Truyền thông giáo dục sức khỏe là hoạt động mang tính xã hội và ápdụng các phương pháp phù hợp để truyền thông và gây tác động đến quyếtđịnh của mỗi cá nhân và cộng đồng, nhằm nâng cao s
Trang 1SAND KHAMPHAVONG
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA 3 BỆNH VIỆN HUYỆN THUỘC THỦ ĐÔ
VIÊNG CHĂN, LÀO NĂM 2018
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2018
Trang 2ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Văn Hiến
HÀ NỘI – 2018
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái niệm về truyền thông giáo dục sức khỏe 3
1.2 Vai trò của công tác truyền thông giáo dục sức khỏe 4
1.3 Các phương tiện và phương pháp truyền thông giáo dục sức khỏe 7
1.3.1 Phương tiện truyền thông giáo dục sức khỏe 7
1.3.2 Phương pháp giáo dục sức khỏe 9
1.4 Quản lý hoạt động TT-GDSK 13
1.4.1 Vai trò của quản lý hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe 13
1.4.2 Một số nội dung quản lý đặc trưng của truyền thông giáo dục sức khỏe 14
1.5 Một số nghiên cứu về truyền thông giáo dục sức khỏe 20
1.5.1 Những nghiên cứu trên thế giới 20
1.5.2 Những nghiên cứu về TT-GDSK tại Lào 21
1.6 Một số thông tin về 3 bệnh viện nghiên cứu 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Địa điểm nghiên cứu 24
2.2 Đối tượng và thời gian nghiên cứu 24
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu cho nghiên cứu 24
2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 25
2.4.1 Mục tiêu 1 25
2.4.2 Mục tiêu 2: 28
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 29
2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.5.2 Công cụ nghiên cứu 29
2.6 Sai số và cách khắc phục sai số 30
Trang 52.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 30
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 30
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 32
3.1 Thông tin chung 32
3.2 Thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe ở bệnh viện huyện qua ý kiến cán bộ y tế năm 2018 34
3.2.1 Thực hiện hoạt động 34
3.2.2 Thực trạng và nhu cầu về cơ sở, trang thiết bị cho hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe ở bệnh viện huyện năm 2018 36
3.3 Thực trạng quản lý hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe tại bệnh viện huyện 38
3.4 Một số thuận lợi và khó khăn đến hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe tại bệnh viện huyện 43
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 46
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 47
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Bảng 1.1 So sánh một số đặc điểm của truyền thông đại chúng và truyền
thông trực tiếp 17
Bảng 3.1 Dân số và diện tích các huyện thủ đô Viêng Chăn CHDCND Lào năm 2018 32
Bảng 3.2 Tỷ lệ CBYT chuyên trách TT-GDSK trong huyện năm 2018 32
Bảng 3.3 Phân bố đối tượng điều tra theo tuổi 32
Bảng 3.4 Phân bố đối tượng điều tra theo giới 33
Bảng 3.5 Trình độ chuyên môn của cán bộ y tế được điều tra 33
Bảng 3.6 Thời gian công tác trong lĩnh vực TT-GDSK 33
Bảng 3.7 Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe tại bệnh viện huyện năm 2018 34
Bảng 3.8 Số lần thực hiện hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của cán bộ y tế tại bệnh viện huyện năm 2018 34
Bảng 3.9 Sử dụng tài liệu truyền thông của cán bộ tại bệnh viện huyện năm 2018 35
Bảng 3.10 Thực hiện lồng ghép/phối hợp các hoạt đồng truyền thông giáo dục sức khỏe của bệnh viện huyện với các đơn vị/tổ chức của huyện năm 2018.35 Bảng 3.11 Nhu cầu về cơ sở, trang thiết bị cho hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe ở bệnh viện huyện theo ý kiến của cán bộ y tế 37
Bảng 3.12 Cán bộ lập hoặc tham gia lập kế hoạch hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe năm 2018 39
Bảng 3.13 Các loại kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe được lập ở bệnh viện huyện năm 2018 39
Bảng 3.14 Theo dõi/giám sát hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe trong 1 tháng qua, 3 tháng qua và 6 tháng qua theo đánh giá của cán bộ y tế năm 2018 40
Trang 7Bảng 3.16 Thực trạng đào tạo/hướng dẫn về quản lý hoạt động truyền thông
giáo dục sức khỏe tại bệnh viện huyện năm 2018 43Bảng 3.17 Những thuận lợi của bệnh viện với hoạt động truyền thông giáo
dục sức khỏe tại bệnh viện huyện năm 2018 43Bảng 3.18 Những thuận lợi của CBYT với với hoạt động truyền thông giáo
dục sức khỏe tại bệnh viện năm 2018 44Bảng 3.19 Một số yếu tố khó khăn của bệnh viện với hoạt động truyền
thông giáo dục sức khỏe tại bệnh viện huyện năm 2018 44Bảng 3.20 Một số yếu tố khó khăn của CBYT với hoạt động truyền thông
giáo dục sức khỏe tại bệnh viện huyện năm 2018 45
Trang 8Biểu đồ 3.1 Ý kiến đánh giá của cán bộ y tế về hoạt động truyền thông giáo
dục sức khỏe của bệnh viện huyện năm 2018 36Biểu đồ 3.2 Thực trạng về cơ sở, trang thiết bị cho hoạt động truyền thông
giáo dục sức khỏe ở bệnh viện huyện theo ý kiến của cán bộ y
tế năm 2018 36Biểu đồ 3.3 Thực trạng phân công quản lý/theo dõi hoạt động truyền thông
giáo dục sức khỏe tại bệnh viện huyện năm 2018 38Biểu đồ 3.4 Thực trạng hoạt động lập kế hoạch truyền thông giáo dục sức
khỏe ở bệnh viện huyện năm 2018 38Biểu đồ 3.5 Chất lượng lập kế hoạch theo đánh giá của cán bộ y tế năm 201839Biểu đồ 3.6 Thực trạng theo dõi/giám sát hoạt động truyền thông giáo dục
sức khỏe theo đánh giá của cán bộ y tế năm 2018 40Biểu đồ 3.7 Chất lượng theo dõi/giám sát hoạt động truyền thông giáo dục
sức khỏe theo đánh giá của cán bộ y tế năm 2018 41Biểu đồ 3.8 Thực trạng đánh giá hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe
theo đánh giá của cán bộ y tế năm 2018 41Biểu đồ 3.9 Chất lượng đánh giá hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe
theo đánh giá của cán bộ y tế năm 2018 42
Trang 9Sơ đồ 1.1 Ảnh hưởng của các phương pháp truyền thông đến áp dụng các
đổi mới 11
Sơ đồ: 1.2 Các khâu cơ bản của truyền thông 13
