tù, việc đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ thi hành án phạt tù tuy đã được TS Lê Hữu Trí, TS Ngô Văn Trù, PGS.TS Nguyễn Hữu Duyện nghiên cứu (trong các luận án, chuyên khảo
đã đề cập ở trên) nhưng chưa đi sâu vào số cán bộ trực tiếp quản lý, giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên và có sự khác biệt về góc độ, nội dung và phạm vi nghiên cứu so với Luận án này
+ Một số kết quả nghiên cứu về chế độ giam giữ, chế độ lao động, sinh hoạt, học tập, học nghề của phạm nhân tuy đã được TS Nguyễn Đức Phúc nghiên cứu
trong Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự ở Việt Nam” (2016) nhưng do phạm vi nghiên cứu của đề tài này rộng hơn nên kết
quả nghiên cứu chưa sâu, chưa sát với phạm nhân là người chưa thành niên
+ Một số công trình đã đề cập ở trên đã nghiên cứu các Công ước Liên hợp quốc về quyền con người hoặc pháp luật thi hành án hình sự của một số quốc gia với phạm vi nội dung phù hợp với đối tượng, nội dung nghiên cứu của bản thân công trình đó nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu các chuẩn mực quốc
tế và pháp luật của một số quốc gia về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
Ngoài những vấn đề có liên quan đã tổng hợp ở trên mà Luận án có thể kế thừa hoặc tiếp tục nghiên cứu làm rõ, có thể nói về tổng thể, đến nay vẫn chưa có
Trang 25một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về vấn đề thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên ở Việt Nam cả về mặt lý luận, pháp luật và thực tiễn Khoảng trống này sẽ được giải quyết khi nhiệm
vụ nghiên cứu của Luận án được hoàn thành
2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án “Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam” được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu giải đáp những câu hỏi sau đây:
- Thứ nhất, thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
nhằm hướng đến mục đích gì và phải làm như thế nào để đạt mục đích đó?
- Thứ hai, thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên có
những khác biệt gì so với thi hành án phạt tù đối với phạm nhân thành niên? Sự khác biệt đó xuất phát từ cơ sở nào và tạo ra tính đặc thù gì trong thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên?
- Thứ ba, pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thi hành án phạt tù đối
với phạm nhân là người chưa thành niên ở Việt Nam đã đáp ứng đầy đủ, rõ ràng những yêu cầu đặc thù của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên hay chưa?
- Thứ tư, giữa lý luận với pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thi
hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên ở Việt Nam có thống nhất với nhau hay không? Nếu có sự sai lệch gì thì do nguyên nhân nào?
- Thứ năm, cần thực hiện những giải pháp nào để nâng cao chất lượng thi
hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên ở Việt Nam?
2.2 Lý thuyết nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở học thuyết của Karl Mark về pháp luật, tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, về giáo dục những người lầm lỗi, về thi hành án hình sự, các tư tưởng về bảo vệ người chưa thành niên, về sự hình thành và phát triển nhân cách
Theo Mark, pháp luật là một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng; trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, pháp luật có cơ sở khách quan từ hạ tầng về kinh tế Khi điều kiện kinh tế - xã hội có thay đổi, pháp luật cần phải được thay đổi cho phù hợp thì mới có tác dụng thúc đẩy xã hội tiếp tục phát triển
Trang 26Luận án này được thực hiện trên cơ sở bám sát tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục người phạm tội, phạm pháp với nội dung chính bao gồm bốn luận điểm cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, phải tìm ra nguyên nhân của tình trạng phạm tội ở khía cạnh xã hội (“người đời ai cũng có khuyết điểm, có làm việc thì có sai lầm” và “sai lầm là vì không hiểu, không biết”8);
- Thứ hai, thái độ đối xử với người lầm lỗi là trấn áp kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo (“Sửa chữa sai lầm, cố nhiên cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo Song không phải tuyệt nhiên không dùng
xử phạt… Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại”9
);
- Thứ ba, có thể giáo dục người lầm lỗi trở thành người tốt nếu có phương pháp giáo dục thích hợp (“Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm… Muốn họ thành tâm sửa chữa, phải giải thích rõ ràng, làm cho họ tự trông thấy, tự nhận rõ sự sai lầm đó, làm cho họ vui lòng sửa đổi, chứ không phải bị cưỡng bức mà sửa đổi”10)
- Thứ tư, giáo dục trẻ em thành người tốt đòi hỏi phải được thực hiện bởi những người tốt, có giáo dục (“Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô, các chú phải là người tốt”11
)
Về khung lý thuyết nghiên cứu, Luận án này nghiên cứu đánh giá mức độ phù hợp của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với những đặc thù của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên trên những mặt, những yếu tố chính yếu được xem là những yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả thi hành án phạt tù Các yếu tố đó bao gồm:
