Quy định này nêu rõ bệnh viện có quy định và tổ chức các hìnhthức tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe phù hợp và người bệnh nằm việnđược điều dưỡng viên, hộ sinh viên tư vấn, giáo dục sứ
Trang 1NGUYỄN ĐỨC LINH
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI KHOA KHÁM BỆNH
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2018
Trang 2ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Lê Thu Hòa
HÀ NỘI – 2018
Trang 3ACSI Chỉ số về sự hài lòng của khách hàng Mỹ
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Định nghĩa của sức khỏe và giáo dục sức khỏe 3
1.1.1 Các định nghĩa về sức khỏe 3
1.1.2 Giáo dục sức khỏe và mục tiêu của giáo dục sức khỏe 4
1.1.3 Vai trò của GDSK trong công tác CSSK 9
1.2 Khái niệm về nhu cầu, nhu cầu sức khỏe 11
1.2.1 Khái niệm về nhu cầu 11
1.2.2 Nhu cầu sức khỏe và các dạng nhu cầu sức khỏe 11
1.3 Sự hài lòng của người bệnh 14
1.3.1 Định nghĩa 14
1.3.2 Khung lý thuyết xác định chỉ số hài lòng của người bệnh 15
1.4 Tình hình các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về vấn đề giáo dục sức khỏe 17
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới 17
1.4.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 21
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 24
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 24
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.2.2 Cỡ mẫu 24
2.2.3 Thời gian nghiên cứu 25
2.2.4 Địa bàn nghiên cứu 25
2.2.5 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin 25
2.2.7 Các biến số, chỉ số 25
Trang 52.7.2 Cách khắc phục 28
2.8 Quản lý và phân tích dữ liệu 28
2.3 Đạo đức nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 30
3.1.1 Đặc điểm về nhân khẩu 30
3.1.2 Thông tin về hoàn cảnh khám bệnh 31
3.2 Nhu cầu giáo dục sức khỏe của người bệnh 32
3.2.1 Các mong muốn về thông tin của người bệnh khi đến khám bệnh.32 3.2.2 Chất lượng cảm nhận của người bệnh với việc GDSK 33
3.2.3 Nhu cầu về các phương tiện và thông tin về sức khỏe của người bệnh 33
3.3 Sự hài lòng của người bệnh khi được GDSK và các yếu tố liên quan 34
CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 36
4.1 Nhu cầu giáo dục sức khỏe của bệnh nhân 36
4.2 Sự hài lòng của bệnh nhân khi được giáo dục súc khỏe 36
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 36
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 25
Bảng 3.1 Các đặc điểm về nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 30
Bảng 3.2 Đặc điểm về tiền sử bệnh và thời gian mắc bệnh trung bình theo
giới (t) 31Bảng 3.3 Các thông tin người bệnh mong muốn ở mỗi lần khám bệnh 32Bảng 3.4 Chất lượng cảm nhận của người bệnh với việc GDSK 33Bảng 3.5 Nguồn thông tin bệnh nhân tìm kiếm trước khi đến gặp bác sỹ:34Bảng 3.6 Sự hài lòng của người bệnh 34
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Sự tuân thủ điều trị của người bệnh 31Biểu đồ 3.2 Lý do đến khám của người bệnh 32Biểu đồ 3.3 Các phương pháp bệnh nhân mong muốn nhân được thông tin
sức khỏe 33Biểu đồ 3.4 Các vấn đề bệnh nhân phàn nàn 35
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục sức khỏe (GDSK) có vai trò quan trọng trong công tác chămsóc sức khỏe (CSSK) cộng đồng vì thế đã được Tổ chức y tế Thế giới(TCYTTG) xếp là nội dung số một trong các nội dung về Chăm sóc sức khỏeban đầu (CSSKBĐ) [6], [40] Ở nước ta nhận thức được vai trò quan trọng củaGDSK trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế rất quantâm đến hoạt động GDSK Nghị quyết số 46- NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm
2005 của Bộ Chính trị đã khẳng định công tác thông tin, truyền thông, giáo dụcsức khỏe là một trong những nhiệm vụ quan trọng và giải pháp chủ yếu để bảo
vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới [1] Giáo dụcsức khỏe góp phần tích cực trong tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luậtcủa Đảng và Nhà nước về y tế, trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để mỗingười, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng có thể chủ động phòng bệnh, xây dựng nếpsống vệ sinh, rèn luyện thân thể, hạn chế những lối sống và thói quen có hại vớisức khỏe, phòng chống dịch bệnh và tham gia hoạt động bảo vệ, chăm sóc sứckhỏe tại cộng đồng, góp phần tạo ra sự bình đẳng trong CSSK [5]
