Những dấu hiệu đầu tiên về sự tồn tại của các hạch bạch huyết có liên quan chặt chẽ đến các mạch bạchhuyết có thể nhìn thấy từ tuần thứ 5 36 ngày trong khu vực hợp lưu của cáctĩnh mạch d
Trang 1TH¸NG 8/2017
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 3HÀ NỘI – 2016 MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Phôi thai học hệ thống bạch huyết của thai 3
1.2 Phương pháp siêu âm chẩn đoán 6
1.3 Các nghiên cứu liên quan 7
1.3.1 Bất thường nhiễm sắc thể 7
1.3.2 Các phương pháp lấy bệnh phẩm thai 10
1.4 Một số hình ảnh siêu âm về dị dạng HK của thai 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu: 21
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 21
2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 22
2.4 Phương pháp siêu âm xác định HK 23
2.5 Phương pháp lấy mẫu làm nhiễm sắc đồ thai nhi: 23
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 25
3.1 Tuổi mẹ 25
3.2 Tuổi thai tại thời điểm chẩn đoán 25
Trang 43.5 Phương pháp lấy mẫu làm nhiễm sắc đồ thai nhi 26
3.6 Kết quả nhiễm sắc đồ thai nhi 27
3.7 Phân loại các bất thường nhiễm sắc thể: 27
CHƯƠNG 4: DỰ KI ẾN BÀN LUẬN 28
4.1 Tuổi mẹ 28
4.2 Tuổi thai tại thời điểm chẩn đoán 28
4.3 Độ dày da gáy 28
4.4 Các hình thái bất thường kèm theo trên siêu âm 28
4.5 Phương pháp l ấy mẫu làm nhiễm sắc đồ thai nhi 28
4.6 Kết quả nhiễm sắc đồ thai nhi 28
4.7 Phân loại các bất thường nhiễm sắc thể 28
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5Bảng 3.1 Phân loại theo nhóm tuổi 25
Bảng 3.2 Tuổi thai theo thời điểm chẩn đoán 25
Bảng 3.3 Phân loại các bất thường kèm theo trên siêu âm 26
Bảng 3.4 Các phương pháp lấy mẫu làm Nhiễm sắc đồ thai nhi 26
Bảng 3.5 Kết quả nhiễm sắc đồ thai nhi 27
Bảng 3.6 Phân loại các bất thường nhiễm sắc thể 27
Trang 6Hình 1.1 Bạch huyết giai đoạn 18 đến 44 ngày 4
Hình 1.2 Hệ thống bạch huyết ở phần cuối của thời kỳ phôi thai từ 23 đến 56 ngày 5
Hình 1.3 Hệ thống bạch huyết của thời kỳ bào thai 6
Hình 1.4 Hình ảnh khoang chứa dịch vùng gáy 17
Hình 1.5 Hình ảnh vách ngăn trong khoan chứa dich 17
Hình 1.6 Hình ảnh khoang chứa dịch vùng gáy và phù toàn thân: cắt ngang đầu 18
Hình 1.7 Hình ảnh siêu âm cắt dọc thân thai nhi 18
Hình 1.8 Hình ảnh phù thành bụng 18
Hình 1.9 Hình ảnh tràn dich màng phổi 19
Hình 1.10 Hình ảnh 3D của Hygroma 19
Hình 1.11 Hình ảnh sau sảy thai 20
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Dị dạng bạch mạch dạng nang (Hygroma Kystique) là một bất thường của
hệ thống bạch mạch vùng gáy Đây là những tổn thương do hiện tượng tắc và
ứ đọng sự lưu thông bạch huyết vùng cổ và vùng gáy dẫn đến giãn các mạchbạch huyết vùng này, có kích thước to nhỏ khác nhau làm biến dạng cả vùng
cổ và sau gáy Tuy dị dạng đó có nhiều mức độ và hình thái khác nhau nhưngđều có tác động không tốt đến gia đình và chính đứa trẻ ra đời Nó khôngnhững ảnh hưởng đến tâm lý bà mẹ, đến sức khoẻ của bản thân trẻ dị tật màcòn là gánh nặng cho gia đình và xã hội sau này HK lần đầu tiên được mô tảbởi Redenbacher năm 1828, với tỉ lệ gặp là 1/1000 – 1/6000 trẻ sơ sinh sống