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dânCộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ngày càng cao Theo Tổ chức y tế Thế giới,truyền thông giáo dục sức khỏe có vai trò quan trọng trong công tác chăm sócsức khỏe ban đầu Lào là một trong những nước đang phát triển, thực hiệnchăm sóc sức khỏe ban đầu là giải pháp thiết thực chăm sóc sức khoẻ chonhân dân Nhận thức được vai trò quan trọng đó, Đảng và Nhà nước Lào rấtquan tâm đến hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe Nghị quyết về sựquản lý xuất bản thông tin và truyền thông giáo dục sức khỏe năm 2015 của
Bộ Y tế Lào đã khẳng định công tác thông tin, truyền thông, giáo dục sứckhỏe là một trong những nhiệm vụ quan trọng và giải pháp chủ yếu để bảo vệ,chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới
Truyền thông giáo dục sức khỏe là hoạt động mang tính xã hội và ápdụng các phương pháp phù hợp để truyền thông và gây tác động đến quyếtđịnh của mỗi cá nhân và cộng đồng, nhằm nâng cao sức khỏe, bao gồm quátrình giúp đỡ, động viên để mọi người hiểu được vấn đề sức khỏe của họ và từ
đó lựa chọn được cách giải quyết vấn đề sức khỏe thích hợp Truyền thônggiáo dục sức khỏe là một quá trình thường xuyên, liên tục và lâu dài, nó tácđộng đến ba lĩnh vực của đối tượng được truyền thông giáo dục sức khỏe:kiến thức của đối tượng về vấn đề sức khỏe, thái độ của đối tượng đối với vấn
đề sức khỏe và thực hành hay hành vi ứng xử của đối tượng để giải quyết vấn
đề sức khỏe, bệnh tật [1], [2]
Tại Lào, tuyến huyện là tuyến có vai trò quan trọng trong thực hiện chămsóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, trong đó có hoạt động truyền thông giáodục sức khỏe Bệnh viện huyện với chức năng chính là: khám chữa bệnh, đàotạo cán bộ, nghiên cứu khoa học… Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏecho người bệnh là một trong những hoạt động không thể thiếu của bệnh viện
Trang 11huyện Nếu những chức năng khác tập trung vào hoạt động chẩn đoán và điềutrị thì hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe lại tập trung hoạt động nhằmtăng cường kiến thức, nâng cao nhận thức cho người bệnh nói riêng và nhândân nói chung về phòng, chống các bệnh, dịch bệnh, tự chăm lo sức khỏe củabản thân Có thể thấy rõ là từ trước tới nay, rất nhiều hoạt động truyền thônggiáo dục sức khỏe được thực hiện ở tuyến y tế cơ sở và tuyến huyện, trong đó
có các bệnh viện tuyến huyện của Lào, tuy nhiên vấn đề quản lý các hoạtđộng truyền thông giáo dục sức khỏe này như thế nào cho phù hợp để nângcao hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực thì vẫn còn là một câu hỏi đặt ra cầnđược trả lời Các nghiên cứu về hoạt động và quản lý hoạt động truyền thônggiáo dục sức khỏe ở tuyến huyện của nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
vẫn còn rất ít, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của 3 bệnh viện huyện thuộc thủ đô Viêng Chăn, Lào năm 2018”
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả thực trạng hoạt động và quản lý hoạt động truyền thông – giáo dục sức khỏe của 3 bệnh viện huyện Nasaythong, Xaythany, Sangthong của thủ đô Viêng Chăn, Lào năm 2018.
2 Mô tả một số thuận lợi và khó khăn trong hoạt động và quản lý hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của 3 bệnh viện huyện được nghiên cứu.
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm về truyền thông giáo dục sức khỏe
Truyền thông giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) giống như giáo dục chung,
là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm củacon người nhằm nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và thực hành hành vilành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe (NCSK) cho các cá nhân, gia đình
và cộng đồng [3],[4],[19] TT-GDSK tác động vào ba lĩnh vực kiến thức, thái
độ của đối tượng về vấn đề sức khỏe và thực hành hay cách ứng xử của đốitượng để giải quyết vấn đề sức khỏe nhằm bảo vệ và NCSK Thực chất TT-GDSK là quá trình dạy và học, là quá trình tác động theo hai chiều NgườiTT-GDSK truyền đạt những kiến thức về sức khỏe đến các đối tượng, sau đóthu nhận các thông tin phản hồi từ các đối tượng được TT-GDSK Đây là yếu
tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả của các hoạt động TT-GDSK [5],[6].Hiệu quả của TT-GDSK chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: từ phía ngườiđược TT- GDSK với 4 nhóm yếu tố cơ bản quyết định hành vi sức khỏe và sựthay đổi các hành vi sức khỏe của mỗi người, đó là các yếu tố về cá nhân, cácyếu tố về gia đình, các yếu tố về xã hội, các yếu tố về việc làm [18],[19],[20];
từ phía người làm TT-GDSK với các yếu tố về kiến thức, kỹ năng TT-GDSK,phương pháp và phương tiện TT-GDSK và các yếu tố tác động lên cả hai đốitượng của quá trình TT-GDSK, đó là yếu tố quản lý hoạt động này
Để TT-GDSK đạt kết quả, ngoài việc vận dụng các nguyên lý giáo dụcchung cần vận dụng một số nguyên lý quan trọng của chăm sóc sức khỏe banđầu (CSSKBĐ) [4],[15] Một trong những nguyên lý chủ chốt được đề cậpđến đó là nguyên lý về sự tham gia của cộng đồng Nguyên lý về sự tham giacủa cộng đồng được vận dụng thành công trong nhiều chương trình CSSKBĐ,trong đó có các chương trình TT- GDSK và tăng cường sức khỏe ở nước Lào
Trang 13cũng như nhiều nước khác Cộng đồng luôn có những tiềm lực to lớn, cónhiều sáng kiến, sáng tạo trong tham gia xây dựng kế hoạch và thực hiện cácchương trình chăm sóc sức khỏe (CSSK) Nếu biết khai thác tốt các nguồn lựccủa cộng đồng sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp để giải quyết nhiều vấn đề sứckhỏe, bệnh tật quan trọng của cả cá nhân và cộng đồng Trong TT-GDSK cóthể vận động cộng đồng tham gia vào mọi quá trình, từ xác định vấn đề cầnTT-GDSK đến việc xây dựng kế hoạch, khai thác nguồn lực, thực hiện cáchoạt động giám sát, đến đánh giá kết quả và hiệu quả của chương trình.
