NGUYỄN THẾ CƯỜNGKHẢO SÁT THỰC TRẠNG HIỂU BIẾT VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ SỬ DỤNG THUỐC CỦA NHÓM NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ HƯNG YÊN NĂM 20
Trang 1NGUYỄN THẾ CƯỜNG
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG HIỂU BIẾT VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ SỬ DỤNG THUỐC CỦA NHÓM NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ HƯNG YÊN NĂM 2018
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI – 2018
Trang 2NGUYỄN THẾ CƯỜNG
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG HIỂU BIẾT VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ SỬ DỤNG THUỐC CỦA NHÓM NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ HƯNG YÊN NĂM 2018
Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã số:
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TS.BS: Lê Hồng Phú
HÀ NỘI – 2018
Trang 3ĐM : Động mạch.
HATT : Huyết áp tâm thu
HATTr : Huyết áp tâm trương
ISH : International Society of hypertension
(Hội tăng huyết áp quốc tế)
JNC : Join National Committee
(Ủy ban phòng chống tăng huyết áp Hoa Kỳ)
LDL-Cholesterol : Cholesterol có tỷ trọng thấp
NCKH : Nghiên cứ khoa học
NMCT : Nhồi máu cơ tim
TBMN : Tai biến mạch não
TĐHV : Trình độ học vấn
TTYT TP : Trung tâm y tế thành phố
WHO : World health organization (Tổ chức y tế thế giới).YTNC : Yếu tố nguy cơ
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Đại cương về THA 3
1.1.1 Định nghĩa và phân loại THA 3
1.2 Các yếu tố liên quan đến THA 5
1.3 Biểu hiện lâm sàng của THA 7
1.4 Biến chứng THA 8
1.5 Phòng và điều trị THA 8
1.5.1 Chế độ điều trị không dùng thuốc 8
1.5.2 Điều trị bằng dùng thuốc 8
1.6 Tình hình THA và điều trị THA 9
1.6.1 Trên thế giới 9
1.6.2 Việt Nam 9
1.7 Thực trạng hiểu biết THA 10
1.8 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tuân thủ điều trị của người bệnh 11
1.8.1 Yếu tố người bệnh 11
1.8.2 Yếu tố thầy thuốc 12
1.8.3 Yếu tố thuốc men 12
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn lựa 13
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 13
2.2 Địa điểm nghiên cứu 13
2.3 Thời gian nghiên cứu 13
2.4 Phương pháp nghiên cứu 13
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 13
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu và cách chọn 13
Trang 52.5.2 Biến số chỉ số với mục tiêu 2 16
2.6 Phương pháp thu thập thông tin 16
2.6.1 Công cụ thu thập thông tin 16
2.6.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 16
2.6.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán THA 17
2.7 Phương pháp xử lý số liệu 17
2.8 Sai số và cách khống chế sai số 18
2.8.1 Các sai số 18
2.8.2 Cách khắc phục 18
2.9 Đạo đức nghiên cứu 18
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 20
3.2 Thực trạng hiểu biết tăng huyết áp 21
3.2.1 Phân loại mức độ hiểu biết THA 21
3.2.2 Thực trạng hiểu biết về yếu tố nguy cơ 22
3.2.3 Thực trạng hiểu biết về biến chứng 23
3.2.4 Thực trạng hiểu biết về dự phòng 24
3.2.5 Thực trạng hiểu biết chung về THA 25
3.2.6 Nguồn hiểu biết về THA 25
3.3 Thực trạng điều trị tăng huyết áp 26
3.4 Mối liên quan về trung bình điểm của 3 nhóm hiểu biết với những người điều trị THA và không điều trị hoặc không bị THA 28
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 29
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 30
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Bảng Trang
Bảng 1.1 Phân độ tăng huyết áp theo WHO/ISH 2004 3
Bảng 1.2 Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay 4
Bảng 1.3 Phân độ THA theo JNC VII năm 2003 4
Bảng 2.1 Bảng phân loại mức độ hiểu biết 15
Bảng 2.2 Phân độ tăng huyết áp ở người trưởng thành 17
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính 20
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 20
Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp 20
Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 21
Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo loại hình bảo hiểm 21
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa các mức độ hiểu biết về yếu tố nguy cơ với tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp 22
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa các mức độ hiểu biết về biến chứng với tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp 23
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa các mức độ hiểu biết về dự phòng THA với tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp 24
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa các mức độ hiểu biết chung về THA với tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp 25
Bảng 3.10 Tình hình THA của đối tượng nghiên cứu 26
Bảng 3.11 Liên quan giữa tỷ lệ điều trị THA với một số đặc điểm nghiên cứu 26
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa các mức độ tuân thủ điều trị 27
Trang 7
Biểu đồ Trang Biểu đồ 3.1 Phân loại mức độ hiểu biết về THA của đối tượng nghiên cứu 21 Biểu đồ 3.2 Nguồn hiểu biết về THA của hai nhóm được chẩn đoán THA
và nhóm chưa được chẩn đoán hoặc không bị THA 25
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ THA phân theo độ THA 27
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu điều trị THA lựa chọn chế độ điều trị 28
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu điều trị THA lựa chọn cách điều trị 28
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ người dân điều trị THA lựa chọn cơ sở điều trị 28
Biểu đồ 3.7 Hiểu biết trung bình của ba nhóm hiểu biết ở đối tượng đã được
chẩn đoán THA và đối tượng không THA hoặc chưa được chẩnđoán THA 28
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh thường gặp và đang có xu hướngngày càng tăng ở hầu hết các nước trên thế giới Ước tính hiện nay có khoảng
1 tỷ người bị tăng huyết áp và khoảng 9.4 triệu trường hợp tử vong mỗi năm
do tăng huyết áp Theo dự báo trong tương lai gần thì ước tính năm 2025 sốngười mắc THA khoảng 1.56 tỉ (tăng ≈60%) [27]
THA nếu không điều trị liên tục hoặc không đúng yêu cầu thì gây rấtnhiều tổn thương cho cơ quan đích và để lại nhiều biến chứng nguy hiểm như:não (tai biến mạch não, xơ cứng mạch não), tim (nhồi máu cơ tim, suy tim),thận (suy thận), mắt (phù gai thị, mất thị lực)[1]… Những biến chứng này đãcướp đi nhiều sinh mạng và làm cho nhiều người bệnh (NB) chịu di chứng tànphế suốt đời, để lại gánh nặng cho cuộc sống từng gia đình và xã hội
Tại Việt Nam, theo thống kê năm 2015 của Hội tim mạch học ViệtNam có 52.8% người Việt có HA bình thường, 47.3% người Việt Nam bịTHA (trong đó có 39.1% người bệnh không được phát hiện bị THA, 7.2% bịTHA không được điều trị , 69.0% bị THA chưa kiểm soát được) [45]
Ngay như tại Hoa Kỳ, theo số liệu của ban điều tra sức khỏe và dinhdưỡng quốc gia 1992 – 1994 cho thấy trong số các bệnh nhân THA có 27%được kiểm soát tốt, 54% được điều trị nhưng không kiểm soát tốt, 15% cóTHA nhưng không được điều trị và 32% không biết là mình bị THA[35] Đếnnăm 2007 – 2010 tình hình có cải thiện nhưng vẫn chưa đạt mức yêu cầu, có82% NB nhận thức được tình trạng bệnh của họ, 75% đang sử dụng thuốc hạ
áp nhưng chỉ 53% được kiểm soát huyết áp ở mức mục tiêu.[49]
Bệnh THA được coi là “kẻ giết người thầm nặng” bởi nhiều bệnh nhânchỉ điều trị khi thấy khó chịu điều trị từng đợt hoặc sau khi đã bị các tai biến
Lý do chính là trình độ dân trí của người dân chưa cao, thói quen của người
Trang 9dân chỉ đi khám bệnh khi thấy trong người khó chịu thậm chí là khi bị các taibiến Có thể do người dân thiếu thông tin để hiểu biết về bệnh, do điều kiệnkinh tế khó khăn, chưa có thói quen kiểm tra sức khỏe định kỳ và chưa đượcgiáo dục sức khỏe một cách thường xuyên.