và chiếm khoảng 1/750 sảy thai tự nhiên Về mặt giải phẫu học, dị dạng đượcđặc trưng bởi sự giãn hệ thống bạch huyết do mất máu lưu thông giữa hệthống bạch huyết và tĩnh mạch Giả thuyết về bệnh lý lần đầu tiên được mô tảbởi Van der Putte(1977), được khẳng định bởi Smith và Graham(1982), chorằng sự lưu thông của mạch bạch huyết với tĩnh mạch cảnh thông thường sẽxảy ra vào ngày thứ 40 của thai kỳ, nếu không có sự lưu thông này sẽ gây ratình trạng bệnh lý Nếu sự lưu thông này xảy ra sau đó hoặc bởi các đườngsong song, HK và tình trạng phù sẽ giảm dần Khi đó, nguy cơ bất thườngnhiễm sắc thể sẽ không giảm đi và không loại trừ hoàn toàn HK có thể đơnđộc hay kèm theo bất thường nhiễm sắc thể hoặc kèm theo bất thường hìnhthái khác: phù dưới da, tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tim, thoát vịrốn… đặc biệt bất thường này có tỷ lệ dị dạng nhiễm sắc thể rất lớn Vì tỷ lệbất thường nhiễm sắc thể rất lớn ở những trường hợp này cho nên việc lấybệnh phẩm của thai để phân tích nhiễm sắc thể là rất cần thiết Việc chẩn đoánkhông khó khăn nhưng rất quan trọng bởi tổn thương này có thể tiến triểntăng dần theo thời gian, cũng có thể mất đi không để lại dấu vết với những bất
Trang 8thường nặng kèm theo Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều phương pháp chẩnđoán trước sinh nhằm phát hiện HK hay bất thường NST hay cả hai Ở ViệtNam, những năm gần đây, kỹ thuật siêu âm chẩn đoán HK, kỹ thuật chọc hútnước ối nhằm xác định bộ NST và xét nghiệm máu mẹ được đưa vào sử dụngchẩn đoán tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh BVPSTƯ thu được nhiều kếtquả khả quan Đã có những đề tài nghiên cứu tại đây, tuy nhiên chưa có nhiều
nghiên cứu cụ thể nào về HK Do vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu chẩn đoán trước sinh và xử trí dị dạng bạch mạch dạng nang tại
Bệnh viện Phụ sản trung ương từ tháng 8/2016 – tháng 8/2017” với 2
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Phôi thai học hệ thống bạch huyết của thai
* Sơ lược về hệ bạch huyết (Hệ lympho)
Bạch huyết là một chất dịch trong cơ thể giống như sữa có chứa các tếbào lympho (các bạch cầu liên quan đến việc chống lại sự nhiễm trùng), cácprotein và mỡ Dịch dư thừa rĩ khỏi dòng máu được thu dọn lại bởi hệ lympho
và đưa trở lại máu qua hai mạch máu chính đó là ống bạch huyết bên phải vàống ngực, nó giúp duy trì cân bằng dịch trong cơ thể
Hệ bạch huyết gồm mạng lưới bạch mạch, các mô bạch huyết và cáchạch lympho Chức năng chủ yếu của nó là lọc bỏ các sinh vật có thể gâynhiễm trùng, sản xuất các tế bào lympho, và dẫn lưu dịch và protein từ các mô
để tránh phù Các bạch mạch có các cấu trúc nhỏ hình bầu dục được gọi là cáchạch bạch huyết, phân bố dọc theo chiều dài của chúng Hầu hết các hạch nàynằm ở cổ, nách, bẹn và bụng
Lách, là cơ quan lớn nhất trong hệ bạch huyết, được tìm thấy trongphần tư trên trái của bụng Nó sản xuất một vài tế bào bạch cầu, dự trữ máu,phá hủy các hồng cầu già và đồng thời đưa sắt trở về dòng máu
* Phát triển của hệ thống bạch huyết
Các mạch bạch huyết phát triển như các mạch máu từ tế bào gốchémangioblastiques Sự khác biệt của các mạch bạch huyết hoặc các mạchtĩnh mạch phụ thuộc vào một loạt các yếu tố gây Những dấu hiệu đầu tiên về