1.2 Vai trò của công tác truyền thông giáo dục sức khỏe
Vai trò của công tác truyền thông giáo dục sức khỏe trên thế giới:
Truyền thông giáo dục sức khỏe có vai trò quan trọng trong công tácchăm sóc sức khỏe cộng đồng vì thế đã được TCYTTG xếp là nội dung sốmột trong các nội dung về CSSKBĐ mà hội nghị Alma Ata năm 1978 vềCSSKBĐ đã nêu ra và là giải pháp quan trọng góp phần nâng cao sức khỏe,phòng chống bệnh tật cho cá nhân và cộng đồng [10]
Vai trò của công tác truyền thông giáo dục sức khỏe ở Lào:
Ở Lào từ trước đến nay, hoạt động TT-GDSK đã được thực hiện dướinhiều hình thức khác nhau Đảng và Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Nhân dânLào (CHDCNDL) đã nhận thấy vai trò quan trọng và quan tâm tới chăm sócsức khỏe từng giai đoạn để không ngừng nâng cao sức khỏe của nhân dân.Điều này được thể hiện trong sự triển khai quyết định, chỉ đạo, chính sách vànhững văn bản pháp luật đã liên quan tới công tác Y tế
Bộ Y tế chủ động trong việc tổ chức thực hiện và triển khai chính sáchquốc gia về truyền thông, trung tâm thông tin y học, giáo dục sức khỏe Bộ Y
tế có vai trò chủ chốt phụ trách trong việc phối hợp và tổ chức thực hiệntruyền thông, quảng bá thông tin về phòng bệnh, tăng cường sức khỏe Côngviệc được thực hiện song song việc điều trị có chất lượng và cung cấp sự phục
Trang 14vụ từ trung tâm đến địa phương giúp nhân dân các bộ tộc đã hướng tới thôngtin về sức khỏe Nội dung thông tin sức khỏe bao gồm: bệnh lây nhiễm vàkhông lây nhiễm, bệnh đã lây nhiễm mới nảy sinh, ngăn chặn các dịch bệnh
và các sự kiện trong tình trạng cấp cứu về lĩnh vực Y tế
Tuy nhiên, hoạt động TT-GDSK còn gặp nhiều khó khăn và nhiều điềuthách thức như: sự xuất bản thông tin và truyền thông về giáo dục sức khỏecòn rải rác, các hoạt động còn mang tính tự phát và chồng chéo, nội dungchưa thống nhất về chuyên môn, một số trường hợp việc truyền thông về sứckhỏe mang tính chất lôi kéo hơn sự thật, phân phối chưa đúng đối tượng,truyền thông giáo dục sức khỏe chưa được tổ chức một cách thường xuyên vàđều đặn Đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa, cán bộ phụ trách truyền thông giáodục sức khỏe từng bậc còn thiếu thốn cả số lượng và chất lượng, thiếu phươngtiện, trang thiết bị phục vụ và ngân sách trong việc hoạt động giáo dục sứckhỏe từng bậc còn hạn chế Vì vậy sự hiểu biết của nhân dân về CSSK cònnon yếu; một số nhân dân còn mê tín dị đoan; đời sống sinh hoạt, hành vi vàthói quen không hợp vệ sinh sức khỏe dẫn đến gây hại cho sức khỏe
Để tạo sự hiệu quả cho công việc TT-GDSK trong mọi mặt, nhất là kếhoạch chiến lược, lập kế hoạch, sự quản lý, sự giám sát thức đẩy, kiểm tra vàđánh giá từng bậc cần:
Tăng cường sự hợp tác và phối hợp liên ngành và mọi bộ phận liên quantrong việc tổ chức thực hiện TT-GDSK để có sự thống nhất và có hiệu quảcông việc
Nâng cao chất lượng của thông tin và TT-GDSK Thông tin TT – GDSKcần thống nhất, dễ truyền tải đến đối tượng
Củng cố kiến thức, quan điểm và thay đổi hành vi cho phù hợp nhóm đốitượng cá nhân, gia đình và cộng đồng
TT-GDSK không thay thế được các dịch vụ CSSK khác nhưng nó gópphần quan trọng làm tăng hiệu quả của các dịch vụ CSSK Đầu tư cho TT
Trang 15-GDSK là đầu tư mang hiệu quả lâu dài, bền vững cho công tác bảo vệ vàtăng cường sức khỏe Hơn nữa, hoạt động GDSK góp phần nâng cao dân trínói chung Bộ Y tế đã xác định rõ, TT - GDSK là nhiệm vụ trước mắt và lâudài của ngành y tế, của mọi cán bộ y tế, GDSK đồng thời cũng là nhiệm vụcủa các ngành, các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể quần chúng có liênquan đến sức khỏe của nhân dân [11].
TT-GDSK thực chất là tạo ra môi trường hỗ trợ cho quá trình thay đổihành vi sức khỏe của mỗi người nhằm đạt được tình trạng sức khỏe tốt nhất
có thể được Giải quyết nhiều vấn đề sức khỏe, bệnh tật liên quan chặt chẽ vớiquá trình thay đổi hành vi sức khỏe của mỗi người, mỗi cộng đồng Quá trìnhthay đổi hành vi thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố và trải qua nhiều giaiđoạn TT-GDSK đóng vai trò quan trọng nhằm hướng tới thực hành các hành
vi lành mạnh, có lợi cho sức khỏe Vai trò của TT-GDSK thể hiện rõ khi thựchiện các chương trình mục tiêu y tế quốc gia như chương trình phòng chốngsuy dinh dưỡng quốc gia, chương trình phòng chống HIV/AIDS, chương trìnhchăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em và chương trình chăm sóc sức khỏe sinhsản,… Đẩy mạnh TT-GDSK trong chuyển đổi hành vi nguy cơ đóng vai tròđặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả của các chương trình này[12], [13]
Muốn tăng cường sức khỏe, phòng chống bệnh tật cần phải thay đổi một
số lối sống và hành vi của con người, có nhiều yếu tố cấu thành hành vi, đó làkiến thức, thái độ, niềm tin và cách thực hành của con người trong những điềukiện nhất định Lối sống là tập hợp các hành vi tạo nên cách sống của conngười, lối sống là biểu hiện cụ thể của hành vi liên quan đến sức khỏe nhưthực hành vệ sinh cá nhân, thói quen ăn uống, tập quán sinh hoạt trong cộngđồng, nếp sống gia đình kiểu nhà ở, giao lưu bạn bè, xã hội Có những hành vithực hành qua nhiều thế hệ trở thành phong tục tập quán, các hành vi này
Trang 16được nhiều người chia sẻ trong cộng đồng, được thực hiện trong thời gian dài.Nhiều phong tục tập quán trở thành niềm tin trong cộng đồng và là lối sốngđặc trưng của từng cộng đồng [5],[8],[9].
Hiện nay chủ trương xã hội hóa công tác y tế ở Lào là một chủ trươnglớn, đó cũng là giải pháp thích hợp để tiếp tục huy động tiềm năng to lớn củacộng đồng và các tổ chức xã hội tham gia giải quyết các vấn đề bệnh tật, sứckhỏe cộng đồng một cách chủ động, có tổ chức, có kế hoạch và đảm bảo tínhbền vững Hoạt động TT-GDSK chính là hoạt động cần được xã hội hóa vàcũng là hoạt động thể hiện rõ khả năng xã hội hóa trong công tác chăm sócsức khỏe cộng đồng
1.3 Các phương tiện và phương pháp truyền thông giáo dục sức khỏe
1.3.1 Phương tiện truyền thông giáo dục sức khỏe
Phương tiện TT-GDSK là công cụ mà người giáo dục sức khỏe sử dụng
để thực hiện một phương pháp giáo dục sức khỏe và qua đó truyền tải nộidung giáo dục sức khỏe tới đối tượng được giáo dục sức khỏe
Có thể chia các phương tiện giáo dục sức khỏe thành 4 loại như sau:
Phương tiện bằng lời nói