Bên cạnh đó danh mục các thuốc hạ áp ngày càng nhiều, sự đáp ứngthuốc phụ thuộc vào sự hấp thu của từng người bệnh nên công tác điều trị vàkiểm soát bệnh đặt ra cho toàn thể cộng đồng và ngành y tế Do vậy chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát thực trạng hiểu biết và tuân thủ điều trị sử dụng thuốc của nhóm người bệnh tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan tại Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên 2018” nhằm đạt được
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Đại cương về THA
1.1.1 Định nghĩa và phân loại THA
1.1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp
Theo Tổ chức Y tế Thế giới: Tăng huyết áp là tăng áp lực hệ thống độngmạch Khi đo huyết áp theo phương pháp Korotkoff: Một người lớn được gọi làTHA khi huyết áp tối đa, huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/ hoặc huyết
áp tối thiểu, huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg Khi đo HA liên tục 24giờ huyết áp trung bình (HATB) 24 giờ ≥ 135/85 mmHg [1], [3], [42]
1.1.1.2 Phân loại THA: [1].
- Phân loại theo nguyên nhân THA
+ THA tiên phát : (Primary hypertension, essential hypertension) là THAchưa rõ nguyên nhân chiếm khoảng 90 – 95% những trường hợp THA.[1]
+ THA thứ phát: (secondary hypertension) là THA xác định đượcnguyên nhân gây ra như: bệnh thận mạn tính, hẹp động mạch thận, cườngaldosterol tiên phát, hội chứng cushing, u tủy thượng thận… chiếm từ
5 – 10% các trường hợp THA [22], [23]
- Phân loại theo độ THA
+ Phân loại của WHO/ISH 2004[42]
Bảng 1.1 Phân độ tăng huyết áp theo WHO/ISH 2004
ĐỘ THA HA tâm thu (mmHg) HA tâm trương (mmHg)
Trang 11+ Phân loại THA tại Việt Nam: Xuất phát từ cách phân độ THA củaWHO/ISH và JNC VI, Hội Tim mạch Việt Nam đã đưa ra cách phân độ như sau:
Bảng 1.2 Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay [28]
Phân loại Tâm thu Huyết áp (mmHg) Tâm trương
Nếu HATT và HATTr ở hai phân độ khác nhau tính theo trị số HA lớn hơn.+ Phân loại THA theo JNC VII[36]
Bảng 1.3 Phân độ THA theo JNC VII năm 2003
Phân độ THA HA tâm thu (mmHg) HA tâm trương (mmHg)
- Phân loại huyết áp theo giai đoạn: Theo WHO/ ISH năm 1993.[17]
+ THA giai đoạn I: khồng có dấu hiệu khách quan về tổn thương thực thể.+ THA giai đoạn II: có ít nhất một tổn thương cơ quan đích như: dàythất trái, hẹp toàn thể hay khu trú động mạch võng mạc, protein niệu hoặccreatinin máu tang nhẹ (110 - 130µmol/l), siêu âm, X- quang thấy mảng vữa
xơ động mạch cảnh, động mạch đùi, động mạch chủ bụng
+ THA giai đoạn III: có dấu hiệu thực thể ở nhiều cơ quan đích:
Cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim
Tai biến mạch não
Đáy mắt: chảy máu, xuất tiết võng mạc, phù gai thị
Trang 12 Thận: creatinin máu ≥ 130µmol/l.