sự tồn tại của các hạch bạch huyết có liên quan chặt chẽ đến các mạch bạchhuyết có thể nhìn thấy từ tuần thứ 5 (36 ngày) trong khu vực hợp lưu của cáctĩnh mạch dưới (postcardinale) và trên (précardinale) trong tĩnh mạch thường.Các túi bạch huyết tĩnh mạch cảnh, hệ thống tĩnh mạch của những chỗ lồi lõm
Trang 10được hình thành qua các tĩnh mạch dưới đòn của cả hai bên; trong khi bêndưới chúng tạo thành các túi bạch huyết sousclaviers (nách) Những chỗ lồilên cuối cùng sẽ tiếp nối nhau
Chỗ nối hệ thống hạch bạch huyết được hình thành bởi một mạng lướicủa mạch bạch huyết Sau đó một vài đám rối thần kinh bạch huyết tập trung
ở các nơi lớn hơn Khi hệ thống tĩnh mạch, hệ bạch huyết là bước đầu songphương và đối xứng và tiến tới sự phân biệt đối xứng Các ống ngực cũng là
do có chỗ nối của một số mạng của địa phương
Hình 1.1- Bạch huyết giai đoạn 18 đến 44 ngày
Phát triển hệ thống bạch huyết đến 6 tuần Ba túi song phương bạchhuyết (mạch cổ, nách và lumbo chậu) được đại diện, cũng như các đám rốithần kinh phát triển bạch huyết
7 Túi bạch huyết thắt lưng
8 Túi bạch huyết vùng chậu
Trang 11- Đám rối thần kinh bạch huyết mạc treo
- Thắt lưng và đám rối thần kinh bạch huyết bẹn
Nó được bện bằng một hệ thống biến của các mạch bạch huyết Cácbạch huyết ở dưới và nửa trên bên trái của cơ thể vào góc tĩnh mạch trái hìnhthành bởi các tĩnh mạch và tĩnh mạch dưới đòn trái Cánh tay phải và một nửacòn lại đang cạn kiệt bởi bạch huyết đám rối tĩnh mạch cảnh nách tương ứng,
Trang 12
Hình 1.3 Hệ thống bạch huyết của thời kỳ bào thai
Cũng giống như các hệ thống tĩnh mạch, các mạch hệ bạch huyết cũng thoáitriển đơn phương Trong vùng ngực và bụng vẫn còn chỉ ống ngực, mà bạchhuyết trong cơ thể thấp hơn và các khu vực còn lại của người đứng đầu vàcánh tay, tại khu vực ngã ba của các tĩnh mạch cổ và dưới đòn trái, vào hệthống tĩnh mạch Các bộ phận của hệ thống bạch huyết thoái triển được đạidiện trong đường chấm
1.2 Phương pháp siêu âm chẩn đoán
Hình ảnh SA là những khoang chứa dịch nằm ở vùng sau gáy, có xu thếphát triển sang hai bên Bên trong thường có vách ngăn: 1 hoặc 2 chia vùnggáy thành những khoang chứa dịch cân đối Xương sọ và cột sống bìnhthường Các dấu hiệu khác kèm theo như tràn dịch màng phổi, phù da ngực, dabụng, da các chi (phù toàn thân), hoặc dị dạng các cơ quan như tim hay phổi.Hình ảnh siêu âm điển hình là tăng khoảng sáng sau gáy trên đường cắt dọc.Hình ảnh vách ngăn bên trong trên đường cắt ngang Hình ảnh phù và tràndịch các màng khác
Trang 13- Chẩn đoán xác định: Dựa trên 2 đường cắt:
+ Đường cắt dọc giữa chuẩn: Tiêu chuẩn đánh giá theo bảng điểmHerman, điểm chuẩn phải đạt ≥ 4 điểm, da gáy ≥ 3mm, là những nang chứadịch,biểu hiện là hình trống âm ở vùng chẩm và sau gáy, có thể phát triển vềmột bên hay hai bên, rất khó xác định hết tổn thương trên đường cắt này
+ Đường cắt ngang cổ: Kích thước trung bình da gáy của Hygroma
Kystique là 6.3mm ± 2.4mm Có ít nhất 2 khoang cân đối, được chia cắt bởi