Hiện nay ở nước ta hệ thống GDSK đã được hình thành từ tuyến trungương đến tuyến cơ sở Việc giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân ở tại các bệnhviện đóng vai trò rất quan trọng, vì đây là thời gian người bệnh dễ bị tổn thươngnhất, cần đến sự quan tâm của nhân viên y tế nhất Tư vấn, giáo dục sức khỏecho người bệnh trong bệnh viện được quy định tại Điều 4, thông tư07/2011/TT-BYT về hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnhtrong bệnh viện Quy định này nêu rõ bệnh viện có quy định và tổ chức các hìnhthức tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe phù hợp và người bệnh nằm việnđược điều dưỡng viên, hộ sinh viên tư vấn, giáo dục sức khỏe, hướng dẫn tụchăm sóc, theo dõi, phòng bệnh trong thời gian nằm viện và sau khi ra viện.Tuy nhiên, người bệnh nằm viện nội trú được có thời gian tiếp xúc với nhânviên y tế dài hơn, các vấn đề quan tâm của mình về sức khỏe sẽ được giải đáp ở
Trang 8bất cứ thời gian nào so với người bệnh đến khám bệnh Các vấn đề sức khỏemỗi khi gặp phải sẽ được giải quyết như thế nào, nhu cầu được tư vấn sức khỏecủa họ ra sao? Thực trạng việc giáo dục sức khỏe trong thời gian khám bệnhcho mỗi người bệnh liệu đã đáp ứng được nhu cầu của họ hay chưa? Mức độhài lòng của người bệnh khi được GDSK như thế nào? Đấy là các câu hỏi cần
được trả lời Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá nhu cầu
giáo dục sức khỏe của người bệnh tại khoa khám bệnh bệnh viện Đại học Y
Hà Nội” Nghiên cứu này tìm hiểu những khía cạnh thực tế hiện nay liên quan
đến nhu cầu GDSK tại bệnh viện và đề xuất các giải pháp để giải quyết nhu cầu
đó với mong muốn đẩy mạnh hoạt động GDSK tại bệnh viện Đại học Y HàNội, góp phần tích cực nâng cao sức khỏe người bệnh cũng như sức khỏe cộngđồng
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả nhu cầu GDSK của người bệnh tại Khoa Khám bệnh, bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
2 Mô tả sự hài lòng của người bệnh khi được GDSK tại Khoa Khám bệnh, bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Định nghĩa của sức khỏe và GDSK
1.1.1 Các định nghĩa về sức khỏe
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là nhân tố cơ bản trong sựphát triển của mỗi cá nhân và là bộ phận trong toàn bộ quá trình phát triển xãhội Theo tổ chức Y tế thế giới, sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện vềthể chất, tinh thần và xã hội chứ không bao gồm tình trạng có bệnh hay không
có bệnh [1] Định nghĩa này phản ánh sức khoẻ trong mối liên hệ với nhiềuyếu tố khác nhau như các điều kiện của cá nhân về thể chất, xã hội, tâm lý vàcảm xúc; các yếu tố môi trường và văn hoá Tuy nhiên, định nghĩa này đang làchủ đề của nhiều cuộc tranh cãi, đặc biệt là do thiếu giá trị của hoạt động vàvấn đề được tạo ra bởi từ “toàn diện”, nên đây vẫn là còn là vấn đề tranh cãi
mà việc thực hiện điều này đòi hỏi sự hành động của các ngành kinh tế và xãhội khác bên cạnh ngành y tế” Mục tiêu của Hội nghị Alma Ata là đến năm
2000 tất cả mọi người phải đạt được mức độ sức khoẻ cho phép họ sống mộtcuộc sống hữu ích về mặt kinh tế và xã hội Tuyên ngôn Alma-Ata cũng đãkêu gọi các quốc gia thực hiện chiến lược “Sức khoẻ cho mọi người” (“Health
Trang 10for All”) để đạt được mục tiêu này [3]
Qua hội nghị quốc tế của TCYTTG về Nâng cao sức khoẻ năm 1986,Hiến chương Ottawa qui định:“Sức khoẻ là một nguồn lực cho cuộc sốnghàng ngày, không phải là mục tiêu của cuộc sống Sức khoẻ là một khái niệmtích cực nhấn mạnh vào các nguồn lực xã hội và cá nhân, cũng như khả năng
về thể chất” [4]
Ở Việt Nam, từ năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “khíhuyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khoẻ”[5] Có thể thấy rằngkhái niệm về sức khỏe của Bác đưa ra khá tương đồng với định nghĩa về sứckhỏe của tổ chức Y tế thế giới, đó là đều phải thể hiện tình trạng thoải mái cả
về phương diện thể chất và tinh thần Bên cạnh đó, các định nghĩa về sứckhỏe, từ những khái niệm quy ước của người dân trong một vùng, lãnh thổnói với nhau cho đến những quy ước và khái niệm chính thức và được cả thếgiới coi là chuẩn chung như của TCYTTG hay tuyên ngôn Alma-Ata, đều tậptrung về các mảng chính bao gồm: trạng thái hoàn toàn thoải mái, sức khỏethể chất, sức khỏe tinh thần và bệnh tật
1.1.2 Giáo dục sức khỏe và mục tiêu của giáo dục sức khỏe
1.1.2.1 Định nghĩa giáo dục sức khỏe và nâng cao sức khỏe
Giáo dục là cơ sở của tất cả các quá trình học tập Theo từ điển tiếngViệt (tác giả Bùi Như Ý), giáo dục là sự tác động có hệ thống đến sự phát triểntinh thấn, thể chất của con người để họ đân dần có được phẩm chất và năng lựcnhư yêu cầu đặt ra GDSK giống như giáo dục nói chung, là hoạt động mangtính xã hội và áp dụng các phương pháp hợp lý để thông tin và gây tác độngđến quyết định của mỗi cá nhân và cộng đồng nhằm nâng cao sức khỏe(NCSK), bao gồm quá trình giúp đỡ, động viên để mọi người hiểu được vấn đềsức khỏe của họ và từ đó lựa chọn được cách giải quyết vấn đề thích hợp [6]
