1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ GIÁO VIÊN SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP

81 548 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ GIÁO VIÊN SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP 1.1.Về mặt lý luận Mỗi ngôn ngữ đều có những đặc điểm đặc trưng riêng. Vai trò và ý nghĩa của các yếu tố cấu thành ngôn ngữ không hoàn toàn giống nhau. Và ngay trong chính hệ thống âm ngữ của một ngôn ngữ cũng có những đặc điểm khác nhau. Tiếng Việt cũng vậy. Do đó không thể áp dụng dập khuôn phương pháp sửa lỗi phát âm của ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác, sửa dạng lỗi này vào sửa dạng lỗi phát âm khác. Trên cơ sở nghiên một số vấn đề lý luận về quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ và học sinh tiểu học có khuyết tật trí tuệ, lỗi phát âm trong tiếng Việt, dạy và sửa lỗi phát sai cùng với việc nghiên cứu cấu tạo, đặc điểm, phân loại âm tiết tiếng Việt đề tài nhằm giúp giáo viên nắm sơ bộ về hệ thống ngữ âm của tiếng Việt và học sinh khuyết tật trí tuệ. Đồng thời cả về những lý luận làm cơ sở xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu học hòa nhập. 1.2.Về mặt thực tiễn Qua khảo sát thực trạng cho thấy, việc dạy và sửa lỗi phát âm vẫn còn là một việc khó khăn với nhiều giáo viên như thời gian, điều kiện kinh tế, kiến thức chuyên môn... trợ giáo viên. Với những vấn đề này, hỗ trợ cho giáo viên tiểu học là một điều cần thiết. Những học sinh khuyết tật trí tuệ phát âm sai âm tiết tiếng Việt thường gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp và nhiều quá trình tâm lý khác. Từ những phân tích trên, đề tài đi sâu tới việc xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu học hòa nhập dựa trên trên những nghiên cứu, phương pháp đã có. Đề tài hi vọng có thể góp phần nâng cao chất lượng dạy phát âm tiếng Việt đồng thời giảm thiểu nguy cơ mắc lỗi phát âm ngay từ khi học sinh có những dấu hiệu mắc lỗi phát âm.

Trang 1

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ GIÁO VIÊN SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ

Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2

3.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2

4.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 2

5.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3

6.PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

7.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP 5

1.1.VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5

1.1.1.Trên thế giới 5

1.1.2.Tại Việt Nam 6

1.2.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP 7

1.2.1.Khuyết tật trí tuệ 7

1.2.2.Lỗi phát tâm 10

1.2.3.Các dạng phát âm sai 11

1.2.4.Những ảnh hưởng của lỗi phát âm tới học sinh khuyết tật trí tuệ 12

1.2.5.Ngữ âm và hệ thống âm tiết tiếng Việt 12

a.Khái niệm 13

b.Cấu tạo âm tiết tiếng Việt 13

1.3.THỰC TRẠNG LỖI PHÁT ÂM VÀ SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP 24

1.3.1.Mục đích khảo sát 24

1.3.2.Khách thể và địa bàn khảo sát 24

Trang 3

1.3.3.Thời gian khảo sát 24

1.3.4.Nội dung, phương pháp và phương tiện khảo sát 24

1.3.5.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG 26

a.Thực trạng nhận thức của giáo viên về sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học 26

b.Thực trạng sử dụng các biện pháp hỗ trợ học sinh có lỗi phát âm âm tiết tiếng Việt của giáo viên và những tài liệu có liên quan 27

c.Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học 29

d.Sự cần thiết của việc Xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu học hòa nhập 31

e.Đánh giá sơ bộ về các nguồn tài liệu giáo viên sử dụng 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ GIÁO VIÊN SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜN TIỂU HỌC HÒA NHẬP 36

2.1 CƠ SỞ XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ GIÁO VIÊN SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP 36

2.1.1.Cơ sở xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu học 36

2.1.2.Nguyên tắc xây dựng bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm 37

2.2.HỆ THỐNG BÀI TẬP SỬA LỖI PHÁT ÂM DÀNH CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP 38

2.2.1.Quy trình và hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm 38

PHẦN 1: KHỞI ĐỘNG BỘ MÁY CẤU ÂM 40

1.Những điều giáo viên cần biết 40

2.Đối tượng học sinh 46

3.Mục tiêu 46

Trang 4

4.Hệ thống bài tập 47

PHẦN 2: SỬA LỖI PHÁT ÂM PHỤ ÂM ĐẦU 52

1.Những điều giáo viên cần biết 52

2.Đối tượng học sinh 53

3.Mục tiêu 53

4.Hệ thống bước sửa; một số bài tập và hoạt động gợi ý 53

PHẦN 3: SỬA LỖI PHÁT ÂM PHẦN VẦN 57

1.Những điều giáo viên cần biết 57

2.Đối tượng học sinh 58

3.Mục tiêu 58

4.Hệ thống bài tập và một số hoạt động, phương tiện gợi ý 58

2.3.TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM 66

2.3.1 Mục đích thực nghiệm 66

2.3.2.Đối tượng thực nghiệm 66

2.3.3.Nội dung và phương pháp tổ chức thực nghiệm 66

2.3.4.Thời gian thực nghiệm 66

2.3.4.Cách thức thực nghiệm 66

2.3.5.Cách đo đạc và đánh giá kết quả thực nghiệm 66

2.3.6.Kết quả thực nghiệm 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 70

1.KẾT LUẬN 70

1.1.Về mặt lý luận 70

1.2.Về mặt thực tiễn 70

2.KHUYẾN NGHỊ 71

PHỤ LỤC 73

Trang 5

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Trong xã hội loài người, ngôn ngữ của bất kỳ dân tộc nào, thuộc bất kể loạihình ngôn ngữ nào, với chức năng giao tiếp, thông tin và lưu giữ, ngôn ngữ luôn thểhiện qua hai chiều: nhận biết (tiếp nhận) và thông báo (biểu đạt)

Trong ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày, ngôn ngữ nói đảm nhiệm chức năngthông báo của ngôn ngữ Bản chất của ngôn ngữ nói là quá trình con người thực hiệnviệc mã hóa các giá trị ngữ nghĩa bằng tín hiệu âm thanh Quy luật của sự mã hóa này

ở mỗi ngôn ngữ lại khác nhau Khi quy luật mã hóa đã được hình thành ở ngôn ngữcủa một dân tộc thì mọi người sử dụng ngôn ngữ đó phải thực hiện như nhau Có nhưvậy mới thực hiện được thông tin hai chiều: nói được ý - nghe hiểu đúng

Quy luật mã hóa được thực hiện ở nhiều yếu tố cấu thành của ngôn ngữ: ngữ

âm, ngữ pháp, từ vựng… Riêng yếu tố ngữ âm đòi hỏi người cùng sử dụng một ngônngữ phải dùng cùng một lượng ký hiệu âm thanh để biểu đạt Lượng ký hiệu đó tạothành hệ thống âm vị của một ngôn ngữ Nếu một người phát âm sai ký hiệu âm thanhthì sẽ là giảm hoặc mất khả năng biểu đạt của lời nói, làm cho người nghe không hiểuhoặc hiểu sai Có thể nói ngôn ngữ là sự hôn phối giữa âm thanh và ý nghĩa theo kiểu

ví von của F de Saussure, như hai mặt của một tờ giấy, không thể cắt mặt này màkhông đồng thời cắt luôn mặt kia Hiện tượng này gọi là sự phát âm sai

Phát âm sai có thể do không hiểu đúng âm thanh chuẩn mực của phương ngữmình đang dùng, trường hợp này không gọi là tật ngôn ngữ Trường hợp khác, hiểuđúng âm thanh chuẩn mực nhưng không thể phát âm đúng được âm đó, gọi là lỗi phát

âm sai

Phát âm sai là khuyết tật ngôn ngữ thường gặp ở trẻ mẫu giáo và ở học sinh tiểuhọc, nhất là học sinh các lớp 1, 2 Học sinh khuyết tật trí tuệ cũng thường kéo theo tậtngôn ngữ mà dạng phổ biến nhất là phát âm sai Vì ngôn ngữ của trẻ chỉ phát triểnbình thường khi hệ thần kinh và cơ quan phát âm phát triển bình thường

Cho đến thời điểm đề tài được tiến hành, chưa có một tài liệu chính thức nào vềngôn ngữ bệnh học và phương pháp sửa lỗi phát âm sai dành riêng cho học sinhkhuyết tật trí tuệ ở trường tiểu học hòa nhập Đã có rất nhiều tài liệu về ngôn ngữ học

Trang 6

tiếng Việt Qua nghiên cứu và thống kê, các tài liệu tiếng Việt hiện nay chủ yếu mô tảcác yếu tố ngôn ngữ dưới dạng tĩnh Nghĩa là chỉ dừng lại ở việc phân tích sản phẩmcủa hoạt động ngôn ngữ và chỉ ra những yếu tố cấu thành nó Do vậy, để vận dụngnhững tri thức đó để sửa lỗi phát âm sai thì vẫn còn là thách thức với nhiều giáo viêntiểu học dạy trẻ học hòa nhập

Xuất phát từ thực tế rằng nguồn tài liệu sửa lỗi phát âm sai âm tiết tiếng Việtcòn nhiều hạn chế và nhiều giáo viên ở khoảng cách địa lý và điều kiện tiếp cận khókhăn với các dịch vụ trị liệu âm ngữ, đề tài nghiên cứu được tiến hành nhằm đưa ramột nguồn tài liệu hỗ trợ hữu ích cho giáo viên dạy trẻ mầm non hoặc tiểu học học hòanhập hay chuyên biệt để giúp các em giảm thiểu tối đa nguy cơ mắc lỗi phát âm ngay

từ khi có dấu hiệu phát âm sai và giúp các em nói đúng tiếng Việt Hơn thế nữa, đề tàicòn hướng đến hỗ trợ sửa lỗi phát âm sai cho mọi độ tuổi và người nước ngoài họctiếng Việt

Từ tất cả những lý do nêu trên, đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu học hòa nhập” được chọn làm nghiên cứu.