Mạch máu: phình tách động mạch, tắc mạch
- THA tâm thu đơn độc:
Theo phân loại THA tại Việt Nam hiện nay, HATT có xu hướng tăng
và HATTr có xu hướng giảm Khi trị số của HATT ≥ 140 mmHg và HATTr ≤
90 mmHg, bệnh nhân được gọi là THA tâm thu đơn độc [29]
1.2 Các yếu tố liên quan đến THA
-Nghiện thuốc lá, thuốc lào:
Hút thuốc lá trên 10 điếu/ngày, liên tục trong 3 năm coi là nghiện thuốc.Nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ mắc bệnh mạch vành ở người THA có hútthuốc lá cao hơn 50 - 60% so với những người không hút thuốc lá [12]
Trong thuốc lá, thuốc lào có nhiều chất kích thích, đặc biệt có chấtnicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây THA Nhiềunghiên cứu ghi nhận khi người hút một điếu thuốc lá có thể làm THA tối đa,còn gọi là HATT lên tới 11 mmHg và huyết áp tối thiểu, còn gọi là HATTrlên tới 9 mmHg và kéo dài trong khoảng thời gian từ 20 đến 30 phút Vì vậy,nếu trong sinh hoạt hàng ngày không hút thuốc lá, thuốc lào cũng là một biệnpháp phòng bệnh tăng huyết áp [30]
-Nghiện rượu, bia:
Từ nhiều thập kỷ trước đến nay đã có các nghiên cứu báo cáo về sự liênquan của uống rượu nhiều và THA nhưng cơ chế của sự liên quan này vẫncòn chưa rõ ràng [16] Các thực nghiệm cho thấy rằng với khối lượng lớnEthanol có tác dụng co mạch trực tiếp Nghiên cứu của GS Phạm Gia Khải vềdịch tễ học THA tại HN (1999) cho thấy rượu có mối liên quan chặt chẽ vớiTHA ở cả hai giới [4]
- Thói quen ăn mặn:
Trang 13Thức ăn có quá nhiều natri sẽ làm tăng khả năng giữ nước gây THA khi
có ứ Natri trong máu, hệ thống ĐM có thể nhạy cảm hơn với angiotensin II vàadrenergic Nhiều nghiên cứu đều khẳng định số lượng muối ăn hàng ngàyquá cao là một trong những nguyên nhân gây THA [16], [17]
-Yếu tố di truyền và gia đình:[12]
+ Điều tra phả hệ những gia đình có người THA thấy có ≥ 50% có yếu
tố di truyền
+ Có nhiều gen chi phối quá trình điều hòa huyết áp, nhưng chỉ khi cótác động của yếu tố bên ngoài mới gây ra THA
-Thừa cân béo phì (BMI ≥ 23)
Có mối liên quan chặt chẽ giữa THA và trọng lượng cơ thể Người béophì dễ bị THA hơn người gầy các nghiên cứu cho thấy HATT, HATTr đềutăng khi chỉ số khối cơ thể tăng (Body Mass Index, BMI) Người béo có nguy
cơ THA cao hơn bình thường và nguy cơ này càng cao khi tuổi càng trẻ, thờigian béo phì kéo dài [11], [13], [19]
-Stress
Khi bị căng thẳng, hệ thần kinh giao cảm tăng cường hoạt động giảiphóng ra adrenalin làm tim tăng co bóp, nhịp tim nhanh hơn, ĐM nhỏ co lạilàm THA.[23]
-Giới
Huyết áp thay đổi theo giới Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nam
bị THA nhiều hơn nữ [26], [41] Một số nghiên cứu cho thấy trước 50 tuổi tỷ
lệ mắc THA ở nam lớn hơn nữ nhưng sau 50 tuổi HA nữ lớn hơn nam [25], [43]
-Tuổi
THA thường gặp ở người lớn tuổi, thường thấy ở tuổi trung niên trởlên, tuổi càng cao thì tần suất mắc bệnh càng nhiều Kết quả nghiên cứu của
Trang 14Phạm Thị Tâm, Nguyễn Tấn Đạt, Lê Minh Hữu (2014) trên 3563 đối tượngcho thấy tỷ lệ THA ở nhóm tuổi từ 25-34 là 6,8%, nhóm tuổi từ 35- 44 tuổi là17,1%, nhóm tuổi từ 45- 54 tuổi là 28,1%, nhóm tuổi từ 55- 64 tuổi là 46,5%,nhóm tuổi từ 65- 74 tuổi là 59,2%, nhóm tuổi ≥ 75 tuổi 61,5% [31].