Theo WHO, GDSK là một phần của CSSK và quan tâm tới các hành vi
Trang 11sức khỏe [7] Các hành vi của con người có thể là nguyên nhân chính gây racác vấn đề về sức khỏe nhưng nó cũng có thể dựa vào đó để giải quyết vấn đềsức khỏe Bằng cách thay đổi hành vi, người bệnh có thể giải quyết và dựphòng các vấn đề sức khỏe của họ Thông qua GDSK, nhân viên y tế sẽ giúpngười bệnh nhận ra hành vi của họ và cách ảnh hưởng đến sức khỏe như thếnào, sau đó sẽ khuyến khích mọi người có lựa chọn riêng cho bản thân chomột cuộc sống khỏe mạnh mà không thúc ép người bệnh phải bắt buộc thayđổi GDSK không thay đổi được các dịch vụ sức khỏe khác, nhưng nó cầnđược sử dụng ưu tiên hơn các dịch vụ khác Lấy một ví dụ về vấn đề tiêmchủng: các nhà khoa học tạo ra nhiều loại vaccin để phòng ngừa nhiều bệnhtật, tuy nhiên là mục đích không thể đạt được nếu như mọi người không nhậnđược những mũi tiêm này Nhờ giáo dục người bệnh về lợi ích của tiêmchủng trước khi thực hiện các dịch vụ khác để tiêm chủng đạt được nhữngthành tựu như hiện nay.
GDSK là một quá trình thường xuyên, liên tục và lâu dài, nó tác động
đến ba lĩnh vực của đối tượng được GDSK: kiến thức của đối tượng về vấn đề sức khỏe, thái độ của đối tượng đối với vấn đề sức khỏe và thực hành hay
hành vi ứng xử của đối tượng để giải quyết vấn đề sức khỏe, bệnh tật [12],[14].Như vậy: GDSK cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng đượcgiáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ đó họ có thể nhận
ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồngnơi họ đang sinh sống, dẫn đến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnhtật sức khỏe
Thuật ngữ “ Nâng cao sức khỏe” được sử dụng ngày càng rộng rãi do
sự chú ý vào nhu cầu cả GDSK và các hành động khác trong đó có các hànhđộng chính trị ảnh hưởng đến sức khỏe Tại cuộc họp ở Canada năm 1986,TCYTTG đã đưa ra tuyên ngôn Ottawa về nâng cao sức khỏe Tuyên ngôn đã
Trang 12chỉ ra rằng: “Nâng cao sức khỏe là quá trình giúp mọi người có đủ khả năngkiểm soát toàn bộ sức khỏe và tăng cường sức khỏe của họ Để đạt được tìnhtrạng hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, các cá nhân haynhóm phải có khả năng xác định và hiểu biết các vấn đề sức khỏe của mình vàbiến những hiểu biết thành hành động để đối phó được với những thay đổi củamôi trường tác động đến sức khỏe” [4]
GDSK là một bộ phận quan trọng nhất của NCSK và bao gồm sự kếthợp các yếu tố để thúc đẩy áp dụng các hành vi NCSK, giúp mọi người đưa racác quyết định về sức khỏe của họ và thu được các kĩ năng và sự tự tin cầnthiết để thực hành các quyết định chăm sóc và bảo vệ sức khỏe GDSK tácđộng đến nhiều hoạt động của NCSK Có thể tóm tắt mối liên quan giữaGDSK và NCSK như sơ đồ dưới đây:
Trang 13thành cần phải có sự làm việc cùng nhau một cách có hiệu quả của ngườicung cấp dịch vụ sức khỏe và chính bản thân người bệnh [7] CSSKBĐ tìmkiếm sự đáp ứng các nhu cầu sức khỏe thiết yếu cho càng nhiều người càngtốt, với một mức giá thấp nhất có thể Nó bao gồm các công việc trong cáctrung tâm sức khỏe, phòng khám, nơi cấp phát thuốc, các bệnh viện cho từngcộng đồng dân cư Nhưng nó cũng bao gồm những gì mà từng cá nhân và giađình của họ có thể làm được Giáo dục sức khỏe và truyền thông đặc biệtquan trọng trong nội dung của chăm sóc sức khỏe ban đầu, nó đóng vai trònhư là một yếu tố trọng tâm Thực tế rằng, cá nhân và gia đình chứ khôngphải là các bác sỹ hay các người cung cấp dịch vụ sức khỏe khác đưa ra cácquyết định quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe của họ Các bà mẹ quyết địnhcác thức ăn đến gia đình của họ và cách chế biến như thế nào Gia đình thìquyết định khi nào đến gặp bác sỹ hoặc phòng khám, khám chữa bệnh ở đâu
và có hay không theo các chỉ dẫn nhận được từ nhân viên y tế Để có đượccác quyết định đúng đắn về chăm sóc sức khỏe mỗi người cần có hiểu biếtnhất định về sức khỏe và bệnh tật Vì vậy, đẩy manh công tác GDSK là biệnpháp quan trọng giúp mọi người dân nâng cao kiến thức về chăm sóc sứckhỏe, phòng chống bệnh tật, tai nạn, từ đó có cách nhìn nhận vấn đề sức khỏe,bệnh tật đúng mực và chủ động hành động đúng đắn vì sức khỏe của chínhmình và của những người khác,