2.Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực trạng về học sinh khuyếttật trí tuệ bậc tiểu học, ngữ âm tiếng Việt, các lỗi phát âm và cách sửa lỗi phát âm chohọc sinh tiểu học; đề tài tiến hành xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗiphát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu học hòa nhập nhằm góp phầnnâng cao chất lượng dạy phát âm cho những học sinh tiểu học và giúp các em nói đúngtiếng Việt

3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1.Khách thể nghiên cứu

Quá trình sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học

3.2.Đối tượng nghiên cứu

Xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu học hòa nhập

4.Giả thuyết khoa học

Trang 7

Hiện nay, việc sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu họchòa nhập còn gặp khó khăn do nhiều lý do khách quan cũng như lý do chủ quan Nếugiáo viên được hỗ trợ cách thức sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ởtrường tiểu học hòa nhập thì kỹ năng phát âm của học sinh sẽ được cải thiện

5.Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận có liên quan trực tiếp đến đề tài như: học sinh tiểu học,khuyết tật trí tuệ, ngữ âm tiếng Việt, các lỗi phát âm thường gặp ở học sinh khuyết tậttrí tuệ bậc tiểu học, và các phương pháp sửa lỗi phát âm

- Nghiên cứu thực trạng mắc lỗi phát âm của học sinh khuyết tật trí tuệ ởtrường tiểu học hòa nhập và thực trạng giáo viên sửa lỗi phát âm cho các em đó

- Xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinhkhuyết tật trí tuệ và tổ chức thực nghiệm một số hoạt động sử dụng bài tập hỗ trợ

6.Phạm vi nghiên cứu

6.1.Nội dung nghiên cứu

Xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ đang học hòa nhập ở lớp 1-2-3

6.2.Địa bản nghiên cứu

Khảo sát thực trạng tại trường tiểu học Phương Tú, Trường nuôi dạy trẻ khiếmthị Hải Phòng và trường Đại học Sư phạm Hà Nội

6.3.Đối tượng nghiên cứu

- 25 giáo viên tiểu học trường tiểu học Phương Tú

- 10 giáo viên tiểu học chuyên biệt trường Nuôi dạy trẻ khiếm thị Hải Phòng

- 15 sinh viên năm cuối khoa Giáo dục đặc biệt trường Đại học Sư phạm Hà Nội

- học sinh khuyết tật trí tuệ đang học lớp 1-2-3

7.Phương pháp nghiên cứu

7.1.Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập, tổng hợp, đọc, phân loại, phân tích và sử dụng thông tin các nguồn tàiliệu in và điện tử khác nhau có liên quan trực tiếp đến đề tài

7.2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1.Phương pháp quan sát

Trang 8

Quan sát tự nhiên để xác định thực trạng giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học của giáo viên và đánh giá khả năng phát âm của học sinh

7.2.2.Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn vấn đề giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học

7.2.3.Phương pháp điều tra viết

Sử dụng bảng hỏi để tìm hiểu thực trạng về sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học và nguồn tài liệu giáo viên sử dụng

7.2.4.Phương pháp thực nghiệm

Nghiên cứu sự khó khăn và cần thiết của cẩm nang hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát

âm từ đó đưa ra những nội dung cần thiết trong cuốn cẩm nang

7.2.5.Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Sử dụng một số công thức thống kê toán học cơ bản để xử lý các số liệu của đề tài

Trang 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP

1.1.VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1.Trên thế giới

Học phát âm là một quá trình ghi nhận các âm thanh (nghe bằng tai, nhìn bằngmắt cách phát âm) và tái hiện nó lại bằng âm thanh của mình Trẻ tiếp thu âm thanhtiếng nói một cách dần dần Vào tuổi mẫu giáo, bộ máy phát âm của trẻ đã hình thành,nhưng bộ máy phát âm phát triển quá chậm nên khả năng tái tạo ngôn ngữ chưa hoànchỉnh Do đó, trẻ thường nói không đúng một số phần khó của âm tiết như phụ âm đầu,

âm cuối, âm đệm, thanh hỏi, thanh ngã Khi nói, miệng của trẻ há không đúng, cấu

âm còn yếu…Việc thở của trẻ cũng có đặc điểm riêng: thở nông, thở nhanh, liên tục.Trẻ 3-4 tuổi hay nói chậm và kéo dài giọng, đôi khi còn ậm ừ, ê a, nói không liên tục,không mạch lạc Dần dần, trẻ biết điều chỉnh nhịp điệu, cường độ của giọng nói khigiao tiếp để phù hợp với từng hoàn cảnh, lời nói của trẻ đã rõ ràng, dứt khoát hơn.Những sai lệch trong việc phát âm được một số tác giả như Negnvinskaja,Shakhnarovich 1981; Ferwell 1975… xem là biểu hiện của sự tự điều chỉnh hoạt độngphát âm của trẻ lúc đầu chưa đúng một âm tố nào đó, trẻ ấp úng, lắp bắp lại âm tố đó

và lần sau phát âm đúng hơn lần trước Ngoài ra, mức độ tri giác về mặt ngữ âm củatrẻ còn liên quan đến khả năng nhận thức của đứa trẻ về các sự vật, hiện tượng mà từngữ đã gợi ra Trong lịch sử phát triển giáo dục đặc biệt, người luôn được nhắc đếnhàng đầu là nhà vật lý kiêm nhà giáo dục Jean Gaspard (1774-1836) Ông đưa ra lý

luận rằng: “Việc áp dụng các phương pháp đặc biệt cho trẻ khuyết tật sẽ có hiệu quả”.

Năm 1975, Quốc hội nước Mỹ đã thông qua luật giáo dục học sinh khuyết tật,

một trong những điểm mấu chốt của điểm này là: “Những người khuyết tật có quyền

được giáo dục phù hợp để đáp ứng nhu cầu riêng của họ”

Từ đó, cho thấy xã hội từ lâu đã có mối quan tâm đặc biệt dành cho trẻ khuyếttật Theo đó, với mỗi ở mỗi trẻ có dạng khuyết tật khác nhau sẽ nhận được những hỗtrợ khác nhau giúp các em có điều kiện phát triển được tối đa khả năng của mình

Học sinh có lỗi phát âm cũng đã nhận được những hỗ trợ như thế

Trang 10

- Shiteintal (1923-1899) người đầu tiên sáng lập ra trường phái ngôn ngữ họctâm lý Ông đã đưa ra lý thuyết ngôn ngữ là hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm

lý dân tộc

- Thuyết tâm lý liên tưởng - đại biểu là V.Vunt (1832-1920) nghiên cứu lýthuyết về dạng thức bên trong của từ, về các loại ý nghĩa chuyển đổi của từ, về nghĩahiện có của từ và câu, về mối quan hệ liên tưởng có tính ngữ đoạn

- L.X.Vugotxki cho rằng, khi học sinh gặp phải những khó khăn trong cuộcsống, học sinh tham gia vào sự hợp tác của người lớn và bạn bè có năng lực cao hơn,những người này giúp đỡ học sinh và khuyến khích học sinh Trong mối quan hệ hợptác này quá trình tư duy trong một xã hội nhất định được chuyển giao sang học sinh

Do ngôn ngữ là phương thức đầu tiên mà qua đó, con người trao đổi với các giá trị xãhội, L.X.Vugotxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển tư duy

- Lynas, Huntiington và Tucker (1988): Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sửdụng lời nói và dấu hiệu đồng thời với các âm vị, nguyên âm đơn, nguyên âm đôi

1.1.2.Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, việc dạy học sinh nói chung và học sinh khuyết tật nói riêng ngàycàng được chú trọng Ngày càng có nhiều khóa học và chuyên đề về trị liệu ngôn ngữ

và lời nói được mở ra nhằm đáp ứng nhu cầu can thiệp rối loạn về lời nói, phát âm, giao tiếp, ngôn ngữ, ăn uống và rối loạn nuốt cho trẻ Các khóa học và chuyên đề thường được tổ chức tại các thành phố lớn như Hà nội và Hồ Chí Minh cùng một số bệnh viện lớn trên cả nước Học phí của khóa học và chuyên đề nằm ngoài khả năng của những giáo viên ở các tỉnh lẻ Dễ dàng nhận thấy, khoảng cách địa lý, học phí và những hạn chế về ngữ âm là những cản trở lớn đối với giáo viên tiểu học

Thời gian gần đây, những vấn đề về sửa lỗi phát âm ngày càng được quan tâm Bằng chứng cho thấy là những nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp về vấn đề này ngày cành phong phú và đa dạng Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau:

- “Hướng dẫn thực hành âm ngữ trị liệu” (2004) của nhóm tác giả TS BS VũThị Bích Hạnh, ThS.NN Đinh Thái Thu Hương

- “Can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật” (2005) của nhómtác giả Trần Thị Thiệp, Bùi Thị Lâm, Lương Thị Hồng Hạnh, Hoàng Thị Nho và LêThanh Ngọc, tài liệu tập huấn cán bộ, giảng viên các trường Sư phạm

Trang 11

- “Phương pháp dạy phát âm cho học sinh khiếm thính” (2006) của tác giả TrầnThị Thiệp, tài liệu bài giảng lớp cử nhân cao đẳng Trường cao đẳng nhà học sinh mẫugiáo Trung Ương II.