- Một là, mô hình quản lý, tổ chức thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên;
- Hai là, chế độ giam giữ phạm nhân là người chưa thành niên;
- Ba là, chế độ giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên;
- Bốn là, các chế độ khác đối với phạm nhân là người chưa thành niên;
- Năm là, việc chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân là người chưa thành niên
Trang 27Khung lý thuyết nghiên cứu nói trên sẽ được nghiên cứu từ những hướng tiếp cận sau đây:
- Tiếp cận từ góc độ bảo vệ quyền trẻ em, quyền con người: phạm nhân là người chưa thành niên là những người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể chất, trí lực và tinh thần nên họ cần được bảo vệ an toàn trước những yếu tố tiêu cực, phức tạp của môi trường trại giam nơi có đông đảo phạm nhân thành niên và được quan tâm chăm sóc để tiếp tục phát triển lành mạnh; phạm nhân là người chưa thành niên cần được bảo đảm các quyền trẻ em, quyền con người không chỉ về mặt nội dung (qui định các quyền) mà cả về cơ chế bảo đảm thực thi các quyền đó trong thực tế
- Tiếp cận từ góc độ giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên: năm yếu
tố của khung lý thuyết nghiên cứu được xem xét, nghiên cứu từ góc độ coi mục đích chủ yếu và cuối cùng của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên là nhằm giáo dục họ trở thành người có ý thức tuân theo pháp luật, các quy tắc của cuộc sống và xuất phát từ mục đích đó để đánh giá vấn đề nghiên cứu
- Tiếp cận liên ngành: do thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên có liên quan đến tâm lý học và giáo dục học nên trong quá trình nghiên cứu, Luận án có gắn kết và sử dụng những thành tựu khoa học về tâm lý người chưa thành niên phạm tội, tâm lý phạm nhân và tri thức về giáo dục lại người phạm tội để phục vụ cho việc xây dựng và phát triển lý luận pháp lý
Kết quả khảo sát, đánh giá theo khung lý thuyết năm điểm nói trên sẽ là cơ
sở để Luận án đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
2.3 Các giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài luận án “Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam” được thực hiện dựa trên những giả thuyết sau đây:
- Giả thuyết thứ nhất: chất lượng của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân
là người chưa thành niên chưa cao và mục đích chủ yếu của hoạt động này vẫn chưa đạt được
- Giả thuyết thứ hai: thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa
thành niên có những khác biệt về mục đích, tính chất, nguyên tắc so với thi hành án phạt tù đối với phạm nhân thành niên Những sự khác biệt này xuất phát từ cơ sở khoa học riêng, có liên quan đến đặc điểm về thể chất, sự hình thành và phát triển
Trang 28nhân cách của phạm nhân là người chưa thành niên và tạo ra những đặc thù về quản
lý, tổ chức thi hành án phạt tù, các chế độ chấp hành án phạt tù, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên và đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý, giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên
- Giả thuyết thứ ba: thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa
thành niên ở Việt Nam hiện nay chưa bảo đảm đáp ứng những đặc thù của hoạt động này cả về mặt pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật
- Giả thuyết thứ tư: có sự sai lệch nhất định giữa pháp luật và thực tiễn thi
hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên với lý luận về thi hành
án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên và sự sai lệch đó có nguyên nhân từ những hạn chế của pháp luật và điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
- Giả thuyết thứ năm: tính thống nhất giữa pháp luật và thực tiễn áp dụng
pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên với những đặc thù của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
sẽ qui định chất lượng, hiệu quả của hoạt động này
Trang 29Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CHUẨN MỰC QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ
ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
1.1.1 Khái niệm thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
Khái niệm người chưa thành niên và phạm nhân là người chưa thành niên
“Người chưa thành niên” là một thuật ngữ khoa học pháp lý có nội dung gần gũi, chồng lấn nhất định với khái niệm “trẻ em”, đồng thời cũng có những khác biệt
Trẻ em là một khái niệm chung, mang tính xã hội, dùng để chỉ người trẻ tuổi trong sự phân biệt với người lớn, đã trưởng thành nhằm xác định một nhóm xã hội
cơ bản và rất quan trọng, là thế hệ trẻ, do còn non nớt nên cần được chăm sóc, bảo
vệ, “cần được chuẩn bị đầy đủ để sống cuộc sống cá nhân trong xã hội” và “có thể đảm đương được đầy đủ các trách nhiệm của mình trong cộng đồng”, từ đó “quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và chất lượng cuộc sống cao hơn”12 Việc xác định ranh giới về tuổi giữa trẻ em và người lớn có sự khác nhau giữa các quốc gia do tác động của yếu tố sinh học, địa lý, môi trường sống, văn hóa xã hội… Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em 1989 qui định trẻ em là người dưới 18 tuổi nhưng vẫn để mở cho các quốc gia nếu qui định độ tuổi thành người lớn sớm hơn Ở Việt Nam, Luật Trẻ em 2016 qui định “trẻ em là người dưới 16 tuổi” (Điều 1)