Trong thực tế, lời nói là công cụ được sử dụng rộng rãi và rất có hiệu quảtrong giáo dục sức khỏe Lời nói có thể là lời nói trực tiếp khi người làm giáodục sức khỏe nói trực tiếp với đối tượng hoặc có thể là lời nói gián tiếp khithông tin truyền đến đối tượng qua đài, tivi v.v…
Sử dụng lời nói có thể chuyển tải nội dung giáo dục sức khỏe một cáchlinh hoạt, phù hợp với đối tượng Lời nói rất tiện lợi, có thể sử dụng ở mọinơi, mọi chỗ, cho một người, một gia đình, một nhóm nhỏ hay cho nhiềungười Tuy nhiên việc sử dụng lời nói còn phụ thuộc vào kỹ năng của ngườigiáo dục sức khỏe
Phương tiện bằng chữ viết
Trang 17Đây là phương tiện được sử dụng rộng rãi để chuyển tải nhiều thông tinkhác nhau Có rất nhiều hình thức sử dụng chữ viết như qua các bài báo, sáchchuyên đề, sách giáo khoa, tờ bướm, tờ rơi v.v …
Phương tiện bằng chữ viết có thể sử dụng cho nhiều người Các tài liệu
in ấn thường tồn tại lâu vì vậy đối tượng có thể đọc đi đọc lại nhiều lần đểhiểu rõ, có thời gian để nghiên cứu Đối tượng tự đọc và ghi nhận các thôngtin sẽ dễ tin tưởng và nhớ lâu hơn là nếu nghe người khác nói một chiều buồn
tẻ Phương tiện giáo dục sức khoẻ bằng chữ viết có thể lưu truyền từ ngườinày sang người khác nhưng chỉ sử dụng được khi đối tượng biết đọc và hiệuquả của nó phụ thuộc rất nhiều vào trình độ văn hoá của đối tượng Đôi khibài viết cũng có thể diễn dịch sai nội dung cần truyền đạt Các ấn phẩm bằngchữ viết đòi hỏi phải có nguồn kinh phí nhất định để in ấn và phân phát Cácthông tin phản hồi từ các phương tiện bằng chữ viết đôi khi ít và chậm Việcđiều chỉnh sửa đổi lại các nội dung qua chữ viết cần có thời gian và kinh phí
Phương tiện tác động qua thị giác
Loại phương tiện này ngày càng phát triển trong giáo dục sức khoẻ vì nógây ấn tượng mạnh Các tranh ảnh, panô, áp phích, bảng quảng cáo, mô hình,tiêu bản, triển lãm v.v… dùng để minh hoạ làm sinh động các nội dung giáodục, giúp đối tượng dể cảm nhận, nhớ lâu và hình dung các vấn đề một cách dễdàng Các nội dung giáo dục cần được đưa ra ngắn gọn, đơn giản thông quahình ảnh, có tác động đến nhiều người vì nó thường được sử dụng ở những nơicông cộng Khi sử dụng hình ảnh không nên đưa nhiều nội dung vào một panô,
áp phích có thể làm người xem khó hiểu Việc sắp xếp các hình ảnh, chọn màusắc cũng cần theo thứ tự hợp lý, tạo thuận lợi cho tư duy lôgíc, làm đối tượngquan tâm Thử nghiệm trước các phương tiện tác động qua thị giác ví dụ nhưcác pa nô, áp phích là rất cần thiết trong mỗi chương trình TT-GDSK, nếukhông thử nghiệm trước có thể gây lãng phí kinh tế mà không có hiệu quả
Phương tiện nghe nhìn
Trang 18Đây là loại phương tiện giáo dục sử dụng các kỹ thuật hiện đại, trong đóthường phối hợp cả ba loại phương tiện trên Phương tiện này tác động trên cảhai cơ quan thị giác và thính giác vì thế nó gây được ấn tượng sâu sắc cho đốitượng được giáo dục như phim, vô tuyến truyền hình, video, kịch, múa rối.Các phương tiện nghe nhìn thường gây sự hứng thú và dễ lôi cuốn sự thamgia của nhiều người Tuy có nhiều ưu điểm nhưng sử dụng phương tiện nghenhìn thường đắt, sản xuất ra các phương tiện này thường đòi hỏi kỹ thuật cao,
sử dụng cần phải có điều kiện cần thiết như: điện, hội trường, máy chiếuphim, tivi, đầu video … và cần những người biết kỹ thuật vận hành, bảo quản
và sử dụng các phương tiện
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy các phương tiện sử dụng trong giáodục sức khỏe rất đa dạng Không có một loại phương tiện nào là có ưu điểmtuyệt đối, cũng không có một loại phương tiện nào là hoàn toàn không có hiệuquả Vấn đề quan trọng nhất là người thực hiện TT-GDSK phải biết lựa chọnloại phương tiện nào cho phù hợp với nội dung giáo dục, trình độ của đốitượng, điều kiện thực tế, nguồn lực và phương tiện sẵn có của địa phương.Tốt nhất nên sử dụng phối hợp các loại phương tiện trên hợp lý
1.3.2 Phương pháp giáo dục sức khỏe
Phương pháp giáo dục sức khỏe là cách thức người làm giáo dục sứckhỏe thực hiện một chương trình giáo dục sức khỏe Có hai nhóm phươngpháp giáo dục sức khỏe: Các phương pháp giáo dục sức khỏe trực tiếp và cácphương pháp giáo dục sức khỏe gián tiếp
1.3.2.1 Phương pháp giáo dục sức khỏe gián tiếp
Là các phương pháp mà người làm giáo dục sức khỏe không tiếp xúctrực tiếp với đối tượng giáo dục, các nội dung được truyền tải tới đối tượngthông qua các phương tiện thông tin đại chúng Đây là phương pháp hiện nayvẫn được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới cũng như ở CHDCNDL Phương
Trang 19pháp này có tác dụng tốt khi chúng ta cung cấp, truyền bá các kiến thức thôngthường về bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho quảng đại quần chúng nhân dânmột cách có hệ thống Tuy nhiên các phương pháp gián tiếp thông qua cácphương tiện thông tin đại chúng thường đòi hỏi phải có đầu tư ban đầu, người
sử dụng có kỹ thuật cao để vận hành, sử dụng các phương tiện Phải xây dựng
kế hoạch khá chặt chẽ, kết hợp với các ban ngành đoàn thể có liên quan đểđưa chương trình TT-GDSK vào thời gian hợp lý Phương pháp gián tiếp chủyếu là quá trình phát thông tin một chiều, do đó thường tác dụng tới bước một
và hai trong quá trình thay đổi hành vi sức khỏe Các phương tiện thông tinđại chúng thường được sử dụng trong phương pháp giáo dục sức khỏe giántiếp là đài phát thanh, đài truyền hình và các tài liệu được in ấn
Truyền thông giáo dục sức khỏe gián tiếp thông qua sử dụng phương tiệnthông tin đại chúng là phương pháp tốt nhất để phát đi nhanh các thông tin vàcác sự kiện đơn giản tới số đông đối tượng trong diện bao phủ rộng Nếu nhưnhững thông tin gắn liền với các vấn đề sức khỏe trong thực tế và thông điệp
đã được thử nghiệm trước thì thông điệp có thể được truyền đi chính xác màkhông bị sai lệch Tuy nhiên do các phương tiện thông tin đại chúng truyền tinđến tất cả mọi người trong cộng đồng nên không phải là phương pháp tốt chocác đối tượng chủ định cụ thể Ví dụ như sử dụng phương tiện thông tin đạichúng để chuyển những thông điệp cho người lớn mà trẻ em không nên biết,dẫn đến có thể có các thông tin gây ra ảnh hưởng không tốt đến trẻ em v.v…
Sử dụng phương tiện thông tin đại chúng cũng sẽ khó khăn đối với nhữngcộng đồng không tiếp cận được với phương tiện thông tin đại chúng và có nhucầu sức khỏe không giống với các cộng đồng khác
1.3.2.2 Phương pháp truyền thông giáo dục sức khỏe trực tiếp