- “Chuyên đề giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật ngôn ngữ” (2009) của tácgiả Nguyễn Văn Lợi Tài liệu bải giảng trường Đại học Vinh

- “Sửa lỗi phát âm phần vần của âm tiết tiếng Việt cho trẻ độ tuổi mẫu giáo vàtiểu học bằng phương pháp sử dụng âm tiết tiết trung gian” (1997) Đề tài K37, Việnkhoa học giáo dục Việt Nam

Những đề tài nghiên cứu trên thường chỉ tập trung vào một đối tượng cụ và sửamột số lỗi cụ thể Điều này, một mặt nào đó trở thành yếu tố cản trở sự tiếp cận vấn đề

ở giáo viên Trong khi, trên thực tế lỗi phát âm ở từng học sinh và từng lớp là khôngphải lúc nào cũng giống nhau

Trên cơ sở những nghiên cứu đi trước, đề tài đi sâu vào việc Xây dựng hệ thốngbài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểuhọc hòa nhập với hi vọng góp phần nâng cao chất lượng dạy phát âm cho học sinh.Đồng thời giảm thiểu nguy cơ mắc lỗi phát âm ở học sinh tiểu học ngay từ khi các em

có dấu hiệu mắc lỗi phát âm

1.2.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP

1.2.1.Khuyết tật trí tuệ

a.Khái niệm

Theo Laura - nhà tâm lý học người Nga, trẻ khuyết tật trí tuệ là những em mắcbệnh về não từ khi còn trong bào thai hoặc trong những năm tháng đầu đời gây cản trở

sự phát triển của não, gây ra sự phát triển không bình thường về tinh thần

Theo bảng phân loại DSM-5 (2013): khuyết tật trí tuệ là một rối loạn diễn ratrong suốt quá trình phát triển, bao gồm sự thiếu hụt cả về trí tuệ và chức năng thíchứng về khái niệm, xã hội và các lĩnh vực thực hành Một học sinh được chẩn đoán làkhuyết tật trí tuệ cần phải có đầy đủ 3 tiêu chí sau:

- Tiêu chí 1: Bị thiếu hụt các chức năng trí tuệ như lí luận, giải quyết vấn đề, lập

kế hoạch, tư duy trừu tượng, phán xét, kĩ năng học tập, học hỏi từ trải nghiệm Các

Trang 12

thiếu hụt này được kiểm chứng thông qua các đánh giá lâm sàng và cá nhân, kiểm tratrí thông minh đã được chuẩn hóa (thể hiện thông qua đánh giá chỉ số thông minh IQđạt được dưới 70 trong một lần thực nghiệm trắc nghiệm cá nhân)

- Tiêu chí 2: Bị thiếu chức năng thích ứng dẫn đến thất bại trong việc đáp ứngcác tiêu chuẩn phát triển văn hóa xã hội, độc lập cá nhân và trách nhiệm xã hội Nhữngthiếu hụt trong chức năng thích ứng này sẽ dẫn đến những hạn chế một hoặc nhiềuhoạt động trong học tập hàng ngày như thông tin liên lạc, tham gia xã hội, sống độclập trong các môi trường như gia đình, trường học, nơi làm việc và cộng đồng;

- Tiêu chí 3: Những thiếu hụt về trí tuệ và chức năng diễn ra trong suốt quá trìnhphát triển

b.Phân loại khuyết tật trí tuệ

DSM-5 sử dụng trí tuệ làm tiêu chí phân loại mức độ khuyết tật trí tuệ là:

- khuyết tật trí tuệ nhẹ: Chỉ số trí tuệ từ 50-55 tới xấp xỉ 70;

- khuyết tật trí tuệ trung bình: Chỉ số trí tuệ 35-40 tới 50-55

- khuyết tật trí tuệ nặng: Chỉ số trí tuệ 20-25 tới xấp xỉ 35-40

- khuyết tật trí tuệ rất nặng: Chỉ số trí tuệ từ 20 hoặc 25

c.Đặc điểm của học sinh khuyết tật trí tuệ

- Cảm giác - tri giác

+ Thời gian tri giác chậm chạp: học sinh khuyết tật trí tuệ tri giác các đối tượng

chậm hơn học sinh bình thường Trong thời gian nhất định thì khối lượng thôngtin học sinh khuyết tật trí tuệ thu nhận được ít hơn so với học sinh bình thường (chỉ bằng 40% so với trẻ bình thường) Tri giác cũng hạn chế, khả năng phậnbiệt, bắt chước các hình dạng kém

+ Khả năng phân biệt kém: khi chúng ta đưa cho học sinh khuyết tật trí tuệ một

bức tranh yêu cầu quan sát và kể lại những gì đã nhìn thấy trong tranh, hầu hết khônghiểu được bố cục bức tranh, không phân biệt được nét mặt vui, buồn của những nhânvật ở trong tranh, không phân biệt được các đối tượng gần giống nhau

+ Thiếu tích cực trong quá trình tri giác: trong quá trình quan sát, học sinh

thường có biểu hiện không muốn xem xét kĩ càng, không muốn hiểu rõ nội dung cầntri giác mà chỉ muốn tri giác một cách qua lao, hơi hợt Do hệ thần kinh yếu nên quá

Trang 13

trình tri giác, thính giác của học sinh gặp khó khăn và có những biểu hiện kém pháttriển Không phân biệt tốt âm thanh là nguyên nhân gây ra sự kém phát triển về ngônngữ và tư duy, khả năng định hướng môi trường xung quanh.

+ Ngưỡng cảm giác có nhiều bất thường: phần lớn cảm giác của học sinh

khuyết tật trí tuệ nhạy cảm hơn so bình thường: Điều này có nghĩa là ngưỡng cảm giácphía dưới và ngưỡng cảm giác phía trên thấp do độ nhạy cảm cảm giác cao Với âmthanh cũng vậy, học sinh không chịu được những âm thanh quá lớn, những tiếp xúcquá mạnh, bất ngờ, hoặc các mùi cũng như các vị có cường độ lớn

+ Một số học sinh khuyết tật trí tuệ nhạy cảm với các kích thích: trường hợp

này không nhiều và rơi vào một số học sinh thuộc nhóm khuyết tật trí tuệ đi kèm cáchội chứng như : tự kỷ, AD/HD, Rett

+ Tính bất thường trong tri giác: đặc điểm này rơi vào một số học sinh khuyết

tật trí tuệ đi kém tự kỷ và tăng động, giảm chú ý Khi quan sát đối tượng, học sinh bìnhthường thì nhìn thấy tổng thể của nó, nhưng học sinh khuyết tật trí tuệ chỉ nhìn thấychi tiết của đối tượng đó thôi

-Tư duy

Các công trình nghiên cứu khác về hoạt động nhận thứ của trẻ khuyết tật trí tuệ

đã rút ra ba đặc điểm về tư duy của nhóm trẻ này:

- Tư duy mang tính cụ thể trực quan yếu về khái quát hóa là đặc điểm tư duyđầu tiên của trẻ khuyết tật trí tuệ

- Thiếu tính liên tục trong tư duy

- Vai trò điều chỉnh của tư duy

Cả ba đặc điểm này cũng gây khó khăn cho giáo viên khi sửa lỗi phát âm cho học sinhkhuyết tật trí tuệ

- Ghi nhớ

- Ghi nhớ máy móc tốt hơn ghi nhớ có ý nghĩa

- Ghi nhớ trực tiếp tốt hơn ghi nhớ gián tiếp

- Ghi nhớ có chủ đích không tốt hơn ghi nhớ không có chủ đích

- Khó nhớ nhanh quên, tái hiện không chính xác

- Không có động cơ ghi nhớ

Trang 14

Với những đặc điểm ghi nhớ này, giáo viên sẽ cần phải thực sự nỗ lực theo sát họcsinh trong khoảng thời gian dài để hoàn thiện quá trình sửa lỗi

1.2.2.Lỗi phát tâm

a.Khái niệm

Theo tác giả Jrank trong bài viết về rối loạn âm vị học, ông đã đưa ra quan

niệm: “Học sinh có lỗi phát âm đó là những học sinh có rối loạn phát âm dai dẳng và

đáng kế đến cấu trúc ngôn ngữ nói mặc dù học sinh có trí tuệ, khả năng nghe, khả năng giao tiếp bình thường cũng như không có tổn thương về thần kinh gây cản trở đến việc giáo tiếp bằng miệng”

Ngoài ra, cũng có quan niệm, “Học sinh hay người có lỗi phát âm là những

người phát âm không chuẩn một hay nhiều thành phần âm tiết tiếng Việt và làm ảnh hưởng ít nhiều đến độ rõ ràng của lời nói khi phát ngôn Phát âm không chuẩn xảy ra lâu dài và trong mọi tình huống nói năng Nguyên nhân dẫn đến phát âm không chuẩn

có thể do vùng phụ trách ngôn ngữ trên não bộ bị tổn thương hoặc có thể do ảnh hưởng của thực thể (cấu âm), của khuyết tật khác gây nên như bại não, khuyết tật trí tuệ đến chất lượng phát âm của họ”.