Trong tư pháp hình sự, “người chưa thành niên” là một loại người đặc biệt,
có những hạn chế nhất định về khả năng nhận thức, ảnh hưởng đến năng lực hành vi của họ nên cần áp dụng chính sách riêng: ưu tiên giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ưu tiên được bảo vệ trong quá trình tố tụng hình sự, ưu tiên được chăm sóc, giáo dục trong quá trình thi hành các biện pháp xử lý NCTN phạm tội Cơ sở của chính sách đặc biệt này là những thành tựu khoa học và tư tưởng nhân đạo, tiến bộ về NCTN với tư cách là người chưa trưởng thành đầy đủ cả về thể chất, trí lực và tinh thần
Dấu hiệu xác định một người là NCTN dựa vào cả hai yếu tố:
- Về nội dung: người đó là người chưa đạt đến độ trưởng thành về các mặt
tâm sinh lý, chưa có đầy đủ khả năng nhận thức đúng đắn trước các yêu cầu của nhà nước và xã hội nên chưa được nhà nước công nhận là một công dân với đầy đủ các
12 Trích Lời mở đầu của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em 1989
Trang 30quyền và nghĩa vụ; trong tư pháp hình sự, pháp luật có những qui định riêng và nhờ vậy người đó được hưởng những chính sách riêng, mang tính chất ưu tiên nói trên;
- Về hình thức: người đó đang trong độ tuổi nhất định theo qui định của pháp
luật (do tác động của yếu tố văn hóa, tập quán, trình độ phát triển xã hội… mà giữa lĩnh vực tư pháp hình sự với các lĩnh vực khác có thể qui định độ tuổi thành niên khác nhau13)
Bộ luật Hình sự 1999 trước đây đã dành một chương độc lập (chương X) để qui định chính sách áp dụng riêng đối với “người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội” (Điều 68) BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 cũng dành một chương riêng (chương XII) để qui định chính sách áp dụng riêng đối với đối tượng này, tuy nhiên đã không sử dụng cụm từ “người chưa thành niên” mà thay vào đó là cụm từ “người dưới 18 tuổi” phạm tội Như vậy, BLHS hiện hành chỉ nêu dấu hiệu hình thức, còn dấu hiệu nội dung được biểu hiện thông qua bản thân sự tồn tại của chương XII trong Bộ luật
Dấu hiệu độ tuổi tuy là dấu hiệu hình thức nhưng là chỉ giới quan trọng để xác định NCTN, có ý nghĩa thực tiễn đối với hoạt động áp dụng pháp luật hình sự,
tố tụng hình sự và thi hành án hình sự Việt Nam trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự đã dùng kỹ thuật lập pháp để tạo thuận lợi cho hoạt động áp dụng pháp luật Như vậy, cụm từ “người dưới 18 tuổi” trong qui định của pháp luật hình sự vẫn cần được hiểu theo nghĩa bản chất và đầy đủ là “người chưa thành niên” Nhận thức như vậy hoàn toàn thống nhất với chuẩn mực quốc tế hiện nay Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do 1990 cũng qui định rõ: “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” (Điều 11a) Vì vậy, để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, Luận án này sử dụng thuật ngữ “người chưa thành niên” để bảo đảm phản ánh đầy đủ nội hàm của khái niệm như đã phân tích ở trên
“Phạm nhân là người chưa thành niên” là một thuật ngữ khoa học pháp lý được xây dựng dựa trên nền tảng của khái niệm “phạm nhân” và “người chưa thành niên” Theo nghĩa gốc Hán Việt, phạm nhân có nghĩa là người phạm tội Trong các văn bản, tài liệu của các cơ quan thi hành pháp luật ở Việt Nam từ trước đến nay, từ
“phạm nhân” được dùng theo nhiều nghĩa: theo nghĩa rộng, phạm nhân là người đã
bị Tòa án tuyên là có tội, phải chịu hình phạt và bản án đã có hiệu lực pháp luật; còn
13 Chẳng hạn ở Việt Nam, Luật Thanh niên 2005 xác định thanh niên là công dân từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi (theo Điều 1), còn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 8) thì nam giới phải đủ 20 tuổi trở lên mới đủ tuổi kết hôn
Trang 31theo nghĩa hẹp, phạm nhân là người phạm tội đã bị Tòa án kết án phạt tù, đang được cải tạo tại các trại giam, trại tạm giam Trường hợp người bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án, đang bị giam ở trại tạm giam cũng phổ biến được gọi là phạm nhân Theo Luật THAHS 2010, “Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân” (khoản 2 Điều 3) Đây là định nghĩa có giá trị pháp lý cao, nội dung rõ ràng và cho phép phân biệt thuật ngữ phạm nhân với những thuật ngữ khác có nội dung gần gũi, chồng lấn nhất định như: người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị kết án tử hình (đang bị giam để chờ thi hành án)…
Ở Việt Nam hiện nay, xuất phát từ qui định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
là từ đủ 14 tuổi trở lên14 và trong hệ thống hình phạt có áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nên tất yếu dẫn đến khả năng tồn tại phạm nhân là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi chấp hành án phạt tù tại các trại giam Đối tượng này được gọi là phạm nhân là NCTN Ngoài dấu hiệu độ tuổi, phạm nhân