Còn gọi là giáo dục sức khỏe mặt đối mặt, người giáo dục sức khỏe trựctiếp tiếp xúc đối tượng giáo dục sức khỏe Người giáo dục có thể nhanh chóngnhận được các thông tin phản hồi từ đối tượng giáo dục nên tính điều chỉnh
Trang 20cao trong phương pháp này Thực hiện TT-GDSK trực tiếp luôn có hiệu quảtốt nhất trong việc giúp đỡ đối tượng học kỹ năng và thay đổi hành vi Thựchiện các phương pháp này đòi hỏi cán bộ TT-GDSK phải được đào tạo tốt về
kỹ năng truyền thông giao tiếp như sử dụng giao tiếp bằng lời và không lời.Các phương pháp TT-GDSK trực tiếp có tác dụng tốt nhất với bước 3, 4 và 5của quá trình thay đổi hành vi Trên thực tế, khi thực hiện TT-GDSK trực tiếp
có thể kết hợp với các phương tiện giáo dục sức khỏe gián tiếp để nâng caohiệu quả
Đối với mục tiêu TT-GDSK, khó khăn nhất là đạt được mục tiêu thựchành thay đổi hành vi Các phương pháp giáo dục sức khỏe tích cực, trực tiếp,với sự tham gia của đối tượng được giáo dục, bao gồm thảo luận nhóm, chia
sẻ kinh nghiệm, bài tập giải quyết vấn đề sẽ có hiệu quả hơn trong thay đổihành vi [14],[2],[13] Hầu hết các thay đổi hành vi sức khỏe đều cần đến cácphương pháp TT-GDSK trực tiếp, sử dụng phương pháp dựa vào cộng đồng,thăm hộ gia đình, thu hút các nhà lãnh đạo và sự tham gia của cộng đồng
chúng Quan tâm
Trang 21Trong thực tế không đơn giản chỉ là sử dụng phương tiện truyền thôngđại chúng hay TT-GDSK trực tiếp Một chương trình TT-GDSK được lập kếhoạch tốt sẽ bao gồm việc chọn lựa cẩn thận phối hợp cả hai nhóm phươngpháp truyền thông đại chúng và truyền thông trực tiếp để phát huy các ưuđiểm khác nhau của mỗi phương pháp [1], [15] Ví dụ một chương trình giáodục phòng chống tiêu chảy có thể phối hợp các phương pháp khác nhau Cácchương trình của đài được củng cố bằng các hoạt động trực tiếp của nhân viên
y tế cộng đồng và các tài liệu in ấn được sản xuất để hỗ trợ chương trình giáodục sức khỏe trực tiếp với cá nhân hay nhóm Các phương tiện thông tin đạichúng có thể thực hiện truyền thông vào các thời gian thích hợp như nhữnggiai đoạn bắt đầu cao điểm của bệnh tiêu chảy xảy ra
Nếu được lập kế hoạch tốt các phương tiện truyền thông đại chúng có thể làmột phương pháp có tác động mạnh trong giáo dục nâng cao sức khỏe cho cộngđồng Ngoài tác động riêng của mỗi chương trình theo mục tiêu, các chươngtrình còn có thể tạo ra một môi trường tốt để cộng đồng hiểu và quan tâm trướctới những chủ đề mà cán bộ sẽ tiến hành TT-GDSK trực tiếp Khi không cónhững điều kiện thuận lợi và nguồn lực để chuẩn bị một chương trình TT-GDSKriêng, các cán bộ y tế, cán bộ TT-GDSK vẫn có thể phối hợp sử dụng cácphương tiện truyền thông đại chúng để chuyển tải thông điệp về sức khỏe
Lựa chọn phương pháp TT-GDSK nào cho các chương trình TT-GDSK
cụ thể là yếu tố quan trọng quyết định kết quả của hoạt động TT-GDSK Đểđảm bảo TT-GDSK thành công, phải thực hiện các nguyên lý của TT-GDSK.Chương trình TT-GDSK cần được bắt đầu từ những việc làm thông thường,cần khuyến khích mọi người tham gia vào quá trình học tập và tạo ra môitrường thuận lợi cho quá trình học tập diễn ra Sử dụng các hình thức tuyêntruyền linh hoạt, phong phú, thích hợp với trình độ từng loại đối tượng
Trang 221.4 Quản lý hoạt động TT-GDSK
1.4.1 Vai trò của quản lý hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe
Quản lý để nâng cao chất lượng các hoạt động CSSKBĐ trong đó cóhoạt động TT-GDSK đã được nhiều nghiên cứu đề cập đến [6], [8], [11], [16],[17] Quản lý hoạt động TT - GDSK cũng theo quy trình quản lý y tế chung.Quy trình quản lý bao gồm các bước cơ bản là: Thu thập thông tin xác địnhvấn đề; Chọn vấn đề ưu tiên xây dựng mục tiêu, lập kế hoạch hoạt động cụthể, kế hoạch giám sát, đánh giá Ngoài yêu cầu quản lý như các chương trìnhchăm sóc sức khoẻ khác, cần chú ý quá trình truyền thông để quản lý tốt 3khâu cơ bản của truyền thông
Sơ đồ: 1.2 Các khâu cơ bản của truyền thông
Thông điệp:
Bằng lời Không lời Chữ viết Tranh ảnh
Kênh truyền thông
Đài, Ti vi Báo chí
Tờ rơi Trực tiếp Nhóm nhỏ Phưong tiện truyền thống:
Sở thích Tuổi giới Đặc điểm cá nhân
Trang 231.4.2 Một số nội dung quản lý đặc trưng của truyền thông giáo dục sức khỏe
1.4.2.1 Quản lý nguồn phát tin hay quản lý người thực hiện TT-GDSK
Yêu cầu cần có của người truyền thông giáo dục sức khỏe
Người TT-GDSK phải có đủ kiến thức cần thiết về những vấn đề sứckhỏe, bệnh tật cần TT-GDSK để soạn thảo các nội dung và thông điệp phùhợp với từng loại đối tượng đích; có kiến thức về tâm lý học và khoa họchành vi để hiểu được tình cảm, tâm lý, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi, quátrình thay đổi hành vi của các đối tượng đích; có kiến thức và kỹ năng giáodục học và truyền thông giao tiếp; hiểu biết về phong tục tập quán, văn hóa xãhội và những vấn đề kinh tế, chính trị của cộng đồng; nhiệt tình trong côngtác TT-GDSK, đó là tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp mà mọi cán bộ y tế, cán
bộ TT-GDSK cần phải có[1],[18]
Xây dựng kế hoạch và thực hiện đào tạo để nâng cao kiến thức, kỹ năng
TT GDSK cho cán bộ là nội dung quan trọng của quản lý nguồn phát tin hayquản lý người thực hiện TT-GDSK Thực hiện TT-GDSK có hiệu quả đòi hỏicán bộ phải rèn luyện những kỹ năng cơ bản như giao tiếp với cá nhân và vớicộng đồng, làm việc nhóm, sử dụng phương pháp, phương tiện, nguồn lực choTT-GDSK hợp lý Mở rộng quan hệ làm việc với đồng nghiệp và các banngành, đoàn thể, tổ chức xã hội khác cũng là kỹ năng cần có của người làmcông tác y tế cộng đồng nói chung, cũng như người thực hiện TT-GDSK cầnphải có [6], [9], [19] Đưa hoạt động TT-GDSK lồng ghép với hoạt động khác
ở địa phương, nhất là với các hoạt động văn hóa truyền thống của cộng đồng
là một cách quản lý khôn khéo hoạt động TT-GDSK mà nhiều chương trìnhCSSKBĐ áp dụng
Tăng cường sức khỏe có nhiều yếu tố đóng góp cho thành công của mộtchương trình TT-GDSK, nhưng kiến thức và kỹ năng truyền thông, giao tiếpcủa người cán bộ trực tiếp thực hiện TT-GDSK, trong đó có kỹ năng tư vấn là
Trang 24yếu tố quyết định Nội dung quan trọng trong quản lý nguồn phát tin thực chất
là quá trình bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực thực hiện TT-GDSK Nguồnlực này là nhân tố quyết định cả số lượng và chất lượng các hoạt động TT-GDSK Để thực hiện tốt nhiệm vụ TT-GDSK, cán bộ cần được trang bị kiếnthức về y học, kiến thức về tâm lý, khoa học hành vi, khoa học giáo dục, đặcbiệt là các kiến thức và kỹ năng truyền thông giao tiếp với cá nhân, với nhóm