các vách ng ăn Đồng thời, hình ảnh hộp sọ và cấu trúc não đều bình thường.Ngoài ra, HK cũng có thể được chẩn đoán trên siêu âm 3D
+ Hình ảnh phù toàn thân: Da thai nhi dầy trên 5mm, có hình ảnh haivòng khi có phù da đầu kèm theo
+ Hình ảnh tràn dịch các màng: Tràn dịch màng bụng, màng phổi vàmàng ngoài tim ( phù thai)
- Chẩn đoán phân bi ệt: Dày da gáy đơn thuần, thoát vị não vùng chẩmvới tổn thương xương chẩm, thoát vị não - màng não, u quái dạng nang( tổnthương hỗn hợp, đơn độc hay chỉ chứa dịch)
1.3 Các nghiên cứu liên quan
sẽ tạo thành một hợp tử bất thường, có thể bất thường ở NST thường hoặcNST giới tính
Trang 14Các DTBS do bất thường đa bội:
Cơ chế đa bội: có 4 cơ chế có thể dẫn đến hiện tượng đa bội
- Thụ tinh của các giao tử bất thường: bình thường sau 2 lần phân chia củaquá trình giảm phân thường, mỗi giao tử được tạo thành chứa bộ NST đơn bội(n) Đôi khi, vì một nguyên nhân nào đó các NST không phân ly khiến cho cả 2
bộ NST đi vào một giao tử, tạo nên giao tử bất thường chứa 2n NST
- Thụ tinh của một giao tử bình thường (n) với một giao tử bất thường(2n) tạo hợp tử tam bội (3n)
- Thụ tinh của 2 giao tử bất thường (2n) tạo thành hợp tử tứ bội (4n)
- Sự phân chia bất thường của hợp tử: đôi khi trong các lần phân chiasớm, bộ NST 2n của hợp tử nhân đôi nhưng tế bào chất không phân chia theonên hình thành tế bào 4n, sau đó các tế bào này tiếp tục phân chia nên cácphôi bào 4n, phôi bào phát triển thành cơ thể tứ bội(4n) Trong các lần phânchia sớm của hợp tử 2n có sự phân chia không đồng đều NST tạo thành phôibào có 1n NST và phôi bào có 3n NST, phôi bào 1n NST bị tiêu vong cònphôi bào 3n NST phát triển thành cơ thể tam bội
Các DTBS do bất thường lệch bội
Cơ chế gây lệch bội: trong quá trình giảm phân, nếu có một cặp NST nào
đó không phân ly mà cùng đi vào một giao tử sẽ tạo thành các giao tử lệchbội, có giao tử thừa một NST, có giao tử thiếu một NST Các giao tử lệch bội
Trang 15khi thụ tinh sẽ hình thành hợp tử lệch bội Hiện tượng không phân ly trongquá trình giảm phân có thể xảy ra trong quá trình tạo trứng hoặc tạo tinhtrùng, xảy ra ở lần phân bào thứ nhất hoặc thứ hai, có thể xảy ra với NSTthường hay NST giới tính.
Các thể lệch bội:
- Hội chứng Down hay hội chứng 3 NST 21 (trisomy 21): là loại bấtthường số lượng NST hay gặp nhất với tần suất 1/700 trẻ sống, tỷ lệ theo giới là3nam/2 nữ Hội chứng Down thường liên quan đến tuổi mẹ, tuổi mẹ càng cao thì
tỷ lệ sinh con mắc hội chứng Down càng cao
- Hội chứng Edwards hay hội chứng 3 NST 18: Hội chứng Edwards hayhội chứng 3 NST 18 (trisomy 18): tần suất hội chứng này là 1/4.000-1/8.000trẻ đẻ sống Trong 100 trẻ bị hội chứng Edwards thì 80% là 3NST thuần, 10%
là thể khảm và 10% do chuyển đoạn
- Hội chứng Patau hay hội chứng 3 NST 13 (trisomy 13): tần suất1/5.000 đến 1/10.000 lần sinh, 80% thể thuần, 20% thể khảm, gặp ở nữ nhiềuhơn nam Hầu hết trẻ đều chết lưu hoặc chết trước khi sinh, trong số trẻ đẻsống thì 80% chết trong tháng đầu, 95% chết trước 6 tháng tuổi
- Hội chứng Klinefelter: là dạng lệch bội thể 3 nhiễm hoặc 4nhiễm thuộc cặp NST giới tính XY (47, XXY; 48, XXXY).Đặc điểm là vôsinh nam, teo tinh hoàn, thoái hóa ống sinh tinh, nam vú to Tần suất là1,8/1.000 trẻ sơ sinh nam