là NCTN mang đặc trưng là một loại phạm nhân đặc biệt trong trại giam, được áp dụng chế độ quản lý giam giữ, giáo dục riêng (khác biệt và ưu tiên hơn so với phạm nhân thành niên) nhằm bảo đảm sự phát triển bình thường về thể chất, trí lực và tinh thần, giáo dục họ nhận thức và sửa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành người biết tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống Luật THAHS 2010 dành riêng một mục (Mục 3 của Chương III) để tập hợp các qui định áp dụng riêng đối với “phạm nhân là người chưa thành niên”, trong đó Điều 50 qui định: “Phạm nhân là người chưa thành niên chấp hành án theo qui định tại Mục này và các qui định khác không trái với qui định tại Mục này; khi đủ 18 tuổi thì chuyển sang thực hiện chế độ quản
lý giam giữ, giáo dục đối với người đã thành niên”
Như vậy, phạm nhân là NCTN vừa mang những đặc trưng chung của phạm nhân và của NCTN trong tư pháp hình sự, lại vừa mang những đặc trưng riêng Từ
đó, có thể khái quát nhận thức về phạm nhân là NCTN như sau: Phạm nhân là người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù có thời hạn tại trại giam, được áp dụng chế độ quản lý giam giữ, giáo dục dành riêng nhằm bảo đảm sự phát triển bình thường về thể chất, trí lực và tinh thần, giáo dục họ nhận thức và sửa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành người có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống
14 Trong đó, đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi, theo BLHS 1999 thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặt biệt nghiêm trọng; còn theo BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng qui định cụ thể tại một số điều luật nhất định
Trang 32Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
Sau hoạt động xét xử, THAHS là một hoạt động độc lập nhằm bảo đảm bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thi hành và chấp hành nghiêm chỉnh Bản án hình sự mang nhiều nội dung, ngoài việc kết tội và tuyên hình phạt đối với người bị kết án thì còn có thể đưa ra những quyết định xử lý về việc bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, tịch thu tài sản và những quyết định dân sự khác, đưa ra quyết định về xử lý vật chứng, việc đóng án phí, việc kiến nghị các cơ quan khác trong giải quyết những vấn đề khác có liên quan đến vụ án v.v… Theo luật hình sự Việt Nam, người dưới 18 tuổi phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt tù
có thời hạn (không áp dụng hình phạt tù chung thân, tử hình và không áp dụng hình phạt bổ sung) Thi hành án phạt tù mà luận án này đề cập đến là khái niệm dùng để chỉ việc thi hành hình phạt tù có thời hạn đã được Tòa án tuyên đối với người dưới
18 tuổi bị kết án trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật; không bao gồm việc thi hành các nội dung khác trong bản án đó
Thi hành án phạt tù là một hoạt động độc lập có tính cưỡng chế nghiêm khắc nhằm chấp hành bản án Diễn ra sau khi và dựa trên căn cứ pháp lý là bản án đã có hiệu lực pháp luật, THAPT có thủ tục riêng, chỉ bắt đầu kể từ khi có quyết định THAPT của Tòa án có thẩm quyền và được tổ chức thực hiện bởi các cơ quan và người có thẩm quyền trong THAHS Tính cưỡng chế trong THAPT thể hiện ở việc buộc người bị kết án phạt tù phải chấp hành án tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định, cơ quan THAPT dựa trên cơ sở pháp luật THAHS để áp dụng chế độ giam giữ, chế độ giáo dục và các chế độ chấp hành án khác đối với phạm nhân và phạm nhân có nghĩa vụ phải chấp hành các chế độ đó
Thi hành án phạt tù là một quá trình Xét về mặt thời gian, quá trình này bắt đầu kể từ sau khi Tòa án ra quyết định THAPT và kéo dài cho đến khi phạm nhân hết thời hạn CHAPT Đối với phạm nhân là NCTN, quá trình này kéo dài đến khi phạm nhân đó hết thời hạn CHAPT mà vẫn còn ở tuổi chưa thành niên hoặc đến khi
đã đủ tuổi thành niên (nhưng chưa hết thời hạn CHAPT, sẽ chuyển sang coi là phạm nhân thành niên) Quá trình THAPT đối với phạm nhân là NCTN còn được hiểu là quá trình giáo dục Các chế độ giam giữ, giáo dục, chế độ chấp hành án khác và các hoạt động chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng đối với phạm nhân là NCTN được tổ chức thực hiện trong một chỉnh thể thống nhất nhằm giúp họ nhận thức và sửa chữa sai lầm, trở thành người biết tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống Đó là một quá trình xuyên suốt, liên tục, có tính thống nhất nội tại cao, trong đó giai đoạn
Trang 33phạm nhân ở độ tuổi dưới 18 tuổi là giai đoạn đầu, có tính chất nền tảng, ảnh hưởng lớn đến kết quả cuối cùng của việc thi hành toàn bộ án phạt tù
Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là NCTN có những đặc thù riêng Người CHAPT là NCTN, nghĩa là họ vẫn còn chưa trưởng thành đầy đủ cả về mặt thể chất, trí lực, tinh thần nên cần được ưu tiên những lợi ích tốt nhất, được quan tâm chăm sóc, bảo vệ để tiếp tục phát triển bình thường về thể chất, được giáo dục nâng cao trí lực và tinh thần So với phạm nhân thành niên, phạm nhân là NCTN tuy non nớt nhưng không có nghĩa là hiền lành, ít nguy hiểm Trong khi đó, THAPT đối với phạm nhân là NCTN phải nhất quán chính sách bảo vệ, chăm sóc và giáo dục họ; các chế độ giam giữ, giáo dục, chế độ chấp hành án khác và các hoạt động chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng phải bảo đảm tính thống nhất cùng hướng đến mục tiêu giáo dục phạm nhân là NCTN thực sự trở thành người có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, có khả năng tái hòa nhập cộng đồng, ngăn ngừa những tội phạm chuyên nghiệp trong tương lai Điều này đặt ra những yêu cầu đặc thù về về cơ sở vật chất, môi trường giam giữ, giáo dục phạm nhân là NCTN, về đội ngũ cán bộ, về nội dung và phương pháp giáo dục phạm nhân là NCTN…