-Đái tháo đường
Có 30 - 50% bệnh nhân bị THA và xét nghiệm đường máu thấy tăngcao ở 1/3 số bệnh nhân bị THA Đái tháo đường làm tăng cao nguy cơ vữa xơ
ĐM [26], [36]
-Rối loạn lipit máu
Nồng độ chất cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quátrình xơ vữa động mạch, dần làm hẹp lòng các động mạch cung cấp máu chotim và các cơ quan khác trong cơ thể Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn hồi vàđây cũng chính là yếu tố làm THA Vì vậy, cần ăn chế độ giảm lipid máu sẽgiúp phòng bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng [30]
Ngoài những yếu tố nguy cơ đã nghiên cứu ở trên còn có nhiều yếu tốkhác như uống cà phê nhiều, ít hoạt động thể lực
1.3 Biểu hiện lâm sàng của THA
Bệnh nhân bị THA đa số đều không có triệu chứng gì cho tới khi pháthiện ra bệnh Hay gặp nhất đau đầu vùng chẩm và hai thái dương, ngoài ra cóthể có hồi hộp, mệt, khó thở, mờ mắt, tê đầu chi…, một số các triệu chứngkhác tùy thuộc vào nguyên nhân hoặc biến chứng của THA [1].[14]
Đo HA là động tác quan trọng nhất có ý nghĩa chẩn đoán xác định Đohuyết áp cần làm theo đúng quy trình chuẩn và dùng các máy đo huyết áp chuẩn
THA được chẩn đoán khi bệnh nhân có trị số huyết áp ≥ 140/90 mmHgtại phòng khám hoặc khi đo nhiều lần tại nhà có trị số huyết áp > 135/85 mmHg
Các dấu hiệu lâm sàng khác: Bệnh nhân có thể béo phì, mặt tròn, cơ chitrên phát triển hơn cơ chi dưới trong hẹp eo động mạch chủ Tìm các biểuhiện vữa xơ động mạch trên da (u vàng, u mỡ)
Trang 15- Thận: Đái máu, protein niệu vi thể, protein niệu, suy thận.
- Đáy mắt: Phù, xuất huyết, xuất tiết, mạch co nhỏ ở đáy mắt.
- Bệnh ĐM ngoại vi
Phình/ tách thành ĐM chủ
Bệnh ĐM ngoại vi khác
1.5 Phòng và điều trị THA [1]
1.5.1 Chế độ điều trị không dùng thuốc (thay đổi lối sống)
Giảm cân nặng nếu thừa cân
Trang 161.6 Tình hình THA và điều trị THA
1.6.1 Trên thế giới
Mặc dù WHO và liên ủy ban Quốc Gia Hoa Kỳ liên tiếp đưa ra cáckhuyến cáo nhằm giúp các bác sĩ đánh giá, phân loại và kiểm soát tốt huyết ápnhưng ngay tại Mỹ mới chỉ có 48,3% số người THA được kiểm soát huyết ápđạt mục tiêu [27]
THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện tại đang ở mức cao,đặc biệt các nước phát triển Điều tra tại Hoa Kỳ năm 1999 - 2000 trên đốitượng là người trưởng thành cho thấy tỷ lệ HA bình thường là 39%, 31%thuộc nhóm tiền THA và 29% là THA [30] Hiện nay THA ảnh hưởng đến46% NB bị bệnh tim mạch và 72% những người bị đột quỵ và được coi lànguyên nhân chủ yếu hoặc góp phần chính trong 15% 2,4 triệu ca tử vong ở
Mỹ năm 2009 [50]
Trong vòng 10 năm (1993 - 2003), tỷ lệ tử vong do THA tăng 29,3%,
số ca tử vong tăng 56,1% THA giai đoạn II trở lên (HA ≥ 160/95 mmHg)làm tăng nguy cơ đột quỵ thêm 4 lần so với người có HA bình thường [21]
Tại Canada có 7,5 triệu người bị THA, cứ 5 người Canada là có 1người bị THA Trong số những người bị THA thì cứ 3 người lại có 1 người cóhuyết áp không kiểm soát được, đặc biệt là những người có nguy cơ mắc bệnhtiểu đường và bệnh thận [52]
Đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả khác trên thế giới về THA ởngười trưởng thành: tại Mêhicô (1998) 19,4%; Tây Ban Nha (1996) 30%; Cu
Ba (1998) 44%; Trung Quốc (2001) 27%; Thái Lan (2001) 20,5%; Singapore(1998) 26,6%; Châu Phi (2007) 21,3% [32] Một nghiên cứu ở Brasil, vớinhóm tuổi từ 20 đến 69 tuổi có tỷ lệ THA là 23,6% [34]
1.6.2 Việt Nam
Theo điều tra năm 1982, tỷ lệ THA chung là 1,95% và ở người trên 60tuổi tỷ lệ THA là 9,2%[12] Năm 1999, theo điều tra của Phạm Gia Khải và
Trang 17cộng sự, tỷ lệ THA là 16,05% [9] Theo một điều tra gần đây nhất của ViệnTim mạch Quốc gia tại 8 tỉnh và thành phố của nước ta thì tỷ lệ THA củanhững người từ 25 tuổi trở lên trên toàn quốc cho thấy, tỷ lệ THA đã tăng lênđến 25,1% Điều đáng quan tâm là trong số người bị THA, có 52% (khoảng5,7 triệu người) không biết mình bị THA, 30% (khoảng 1,6 triệu người) sốngười biết bị THA nhưng không điều trị, 64% (khoảng 2,4 triệu người) sốngười biết bị THA, đã được điều trị, nhưng không đạt huyết áp mục tiêu [32].