Trong đề tài này, tôi sử dụng khái niệm thứ hai

Ngoài ra, cũng có những tài liệu xác định và cụ thể hóa nguyên nhân của lỗiphát âm:

- Nguyên nhân thứ nhất gây nên những lỗi về phát âm là do rối loạn hay khiếmkhuyết ở bộ máy phát âm hay cấu âm Bất kì một thành phần nào trong bộ máy phát

âm chẳng hạn như môi, răng, lưỡi, vòm miệng, thanh quản bị khiếm khuyết hoặc

Trang 15

thanh lời nói và chất lượng của âm thanh lời nói Có những thành phần trong bộ máyphát âm có thể chữa trị y tế như phẫu thuật và chất lượng của âm thanh lời nói đượccải thiện mà không cần đến trị liệu âm ngữ về sau Chất lượng phát âm là tùy thuộcvào mức độ loại khiếm khuyết của từng bộ phận trong bộ máy phát âm

- Nguyên nhân thứ hai của lỗi phát âm là do ảnh hưởng của thần kinh hoặc bấtthường Loại này bao gồm các vấn đề với các cơ miệng không cho phép học sinh có đủtốt động cơ kiểm soát các cơ bắp để sản sinh tất cả các âm thanh tiếng nói

- Nguyên nhân thứ ba của phát âm sai là không rõ Điều này đôi khi được gọi là

“rối loạn phát triển của phát âm” Mặc dù nguyên nhân chưa được biết, có nhiều ý kiếncho rằng có thể bao gồm bất thường về não nhẹ, và chưa trưởng thành phát triển của

hệ thống thần kinh

1.2.3.Các dạng phát âm sai

Các dấu hiệu của lỗi phát âm khác nhau đáng kể tùy thuộc vào tuổi của họcsinh Thông thường không dễ nhận ra chính xác phát âm sai Học sinh mắc lỗi phát âmthì sự phát triển lời nói chậm hơn so với các học sinh cùng độ tuổi, tuy nhiên sự pháttriển của học sinh đó cũng cùng một trình tự phát triển chung Vì vậy, lời nói có thể làbình thường đối với một đứa trẻ bốn tuổi có thể là dấu hiện của lỗi phát âm khi lên sáu

Do đó, khi xem xét lỗi phát âm phải tính đến yếu tố lứa tuổi và môi trường ngôn ngữ

để xác định Loại trừ yếu tố lứa tuổi và phương ngữ, lỗi phát âm liên quan đến lời nóibao gồm các dạng như sau:

- Thay thế: phát âm âm vị này thành âm vị kia, ví dụ nói: cái lá thành cái ná ( thay l thành n)

- Mất âm: phát âm nuốt âm vị, ví dụ quả táo thành ỏa áo ( mất /k/ và /t/), mất

âm đệm như khoai thành khai, thiếu âm chính nguyên âm đôi là chuối thành chúi

- Vặn vẹo: phát âm méo mó âm vị nào đó và không xác định được đó là âm vị

nào trong hệ thống âm vị tiếng Việt

- Thêm âm: phát âm kèm theo những âm khác vào trong âm tiết.

Trong đề tài nghiên cứu, dựa vào cấu trúc âm tiết tiếng việt, đề tài lựa chọnhướng phân chia lỗi phát âm thành các dạng sau:

- Dạng 1: Lỗi phát âm ở phụ âm đầu

- Dạng 2: Lỗi phát âm ở phần vần

Trang 16

Trong lỗi phát âm ở phần vần có các 4 dạng lỗi như sau:

+ Phát âm sai âm đệm: bông hoa thành bông ha

+ Phát âm sai âm chính: quả chuối thành quả chúi

+ Phát âm sai âm cuối: ngả nghiêng thành ngả nghiên, anh thành ăn

+ Phát âm sai thanh điệu: cái tủ thành cái tụ, cái võng thành cái vóng

Tóm lại, lỗi phát âm ở học sinh là muôn hình muôn vẻ và ở mức độ nặng - nhẹkhác nhau Đối với học sinh thuộc mức độ nhẹ, tình trạng ngôn ngữ của học sinhkhông ảnh hưởng lớn đến chức năng giao tiếp, đồng thời không ảnh hưởng lớn đếnquá trình nhận thức, tư duy và sự phát triển trí tuệ, nhân cách của học sinh Học sinh

có thể học hòa nhập với những học sinh bình thường, tất nhiên cần có sự hỗ trợ từ giáoviên Với những học sinh thuộc mức độ nặng, học sinh khó có thể học hòa nhập vớihọc sinh khác mà phải có nội dung và phương pháp giáo dục phục hồi đặc biệt trongcác trường chuyên biệt trong thời gian đầu trước khi cho học sinh học hòa nhập

1.2.4.Những ảnh hưởng của lỗi phát âm tới học sinh khuyết tật trí tuệ

Mặc dù phát âm chỉ là một phần trong ngôn ngữ của học sinh nhưng khi họcsinh có những lỗi phát âm đều gặp những khó khăn nhất định Việc phát âm sai dễnhận biết nhất khi học sinh tham gia vào quá trình giao tiếp Do vậy, học sinh thường

có thái độ tự ti, mặc cảm mỗi khi sử dụng ngôn ngữ giao tiếp Từ đó, ảnh hưởng tớikhả năng giao tiếp và ít có ngôn ngữ giao tiếp mạch lạc ở học sinh Học sinh thườngrất nhút nhát, sống khép mình, ít giao tiếp với bạn bè, người thân Hạn chế khả năngnhận thức, tư duy, tưởng tượng Khả năng tư duy, trí nhớ, tưởng tượng của học sinhkhuyết tật về ngôn ngữ là rất kém, quá trình tri giác biểu tượng ở học sinh diễn rachậm hơn nhiều so với một học sinh bình thường cùng độ tuổi Trong quá trình học tậptại trường các em sẽ gặp những khó khăn nhất định trong việc lĩnh hội nội dung bàigiảng, các em thường bị coi là đối tượng chậm hơn, kết quả học tập thường không cao

so với học sinh bình thường Do vậy, khả năng hòa nhập và thích ứng của học sinhcũng gặp nhiều hạn chế

Với những học sinh có đặc điểm định hình trong tư duy, ngay từ khi có lỗi phát

âm, giáo viên chấp nhận thì học sinh sẽ mặc định và không nỗ lực cố gắng sửa Chínhđiều này sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động sửa lỗi phát âm cho các em sau này

Trang 17

a.Khái niệm

Âm tiết là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất trong khi nói vì nó có tính chất toàn vẹn,được phát âm bằng một căng của bộ máy phát âm, phát ra một hơi nghe thành tiếng

b.Cấu tạo âm tiết tiếng Việt

Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhất trong ngôn ngữ Trong tiếng Việt, một

âm tiết bao giờ cũng phát ra với một thanh điệu và tách rời với âm tiết khác bằng mộtkhoảng trống Trên chữ viết, mỗi âm tiết tiếng Việt được ghi thành một chữ và đọcthành một tiếng

Ví dụ: “Hoa hồng bạch” gồm 3 chữ, 3 tiếng, hoặc 3 âm tiết

Trong tiếng Việt có tính phân âm tiết cao, mỗi âm tiết nó đứng cách xa nhau.Mỗi âm tiết bao giờ cũng gắn liền với thanh điệu và làm thay đổi ý nghĩa của âm tiết

Có tổng số 5164 âm tiết được sử dụng trong tiếng Việt Đó là những âm tiết có thựctiếng Việt, còn lại khoảng 10000 âm tiết có thể phát âm được nhưng không mang một

ý nghĩa nào

Ví dụ: choan, choán, choãn, (không mang ý nghĩa) trong khi “choán” (trong

“choán chỗ”) lại có ý nghĩa

Ở dạng đầy đủ nhất, âm tiết tiếng Việt bao gồm 5 thành phần sắp xếp với nhautheo sơ đồ sau:

Âm đầu (1)

Thanh điệu (5)Vần

Âm đệm (2) Âm chính (3) Âm cuối (4)

Trong đó, âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối được coi là bộ phận đoạn tính(hay còn gọi là âm đoạn); thanh điệu (6 thanh) được coi là bộ phận siêu đoạn tính

Trang 18

dagiàgì

Phụ âm đầu có thể khuyết trong một số trường hợp như: ăn, an, oan và được

gọi là phụ âm tắc thanh hầu Ngoài ra phụ âm /p/ xuất hiện trong một số âm tiết vay

mượn từ tiếng nước ngoài hay địa danh, tiếng dân tộc Ví dụ: Pin, Pác Pó

Các phụ âm đầu trong tiếng Việt được miêu tả và phân loại dựa trên ba tiêuchí là vị trí cấu âm, phương thức phát âm và đặc điểm âm học Trong đề tài, với mục

Trang 19

đích xây dựng bảng từ sửa lỗi phát âm thanh hỏi cho học sinh, tôi đề cập đến tiêu chíphân loại theo phương thức cấu âm như sau:

+ Phụ âm tắc: là những phụ âm mà khi cấu âm không khí đi ra bị cản trở hoàntoàn, phá vỡ sự cản trở ấy để thoát ra ngoài và gây ra một tiếng nổ nhẹ, gồm các phụ

Thuộc loại âm xát còn có âm bên /l/, được tạo bởi tiếng cọ xát khi luồng hơi đi

ra ngoài qua hai mép lưỡi

Vị trí 2: ÂM ĐỆM

Ở vị trí âm đệm, chỉ có một âm vị bán nguyên âm /w/ đó là một âm có cấu tạogiống như âm chính /u/ (nguyên âm có độ mở hẹp, phát âm cực trầm, tròn môi, thuộchàng sau), nhưng khác với âm chính ở chức năng tạo âm sắc chủ yếu cho âm tiết Âm

đệm /w/ chỉ có tác dụng làm trầm hoá âm sắc của âm tiết, ví dụ so sánh tấn và tuấn.