Từ nhận thức về THAPT đối với phạm nhân là NCTN ở nhiều mặt, nhiều
góc độ như trên, có thể khái quát lại như sau: Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên là quá trình cơ quan thi hành án phạt tù và các cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự căn cứ vào nội dung bản án
đã có hiệu lực pháp luật, quyết định thi hành án phạt tù và các qui định của pháp luật thi hành án hình sự để thống nhất thực hiện chế độ giam giữ, giáo dục, các chế
độ chấp hành án khác và chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng dành riêng đối với phạm nhân trong giai đoạn từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi để họ phát triển bình thường và lành mạnh về thể chất, trí lực và tinh thần, giáo dục họ nhận thức và sửa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành người có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống
1.1.2 Đặc điểm của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
Thứ nhất, thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
có đặc thù về người chấp hành án, là người nguy hiểm cho xã hội, có nhân cách lệch lạc, tiềm ẩn những hành vi khó lường, khó đoán, nhưng chưa trưởng thành về mọi mặt và dễ uốn nắn, giáo dục hơn phạm nhân thành niên
Trang 34Phạm nhân là NCTN là một loại người chấp hành án đặc biệt trong THAPT
Dù còn non nớt, chưa đủ tuổi thành niên nhưng họ là người đã thực hiện tội phạm với tính chất nguy hiểm cao (nhất là những trường hợp phạm tội khi ở độ tuổi từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi), có nhân thân xấu, nhân cách lệch lạc đến mức các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa và cần thiết buộc phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với họ để bảo đảm phòng ngừa tội phạm15 Đa số phạm nhân là NCTN phạm những tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, xâm phạm tài sản, như tội giết người, cố
ý gây thương tích, hiếp dâm, trộm cắp, cướp, cướp giật tài sản… Hầu hết họ có hoàn cảnh gia đình bất hạnh, phức tạp, có nếp sống tiêu cực, thiếu giáo dục như bố
mẹ ly hôn hoặc có nhiều mâu thuẫn, có bạo lực gia đình, không quan tâm chăm sóc con cái…; họ đã hư hỏng, bỏ học, lãng học ngay từ bậc phổ thông cơ sở, suy thoái đạo đức, có thái độ và cách ứng xử không phù hợp với yêu cầu của xã hội ở nhiều mức độ khác nhau: lười biếng, coi thường người khác, vô lễ, tục tĩu, cộc cằn, hung hãn, manh động, liều lĩnh, sẵn sàng sử dụng vũ lực với người khác Thêm nữa, trong giai đoạn phát triển mạnh về thể chất trước khi thành niên, họ hiếu động, thích sử dụng sức mạnh cơ bắp trong khi họ lại chưa phát triển đầy đủ về trí lực và tinh thần, suy nghĩ thiếu chín chắn, dễ bị mất cân bằng, dễ bị kích thích trước các tác động gây hấn và sẵn sàng lao vào những cuộc xung đột cá nhân hoặc băng nhóm giữa các phạm nhân ngay trong trại giam
15 Với chính sách nhân đạo, luật hình sự Việt Nam có nhiều qui định hạn chế việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Theo Điều 12 và khoản 2 Điều 91 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội dù phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm nhưng vẫn có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục theo qui định nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả
và là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án hoặc là trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ các tội: cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hiếp dâm; cướp giật tài sản; sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy Người từ
đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng qui định tại một số điều luật cụ thể nhưng vẫn có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục theo qui định nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả và là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án hoặc là trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, trừ các tội: giết người; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hiếp dâm; hiếp dâm người dưới 16 tuổi; cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; mua bán người; mua bán người dưới 16 tuổi; cướp, cướp giật tài sản; sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy Về nguyên tắc xử lý, theo khoản 3 và khoản 6 Điều 91, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ “chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm”; còn việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn chỉ “khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không còn tác dụng răn đe, phòng ngừa” và chỉ với mức án “nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất”