và với cộng đồng Soạn thảo các thông điệp sức khỏe truyền đi như thế nàocho phù hợp để mang lại hiệu quả, phụ thuộc vào kỹ năng của cán bộ
1.4.2.2 Quản lý thông điệp truyền đi
Thông điệp sau khi được tạo ra cần được thử nghiệm để đảm bảo tínhchính xác, phù hợp với đối tượng và kênh chuyển tải Thông điệp chứa đựngnhững nội dung thực sự cần được chuyển tải tới đối tượng đích qua cácphương tiện truyền thông như từ ngữ, hình ảnh, mô hình, hiện vật hấp dẫn và
âm thanh Một thông điệp chỉ có hiệu quả khi trình bày vấn đề liên quan thíchhợp, được chấp nhận và trình bày bằng phương pháp mà đối tượng hiểu được.Muốn đưa ra thông điệp phù hợp, đòi hỏi cán bộ thực hiện TT-GDSK phảinắm chắc các thông tin về đối tượng đích, từ đó xác định nội dung thông điệpgiáo dục, lựa chọn phương pháp giáo dục, phương tiện chuyển tải thông điệp
và nguồn lực cần thiết
Thông điệp gửi đi phải đảm bảo một số tiêu chuẩn cơ bản là đúng về mặtkhoa học, rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, hoàn chỉnh, dễ hiểu, có khả năng thựchiện được và phù hợp với đối tượng Soạn thảo thông điệp đạt được các yêucầu cơ bản không phải dễ dàng, vì thế các cán bộ phải được đào tạo để có đủkiến thức, thái độ, kỹ năng cũng như kinh nghiệm, uy tín thực hiện tốt nhiệm
vụ TT-GDSK
1.4.2.3 Quản lý kênh truyền thông giáo dục sức khỏe
Lựa chọn kênh truyền thông thích hợp, tránh các yếu tố nhiễu trong quátrình truyền đi thông điệp là những vấn đề quan trọng để nâng cao hiệu quả
Trang 25truyền thông Kênh truyền thông cần phù hợp, hấp dẫn và thu hút được sự chú
ý của đối tượng Chọn kênh truyền thông phải căn cứ vào đối tượng, thờigian, chủ đề các phương tiện và điều kiện nguồn lực sẵn có Một yêu cầu kháccần chú ý khi chọn kênh TT-GDSK là đảm bảo khả năng tiếp cận của đốitượng với kênh truyền thông đó, nghĩa là phải hiểu rõ các ưu nhược điểm củamỗi kênh truyền thông để lựa chọn cho phù hợp Kênh truyền thông có thểchia ra làm hai loại là kênh trực tiếp và kênh truyền thông đại chúng (TTĐC)
Kênh truyền thông trực tiếp
Truyền thông trực tiếp là tất cả các hình thức truyền thông có tác độngqua lại trực tiếp giữa người TT-GDSK và người đuợc GDSK Ưu điểm củatruyền thông trực tiếp là người lập kế hoạch hay người TT-GDSK chủ độnglựa chọn đối tượng đích, có cơ hội cho người thực hiện TT-GDSK và đốitượng nêu câu hỏi, thảo luận, tham gia và nhận thông tin phản hồi Truyềnthông trực tiếp giúp người truyền thông kiểm tra sự hiểu biết của đối tượng vàgiải thích thêm cho đối tượng những nội dung cần thiết
Phương pháp TT-GDSK trực tiếp thường truyền thông tin chậm hơn tớiđối tượng, vì phải huy động cán hộ làm việc ở cộng đồng và cần có thời giancác tổ chức truyền thông ở các nơi khác nhau Nhưng ưu điểm nổi bật củatruyền thông trực tiếp là tập trung vào các nhóm chủ định, đưa ra các lờikhuyên hợp lý với nhu cầu cụ thể của họ và phát triển kỹ năng giải quyết vấn
đề, động viên, thu hút sự tham gia tích cực của đối tượng Thông tin phản hồithu được nhanh, cho phép kiểm tra tác động của thông điệp và giúp xác định
cụ thể vấn đề để đưa ra giải thích bổ sung thích hợp
Kênh truyền thông đại chúng
Kênh truyền thông đại chúng bao gồm các phương tiện truyền qua sóngnhư radio và ti vi hay các ấn phẩm, internet, là phương pháp tốt nhất để phát
Trang 26đi nhanh các thông điệp tới một lượng lớn đối tượng truyền thông với chi phítương đối rẻ hơn Ti vi là phương tiện phát đi cả hình ảnh và âm thanh, radiochỉ chuyển tải âm thanh Đài phát thanh phát triển ở nhiều địa phương làphương tiện truyền thông có giá trị đặc biệt ở các vùng có trình độ văn hoáthấp Mỗi loại phương tiện TTĐC có các ưu và nhược điểm riêng
Bảng 1.1 So sánh một số đặc điểm của truyền thông đại chúng
và truyền thông trực tiếp
đại chúng
Truyền thông Trực tiếp
Mức độ lan truyền thông tin Nhanh Chậm
Bao phủ số lượng đối tượng Nhiều Có giới hạn
Chính xác, không bị sai lạc Mức độ chính xác cao Có thể dễ bị sai lạcKhả năng lựa chọn đối tượng
Khả năng đáp ứng nhu cầu
sức khỏe của địa phương và
các cộng đồng cụ thể
Chỉ cung cấp các thôngtin chung, không cụ thểvới từng cộng đồng
Đáp ứng nhu cầu sức khoẻ địa phương và cộng đồng
Thông tin phản hồi
Cung cấp thông tin phản hồi không trực tiếp
Nhận phản hồi trực tiếp, nhanh
Ảnh hưởng chính Tăng cường kiến thức và
nhận biết vấn đề là chính
Thay đổi thái độ, hành vi và kỹ năng
Hầu hết các chương trình TT-GDSK trên thực tế không đơn thuần chỉ là
sử dụng TTĐC hay truyền thông trực tiếp Một chương trình được lập kếhoạch tốt sẽ bao gồm việc chọn lựa cẩn thận và phối hợp cả hai phương pháp
để phát huy các ưu điểm khác nhau của các phương pháp
Trang 271.4.2.4 Quản lý nơi nhận tin hay nhóm đối tượng đích
Với người nhận tin hay các đối tượng của TT-GDSK phải biết rõ họ lànhững ai, trình độ như thế nào, những niềm tin và phong tục tập quán của họ.Quan trọng nhất là thu thập các thông tin từ đối tượng để biết được mức độhiểu biết, thái độ của họ đối vói các thông điệp và đặc biệt là thực hành củađối tượng như thế nào với vấn đề sức khoẻ cần giáo dục để có thể điều chỉnhchương trình TT-GDSK Thu nhận thông tin phản hồi kịp thời và sử dụng cácthông tin này vào điều chỉnh nội dung, phương pháp, phương tiện TT-GDSK
là biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động TT- GDSK đáp ứngcác nhu cầu của đối tượng được TT-GDSK
Quản lý nơi nhận tin tức là quản lý các đối tượng đích, những ngườiđược TT GDSK Đối tượng được TT-GDSK rất đa dạng, có những đặc điểmrất khác nhau, vì thế để quản lý đối tượng phải nghiên cứu đầy đủ các yếu tốliên quan đến khả năng tiếp nhận và hiểu biết các thông điệp cần TT-GDSKcủa đối tượng Cần có thông tin về các đặc điểm của đối tượng như lứa tuổi,trình độ văn hóa, nghề nghiệp, tôn giáo, thói quen Những vấn đề sức khỏe
và hành vi nào đối tượng quan tâm, các phương pháp giáo dục nào tạo nên sựhấp dẫn và có thể thuyết phục được đối tượng? Đối tượng có biết đọc không'?Những ngôn từ nào họ sử dụng trong hội thoại hàng ngày? Liệu họ có xemcác tranh ảnh và các pa nô, áp phích không? Họ đã biết những gì về chủ đềsức khỏe? Niềm tin và tình cảm của họ về chủ đề truyền thông ra sao? Nhữngniềm tin hiện tại của họ mạnh mẽ đến mức nào? Những giá trị nào là quantrọng đối với họ? Những ý kiến và quan điểm của ai họ tin tưởng? Họ quantâm đến các vấn đề mới như thế nào?