1.1.2.3 Các mục tiêu của giáo dục sức khỏe và cách để đạt mục tiêu
Các mục tiêu chính của GDSK cho người bệnh là nhằm mục tiêu giúphọ: (1) nhận ra được các vấn đề sức khỏe của bản thân, xác định nhu cầu;(2)hiểu được là họ có thể làm gì với những vấn đề sức khỏe như thế với nhữngnguồn lực sẵn có kết hợp với sự giúp đỡ từ bên ngoài;(3) quyết định các hànhđộng phù hợp để nâng cao sức khỏe cho bản thân và cho cộng đồng [7]
Giáo dục sức khỏe chính là quá trình dạy học có mối quan hệ qua lại 2chiều GDSK không chỉ là cung cấp thông tin một chiều mà là quá trình tác
Trang 14động qua lại hai chiều và hợp tác giữa người giáo dục sức khỏe và đối tượngđược giáo dục sức khỏe Ở đây vai trò của GDSK là tạo những hoàn cảnhthuận lợi cho mọi người tự giáo dục mình, biến quá trình giáo dục thành quátrình tự học, quá trình đó diễn ra thông qua sự nổ lực của người bệnh (đốitượng được giáo dục sức khỏe) với sự giúp đỡ, tạo ra hoàn cảnh thuận lợi củangười dạy Người làm công tác GDSK không chỉ dạy cho người bệnh củamình mà còn học từ người bệnh của mình Thu nhận thông tin phản hồi là vấn
đề hết sức quan trọng mà người làm công tác GDSK cần phải hết sức coitrọng, để kịp thời điều chỉnh bổ sung những thông tin thiếu sót làm cho cácchương trình giáo dục sức khỏe thêm sinh động và thu hút sự quan tâm củacộng đồng
Nhân viên y tế có thể thành công trong việc GDSK nhờ các cách sau:
- Nói chuyện với người bệnh và lắng nghe vấn đề của họ
- Đưa ra các hành vi hoặc hành động có thể là nguyên nhân gây bệnh,
là cách điều trị hoặc là dự phòng các vấn đề này
- Tìm ra nguyên nhân của các hành vi này: niềm tin, ý tưởng của bạn
bè, thiếu tiền hoặc những vấn đề khác
- Giúp người bệnh nhìn thấy được nguyên nhân của các hành động này
Trang 15có của các nguồn lực, hiệu quả của các lãnh đạo địa phương, sự hỗ trợ xã hội
từ các thành viên trong gia đình, kĩ năng tự giải quyết các vấn đề Vì vậy,GDSK cần sử dụng nhiều cách thức để giúp người bệnh trong từng tình huống
và lựa chọn các hành động phù hợp để cải thiện sức khỏe của mình [7]
1.1.3 Vai trò của GDSK trong công tác CSSK
Để đẩy mạnh công tác CSSK nói chung và CSSKBĐ nói riêng có thể lựachọn hai giải pháp, giải pháp thứ nhất là đầu tư cho đào tạo nhiều loại hình cán
bộ y tế để mở rộng thực hiện các nhiệm vụ CSSK cho nhân dân; giải pháp thứhai là cung cấp các kiến thức, nâng cao trình độ hiểu biết để mọi người có thể
tự CSSK cho mình, cho gia đình và cho cộng đồng Thực tế cho thấy các cánhân, gia đình và cộng đồng đưa ra hầu hết các quyết định CSSK cho họ chứkhông phải cán bộ y tế Chính vì vậy, giải pháp thứ hai mang tính khả thi cao,được nhiều người ủng hộ vì giá thành đầu tư thường thấp và được nhân dânchấp nhận Lựa chọn giải pháp thứ hai có nghĩa là phải đẩy mạnh các hoạtđộng GDSK vì GDSK là quá trình giúp đỡ, động viên để mọi người hiểu vàchọn được cách giải quyết thích hợp nhất vấn đề sức khỏe của họ [9], [6],[7]
GDSK là một quá trình cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, lâudài, kết hợp nhiều phương pháp Hoạt động GDSK không phải chỉ đơn thuần làphát đi các thông tin hay thông điệp về sức khỏe, hay cung cấp thật nhiều thôngtin về sức khỏe cho mọi người, mà là quá trình tác động có mục đích, có kếhoạch vào con người nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và cách thực hành củamỗi người nhằm NCSK cho họ và cho cả cộng đồng Hoạt động GDSK thựcchất là tạo ra môi trường hỗ trợ cho quá trình thay đổi hành vi sức khỏe củamỗi người nhằm đạt được tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể được [10]
Sự tập trung của GDSK là vào lý trí, tình cảm và các hành động nhằmthay đổi hành vi có hại, thực hành hành vi có lợi mang lại cuộc sống khỏemạnh, hữu ích cho mọi người GDSK cũng là phương tiện hỗ trợ nhằm
Trang 16phát triển ý thức con người, phát huy tính tự lực cánh sinh và chủ động phòngngừa và giải quyết vấn đề sức khỏe của cá nhân và cộng đồng [11]
Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị
xác định rõ vai trò của GDSK trong tình hình mới: Tạo sự chuyển biến rõ rệt
về nhận thức, trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác bảo
vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, trang bị kiến thức và kỹ năng để mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng có thể chủ động phòng bệnh, xây dựng nếp sống vệ sinh, rèn luyện thân thể, hạn chế những lối sống và thói quen có hại với sức khỏe, tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ chăm sóc
và nâng cao sức khỏe nhân dân ” [12].