Âm đệm /w/ được thể hiện trên chữ viết bằng hai hình thức:

+ Viết là “o” khi âm đệm /w/ đứng trước các nguyên âm có độ mở hơi rộng và

rộng Ví dụ: Hoàng, ngoằn ngoèo

+ Viết là “u” khi âm đệm /w/ đứng trước các nguyên âm có độ mở hơi hẹp và

hẹp: huy, tuấn, huệ… và sau phụ âm /k/ viết bằng con chữ “q”: quê, quân, quyết…

Sự phân bố của âm đệm /w/

Âm đệm /w/ bị hạn chế ở một số trường hợp sau:

+ /w/ không xuất hiện sau các phụ âm môi /b, m, f, v/ Một số trường hợp như

buýt, phuy, voan, muy đều là từ ngoại lai

+ /w/ chỉ xuất hiện sau /ɤ/ ở một từ goá.

+ /w/ cũng chỉ xuất hiện ở một vài từ có âm đầu /n/: noa, noãn (là từ Hán Việt)

Trang 20

Vị trí 3: ÂM CHÍNH

Âm chính đứng ở vị trí thứ 3 trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, vị trí thứ haitrong phần vần Âm chính bao giờ cũng do các nguyên âm đảm nhiệm Trong tiếngViệt có 14 nguyên âm làm âm chính, trong đó có 11 nguyên âm đơn (9 nguyên âm dài

và 2 nguyên âm ngắn) và 3 nguyên âm đôi như sau:

y

kimquý

míakhuyatiênkhuyên

ưa

vườnmưa

ua

muộnbúaTrong cấu tạo âm đoạn của âm tiết tiếng Việt, phụ âm đầu thì có thể khuyếtnhưng phần vần thì không bao giờ khuyết Trong cấu tạo của vần, âm đệm và âm cuốicũng có thể khuyết nhưng âm chính bắt buộc phải có, không có âm chính không tạothành âm tiết Vì vậy, âm chính là hạt nhân của âm tiết, có chức năng quy định âm sắcchủ yếu của âm tiết

Việc miêu tả và phân loại nguyên âm tiếng Việt thường dựa vào ba tiêu chí chủyếu là: vị trí của lưỡi, độ mở của miệng và hình dáng của môi Để thuận tiện cho việc

Trang 21

lập bảng từ luyện cho học sinh, tôi chọn phân loại âm chính theo tiêu chí thứ 2, độ mởcủa miệng

Theo độ mở của miệng, các nguyên âm được phân thành:

+ Các nguyên âm có độ mở hẹp: bao gồm /i/, /ω/, /u/

+ Các nguyên âm có độ mở hơi hẹp: bao gồm /e/, /o/, /ɤ/, / ɤˇ/

+ Các nguyên âm có mở hơi rộng: bao gồm /ɛ/, /ͻ/

+ Các nguyên âm có độ mở rộng: bao gồm /a/, /ă/

+ Các nguyên âm đôi /ie/, /ωɤ/, /uo/ nằm giữa độ mở hẹp và hơi hẹp, xếp thànhmột loại riêng

Vị trí 4: ÂM CUỐI

Âm cuối trong tiếng Việt đứng ở vị trí cuối vần cũng là âm cuối âm tiết, là âmkết thúc của âm tiết Âm vị đảm nhận vị trí này có thể là bán nguyên âm hoặc phụ âmcuối (8 phụ âm, 2 bán nguyên âm)

Chức năng của âm cuối là kết thúc âm tiết và là cơ sở để phân chia các loại hình

âm tiết, quy định sự phân bố của thanh điệu

Hệ thống phụ âm cuối được miêu tả và phân loại dựa vào hai tiêu chí chủ yếu làphương thức cấu âm và vị trí cấu âm Tuy nhiên, tôi đặc biệt nhấn mạnh đến tiêu chíphân loại dựa vào vị trí cấu âm để phù hợp và thuận tiện cho việc xây dựng bảng từluyện, như sau:

+ Phụ âm hai môi: bao gồm /m, p/

Trang 22

+ Phụ âm đầu lưỡi - lợi: bao gồm /n, t/.

+ Phụ âm mặt lưỡi: bao gồm /ɲ, c/

+ Phụ âm gốc lưỡi: bao gồm / ɳ, k/

Vị trí 5: THANH ĐIỆU

Thanh điệu là yếu tố có tính chức năng khu phân biệt âm tiết về độ cao, nóquyết định âm sắc của nguyên âm là âm chính, có giá trị phân biệt nghĩa và nhân diện

từ Tiếng Việt có 6 thanh điệu, cùng với âm chính thanh điệu luôn là vị trí không bao

giờ vắng mặt trong cấu trúc âm tiết (ngay ở các từ như “tay” tuy thanh điệu không bao giờ vắng mặt trong cấu trúc âm tiết (ngay trong các từ như “chân” tuy thanh điệu

không biểu hiện trong cấu trúc âm tiết nhưng vẫn mang thanh điệu là thanh không dấu)

*Số lượng và sự thể hiện trên chữ viết

Tiếng Việt có 6 thanh điệu, trong đó có 5 thanh được thể hiện trên chữ viết bằng dấu ghi thanh điệu, 1 thanh không thể hiện trên chữ viết

*Hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt

Thanh điệu là sự nâng cao và hạ thấp giọng nói trong một âm tiết, có chức năng

khu biệt nghĩa và nhận diễn từ Ví dụ: cà khác cá hay cả…

Vì có chức năng khu biệt nghĩa nên thanh điệu tiếng Việt được coi là âm vịchân thực Song khác với các âm vị khác, trong cấu trúc âm tiết (như âm đầu, âmđệm…), âm vị thanh điệu không chia cắt được trên tuyến thời gian và phải được thựchiện đồng thời với các âm vị khác Vì thế thanh điệu được coi là một loại âm vị đặcbiệt: âm vị siêu đoạn tính

Hệ thống thanh điệu được miêu tả dựa trên hai tiêu trí chủ yếu là: đường nét vận động của các thanh (âm điệu) và cao độ (âm vực)

- Tiêu chí 1: đường nét vận động của các thanh

Trang 23

Theo đường nét vận động, các thanh điệu được phân thành hai nhóm:

+ Thanh điệu có đường nét vận động bằng phẳng (truyền thống gọi là thanh bằng): gồm thanh không dấu và thanh huyền

+ Thanh điệu có đường nét vận động không bằng phẳng (truyền thống gọi là thanh trắc): gồm thanh ngã, hỏi, sắc, nặng

Trong đó các thanh trắc có thể chia nhỏ thành:

Các thanh có đườn nét gãy: ngã, hỏi

Các thanh có đường nét không gãy: sắc, nặng

Miêu tả hệ thống thanh điệu theo tiêu chí 1:

Thanh ngang

Thanh không dấu (thanh ngang), thanh này không thể hiện trên chữ viết, là

thanh cao, đường nét bằng phẳng, không biến thiên về độ cao Ví dụ: Đi xe sang Gia

cao Một số sinh viên nước ngoài học tiếng Việt phát âm ba thành bà hoặc ngược lại,

là do không biệt được hai mức độ cao thấp của chúng

Sơ đồ: Cao độ

(2)

Trường độ

Trang 25

k/ như bắt cóc, nấp thì thanh sắc vút cao ngay lúc bắt đầu, gây ấn tượng ngắn Sơ đồthanh sắc được biểu diễn như sau:

Trang 26

+ Các thanh điệu có âm vực cao, gồm ba thanh: không dấu, sắc và ngã.

+ Các thanh điệu có âm vực thấp, gồm ba thanh: huyền, hỏi, nặng

c.Phân loại âm tiết tiếng Việt

Người ta thường dựa vào hai tiêu chí sau để phân loại âm tiết tiếng Việt:

Tiêu chí 1: Cách kết thúc âm tiết

Khi nói về các loại âm tiết tiếng Việt thì người ta thường căn cứ vào khả năngkết hợp với các phụ âm cuối để chia loại âm tiết Âm tiết tiếng Việt được phân chiathành 4 loại: Âm tiết mở, âm tiết nửa mở, âm tiết nửa đóng, âm tiết đóng Trong đó:

- Âm tiết mở: là các âm tiết kết thúc bằng âm chính (hoặc không có âm cuối) Ví dụ: ba, mẹ, cô, bé, bà …

- Âm tiết nửa mở: là các âm tiết kết thúc bằng bán nguyên âm /u/ và /i/ Ví dụ:

tai, tay, áo, đầu…

- Âm tiết nửa đóng: là các âm tiết kết thúc bằng các phụ âm vang mũi /m/, /n/, /

ɳ/, /ɲ/ Ví dụ: tăm, bàn, bông, chanh…

- Âm tiết đóng: là các âm tiết kết thúc bằng các phụ âm tắc vô thanh /p/, /t/, /k/, / c/ Ví dụ: đập, hát, khóc, chích…

Tiêu chí 2: Cách mở đầu âm tiết

Dựa vào tiêu chí này, âm tiết tiếng Việt được phân thành 4 loại:

+ Âm tiết nhẹ: là các âm tiết phần đầu không có âm đầu và âm đệm ví dụ: ăn, uống,ôm…

+ Âm tiết nửa nhẹ: là các âm tiết phần đầu có âm đệm, nhưng không có âm đầu Ví dụ:

oa, uẩn, uyển…

+ Âm tiết nửa nặng: là các âm tiết phần đầu có âm đệm, nhưng không có âm đệm Vídụ: cơm, hát, khóc…

+ Âm tiết nặng: là các âm tiết phần đầu có âm đầu và âm đệm Ví dụ: hoa, huệ, thuỷ,thuyền…

Ngoài ra, trong các tài liệu dạy học sinh sửa lỗi phát âm, đặc biệt là học sinh Khiếm thính, người ta cũng đề cập đến những khái niệm trên đây dưới dạng đơn giản hơn đó là các cách khép vần, theo đó bốn loại hình âm tiếng Việt được tương ứng với bốn loại khép vần: vần mở (sau chính âm không có âm nào), vần nửa mở (kết thúc bằng /-i, -u/), vần nửa kín (kết thúc bằng /-m/, -n/, /-ɲ/, /-ɳ/…/), vần kín (/-p/, /-t/, /-k/)