Trang 35Tính nguy hiểm, khó lường, khó đoán trong hành vi, cách ứng xử của phạm nhân là NCTN tạo ra nhiều khó khăn và thách thức đặc thù đối với việc giam giữ và giáo dục phạm nhân là NCTN Cán bộ quản lý giam giữ phải am hiểu tâm lý phạm nhân là NCTN, quản lý, theo dõi họ sát sao, biết ứng xử phù hợp và luôn đề cao cảnh giác, phòng bị hoặc sẵn sàng can thiệp xử lý trước những tình huống chống đối cán bộ hoặc xung đột lẫn nhau giữa các phạm nhân là NCTN một cách bộc phát, có thể xảy ra bất cứ lúc nào Trong khi đó, để phục vụ yêu cầu giáo dục, các biện pháp
an ninh trại giam cần được thực hiện một cách khéo léo và tiết chế, không sử dụng những kiến trúc giam giữ nặng tính chất giam cầm, không phô trương những hoạt động tuần tra, kiểm soát gắt gao hay sức mạnh phòng vệ và trấn áp nhờ vào vũ khí, công cụ hỗ trợ, không vì chú trọng phòng vệ của bản thân cán bộ mà hạn chế tiếp xúc, trao đổi một cách gần gũi với phạm nhân là NCTN, không được bộc lộ những
cử chỉ, nét mặt, trạng thái căng thẳng khiến phạm nhân nhận ra thái độ cảnh giác, đề phòng của cán bộ đối với mình
Tuy vậy, đặc thù về phạm nhân là NCTN cũng mang lại cho hoạt động THAPT những yếu tố thuận lợi riêng so với THAPT đối với phạm nhân thành niên Tính chất nguy hiểm của phạm nhân là NCTN gắn liền với sự non nớt trong nhận thức, sự lệch lạc trong quá trình phát triển nhân cách của họ Những sự lệch lạc này cần phải được chỉnh sửa và có thể chỉnh sửa được Ở độ tuổi chưa thành niên, kinh nghiệm sống của phạm nhân là NCTN vẫn chưa tích lũy đầy đủ, nhân sinh quan, thế giới quan, thói quen, lẽ sống (tiêu cực)… của họ vẫn chưa định hình một cách ổn định và bền vững16
Mặt khác, ở độ tuổi này con người đang hình thành “cái tôi”, phạm nhân là NCTN dễ nhiệt tình, hăng hái, sôi nổi trong học tập, lao động và sinh hoạt tập thể do trại giam tổ chức Nhờ đó những phẩm chất cá nhân đã lệch lạc của
họ dễ được uốn nắn lại theo những quy chuẩn của pháp luật và đạo đức xã hội hơn phạm nhân thành niên
Thứ hai, giáo dục là hoạt động chủ đạo trong quá trình thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
Mục đích chính yếu và cuối cùng của việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là giáo dục người đó trở thành người biết tuân theo pháp luật và các yêu cầu của xã hội Bản chất của THAPT đối với phạm nhân
là NCTN là quá trình tác động vào phạm nhân là NCTN thông qua hệ thống thống
16
Nguyễn Hữu Duyện (2010), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giáo dục phạm nhân trong
giai đoạn hiện nay, Nhà xuất bản CAND, Hà Nội, tr 88
Trang 36nhất chế độ giam giữ, học tập, lao động, sinh hoạt,… theo những quy tắc nghiêm ngặt và có chủ đích trong trại giam để giáo dục họ, đồng thời bảo vệ họ với tư cách
là những người còn chưa trưởng thành đầy đủ về thể chất, trí lực và tinh thần
Phạm nhân là NCTN tuy có nhân cách lệch lạc do những tác động tiêu cực của môi trường sống nhưng vẫn dễ giáo dục hơn so với phạm nhân thành niên NCTN cần được chăm sóc và giáo dục đúng hướng Việc giáo dục thành công một phạm nhân là NCTN mang ý nghĩa vô cùng to lớn: ngăn ngừa sự xuất hiện của tội phạm chuyên nghiệp trong tương lai và bổ sung cho xã hội một lao động trẻ Chính nét đặc thù trong mục đích, yêu cầu, kết quả và ý nghĩa của THAPT đối với phạm nhân là NCTN đã qui định tính chủ đạo của hoạt động giáo dục Xuyên suốt quá trình THAPT đối với phạm nhân là NCTN, cơ quan THAPT tổ chức thực hiện các hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập thể phạm nhân, gặp gỡ thân nhân, tiếp cận thông tin từ xã hội bên ngoài… nhằm khắc phục những thói hư, tật xấu ở phạm nhân, chỉnh sửa và chuẩn mực hóa cho họ cả về nhận thức và ý thức pháp luật, đạo đức, lối sống, tình cảm, hành vi ứng xử với người xung quanh Về bản chất, đó chính là hoạt động giáo dục Ngay cả việc quản lý giam giữ phạm nhân là NCTN bằng một chế độ chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh trong trại giam cũng là hoạt động giáo dục17 Việc tước bỏ tự do, giữ vững nội quy, kỷ luật trong trại giam tuy mang tính chất cưỡng chế nhưng là cần thiết để giúp phạm nhân là NCTN nhìn nhận tội lỗi mình đã gây ra, rèn luyện nếp sống có kỷ luật và khả năng làm chủ hành vi của bản thân trong sinh hoạt hàng ngày
Xuất phát từ tính chủ đạo của hoạt động giáo dục, quá trình THAPT đối với phạm nhân là NCTN đòi hỏi vừa phải giam giữ, quản lý phạm nhân chặt chẽ, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, luôn đề phòng phạm nhân là NCTN trốn trại, đánh nhau… nhưng đồng thời phải bảo đảm môi trường trại giam mang tính giáo dục: cảnh quan, kiến trúc nhà giam không bộc lộ rõ rệt tính chất giam cầm, trừng trị; cán bộ trại giam trực tiếp quản lý, giáo dục phạm nhân là NCTN phải thực sự là những nhà giáo, có cách tiếp xúc, ứng xử văn hóa với phạm nhân, hướng đến mục đích giáo dục Trong trại giam, phạm nhân là NCTN phải được ăn ở, sinh hoạt, hoạt động tập thể, phải được tách biệt hoàn toàn với môi trường phạm nhân thành niên hoặc được
bố trí CHAPT ở cơ sở riêng Mọi vi phạm của phạm nhân là NCTN đều phải được
xử lý nghiêm minh bằng những biện pháp, cách thức và mức độ xử lý mang tính
17 Nguyễn Hữu Duyện, tlđd, tr 74
Trang 37giáo dục, thực sự công minh, không thiên vị, tiêu cực Trại giam cần có những hình thức linh hoạt để thu hút sự tham gia của thân nhân phạm nhân vào việc giáo dục phạm nhân với tư cách là một chủ thể giáo dục