- Hội chứng 3 NST X: do lệch bội dạng thể 3 nhiễm thuộc cặp NSTgiới tính XX (47, XXX).Biểu hiện lâm sàng thường là kinh nguyệt ít, mãnkinh sớm, có thể bị thiểu năng trí tuệ Tần suất gặp 0.8/1.000 trẻ sơ sinh gái
- Hội chứngTurner hay hội chứng 1 NST giới tính X (45, XO) Lệchbội thuần 57% Do bất thường cấu trúc 1 NST X như mất đoạn X, NST toànnhánh ngắn hoặc toàn nhánh dài( Xp-, Xq-, ….) là 27%, các trường hợpkhảm 16% Tần suất gặp là 0,4/1.000 trẻ đẻ sống
Trang 16- Đảo đoạn: một đoạn NST bị đảo ngược thứ tự Đảo đoạn quanh tâm cóthể gặp trong hội chứng Down
1.3.1.3 Thể khảm
Khảm là một trường hợp một người có ít nhất hai dòng tế bào có bộ NSTkhác nhau cùng tồn tại theo một tỷ lệ nào đó (có thể cả hai dòng tế bào bấtthường hoặc một dòng tế bào bình thường và một dòng tế bào bất thường)thường gặp trong các hội chứng Down, hội chứng Turner, hội chứng Klinefelter
1.3.2 Các phương pháp lấy bệnh phẩm thai
Có 2 phương pháp lấy bệnh phẩm thai: phương pháp trực tiếp (chọc hútdịch ối, sinh thiết gai rau, sinh thiết da cơ, nội soi thai, nội soi phôi) và giántiếp (tìm các tế bào thai trong máu mẹ)
1.3.2.1 Kỹ thuật chọc hút dịch ối
Chọc hút dịch ối là thuật ngữ nói về thủ thuật lấy nước ối từ buồng ốitrong tử cung mà không gây tổn thương cho bào thai để kiểm tra (Nước ối cónguồn gốc từ da, đường ruột, phổi và bàng quang) sau đó đưa đi phân tích đểbiết tình trạng sức khỏe và giới tính thai nhi đặc biệt là sự bất thường củanhiễm sắc thể
Trang 171.3.2.2 Lịch sử của phương pháp chọc hút dịch ối
Những mẫu nước ối được lấy đầu tiên cách đây 130 năm Chọc hút dịch
ối qua thành bụng ở quý 3 thai kỳ lần đầu tiên dược báo cáo trong y văn bởi Prochownick,Von Schatz& Lambl(1877) và trong năm 1890 bởi Schatz Tuy nhiên sự an toàn cho thai nhi và cho mẹ, tính chất thử nghiệm cũng như tính đạo đức của phương pháp đã bị đặt câu hỏi và nhanh chóng có sự bàn cãi tranh luận Mặc dù vậy phương pháp này ngày càng phổ biến và phát triển mạnh trong những năm 1960
Song song với sự phát triển của chọc hút dịch ối, trong khoảng năm1940-1950 các nhà di truyền học đã không thành công trong việc tìm raphương pháp tin cậy cho phép nhận biết giới tính thai nhi trong tử cung ởnhững người có tiền sử gia đình mang bệnh di truyền liên quan đến NST giớitính X như bệnh Hemophilie
Năm 1966, Steele & Bregs đã phát hiện trường hợp Trisomy21 đầu tiênqua phân tích NST từ tế bào ối và năm 1968 phát hiện được rối loạn chuyểnhóa bằng chọc ối.Từ những năm 1980 nhờ tiến bộ trong kỹ thuật đã chọc ốisớm cho những thai dưới 12 tuần tuổi
Năm 1996,Fisk & Shalev lần đầu tiên mô tả chọc hút dịch ối muộn (>32tuần) trên 14 bệnh nhân không muốn chấp nhận nguy cơ sảy thai tự nhiên củachọc ối ở quý 02
Ngày nay chọc hút dịch ối được thực hiện trên những thai nhi 16-20 tuần
là phương pháp được lựa chọn nhiều nhất trong các thủ thuật xâm hại thai vìthu được tế bào gốc từ thai giúp cho chẩn đoán di truyền có kết quả chính xác
và là một trong những thủ thuật ít gây tác dụng phụ không mong muốn cho