Ở nước ta, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Viên Văn Đoan và cộng
sự năm 2004 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân hiểu biết về bệnh THA cũng như khôngbiết mình bị THA còn khá cao chiếm 47,6%, tỷ lệ hiểu biết về bệnh còn khákhiêm tốn chiếm tỷ lệ 9,5% [4]
Năm 1999, GS Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra dịch tễ học THA tại
Hà Nội thấy rằng số người biết mình bị THA chỉ là 21,43% [8]
Nghiên cứu của Phan Nam Hùng và cộng sự thấy 43,7% bệnh nhânkhông biết mình bị THA và 62,97% không biết huyết áp ≥ 140/90 mmHg gọi
là THA [6]
Nghiên cứu của Phạm Thái Sơn và cộng sự năm 2012 cho biết tỷ lệTHA là 25,1%, số người biết mình bị THA là 48,4% [40]
1.7 Thực trạng hiểu biết THA
THA là một trong những vấn đề quan trọng nhất tại cả nước phát triển
và đang phát triển, và có thể vẫn là nhân tố gây tử vong chính Mặc dù, THA
có thể phòng và chữa trị được nhưng nếu không được phát hiện và điều trị kịpthời có thể dẫn tới những biến chứng đe dọa sự sống và dẫn tới những bệnh vềnão, thận, tim Chính vì vậy sự hiểu biết về THA là rất quan trọng Trên thếgiới đã có những nghiên cứu đánh giá mức độ hiểu biết về THA như:
Nghiên cứu của Fakhri Sabouhi cho thấy mức điểm hiểu biết về THAcủa bệnh nhân đạt mức trung bình (26<điểm<50) với 49,1% Khoảng 56,5%
Trang 18bệnh nhân chỉ ra THA là căn bệnh nguy hiểm, 79,5% bệnh nhân biết về biếnchứng của THA, và bệnh nhân biết nhân tố quan trọng nhất để phòng và điềutrị THA là sử dụng thuốc (73,1%), giảm stress (63,7%), bỏ thuốc lá (58,5%),giảm cân (54,7%), tập thể dục (45,7%) và những nhân tố khác [43].