Thứ ba, trong thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên, việc sử dụng phương pháp cưỡng chế phải tiết giảm đến mức tối thiểu, vừa đủ cần thiết để rèn luyện và giáo dục họ, kết hợp với chính sách quan tâm chăm sóc và bảo vệ họ
Án phạt tù có thời hạn mang bản chất pháp lý là hạn chế tự do của người CHAPT trong một thời hạn nhất định Trong quá trình CHAPT, về cơ bản phạm nhân bị cách ly khỏi đời sống xã hội và ăn ở, sinh hoạt, lao động, học tập, giao tiếp… trong trại giam theo nề nếp quy củ, có kỷ luật, dựa trên cơ sở thi hành và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy trại giam Trước khi vào trại giam, phạm nhân là NCTN đã quen với lối sống tự do, vô kỷ luật, coi thường pháp luật và các quy tắc của cuộc sống nên trong giai đoạn đầu CHAPT, cảm xúc tù túng, bức bối, muốn thoát khỏi sự quản lý giam giữ chặt chẽ của trại giam là điều khó tránh khỏi trong tâm lý phạm nhân Việc sử dụng phương pháp cưỡng chế là cần thiết để đưa phạm nhân là NCTN trở lại nếp sống có khuôn khổ, trật tự, kỷ cương nhưng không được lạm dụng quá mức cần thiết Lối sống tự do, vô kỷ luật của phạm nhân là NCTN có nguồn gốc từ sự non nớt trong nhận thức và những lệch lạc của quá trình giáo dục, hoạt động của bản thân trước đó cho nên việc sử dụng phương pháp cưỡng chế phải mang tính giáo dục, tức là nó chỉ được sử dụng vừa đủ để rèn luyện cho phạm nhân
là NCTN làm quen trở lại với nếp sống chuẩn mực và tác động chỉnh sửa nhận thức, hành vi ứng xử của họ theo kỷ luật trại giam, pháp luật và đạo đức xã hội
Phương pháp cưỡng chế phải kết hợp với và dựa trên nền tảng phương pháp giáo dục, cảm hóa và đối xử nhân đạo, khoan dung với phạm nhân là NCTN Do còn chưa phát triển đầy đủ cả về thể chất, trí lực và tinh thần, phạm nhân là NCTN cần được quan tâm chăm sóc và bảo vệ ngay từ khi mới được tiếp nhận vào trại giam nhằm bảo đảm sự an toàn và tiếp tục phát triển bình thường trong môi trường phức tạp của trại giam (nhất là trại giam có đông phạm nhân thành niên), đồng thời tạo ra điều kiện để uốn nắn, sửa đổi những phẩm chất cá nhân của họ theo chiều hướng tích cực Cùng với sự tiến bộ trong quá trình CHAPT, phương pháp cưỡng chế tiết giảm và nhường chỗ dần cho tính tự giác của phạm nhân là NCTN và quá trình giáo dục chuyển hóa thành quá trình tự giáo dục của bản thân họ
Trang 38Từ đặc điểm trên, THAPT đối với phạm nhân là NCTN vừa phải bảo đảm trật tự, an toàn trại giam vừa phải bảo đảm các chế độ chấp hành án có tính ưu tiên đối với họ (chế độ ăn, điều kiện sinh hoạt, học tập, vui chơi, giải trí, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, liên lạc và tiếp xúc với gia đình…) nhằm hạn chế tác động tiêu cực của tình trạng tách biệt môi trường xã hội Cán bộ làm công tác quản lý, giáo dục phạm nhân là NCTN cần phải có tri thức về tâm lý phạm nhân là NCTN, có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu trong đời sống, có năng lực sư phạm và có ý thức bảo
vệ NCTN Chủ thể THAPT tuy nhất thiết phải là cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo qui định của pháp luật nhưng cũng cần phát huy, thu hút sự tham gia của gia đình phạm nhân và xã hội vào những hoạt động nhất định, nhất là trong thực hiện các chế độ CHAPT, chăm sóc, bảo vệ phạm nhân là NCTN
1.1.3 Ý nghĩa của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
- Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là NCTN góp phần mang lại hiệu quả cao trong phòng ngừa tái phạm, nhất là phòng ngừa tội phạm có tính chất chuyên nghiệp trong tương lai
Mục đích chính của THAPT nói chung là làm cho phạm nhân biết ăn năn hối cải, giáo dục cải tạo họ thành người biết tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, có khả năng tái hòa nhập cộng đồng, ngăn ngừa họ tái phạm Tuy nhiên, mục đích đó không phải dễ dàng đạt được Thực tế, tỉ lệ phạm nhân có tiền án luôn chiếm khoảng trên 25% tổng số phạm nhân đang CHAPT18 Trong khi đó, phạm nhân là NCTN với đặc điểm là dễ giáo dục hơn so với phạm nhân thành niên; số lượng phạm nhân là NCTN lại ít, chỉ chiếm dưới 1% tổng số phạm nhân đang CHAPT19 nên tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để công tác THAPT đạt hiệu quả cao hơn Ngược lại, nếu vì lý do nào đó mà công tác này đạt hiệu quả thấp thì đồng nghĩa với việc xã hội buộc phải tiếp nhận trở lại những con người đã có lịch sử, kinh nghiệm phạm tội từ rất sớm, cuộc đời còn dài và sẽ dễ dàng trở nên chuyên nghiệp trong tương lai gần Nếu được quan tâm đúng mức, THAPT đối với phạm nhân là NCTN sẽ mang lại hiệu quả cao, đóng góp to lớn vào phòng ngừa tái phạm, nhất là phòng ngừa tội phạm có tính chất chuyên nghiệp trong tương lai
18 Theo Báo cáo tổng kết công tác THAHS và HTTP 2 năm gần đây (2016 và 2017) của Tổng cục
VIII-Bộ Công an, nay là Cục Cảnh sát QLTG-TGD thuộc BCA
19 Theo kết quả thống kê số lượng phạm nhân là NCTN từ năm 2012 đến nay (phụ lục 1)
Trang 39- Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là NCTN góp phần bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, thực hiện mục tiêu phát triển con người vì lợi ích của toàn
xã hội