Nhiệm vụ của GDSK là làm cho mọi người thay đổi các hành vi sứckhỏe có hại, thực hành các hành vi, lối sống lành mạnh Quá trình thay đổihành vi thường diễn ra một cách phức tạp, quá trình này chịu tác động của rấtnhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, diễn ra qua nhiều giai đoạn [9], [6], [11].Hầu hết các vấn đề sức khỏe không thể chỉ giải quyết bằng thuốc hay cácphương pháp điều trị, mà cần kết hợp với các biện pháp khác trong đó có vaitrò quan trọng của GDSK và các hoạt động tư vấn hỗ trợ thay đổi hành vi vàduy trì hành vi lành mạnh [13],[14]
Hoạt động GDSK không thay thế được các dịch vụ CSSK khác, nhưng
nó góp phần nâng cao hiệu quả của các dịch vụ CSSK khác Đầu tư cho GDSKchính là đầu tư có chiều sâu, lâu dài cho công tác bảo vệ và NCSK Hoạt độngGDSK thể hiện quan điểm dự phòng trong CSSK, mang lại hiệu quả lâu dài,bền vững vì nếu mọi người có hiểu biết và có những kỹ năng nhất định vềphòng chống bệnh tật, NCSK, họ có thể chủ động quyết định hành vi CSSKđúng đắn Hiện nay, rất nhiều chương trình CSSK sẽ không thể thành côngnếu không chú trọng đến vai trò của GDSK nhằm thay đổi các hành vi liênquan đến sự tồn tại của các vấn đề sức khỏe, bệnh tật
Trang 171.2 Khái niệm về nhu cầu, nhu cầu sức khỏe
1.2.1 Khái niệm về nhu cầu
Theo bách khoa toàn thư, nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của conngười, là đòi hỏi, mong muốn, và đòi hỏi của con người về vật chất và tinh thần
để tồn tại và phát triển Tuy nhiên, theo trình độ nhận thức, môi trường sống,những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi con người có những nhu cầu khác nhau [15]
Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu.Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa họcthường có những định nghĩa mang tính riêng biệt Trong phạm vi nhận thức
hiện tại có thể định nghĩa nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện
trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống Nhu cầu tối thiểu, hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa.
Aristotle đã cho rằng con người có hai loại nhu cầu chính: thểxác và linh hồn Sự phân loại này mang tính ước lệ lớn nhưng nó ảnh hưởngđến tận thời nay và người ta quen với việc phân nhu cầu thành "nhu cầu vậtchất" và "nhu cầu tinh thần" Ngoài ra còn tồn tại nhiều kiểu phân loại khácdựa trên những đặc điểm hay tiêu chí nhất định Phân loại Maslow chia cấutrúc nhu cầu cá nhân thành 5 mức độ từ thấp đến cao: sinh lý, an toàn, xã hội,tôn trọng, tự thể hiện Năm cấp bậc nhu cầu ấy được sắp xếp theo hình thóphay hình bậc thang với thứ tự như trên thể hiện quan điểm rằng sự thỏa mãnnhu cầu là từ thấp đến cao[16]
1.2.2 Nhu cầu sức khỏe và các dạng nhu cầu sức khỏe
Bác sỹ, các nhà xã hội học, triết học gia và các nhà kinh tế đều cónhững cái nhìn khác nhau về nhu cầu Trong việc xác định sự thiếu thốn củacác nguồn lực có sẵn để đáp ứng nhu cầu, nhu cầu sức khỏe thường khác bởi
là nhu cầu, sự đòi hỏi và sự cung cấp Nhu cầu trong chăm sóc sức khỏe
Trang 18thường được định nghĩa là các khả năng để đạt được các lợi ích về sức khỏe.Nếu nhu cầu sức khỏe được xác định rõ ràng thì các can thiệp có thể sẵn có đểđáp ứng các nhu cầu này và cải thiện sức khỏe Sẽ không có các lợi ích từ cáccan thiệp nếu nó không hiệu quả và không có các nguồn lực sẵn có Sự đòihỏi là những gì bệnh nhân yêu cầu, nó là các nhu cầu được bác sỹ xác định.Bác sỹ lâm sàng đa khoa hay các bác sỹ gia đình đóng vai trò như là ngườigiữ cổng để kiểm soát các nhu cầu này và ảnh hưởng đến sự đòi hỏi này củabệnh nhân Nhu cầu của người bệnh đối với một loại dịch vụ có thể phụ thuộcvào đặc điểm của từng nhóm bệnh nhân hoặc các lợi ích từ các phương tiệntruyền thông Nhu cầu có thể được tạo ra bởi sự cung cấp: sự khác nhau giữacác vùng miền về tỷ lệ nhập viện được giải thích nhiều bởi sự cung cấp sốlượng giường bệnh hơn là các chỉ điểm về tỷ lệ mắc bệnh [17]