Đồng thời cán bộ TT- GDSK phải quan tâm đến một loạt các câu hỏi vềphạm vi ảnh hưởng của truyền thông như: những hoạt động TT-GDSK nàocủa truyền thông hiện đang được thảo luận trong cộng đồng Có các quy địnhnào xung quanh các chủ đề sức khỏe đang thảo luận Có các luật lệ hay phong
Trang 28tục nào về tiếp xúc giữa người với người trong cộng đồng Người ta thể hiệnlòng kính trọng như thế nào khi nói chuyện với những người khác? ở đâu mọingười phát hiện ra các vấn đề sức khỏe? Họ có nghe đài và xem truyền hìnhkhông? Vào thời gian nào trong ngày và chương trình nào mà người dân nghe
và xem? Họ có thói quen đọc sách, báo hay tạp chí nào? Người ta có treotranh và lịch ở nhà không? Họ thích các phương tiện, loại hình truyền thôngnào? Họ thường tới những địa điểm nào tụ họp có phải đó là những nơi tốt đểtreo các pa nô, áp phích, bảng tin sức khỏe hay không Khi xem xét các câuhỏi này, người lập kế hoạch TT -GDSK cần phải quan tâm đến thảo luận vớinhững người lãnh đạo dư luận, những người có ảnh hưởng quan trọng trongcộng đồng? Các áp lực xã hội tác động đến đối tượng Những người dân nôngthôn thường không chú ý nhiều đến tình trạng giáo dục nhưng lại kính trọngcác phẩm chất cá nhân Mọi người không quan tâm đến các chương trìnhtruyền thông của đài hay các ấn phẩm như pa nô áp phích có thể chỉ đơn giản
là do họ cho rằng không liên quan đến họ [10] Các cán bộ TT-GDSK có thểkhông phải là những người được tin cậy nhất, vì thế với mỗi chương trình cầnphát hiện và động viên những người được đối tượng tin tưởng và kính trọngtham gia vào hoạt động TT-GDSK
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tìm hiểu, xác định rõ đối tượngđích đã đem lại những kết quả tốt [6], [17], [19] Như vậy nghiên cứu để hiểu
rõ đối tượng đích là một trong các điều kiện cần thiết cho lập kế hoạch và gópphần thực hiện thành công mỗi chương trình TT-GDSK
1.5 Một số nghiên cứu về truyền thông giáo dục sức khỏe
1.5.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Tổ chức hệ thống TT-GDSK ở Ấn Độ được xem là hợp lý khi bao gồm
đa dạng các đơn vị kỹ thuật, khi các cơ quan TT-GDSK được thành lập ở tất
cả các tuyến, khi các cơ quan TT-GSDK nhà nước và các các chương trình
Trang 29TT-GDSK của các tổ chức phi chính phủ cùng tồn tại và phối hợp với nhau Ởnước này, cơ quan TT-GDSK bao gồm 7 đơn vị kỹ thuật chính như đào tạo,truyền thông, biên tập, giáo dục sức khoẻ, nghiên cứu và đánh giá, thực địa
và mô phỏng, đơn vị giáo dục sức khoẻ ở trường học [20]
Nhân lực thực hiện các hoạt động TT-GDSK ở các nước thường đa dạng,gồm các cán bộ thuộc các chuyên ngành khác nhau như các bác sĩ chuyênkhoa, bác sĩ đa khoa, các nhà tâm lý học, y tá, bác sĩ gia đình, các nhà dịch tễhọc, các nhà quản lý, v.v Các cán bộ này tham gia thực hiện tư vấn trực tiếpcho bệnh nhân về bệnh của họ, tổ chức các chương trình truyền thông, thiết kếphương tiện truyền thông và lập kế hoạch chiến lược cho các hoạt động TT-GDSK [21]
Tại Việt Nam đã có một số tác giả thực hiện các nghiên cứu về GDSK Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiến, Ngô Toàn Định và Nguyễn DuyLuật: Tìm hiểu thực trạng và khả năng đẩy mạnh hoạt động truyền thông giáodục sức khỏe tại một số xã huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương [22] và: Thửnghiệm mô hình giáo dục sức khỏe tại xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnhHải Dương” [23]; đề tài nghiên cứu sinh của tác giả: Nguyễn Thị Kim Liên:Đánh giá thực trạng và hiệu quả của một số giải pháp can thiệp truyền thônggiáo dục sức khỏe trong chăm sóc sức khỏe trẻ em tại tuyến y tế cơ sở [24]
TT-Đề tài: Nghiên cứu giải pháp can thiệp nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành
về sức khoẻ môi trường của người dân tại một phường thuộc thị xã Phủ Lýđang đô thị hoá”, của Lê Thị Tài năm 2005 [25]
Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) phòng chống bệnhcúm gia cầm (cúm A/H1N1) của người dân và một số yếu tố liên quan tạihuyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam của Nguyễn Thị Hường năm 2006cho thấy mối liên quan giữa tần số tiếp cận thông tin với KAP phòng chống
Trang 30bệnh của người dân Điều này cho thấy vai trò rất quan trọng của TT-GDSKtrong công tác kiểm soát và thanh toán dịch bệnh.