Mặc dù so với qui định của Luật Trẻ em 2016, chỉ bộ phận phạm nhân từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi mới được coi là trẻ em nhưng nói chung phạm nhân là NCTN là nhóm phạm nhân đặc biệt cần được quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục vì những hạn chế về thể chất, trí lực, tinh thần, đạo đức và xã hội ở họ Điều này hoàn toàn phù hợp với chuẩn mực quốc tế về THAPT đối với phạm nhân là NCTN Làm tốt công tác THAPT đối với phạm nhân là NCTN chính là bảo vệ NCTN trước những tác động tiêu cực của môi trường giam giữ phạm nhân, là chăm sóc và bảo vệ tốt cả sức khỏe thể chất và tinh thần cho họ, giáo dục họ chuẩn hóa nhận thức và ý thức pháp luật, đạo đức, lối sống, tình cảm, hành vi ứng xử với người xung quanh, tích cực chuẩn bị cho họ tái hòa nhập cộng đồng và trả lại cho xã hội một nguồn lao động trẻ Những kết quả đó mang lại sự đóng góp đáng kể cho việc bảo vệ, chăm sóc thế hệ tương lai của đất nước và góp phần vào sự phát triển chung của xã hội
Xuất phát từ những ý nghĩa to lớn nói trên, nhà nước cần quan tâm đầu tư đúng mức cho THAPT đối với phạm nhân là NCTN Thi hành án phạt tù tuy là một hoạt động rất tốn kém20, nhưng nằm trong khoản chi phí to lớn đó, chi phí đầu tư cho THAPT đối với phạm nhân là NCTN rất nhỏ bé bởi vì tỉ lệ phạm nhân là NCTN chỉ chiếm dưới 1% tổng số phạm nhân nhưng hiệu quả phòng ngừa tội phạm của công tác này lại cao hơn (do phạm nhân là NCTN dễ giáo dục hơn) Thực chất, đầu tư cho THAPT đối với phạm nhân là NCTN chính là đầu tư cho giáo dục (là quốc sách hàng đầu), cho mục tiêu phát triển con người vì lợi ích của toàn xã hội
1.2 Cơ sở của thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
1.2.1 Quan điểm cơ bản về vai trò của pháp luật thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên
Cùng với pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật THAHS là một công cụ trong các công cụ pháp luật để đấu tranh phòng, chống tội phạm Pháp
luật THAHS có 3 nhiệm vụ chính: một là, bảo đảm bản án, quyết định hình sự đã có
20 Theo các Báo cáo tổng kết công tác thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp của Tổng cục Cảnh sát THAHS&HTTP từ 2012 đến 2017 (nay là Cục Cảnh sát QLTG-TGD thuộc BCA), hàng năm Nhà nước phải chi khoảng 5.000 tỉ đồng để duy trì hoạt động của 54 trại giam thuộc BCA, với hơn 20 nghìn cán bộ chiến sĩ Cảnh sát
Trang 40hiệu lực pháp luật của Tòa án được thực hiện trên thực tế; hai là, giáo dục cải tạo
người chấp hành án hình sự trở thành người biết tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để họ tái hòa nhập cộng đồng, phòng
ngừa họ phạm tội mới; ba là, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, tham gia đấu
tranh phòng, chống tội phạm21 Ba nhiệm vụ này phản ánh vai trò quan trọng của pháp luật THAHS Tuy nhiên, thực tiễn THAHS cho thấy, luôn tồn tại một tỉ lệ nhất định số người đã chấp hành xong hình phạt lại tái phạm Theo thống kê chung trong
25 năm gần đây, con số này là hơn 26%22
, không phải là một con số nhỏ Như vậy, vấn đề đặt ra là cần đánh giá khả năng thực tế của pháp luật THAHS trong toàn bộ các công cụ đấu tranh phòng, chống tội phạm và liệu có thể giảm tỉ lệ tái phạm, tăng hiệu quả tái hòa nhập cộng đồng bằng cách hoàn thiện pháp luật THAHS (với tư cách là một công cụ đấu tranh phòng, chống tội phạm) hay không
Về mặt quan điểm, để đánh giá đúng vai trò và giá trị thực chất của pháp luật THAHS, trước hết phải xuất phát từ quan điểm về tội phạm, về bản chất của tình trạng tội phạm do NCTN thực hiện Vì tội phạm do NCTN thực hiện là một hiện tượng xã hội và xã hội phải chịu trách nhiệm ở phạm vi nhất định về tình trạng NCTN phạm tội23 cho nên biện pháp xử lý tội phạm do NCTN thực hiện cũng phải mang tính xã hội và toàn diện Biện pháp pháp luật, trong đó có sử dụng pháp luật THAHS, chỉ là một biện pháp trong hệ thống các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện Tuy vậy, vì tội phạm là hành vi nguy hiểm nhất cho
xã hội trong thang bậc các hành vi vi phạm và án phạt tù đối với NCTN phạm tội là giải pháp cuối cùng khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không còn tác dụng răn đe, phòng ngừa24, nên pháp luật THAPT đối với phạm nhân là NCTN thực sự giữ vai trò quan trọng đối với kết quả xử lý tội phạm do NCTN thực hiện, bảo đảm kết quả và ý nghĩa của toàn bộ hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử trước đó, bảo đảm mục đích cuối cùng của hình phạt tù là giáo dục người CHAPT là NCTN trở thành người biết tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng thành công
Đánh giá vai trò của pháp luật về THAPT đối với phạm nhân là NCTN cần đặt trong những điều kiện lịch sử cụ thể và mức độ phát huy vai trò đó phụ thuộc
21
Xem: Trần Quang Tiệp (2002), Một số vấn đề về thi hành án hình sự, NXB CAND, Hà Nội, tr 8-9
22 Theo Báo cáo tổng kết 20 năm công tác THAHS, công tác tái hòa nhập cộng đồng (1993-2012) của BCA và các Báo cáo tổng kết công tác THAHS từ 2013 đến 2018 của Cục Cảnh sát QLTG-TGD thuộc BCA
23 Kết quả nghiên cứu của TSKH Hồ Diệu Thúy trong luận án “Nguồn gốc xã hội của việc vi phạm
pháp luật ở người chưa thành niên hiện nay”
24 Theo nội dung khoản 6 Điều 91 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017