Nhu cầu sức khỏe là trạng thái, điều kiện hoặc các yếu tố mà thiếu nó
sẽ cản trở con người đạt được một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất,tâm thần và xã hội Ví dụ như việc cung cấp các dịch vụ sức khỏe, môi trường
an toàn, hành vi khỏe mạnh của bàn thân và sự trợ giúp của xã hội Đánh giánhu cầu sức khỏe là nghiên cứu có tính hệ thống về chất lượng cuộc sống,tình trạng sức khỏe và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như hành visức khỏe và môi trường (Bartholomew, 2000) Đánh giá nhu cầu sức khỏecũng là cách tiếp cận có hệ thống để đảm bảo rằng các dịch vị chăm sóc sứckhỏe sử dụng các nguồn lực để cải thiện sức khỏe cho một quần thể dân sốnhất định Nó bao gồm các phương pháp đánh giá về mặt dịch tễ, định lượng
và so sánh để mô tả các vấn đề sức khỏe, tìm ra những yếu tố bất bình đẳngtrong tiếp dận các dịch vụ sức khỏe cũng như xác định các vấn đề ưu tiên chohàu hết các cách sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực [18]
Đánh giá nhu cầu sức khỏe bao gồm phân tích các yếu tố nguy cơ vềsinh lý học, hành vi và môi trường ảnh hưởng tới sức khỏe, ngay cả khi cácvấn đề sức khỏe chưa xuất hiện Thực hiện đánh giá nhu cầu sức khỏe nhằm:
Trang 19- Xác định vấn đề sức khỏe của cộng đồng cũng như từng cá nhân, xemxét các nhu cầu đặc biệt của nhóm người gặp khó khăn, dễ bị tổn thương hoặccác nhóm người có nhu cầu sức khỏe chưa được đáp ứng đầy đủ.
- Xác định phạm vi, mức độ trầm trọng của các vấn đề sức khỏe
- Xác định nhóm đối tượng đích mà chương trình can thiệp cần tác động
- Xác định các yếu tố nguy cơ: hành vi cá nhân, môi trường tự nhiên,khinh tế, xã hội, luật pháp, tổ chức
- Có sơ sở bằng chứng để xây dưng mục tiêu can thiệp và các chiếnlược/ giải pháp phù hợp
Các dạng của nhu cầu sức khỏe:
-Nhu cầu chuẩn tắc: được xác định bởi các chuyên gia Nhu cầu này cóthể được điều chỉnh theo các nghiên cứu khoa học
-Nhu cầu được biểu lộ: là nhu cầu được xác định thông qua quan sát,nhận xét việc sử dụng các dịch vụ sức khỏe của người dân Việc xác địnhcũng có thể dựa vào số liệu thống kê, danh sách khách hàng chờ ở các dịch vụhoặc phỏng vấn những người cung cấp dịch vụ
-Nhu cầu cảm nhận: là những gì người bệnh biết họ muốn có hoặc nghĩrằng đó là những vấn đề cần được giải quyết Những phương pháp chung để
để đánh giá loại nhu cầu này là là điều tra, tìm hiểu quan điểm, ý kiến củangười bệnh hoặc qua những buổi nói chuyện hoặc họp cộng đồng
-Nhu cầu so sánh: được xem xét dựa trên cơ sở dịch vụ đã được cung cấpcho một khu vực trên một đối tượng cụ thể và sử dụng dịch vụ ày để xác địnhnhu cầu sử dụng dịch vụ trên một số dối tượng tương tự ở một địa phương khác Hầu hết các bác sỹ đã từng đánh giá nhu cầu sức khỏe ở các bệnh nhân của
họ Qua các kinh nghiệm được đào tạo cũng như khám chưa bệnh, họ đã pháttriển được một cách tiếp cận có hệ thống đối với việc đánh giá đấy và họ sửdụng nó trước khi bắt đầu đầu điều trị Tuy nhiên việc dánh giá có hệ thốngthường bị bỏ qua khi đánh gá nhu cầu sức khỏe trên một cộng đồng dân cư [18]
Trang 201.3 Sự hài lòng của người bệnh
1.3.1 Định nghĩa
Theo quan điểm mới hiện nay, để đổi mới toàn diện về phong cách, thái
độ phục vụ người bệnh, cán bộ y tế phải thay đổi nhận thức, coi người bệnh làtrung tâm; người bệnh là khách hàng và cơ sở y tế là đơn vị cung cấp dịch vụcho khách hàng, phải cung cấp dịch vụ tốt nhất [19],[20]
Có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau về sự hài lòng của khách hàng
Sự hài lòng của khách hàng là phản ứng của họ về sự khác biệt cảm nhận giữakinh nghiệm đã biết và sự mong đợi Nghĩa là, kinh nghiệm đã biết của kháchhàng khi sử dụng một dịch vụ và kết quả sau khi dịch vụ được cung cấp Cụ thểnhất, sự hài lòng của khách hàng là tâm trạng, cảm giác của khách hàng về mộtcông ty khi sự mong đợi của họ được thỏa mãn hay đáp ứng vượt mức trongsuốt vòng đời của sản phẩm hay dịch vụ Khách hàng đạt được sự thỏa mãn sẽ