Trang 27

Thực tế cho thấy, việc dạy và sửa lỗi phát âm là một việc khó khăn, cần nhiềuthời gian và đòi hỏi kiến thức và kỹ năng với cả học sinh và giáo viên Đặc biệt lànhững học sinh khuyết tật trí tuệ khi phát âm sai sẽ ảnh hưởng đến giao tiếp và nhiềuquá trình tâm lý khác

Trên cơ sở nghiên một số vấn đề lý luận về quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ

và học sinh tiểu học, học sinh khuyết tật trí tuệ, lỗi phát âm trong tiếng Việt, dạy vàsửa lỗi phát sai cùng với việc nghiên cứu cấu tạo, đặc điểm, phân loại âm tiết tiếngViệt làm cơ sở giúp giáo viên nắm sơ bộ về hệ thống ngữ âm của tiếng Việt và họcsinh khuyết tật trí tuệ Đồng thời, những lý luận này cũng là cơ sở xây dựng hệ thốngbài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểuhọc hòa nhập

1.3.THỰC TRẠNG LỖI PHÁT ÂM VÀ SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINHKHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HÒA NHẬP

1.3.1.Mục đích khảo sát

Quá trình nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học tại hai môi trường giáo dục hòa nhập và chuyên biệt, đồng thời phân tích khó khăn và đưa ra biện pháp hỗ trợ giáo sửa lỗi phát âm theo hướng dễ hiểu, dễ tiếp cận

và dễ tiến hành với giáo viên và học sinh

1.3.2.Khách thể và địa bàn khảo sát

Đề tài tiến hành nghiên cứu với số lượng tham gia khảo sát như sau:

- 25 giáo viên tiểu học đang trực tiếp dạy từ lớp 1- 5 trường tiểu học Phương Tú

- 10 giáo viên chuyên biệt trường Nuôi dạy trẻ khiếm thị Hải Phòng

- 15 sinh viên năm cuối khoa giáo dục trường đại học sư phạm Hà Nội

Trang 28

Đề tài tiến hành khảo sát giáo viên tại môi trường giáo dục hòa nhập và chuyênbiệt Các giáo viên tại hai trường tiểu học này gặp những khó khăn nhất định vềkhoảng cách địa lý và cơ hội tiếp cận kiến thức và cách thức sửa lỗi phát âm cho họcsinh tiểu học Trong nghiên cứu cũng tiến hành khảo sát ngẫu nhiên 15 sinh viên nămcuối khoa giáo dục Đặc biệt trường Đại học Sư phạm Hà Nội Trong đó, có một sốsinh viên có học văn bằng tiểu học Đây là những sinh viên có cơ hội được tiếp cậnnhiều và nhanh nhất những kiến thức này, tuy nhiên lại chưa có nhiều trải nghiệm thực

tế và điều kiện để học hỏi các kiến thức liên quan đến đề tài này

1.3.3.Thời gian khảo sát

Từ ngày 15/3/2019 - 15/4/2019

1.3.4.Nội dung, phương pháp và phương tiện khảo sát

a.Nội dung khảo sát

Đề tài tập trung khảo sát 2 vấn đề cơ bản sau đây:

(1) Thực trạng sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học (môi trường hòa nhập và chuyên biệt) của giáo viên

(2) Ưu nhược điểm của các nguồn tài liệu hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm

b.Phương pháp kháo sát

Đề tài tiến hành nghiên cứ theo các phương pháp sau:

- Phương pháp quan sát

+ Xác định nội dung, kế hoạch quan sát, điều tra

+ Lập phiếu quan sát theo kế hoạch

+ Dự giờ một số tiết dạy cá nhân, dạy hòa nhập và tiến hành quan sát theo kế hoạch + Ghi chép thông tin vào phiếu và xử lý các bản quan sát, so sánh, tổng hợp kết quả các lần quan sát

- Phương pháp phỏng vấn

+ Chuẩn bị nội dung phỏng vấn

+ Thu thập số liệu: ghi chép câu trả lời của giáo viên kết hợp với các phương pháp khác nhau như quan sát để đưa ra nhận xét khách quan

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Trang 29

+ Thiết kế phiếu khảo sát dành cho giáo viên về “Xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu học hòa nhập” (Xem phụ lục)

+ Phát cho giáo viên và xử lý thông tin từ phiếu hỏi thu được

c.Phương tiện khảo sát

Nội dung phiếu tập trung và những vấn đề sau:

- Vấn đề 1: Thực trạng nhận thức của giáo viên về sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học

- Vấn đề 2: Thực trạng sử dụng các biện pháp hỗ trợ học sinh có lỗi phát âm âm tiết tiếng Việt của giáo viên và những tài liệu có liên quan

- Vấn đề 3: Giải pháp hỗ trợ cần thiết giúp giáo viên đạt hiệu quả khi sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học

Cụ thể, phiếu khảo sát với những nội dung:

- Mức độ quan tâm của giáo viên đến sửa lỗi phát âm

- Mức độ cần thiết của việc hỗ trợ học sinh sửa lỗi phát âm

- Nhận thức của giáo viên về các dạng lỗi phát âm

- Phương pháp giáo viên thường sử dụng để sửa lỗi phát âm cho học sinh

- Kết quả giáo viên thu được khi sửa lỗi phát âm cho học sinh

- Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sửa lỗi phát âm

- Mức độ tìm hiểu và sử dụng các nguồn tài liệu của giáo viên

- Khó khăn giáo viên thường gặp phải khi tiếp cận vấn đề

- Đề xuất của giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểuhọc

1.3.5.Kết quả nghiên cứu thực trạng

Các kết quả điều tra được thống kê và tính toán bằng các phương pháp toán thống kê như tính điểm trung bình và thứ bậc, tính phần trăm (%)

a.Thực trạng nhận thức của giáo viên về sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học

Qua phỏng vấn và đánh giá lỗi phát âm của học sinh tiểu học có hai dạng lỗiphát âm (phụ âm đầu và phần vần :âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu) Trong

Trang 30

những học sinh này, có những học sinh chỉ mắc một dạng lỗi nhưng cũng có nhữnghọc sinh mắc lỗi phát âm ở cả 2 dạng với những mức độ nặng, nhẹ khác nhau

Dưới đây là đánh giá của giáo viên về mức độ quan trọng của việc sửa lỗi phát

âm cho học sinh

Theo bảng khảo sát cho thấy có đến 82 % giáo viên cho rằng sửa lỗi phát âmcho học sinh tiểu học là rất quan trọng và quan trọng Việc giáo viên đánh giá tầmquan trọng của vấn đề phần nào cho thấy giáo viên sẽ tìm hiểu và đưa ra biện pháp hỗtrợ học sinh hoặc có nhu cầu tìm hiểu về vấn đề phát âm sai của học sinh Số 18% giáoviên đánh giá vấn đề ở mức độ ít quan trọng hoặc không quan trọng Khi được hỏi,giáo viên đưa ra một số lý do như sau: không có nhiều thời gian, lớp đông, dạy phảitheo chương trình hay chưa tìm được tài liệu về vấn đề này Một số giáo viên dạychuyên biệt đánh giá một số kĩ năng giao tiếp, tự phục vụ ở học sinh quan trọng hơn làdạy nói chuẩn hoặc chưa có cơ hội tìm hiểu đề tài này

Có thể quan sát giáo viên đánh mức độ quan trọng của việc sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học qua biểu đồ 1

28

54

10 8

Rất quan trọng Quan trọng

Ít quan trọng Không quan trọng

Biểu đồ 1: Đánh giá mức độ quan trọng của giáo viên về sửa lỗi phát âm cho học

sinh tiểu học

b.Thực trạng sử dụng các biện pháp hỗ trợ học sinh có lỗi phát âm âm tiết tiếng Việt của giáo viên và những tài liệu có liên quan

Thực trạng sửa lỗi phát âm ở học sinh tiểu học của giáo viên

Bảng 2 Phương pháp giáo viên sử dụng sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học

Trang 31

Mức độ lựa chọn

Số lựa chọn

Qua khảo sát, phỏng vấn về các phương pháp giáo viên sử dụng để sửa lỗi phát

âm cho học sinh và bảng kết quả trên, có thể nhận thấy những điểm sau:

Đa số các giáo viên thường chỉ sử dụng phương pháp bắt chước cho cả các lỗi phát âm ở phụ âm đầu và phần vần Có tới gần 62% giáo viên sử dụng phương pháp này Đa số những giáo viên là những giáo viên trình độ cao đẳng và có nhiều năm công tác ở trường trên 20 năm và chưa có cơ hội tìm hiểu về chủ đề này

Phương pháp tách âm vị và phương pháp âm tiết trung gian thường được cácgiáo viên chuyên biệt và sinh viên năm cuối khoa Giáo dục Đặc biệt sử dụng (gần38%) Những giáo viên ở môi trường chuyên biệt và sinh viên năm cuối là nhữngngười đã từng được biết hoặc học một số môn học liên quan đến vấn đề này Tuynhiên không phải ai cũng có thể áp dụng những phương pháp này thường xuyên trênlớp

Bảng 3: Mục tiêu sửa lỗi phát âm cho học sinh mà giáo viên đạt được

1 Học sinh phát âm được âm vị được học 13 26%

2 Học sinh phát âm được âm vị trong các tiết, các từ

đơn

3 Học sinh vận dụng được các âm vị, âm tiết đã học

trong giao tiếp

Trang 32

Nhận xét:

Qua kết qua thu được, có một số điểm như sau:

Có hơn 50% giáo viên chưa đạt được mục tiêu nào trong cả ba mục tiêu trên.Những giáo viên này đa số là giáo viên trường tiểu học Phương Tú Các giáo viêncũng chia sẻ, họ thường gặp khó khăn để có thể sửa được như lớp đông, thời gian ít vàthường chỉ đọc mẫu để học sinh nhắc lại theo Sau vài lần sửa, khi học sinh chưa sửađược thì giáo viên và phụ huynh thường mặc định lỗi định hình đó ở các em

Ở những mục tiêu như học sinh phát âm được âm vị trong các tiết, các từ đơnhoặc học sinh vận dụng được các âm vị, âm tiết đã học trong giao tiếp chiếm 10%,thông thường những học sinh này chỉ mắc lỗi sai ở âm đầu hoặc âm đệm Những lỗi về

âm cuối và thanh điệu thì chưa đạt được cả 4 mục tiêu trên

Trang 33

Biểu đồ 2: Mục tiêu sửa lỗi phát âm cho học sinh mà giáo viên đạt được dưới đây:

Mục tiêu 1 Mục tiêu 2 Mục tiêu 3 Mục tiêu 4

c.Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học

Luôn có những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sửa lỗi phát âm cho học sinhtiểu học đối với giáo viên Qua đánh giá và thu thập thông tin khảo sát, thu được kếtquả bảng số liệu tại bảng dưới đây:

% S L

% S L

% S L

%

8

11 22

4

15 30

10 10

8 16

C Các nguồn tài liệu tham khảo 18 3

6

17 34

21 42

4 8

D Khả năng của học sinh 45 9

0

5 10

E Mức độ thu hút của hoạt động 41 8

2

9 18

F Trình độ & chuyên môn của giáo

viên

47 94

Trang 34

(*Lưu ý: 4: Rất ảnh hưởng; 3: Có ảnh hưởng; 2: ít ảnh hưởng; 1: không ảnh hưởng)

Bảng 4: Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sửa lỗi phát âm cho học sinh

Biểu đồ 3: Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sửa lỗi phát âm cho học sinh

tiểu học Nhận xét:

Qua đánh giá của giáo viên về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt độngsửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học của giáo viên, nhận được một số vấn đề như sau:

Yếu tố về cơ sở vật chất (B) và nguồn tài liệu tham khảo (C) được đánh giá ởmức độ trải dài từ rất ảnh hưởng đến không ảnh hưởng

Yếu tố về thời gian (A), khả năng ở học sinh (D), mức độ thu hút của hoạt động(E) và trình độ, chuyên môn của giáo viên (F) được đánh cao ở mức 4 - Rất ảnhhưởng (trung bình khoảng trên 80%) và còn lại là có ảnh hưởng

Từ thực tế này cho thấy sự liên kết giữa kết quả mục tiêu sửa lỗi phát âm cho

học sinh mà giáo viên đạt được thu được có sự mâu thuẫn Dễ dàng nhận thấy, khi khảnăng của học sinh tốt, mức độ thu hút của hoạt động cao và chuyên môn của giáo viêncàng giỏi thì kết quả mục tiêu sửa lỗi phát âm càng hiệu quả và đạt chất lượng cao

Tuy nhiên, khi học sinh có lỗi phát âm thường ko nhận thức được lỗi sai hoặc

Trang 35

chuyên viên âm ngữ trị liệu, giáo viên hoặc cha mẹ Với những lý do khác nhau, giáoviên là lực lượng dễ tiếp cận với vấn đề này Xong chính những giáo viên cũng đanggặp khó khăn trong việc tìm ra cách sửa lỗi phát âm này cho học sinh và dựa vào việctận dụng những khả năng sẵn có ở các em Chính vì vậy, việc xây dựng hệ thống bàitập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học là điều thiết thực với cả giáoviên và học sinh tiểu học.

d.Sự cần thiết của việc Xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm chohọc sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu học hòa nhập

Có 4 nguồn tài nguồn tài liệu (chính thức hay không chính thức) mà giáo viên

sử dụng, đó là: tham khảo từ đồng nghiệp, tham khảo qua mạng internet, tham khảo tàiliệu trong nước và tham khảo tài liệu nước ngoài

Qua khảo sát, thu được mức độ hữu ích sử dụng nguồn tài liệu của giáo viên:

ST

T

Nguồn tài liệu Tổng điểm lựa chọn

1 Tham khảo từ đồng nghiệp 97 điểm

2 Tham khảo qua mạng internet 129 điểm

3 Tham khảo tài liệu trong nước 73 điểm

4 Tham khảo tài liệu nước ngoài 59 điểm

(*Ghi chú:4: Rất hữu ích, 3: Hữu ích, 2: Ít hữu ích, 1: Hữu ích)

Từ bảng ghi chú trên, xếp hạng thứ tự hữu ích theo chiều giảm dần các nguồn tài liệu của giáo viên, ta được sơ đồ như sau:

THAM KHẢO QUA MẠNG INTERNET

THAM KHẢO ĐỒNG NGHIỆP

THAM KHẢO TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI THAM KHẢO TÀI LIỆU TRONG NƯỚC

Trang 36

e.Đánh giá sơ bộ về các nguồn tài liệu giáo viên sử dụng

Tham khảo qua mạng internet

Nguồn tài liệu tham khảo trên mạng internet ngày càng phong phú và đa dạng.Internet và công nghệ thông tin ngày càng khẳng định tầm quan trọng của nó trong cáclĩnh vực đời sống và được ứng dụng nhiều trong dạy học Chia sẻ kiến thức cả chínhthống và không chính thống về mọi mặt trong đời sống được chia sẻ với tốc độ chóngmặt Mặc dù, kết quả trả về trong lĩnh vực này là không nhỏ, ta có thể nhận đượcnhững con số thống kê như sau với các từ khóa:

ST

T

1 Sửa tật nói ngọng Khoảng 61.100 kết quả (0,35 giây)

2 Sửa ngọng âm đầu Khoảng 113.000 kết quả (0,32 giây)

3 Sửa ngọng phần vần Khoảng 29.200 kết quả (0,27 giây)

4 Cách sửa nói ngọng dấu ngã và hỏi Khoảng 45.500 kết quả (0,36 giây

5 Bài tập sửa nói ngọng cho học sinh tiểu

học

Khoảng 75.500 kết quả (0,39 giây)

Mặc dù các con số kết quả đưa ra là rất nhiều, tuy nhiên có một thực tế mà các nguồn tài liệu internet này có những điểm hạn chế:

- Lặp lại kết quả giữa các từ khóa Nên con số kết quả thu được thực tế khôngquá nhiều

- Các tài liệu thường đến từ sự chia sẻ kinh nghiệm cá nhân Có những nguồn tàiliệu chưa thực sự đúng và được kiểm duyệt khắt khe, chính thống

- Có một số bài tập chỉ thực sự phù hợp với phương ngữ này mà không phù hợpvới phương ngữ bắc bộ

- Các kinh nghiệm chia sẻ chỉ đưa ra cách sửa cụ thể một lỗi nào đó mà chưa giảithích rõ về cơ chế hoạt động Điều này sẽ gây hạn chế về sự khái quát, mở rộng

ra các trường hợp của các lỗi Trong khi đó, những lỗi phát âm của học sinhkhông phải lúc nào cũng rơi đúng vào trường hợp được chi sẻ trên internet

Tham khảo từ đồng nghiệp

Tham khảo từ đồng nghiệp được đánh giá là nguồn tài liệu hữu ích thứ 2 chỉ sauinternet Đa số những giáo viên đánh giá cao nguồn tham khảo này là giáo viên môitrường giáo dục chuyên biệt Họ có đồng nghiệp đã từng tham gia các khóa học về âm

Trang 37

ngữ trị liệu Tuy nhiên nguồn tài liệu này cũng khiến họ cảm thấy thiếu tính chủ độngbởi không phải lúc nào đồng nghiệp của họ cũng có thể hỗ trợ được

Tham khảo tài liệu trong nước

Liên quan đến vấn đề dạy và sửa phát âm cho những học sinh đã có một số tàiliệu như sau:

- “Hướng dẫn thực hành âm ngữ trị liệu” (2004) của nhóm tác giả TS BS VũThị Bích Hạnh, ThS.NN Đinh Thái Thu Hương

- “Can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật” (2005) của nhómtác giả Trần Thị Thiệp, Bùi Thị Lâm, Lương Thị Hồng Hạnh, Hoàng Thị Nho và LêThanh Ngọc, tài liệu tập huấn cán bộ, giảng viên các trường Sư phạm

- “Phương pháp dạy phát âm cho học sinh khiếm thính” (2006) của tác giả TrầnThị Thiệp, tài liệu bài giảng lớp cử nhân cao đẳng Trường cao đẳng nhà học sinh mẫugiáo Trung Ương II

- “Chuyên đề giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật ngôn ngữ” (2009) của tácgiả Nguyễn Văn Lợi Tài liệu bải giảng trường Đại học Vinh

- “Sửa lỗi phát âm phần vần của âm tiết tiếng Việt cho trẻ độ tuổi mẫu giáo vàtiểu học bằng phương pháp sử dụng âm tiết tiết trung gian” (1997) Đề tài K37, Việnkhoa học giáo dục Việt Nam

Các khóa luận tốt nghiệp như: Sửa lỗi phát âm phần vần của âm tiết tiếng Việt (Lê Thị Thanh Ngọc, khóa luận tốt nghiêp 2003); Tìm hiểu thực trạng tổ chức tiết dạy

phát âm cho trẻ khiếm thính tại trường dạy chữ và dạy nghề cho trẻ điêc Hải Phòng