Nghiên cứu về hiều biết về THA từ một trung tâm y tế của tác giảShane Sanne cho thấy mức độ hiểu biết cao về THA chiếm 39%, mức độtrung bình (26%), mức độ thấp (35%) [41]
1.8 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tuân thủ điều trị của người bệnh
- Theo Froment [24]có 3 yếu tố ảnh hưởng tới việc tuân thủ điều trị của NB:+ Do bệnh nhân
Nhưng cũng có nhiều NB không chịu uống thuốc hạ áp theo sự chỉ dẫncủa thầy thuốc vì sợ quen thuốc, chỉ uống khi thấy HA tăng, HA xuống lạithôi Số NB này quan niệm nghỉ ngơi, sinh hoạt điều độ là chính [24]
Do vậy ngoài động cơ điều trị, NB cần được hướng dẫn đặc biệt để cảithiện lối sống và dung thuốc theo đơn
Trang 191.8.2 Yếu tố thầy thuốc
Quan hệ thầy thuốc – NB dựa trên niềm tin và sự kính trọng Hiểu biếttổng hợp của NB liên quan đến kết quả tốt của việc chăm sóc: tuân thủ điềutrị và tình trạng sức khỏe được cải thiện
Sử dụng các biện pháp tác động vào hành vi của NB như công tác tư vấncũng tham gia việc khống chế THA Thầy thuốc thỉnh thoảng nên dà soát lại
hồ sơ bệnh án của NB để đánh giá mức độ tuân thủ điều trị, kết quả cũng nhưcác biện pháp áp dụng để điều trị
Tầm quan trọng của việc khống chế HA, giáo dục và nâng cao các biệnpháp cải thiện lối sống, việc dùng thuốc và tuân thủ điều trị
1.8.3 Yếu tố thuốc men
Thuốc hạ áp ngoài tác dụng tích cực cũng để lại những tác dụng khôngmong muốn như:
- Rối loạn thần kinh trung ương: gây buồn ngủ
- Rối loạn tiêu hóa: kém ăn, ỉa chảy, loét dạ dày, tá tràng
- Rối loạn nước và điện giải: Giữ Na như nhóm ức chế giao cảm Giảm Kali
- Rối loại vận mạch: hạ áp khi đứng, chóng mặt
- Rối loạn chuyển hóa: tăng glucose máu sử dụng nhóm ức chế β giao cảm
- Dị ứng: thiếu máu do tan huyết, lupus ban đỏ
- Giảm nhu cầu tình dục
Ngoài những tác dụng không mong muốn của mỗi nhóm thuốc còn phụthuộc vào cơ địa, bệnh lý phối hợp, các giai đoạn, biến chứng… mà hiệu quả
sử dụng thuốc có thể tốt với bệnh nhân này nhưng hiệu quả kém với bệnhnhân khác hoặc thuốc gây tác dụng không mong muốn trên NB này mà khônggây tác dụng không mong muốn cho NB khác
Do vậy vai trò của thầy thuốc trong việc chỉ định các loại thuốc điều trịcho phù hợp với từng NB là hết sức quan trọng
Trang 20Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn lựa
- Người trưởng thành ≥ 30 tuổi, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp,đến khám và điều trị tại Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên, đã được chẩnđoán là THA trước đó
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Phụ nữ có thai
- Bệnh nhân không hợp tác, bệnh nhân tâm thần
- Bệnh nhân có biến chứng quá nặng
- Bệnh nhân xác định tăng huyết áp thứ phát
- Bệnh nhân bị các bệnh lý cấp tính và nặng như suy tim cấp, hen phếquản, tâm phế mạn đợt cấp
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên
2.3 Thời gian nghiên cứu: Tháng 4 năm 2018 đến tháng 11 năm 2018 2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu và cách chọn
2
1 - /2 p (1-p)
d2Trong đó: + P: tỷ lệ mắc bệnh THA Theo số liệu nghiên cứu của Hội tim
mạch học Việt Nam, p= 46%
+ α : là mức ý nghĩa thống kê Lấy α = 0.05 thì z(1-α/2) = 1.96+ d: là sai số chấp nhận được d = 0.05
Trang 21Thay vào công thức trên tính được cỡ mẫu tối thiểu là 381
Cộng thêm 10% sai số, dự phòng các trường hợp đối tượng bỏ cuộc vàlàm tròn cỡ mẫu sau cùng 420 đối tượng
- Chọn mẫu theo phương thức sau:
Tất cả các bệnh nhân đã có THA đến khám và điều trị nội trú, ngoại trútại TTYT TP Hưng Yên từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 11 năm 2018
2.5 Các chỉ số và biến số nghiên cứu
2.5.1 Biến số chỉ số với mục tiêu 1:
Mô tả thực trạng hiểu biết về tăng huyết áp của nhóm người bệnh tăng huyết áp tại Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên
* Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu
+ Tuổi đối tượng nghiên cứu chúng tôi chia thành 3 nhóm:
Nhóm 1: từ 30- 45 tuổi
Nhóm 2: từ 46- 60 tuổi
Nhóm 3: ≥ 61 tuổi
+ Giới tính: Nam, nữ
+ Nghề nghiệp chia thành 2 nhóm đối tượng:
Nhóm 1: lao động chân tay
Nhóm 2: nghề nghiệp khác (viên chức, công chức, hưu trí).+ Trình độ học vấn chia thành 2 nhóm nghiên cứu:
Nhóm 1: tiểu học và dưới tiểu học
Nhóm 2: Trung học cơ sở, Phổ thông trung học trở lên.+ Bảo hiểm y tế: không có, bảo hiểm y tế tự nguyện, bắt buộc, chính sách
* Hiểu biết của NB về THA: (phương pháp thu thập dựa vào bảng câu hỏi tự
điền) tập trung chủ yếu vào:
+ Hiểu biết về yếu tố nguy cơ gồm 8 câu hỏi đóng
+ Hiểu biết về biến chứng gồm 5 câu hỏi đóng
+ Hiểu biết về dự phòng gồm 6 câu hỏi đóng
Trang 22- Để thu thập đầy đủ thông tin từ người bệnh chúng tôi sử dụng nhiềuloại câu hỏi để thu thập đủ thông tin.