có được lòng trung thành và tiếp tục sản phẩm của công ty
Một lý thuyết thông dụng để xem xét sự hài lòng của khách hàng là lýthuyết “Kỳ vọng – Xác nhận” Lý thuyết được phát triển bởi Oliver (1980) vàđược dùng để nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng củacác dịch vụ hay sản phẩm của một tổ chức [21] Lý thuyết đó bao gồm hai quátrình nhỏ có tác động độc lập đến sự hài lòng của khách hàng: kỳ vọng vềdịch vụ trước khi mua và cảm nhận về dịch vụ sau khi đã trải nghiệm Theo lýthuyết này có thể hiểu sự hài lòng của khách hàng là quá trình như sau:
-Trước hết, khách hàng hình thành trong suy nghĩ của mình những kỳvọng về những yếu tố cấu thành nên chất lượng dịch vụ mà nhà cung cấp cóthể mang lại cho họ trước khi các khách hàng quyết định mua
-Sau đó việc mua dịch vụ và sử dụng dịch vụ đóng góp vào niềm tinkhách hàng về hiệu năng thực sự của dịch vụ mà họ đang sử dụng
-Sự thỏa mãn đi đến sự hài lòng của khách hàng chính là kết quả của sự
so sánh hiệu quả mà dịch vụ này mang lại giữa những gì mà họ kỳ vọng trướckhi mua dịch vụ và những gì mà họ đã nhận được sau khi sử dụng nó
Trang 21(Perceived quality)
Sự trung thành
(Customer loyalty)
1.3.2 Khung lý thuyết xác định chỉ số hài lòng của người bệnh
Chỉ số hài hài lòng của khách hàng bao gồm các yếu tố được cấu thành từnhiều yếu tố cụ thể đặc trưng của sản phẩm hoặc dịch vụ Sự hài lòng kháchhàng được định nghĩa như là một sự đánh giá toàn diện về sự sử dụng một dịch
vụ hoặc hoạt động sau bán của doanh nghiệp và đây chính là điểm cốt lõi của môhình ACSI (mô hình chỉ số hài lòng của khách hàng Mỹ) Xung quanh biến sốnày là hệ thống các mối quan hệ nhân quả xuất phát từ những biến số khởi tạo
như sự mong đợi (expectations) của khách hàng, hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm, chất lượng cảm nhận (perceived quality) và giá trị cảm nhận
(perceived value) về sản phẩm hoặc dịch vụ kèm theo đến các biến số kết quả
của sự hài lòng như sự trung thành (customer loyalty) hay sự than phiền của
khách hàng (customer complaints).
Hình 1.2 Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ
(American Customer Satisfaction Index – ACSI)
Mô hình ACSI có nhiều dạng khác nhau được sử dụng trong các lĩnhvực khác nhau Trong CSSK, để đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân đã được
ra viện và so sánh với những năm về trước cũng như các đơn vị CSSK khác,Trung tâm Y tế cho thương binh ở Mỹ tiến hành khảo sát sự hài lòng củabệnh nhân dự trên mô hình ACSI [22]
Trang 22Hình 1.3 Mô hình chỉ số hài lòng của bệnh nhân [22]
Mô hình ACSI giải thích chất lượng cảm nhận chịu ảnh huởng trực tiếpcủa (1) thông tin, (2) sự thoải mái về thể chất, (3) chất lượng các dịch vụ Sựhài lòng của người bệnh chịu ảnh huởng trực tiếp từ 2 yếu tố: (1) chất lượngcảm nhận, (2) sự mong đợi của người bệnh Sự hài lòng của người bệnh đếnlượt nó lại ảnh hưởng trực tiếp tới sự trung thành của khách hàng và các thanphiền của họ Trong đó:
Thông tin là những điều mà bệnh nhân cần biết về bệnh tật của mìnhnhư là bệnh đang mắc phải, cách chữa trị, chi phí điều trị như thế nào…Ngoàicác thông tin đấy, người bệnh cần biết mục đích của các xét nghiệm cần làm,
vs kết quả của các xét nghiệm đó như thế nào Ngoài ra cần cung cấp thêmnhững thông tin bệnh nhân đang quan tâm Nó có tầm ảnh hưởng lớn đến chấtlượng cảm nhận của người bệnh đối với dịch vụ mình đang sử dụng
Thông
của bệnh nhân Chất lượng
cảm nhận
Sự thoải mái về
người bệnh
Sự trung thành của bệnh nhân
Sự mong đợi của người bệnh Các dịch
vụ