mẹ và thai nhi nhất Chọc ối đóng vai trò quan trọng trong CĐTS thông quanuôi cấy tế bào ối để nghiên cứu bộ NST thai nhi Nước ối bao gồm hỗn hợp
tế bào không đồng nhất gồm tế bào màng ối, da, tế bào đường tiêu hóa, hô
Trang 18hấp, tiết niệu nên phân tích NST từ tế bào nuôi cấy nước ối là thuận tiện nhất,đáng tin cậy nhất trong CĐTS
Chọc hút dịch ối nhằm mục đích chẩn đoán di truyền tế bào, các rối loạnchuyển hóa, đánh giá mức độ bất đồng miễn dịch, sự trưởng thành của phổithai nhi, chẩn đoán nhiễm trùng trong buồng ối Ngoài ra đây còn là phươngpháp điều trị đa ối, điều trị thuốc cho các bệnh của thai nhi
1.3.2.3 Chỉ định chọc hút dịch ối
- Mẹ lớn tuổi (>35 tuổi)
Một số khuyến cáo cho rằng nếu mẹ ≥35 tuổi thì đều nên làm CĐTSnhưng nếu chỉ có một mình yếu tố này thì mối liên hệ với nguy cơ sinh con cóbất thường NST rất thấp vì vậy cần làm XNSL huyết thanh mẹ để ước tínhnguy cơ liên quan đến tuổi mẹ
- Tiền sử thai phụ bất thường
+ Tiền sử sẩy thai, thai lưu hoặc sinh con có bất thường hình thái
Cả vợ chồng nên được làm công thức NST nếu có tiền sử thai lưu hoặcsẩy thai từ 2 lần trở lên để có thể loại trừ các nguyên nhân bất thường NSTcủa bố mẹ gây nên tình trạng bất thường nhiễm sắc thể của thai
+ Khả năng di truyền các thay đổi về NST từ bố mẹ sang con cái:
Trường hợp thai phụ hoặc chồng mang bất thường NST ở thể khảm dòng
tế bào hoặc mang các thay đổi NST ở dạng cân bằng di truyền cần làm xétnghiêm CĐTS vì họ có nguy cơ sinh con mang các dạng bất thường NST của
bố hoặc mẹ nhưng không còn cân bằng di truyền nữa
+ Có quan hệ họ hàng với người mắc Down
Đây có thể là điều không cần thiết phải làm CĐTS nhưng có thể nó có giátrị tiên lượng trong việc tìm hiểu nguy cơ sinh con mắc Down của vợ chồng
- Xét nghiệm sàng lọc huyết thanh mẹ dương tính
Trang 19Có thể phát hiện được 65% các trường hợp mắc Down với tỷ lệ dươngtính giả khoảng 4%, khi kết hợp giữa xét nghiệm sàng lọc và khoảng sáng saugáy giúp tăng khả năng phát hiện Trisomy 21 [16].Theo Spencer & cộngsự(2003) trong chẩn đoán Trisomy 21 nếu kết hợp giữa KSSG và XNSL tronghuyết thanh mẹ cho Trisomy 21 thì tỷ lệ phát hiện tới 90% thai Trisomy 21
- Những trường hợp có bất thường hình thái trên siêu âm
Cần chỉ định làm xét nghiệm di truyền khi siêu âm có bất thường hình thái,đây là phương pháp có giá trị tiên đoán dương tính cao nhất trong các chỉ địnhchọc ối (8.7-35.6%) Theo Rivera & cộng sự nghiên cứu trên 132 trường hợp cóhình ảnh siêu âm bất thường hình thái thấy tỷ lệ bất thường NST là 30% (29/132).Theo Arie Drugan,Mark I.Evan (2006) nguy cơ thai bất thường NSTtheo từng chỉ định chọc hút dịch ối như sau:
Chỉ định chọc hút dịch ối Nguy cơ bất thường NST
1 Mẹ lớn tuổi(≥ 35 tuối) >0.5%
2 TS đẻ con bị dị tật,đã có con bi Trisomy 21 1%
3 Thai phụ hoặc chồng bị bất thường về cấu trúc NST
+ Chuyển đoạn tương hỗ 12-15% + Chuyển đoạn Robersonian 1-3% + Đảo đoạn 6%
4 Xét nghiệm sàng lọc dương tính 2%
5 Siêu âm có bất thường hình thái
+ Bất thường hình thái lớn 25-30% + Bất thường hình thái nhỏ 1-3%
1.3.2.4 Chống chỉ định
- Béo phì
- U xơ tử cung nằm trên đường đi của kim chọc ối