(Hồ Hải Hậu, khóa luận tốt nghiệp, 2004); Biện pháp sửa lỗi phát âm phụ âm đầu của

âm tiết tiếng Việt cho học sinh khiếm thính trường dạy chữ và dạy nghề cho trẻ điêc Hải Phòng (Nguyễn Diệu Thúy, khóa luận tốt nghiệp, 2004); Thực trạng và biện pháp nâng cao chất lượng dạy phát âm cho trẻ khiếm thính tại trung tâm dạy nghề người tàn tật Nghệ An (Doãn Thị Xoan, bài tập nghiệp vụ cuối khóa, 2008), Tìm hiểu khả năng phát âm của học sinh khiếm thính tiền tiểu học (Đỗ thị Mai, khóa luận tốt nghiệp,

2010)

Từ việc tổng hợp nguồn tài liệu trong nước, dễ dàng nhận thấy những điểm sau:

- Những nghiên cứu khoa học, đề tài khóa luận và các bài báo cáo trên thườngchỉ tập trung vào một đối tượng cụ thể mà đặc trưng là trẻ hoặc học sinh khiếm thính

Trang 38

- Những nghiên cứu cũng thường chỉ tập chung chuyên sâu vào sửa 1dạng lỗicho 1 học sinh nhất định Trong khi, lỗi phát âm ở từng học sinh lại ở nhiều dạng khácnhau và mức độ khác nhau

Tham khảo tài liệu nước ngoài và các khóa học khác

Như đã trình bày trong phần lý do chọn đề tài, việc áp dụng hoàn toàn phươngpháp sửa lỗi phát âm của ngôn ngữ này cho ngôn ngữ khác là điều không thể Cũng đã

có nhiều tài liệu nghiên cứu về ngữ âm học tiếng Việt từ các chuyên gia ngôn ngữnước ngoài, xong các đề tài này chỉ dừng lại ở việc mô tả hệ thống ngữ âm

Gần đây, nhằm đáp ứng nhu cầu can thiệp rối loạn lời nói, phát âm, giao tiếp,ngôn ngữ, ăn uống và rối loạn nuốt ngày cành lớn, trường Đại học Y Khoa Phạm NgọcThạch tại thành phố Hồ Chí Minh và một số trường Đại học lớn trên cả nước đã cónhững khóa đào tạo về “Âm ngữ trị liệu” theo các năm Tuy nhiên, không phải giáoviên hay người có nhu cầu cũng có khả năng chi trả học phí, cơ hội và điều kiện thuậnlợi để tham gia các khóa học hữu ích này

Trang 39

Kết luận chương 1

Từ kết quả khảo sát thực trạng và kết quả khảo sát thu được, đề tài nhận thấysửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học của giáo viên còn tồn tại nhiều vấn đề cần giảiquyết Với tư tưởng về giáo dục lấy người học là trung tâm, mỗi giáo viên cần hiểu sâusắc các khó khăn ở học sinh Để vượt qua các khó khăn này, học sinh luôn cần sự hỗtrợ cần thiết và hữu ích từ giáo viên và những lực lượng giáo dục khác

Trên thực tế, giáo viên hiểu và đánh giá cao sự cần thiết của việc sửa lỗi phát

âm cho học sinh Xong, chính giáo viên hiện nay cũng gặp nhiều cản trở để thực hiệnđiều này như thời gian, điều kiện kinh tế, kiến thức chuyên môn đặc biệt là nguồn tàiliệu hỗ trợ giáo viên

Qua khảo sát, nguồn tài liệu hạn chế đã gây khó khăn không nhỏ cho giáo viêntiểu học hòa nhập Từ những phân tích trên, ta thấy thực trạng việc xây dựng hệ thốngbài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh trường tiểu học hòa nhập là điềucần thiết Hơn nữa, nguồn tài liệu về chủ đề này còn khan hiếm và khó tiếp cận vớigiáo viên Xây dựng một hệ thống bài tập chi tiết sẽ mang lại nhiều thuận lợi chokhông chỉ với giáo viên mà còn với chính các em học sinh

Trên cơ sở những nghiên cứu đi trước, đề tài đi sâu vào việc xây dựng hệ thốngbài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểuhọc hòa nhập với hi vọng góp một phần nâng cao chất lượng dạy phát âm cho họcsinh Đồng thời giảm thiểu nguy cơ mắc lỗi phát âm ngay từ những khi học sinh cónhững dấu hiệu mắc lỗi phát âm

Trang 40

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ GIÁO VIÊN SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜN TIỂU

HỌC HÒA NHẬP

2.1 CƠ SỞ XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ GIÁO VIÊN SỬA LỖIPHÁT ÂM CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌCHÒA NHẬP

2.1.1.Cơ sở xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh khuyết tật trí tuệ ở trường tiểu học

a.Cơ sở lý luận

- Dựa vào những đặc điểm tâm lý của học sinh khuyết tật trí tuệ và những khó khăn

mà học sinh gặp phải trong giai đoạn đầu sửa lỗi phát âm

Đối với học sinh khuyết tật trí tuệ khi bắt đầu sửa một dạng lỗi nào đó, các emthường gặp khó khăn về tư duy, ghi nhớ Giáo viên cũng cần nắm vững về nhữngđiểm mạnh và điểm yếu trong phát âm của học sinh để từ đó giúp việc sửa lỗi phát âmcho học sinh được tiến hành thuận lợi và dễ dàng

- Dựa vào bảng hệ thống âm vị tiếng Việt rút gọn, vị trí phụ âm đầu và các âm trong phần vần của âm tiết tiết Việt

Đối tượng học sinh trong phạm vi khóa luận là học sinh tiểu học (hòa nhập vàchuyên biệt) từ lớp 1- 5 Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài xây dựng hệ bài tập cốt lõi

và gợi ý một số hoạt động giúp giáo viên đạt được mục tiêu sửa lỗi phát âm cho họcsinh Từ hệ thống bài tập này giáo viên sẽ sáng tạo thêm những hoạt động phù hợp với

sở thích và khả năng của từng em học sinh Hơn nữa, hệ thống bài tập còn tuân theoquy luật hình thành ngôn ngữ theo từng giai đoạn, phát triển từng bước nhỏ những kĩnăng ở học sinh và dựa vào nguyên lý vùng phát triển gần nhằm tận dụng tối đa những

âm vị và kỹ năng mà học sinh đã có

b.Cơ sở thực tiễn

- Dựa vào thực trạng nhận thức của giáo viên về sửa lỗi phát âm cho học sinh tiểu học

Ngày đăng: 11/07/2019, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Bích Hạnh, Đinh Thái Thu Hương (2004), Hướng dẫn thực hành âm ngữ trị liệu, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hành âmngữ trị liệu
Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh, Đinh Thái Thu Hương
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2004
2. Nguyễn Văn Lợi (2009), Chuyên đề giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật ngôn ngữ, Tài liệu bải giảng trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tậtngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Lợi
Năm: 2009
3. Lã Thị Bắc Lý, Phan Thị Hồng Xuân, Nguyễn Thị Thu Nga (2014), Giáo trình tiếng Việt và tiếng Việt thực hành, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhtiếng Việt và tiếng Việt thực hành
Tác giả: Lã Thị Bắc Lý, Phan Thị Hồng Xuân, Nguyễn Thị Thu Nga
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2014
4. Đỗ Xuân Thảo - Lê Hữu Tình (1997 ), Giáo trình Tiếng Việt 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình Tiếng Việt 2
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Trần Thị Thiệp, Bùi Thị Lâm, Lương Thị Hồng Hạnh, Hoàng Thị Nho, Lê Thanh Ngọc (2005), Can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật, Tài liệu tập huấn cán bộ, giảng viên các trường Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật
Tác giả: Trần Thị Thiệp, Bùi Thị Lâm, Lương Thị Hồng Hạnh, Hoàng Thị Nho, Lê Thanh Ngọc
Năm: 2005
6. Trần Thị Thiệp (2006), Phương pháp dạy phát âm cho học sinh khiếm thính, Tài liệu bài giảng lớp cử nhân cao đẳng Trường cao đẳng nhà trẻ mẫu giáo Trung Ương II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy phát âm cho học sinh khiếm thính
Tác giả: Trần Thị Thiệp
Năm: 2006
8. Vi Thị Vân (2012), Một số hoạt động sửa lỗi phát âm cuối cho trẻ có rối loạn về phát âm, Khóa luận tốt nghiệp.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hoạt động sửa lỗi phát âm cuối cho trẻ có rối loạnvề phát âm
Tác giả: Vi Thị Vân
Năm: 2012
10. ASHA, (2017) Social language Use (Pragmatics).www.asha.org/public/speech/Pragmatic/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social language Use
11. Bloom, L., Lahey. M., (1978). Langua development and language disorder. New York: Wiley Sách, tạp chí
Tiêu đề: Langua development and language disorder
Tác giả: Bloom, L., Lahey. M
Năm: 1978
12. Brandon & cộng sự. Trong Paul, R, (2001), Language disorder from infrancy through adolescence: assessment & intervention, 2nd ed.Mosby Sách, tạp chí
Tiêu đề: Language disorder from infrancy through adolescence: assessment & intervention
Tác giả: Brandon & cộng sự. Trong Paul, R
Năm: 2001
14. Kenneth Wilson D. (1972). Voice problem of Children Williams & Wilkins (Third Edition) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Voice problem of Children Williams & Wilkins
Tác giả: Kenneth Wilson D
Năm: 1972
9. Anderson, N.B, & Shames, G.H. (2006), Human communication disorder, Pearson Education Inc Khác
13. Duchan, J.F., (2011). A history of speech-Language Pathology Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w