Trang 23Sự mong đợi là thể hiện sự mong đợi, kỳ vọng của bệnh nhân muốnnhận được khi sử dụng dịch vụ khi người bệnh tiếp đến khám bệnh Sự mongđợi có ảnh hưởng đến chất lượng cảm nhận về dịch vụ, sự đáp ứng bằng hoặcvượt mức kỳ vọng thì chất lượng cảm nhận sẽ lớn và ngược lại
Chất lượng cảm nhận là sự đánh giá của bệnh nhân so với kỳ vọng vềdịch vụ nhận được, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của bệnh nhân.Chất lượng cảm nhận của bệnh nhân càng cao thì sự hài lòng về dịch vụ cũngcao và ngược lại Giá trị cảm nhận: Là mức độ đánh giá/cảm nhận đối vớichất lượng dịch vụ so với giá phải trả hay kỳ vọng về việc mình được đáp ứng
so với các chi phí bỏ ra để sử dụng dịch vụ
Sự hài lòng khách hàng: Là sự phản ứng của bệnh nhân đối với việcđược đáp ứng các mong muốn khi sử dụng dịch vụ Sự hài lòng của bệnhnhân là kết quả của thỏa mãn các lợi ích như kỳ vọng của khách hàng về dịch
vụ Sự trung thành: là việc tiếp tục sử dụng dịch vụ của bệnh viện một cách tựnguyện do được đáp ứng những giá trị kỳ vọng khi sử dụng các dịch vụ
Rõ ràng, điểm mạnh của cách tiếp cận này là nó làm dịch chuyển ngaykinh nghiệm khám chữa bệnh, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu mối quan hệnhân quả đối giữa các yếu tố cấu thành sự hài lòng và sự trung thành của bệnhnhân Do vậy, mục tiêu đầu tiên của việc tiếp cận theo cấu trúc ACSI là việcgiải thích sự trung thành của bệnh nhân việc khám chữa bệnh nói riêng haymột bệnh viện nói chung thông qua chỉ số hài lòng khách hàng khi chịu sự tácđộng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi sự mong đợi, chất lượng cảm nhận (về sảnphẩm hoặc dịch vụ) và giá trị cảm nhận đối với sản phẩm và dịch vụ đó
1.4 Tình hình các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về vấn đề giáo dục sức khỏe
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu phân tích về thực trạng cũng như nhu cầu hoạt độngGDSK cũng như những phân tích về hiệu quả, các ưu điểm và nhược điểm của
Trang 24các mô hình thực hiện GDSK ở các nước trên thế giới còn rất ít Lý do là mỗinước trên thế giới có cấu trúc tổ chức hệ thống y tế khác nhau, các báo cáothường chỉ mang tính chất quốc gia, thậm chí chỉ bó hẹp trong một khu vực nào
đó của một nước, vì vậy ít được phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, một số nghiêncứu trên thế giới đã chỉ ra rằng tư vấn giáo dục sức khỏe và nâng cao sức khỏe
đã tương đối phát triển ở các nước Tây Âu, Canada và Mỹ nhưng chưa phát triển
ở các nước ở Đông Âu và đặc biệt ở các nước châu Á [Zeman, 2004]
Trong một nỗ lực được đưa ra nhằm tìm hiểu người bệnh hiểu như thếnào về giáo dục sức khỏe bằng cách gửi cho họ bộ câu hỏi điều tra tới cácngười bệnh được lựa chọn ngẫu nhiên từ danh sách của các bác sỹ ở Scotland,Anh và Xứ Wales Có 24 đơn vị Bác sỹ Đa khoa/ Bác sỹ gia đình của trườngĐai học hoàng gia được lựa chọn cho bản phỏng vấn này, bộ câu hỏi được thư
kí đưa đến cho các bác sỹ với mỗi bác sỹ 10 bộ câu hỏi đưa đến cho bệnhnhân của mình 1 cách ngẫu nhiên trong độ tuổi từ 20 đến 75 Có 16/24 đơn vịnhận được sự phản hồi với 534 bộ câu hỏi đã được hoàn thành 534 bộ câu hỏiđiều tra này được phân tích để đưa ra ý kiến về nhu cầu tư vấn sức khỏe của 1vùng dân cư [23]
Trong nghiên cứu về nhu cầu giáo dục sức khỏe ở bệnh nhân đái tháođường, với mục tiêu là xác định được nhu cầu của bệnh nhân thông qua cácđánh giá theo mức độ hiểu biết Bộ câu hỏi nghiên cứu bao gồm 54 câu hỏiđược đưa đến 130 bệnh nhân đái tháo đường trong độ tuổi từ 20 trở lên liênquan đến các vấn đề thông tin chung của bệnh nhân, các câu hỏi về các kiếnthức của bệnh nhân về bệnh này, các biến chứng, cách tự kiểm soát, lối sống,
lo lắng về các nguồn lực, khả năng tham gia các cuộc gặp nhằm tư vấn giáodục sức khỏe trong việc đối phó với bệnh đái tháo đường Nghiên cứu đã chỉ
ra có tới 54,6% bệnh nhân đái tháo đường type 1 không hiểu cơ chế của ĐTĐtyp 1, trong khi 39,2% bệnh nhân không hiểu bản chất của ĐTĐ type 2,