Nghiên cứu của Cao Phi Nga và Cs (2006) tại Nghệ An đã phát hiện ra
tỷ lệ tiếp nhận thông tin về chăm sóc sức khoẻ trẻ em trong 3 tháng trước điềutra của các HGĐ có CBYT đến thăm là 11,4%, nhận tờ rơi có nội dung vềchăm sóc sức khoẻ trẻ em là 36,3% và có được nghe truyền thông về CSSKtrẻ em là 49,1%, chủ yếu thông qua quảng cáo của các công ty sữa và 44,1%HGĐ cho rằng họ có nhu cầu TT-GDSK về CSSK trẻ em và 96,9% sẵn sàngtham gia khi có hoạt động TT-GDSK tại địa phương
1.5.2 Những nghiên cứu về TT-GDSK tại Lào
Tại bệnh viện huyện, công tác TT- GDSK tổ chức thực hiện chưa thốngnhất Đa số công tác đó vẫn do cán bộ ở các khoa phòng của bệnh viện thựchiện TT-GDSK cho bệnh nhân, chưa có đơn vị được phân công phụ trách cụthể Ngoài ra, chưa có nghiên cứu hoặc đánh giá về tổ chức thực hiện hoạtđộng TT-GDSK tại các bệnh viện tuyến huyện ở Lào
Công tác TT- GDSK có vai trò rất quan trọng vì nó liên quan đến việcđiều trị và chăm sóc sức khỏe trực tiếp cho người dân Hiện tại chưa có đề tàinào tại Lào nghiên cứu về thực trạng hoạt động và quản lý hoạt động TT-GDSK của bệnh viện tuyến huyện, do đó nghiên cứu này góp phần nâng caochất lượng công tác quản lý và thực hiện hoạt động TT-GDSK tại bệnh việntuyến huyện
Trang 311.6 Một số thông tin về 3 bệnh viện nghiên cứu
Hình 1.1 Bản đồ Thủ đô Viêng Chăn của Lào Viêng Chăn hay Vientiane là thành phố trực thuộc trung ương duy nhất
ở Lào, là đơn vị hành chính địa phương cấp 1 ngang với các tỉnh của Lào.Viêng Chăn bao gồm 9 đơn vị hành chính cấp 2 trong đó có 5 đơn vị đô thị và
4 đơn vị nông thôn Khu vực đô thị, hay nội thành, gồm 5 quận của ViêngChăn được xác định là thủ đô Viêng Chăn của Lào Tên được đặt tên cho mộtcon đường tại quận 5 Viêng Chăn có diện tích 3.920 km² bao gồm 9quận/huyện và có 876.507 dân số Nếu tỉnh cả vùng đô thị Viêng Chăn (toàn
bộ các huyện nông thôn của Viêng Chăn và các tỉnh Viêng Chăn) được cho làhơn 730.000 người Viêng Chăn nằm ở tả ngạn sông Mê Công, ở tọa độ17°58' Bắc, 102°36' Đông (17.9667, 102.6) Ở đoạn này con sông chính làbiên giới giữa Lào với Thái Lan [26], [27]
Thủ đô Viêng Chăn gồm có khu vực nội thành và khu vực ngoại thành Nộithành, hay Thủ đô Viêng Chăn, gồm 4 quận là: Chantabuly, Sikhottabong,Xaysetha, Sisattanak, Ngoại thành gồm 5 huyện là: Hadxaifong, parkngum,Naxaithong, Xaythany, Sangthong
Huyện NaSaiThong gồm có: 06 cụm thôn, 54 làng, 04 trạm xã, 14.571
hộ gia đình 14.513 căn nhà và 1.078 tổ Tổng dân số là 73.634 người Tổngdiện tích: 908 km2 Bệnh viện huyện NaSayThong: bệnh viện quy mô 34
Trang 32giường, có 08 khoa phòng Tổng số cán bộ y tế tại bệnh viện là 49 người,trong đó: có 39 CBYT nữ Người bệnh dịch vụ 37,761 người
Huyện XayThany gồm có: 11 trung tâm Y tế, 11 trạm xã, 104 làng,39,400 hộ gia đình Tổng dân số 196,600 người Tổng diện tích: 80,860 km2.Bệnh viện Huyện Say Tha Ny có quy mô: 20 giường, có 04 khoa phòng Tổngcán bộ y tế tại bệnh viện là 76 người, trong đó: có 50 CBYT nữ Người bệnhđến sử dụng dịch vụ 19,035 người
Huyện SangThong gồm có: 05 trung tâm Y tế, 05 trạm xã, 37 làng, 556
tổ, 6,432 hộ gia đình Tổng dân số 31,216 người Tổng diện tích: 80,000 km2 Bệnh viện huyện SangThong: quy mô 10 giường, có 09 khoa phòng Tổng sốcán bộ y tế là 43 người trong đó: có 28 CBYT nữ Người bệnh đến sử dụngdịch vụ 10,854 người
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 3 bệnh viện huyện của 3 huyện Nasaythong,Xaythany và Sangthong thủ đô Viêng Chăn CHDCND Lào
2.2 Đối tượng và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả cán bộ chuyên môn của 3 bệnh viện huyện có thực hiện hoạt độngTT-GDSK trong công tác chăm sóc sức khỏe
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu dự kiến từ tháng 02/2018 đến tháng 06/2019
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng phương phápnghiên cứu định lượng để thu thập thông tin
2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu cho nghiên cứu
2.3.2.1 Cỡ mẫu
Mỗi bệnh viên chúng tôi chọn tất cả các cán bộ thực hiện công tác TT GDSK tại các khoa phòng bệnh viện gồm bác sĩ, điều dưỡng, kĩ thuật viên,dược sĩ
-Dự kiến cỡ mẫu khoảng từ 117 – 168 cán bộ y tế sẽ được điều tra
2.3.2.2 Cách chọn mẫu
Chọn chủ đích tất cả các cán bộ y tế thực hiện công tác TT-GDSK của 3bệnh viện huyện
Trang 342.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
T Tên biến số/chỉ số Phương pháp thu thập Công cụ
1. Phân bố đối tượng điều tra theo
tuổi
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
4. Trình độ chuyên môn của cán
bộ y tế được điều tra
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
8. Đánh giá của cán bộ y tế về Đối tượng tự điền theo Bộ câu hỏi
Trang 35Thực trạng và nhu cầu về cơ
sở, trang thiết bị cho hoạt động
TT-GDSK tại 3 bệnh viện
huyện
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
10.
Thực trạng về cơ sở, trang thiết bị
cho hoạt động TT-GDSK tại 3
bệnh viện huyện huyện theo ý kiến
của CBYT
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
11.
Nhu cầu về cơ sở, trang thiết bị
cho hoạt động TT-GDSK tại 3
bệnh viện huyện theo ý kiến
của cán bộ y tế
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
12.
Thực trạng phân công quản
lý/theo dõi hoạt động
TT-GDSK tại 3 bệnh viện huyện
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
13. Thực trạng hoạt động lập kế
hoạch tại 3 bệnh viện huyện
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
16.
Chất lượng lập kế hoạch theo
đánh giá của CBYT tại 3 bệnh
viện huyện
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
17 Thực trạng theo dõi/giám sát Đối tượng tự điền theo Bộ câu hỏi
Trang 36Theo dõi/giám sát hoạt động
TT-GDSK trong thời gian gần
đây của 3 bệnh viện huyện theo
đánh giá của CBYT
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
20.
Thực trạng đánh giá hoạt động
TT-GDSK của 3 bệnh viện
huyện theo đánh giá của CBYT
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
21.
Chất lượng đánh giá hoạt động
TT-GDSK của 3 bệnh viện
huyện theo đánh giá của CBYT
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
22.
Các loại đánh giá hoạt động
TT-GDSK tại 3 bệnh viện
huyện theo ý kiến của CBYT
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
23.
Thực trạng đào tạo/hướng dẫn
về quản lý hoạt động
TT-GDSK tại 3 bệnh viện huyện
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
24.
Những thuận lợi trong lập kế
hoạch, theo dõi/giám sát và đánh
giá hoạt động TT-GDSK tại 3
bệnh viện huyện theo ý kiến của
CBYT
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi
25 Những khó khăn trong lập kế
hoạch, theo dõi/giám sát và
đánh giá hoạt động TT-GDSK
tại 3 bệnh viện huyện theo ý
Đối tượng tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu viên
Bộ câu hỏi