Câu hỏi đóng: Là loại câu hỏi có sẵn các phương án trả lời, dùng đểkhẳng định thông tin
Câu hỏi mở: Là loại câu hỏi không có phương án trả lời ấn định trước,dùng để mở đầu cuộc phỏng vấn
Ngoài ra còn có câu hỏi đánh giá nguồn phát hiện ra THA (từ người bịTHA, từ truyền thông, tự tìm hiểu, từ nhân viên y tế) Rải rác trong các câuhỏi này chúng tôi thêm vào các câu trả lời sai nhằm đánh giá chính xác mức
độ hiểu biết của đối tượng nghiên cứu
Để đánh giá mức độ hiểu biết về bệnh THA của đối tượng nghiên cứuchúng tôi quy ra điểm mỗi câu câu trả lời đúng là 1 điểm, vậy phần hiểu biết
về yếu tố nguy cơ có 8 điểm, hiểu biết về biến chứng có 5 điểm, hiểu biết về
dự phòng có 6 điểm Tổng điểm hiểu biết là 19 điểm Điểm số càng cao mức
Hiểu biết về biến chứng
Hiểu biết về
dự phòng
Tổng điểm hiểu biết
Điểm
Trang 232.5.2 Biến số chỉ số với mục tiêu 2
Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị thuốc tăng huyết áp và những yếu tố liên quan của của nhóm người bệnh tăng huyết áp tại Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên.
* Thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc: dựa vào bộ câu hỏi tự điền được
thiết kế sẵn được phân chia làm 3 mức độ:
* Liên quan đến hiểu biết về THA:
+ Tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thói quen
* Liên quan đến tuân tuân thủ điều trị sử dụng thuốc:
+ Vùng, miền, loại bảo hiểm y tế, theo dõi HA, nhóm thuốc
Bộ câu hỏi dựa trên bộ câu hỏi STEPWise của WHO có hiệu chỉnh chophù hợp với người Việt Nam và đặc điểm của nghiên cứu
2.6 Phương pháp thu thập thông tin
2.6.1 Công cụ thu thập thông tin
Bộ câu hỏi tự điền dành cho hiểu biết, tuân thủ điều trị THA (phiếu điều tra) dựa trên các mục tiêu và biến số nghiên cứu để thu thập số liệu của NB từ việc hỏi trực tiếp, kết hợp với đo HA của đối tượng nghiên cứu.
2.6.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
Bước 1: Phỏng vấn NB các nội dung nghiên cứu thời gian phỏng vấn mỗi đối
tượng nghiên cứu khoảng 15 - 20 phút
Bước 2: Đo huyết áp
- Các kỹ thuật và phương pháp sử dụng:
Trang 24Dựa trên các hướng dẫn của phương pháp của STEPWise của WHO
- Đo huyết áp:
Đo bằng huyết áp kế điện tử tự động của hãng OMRON
Phương pháp đo: Theo đúng quy trình chuẩn của bộ y tế
Đối tượng được ngồi yên nghỉ ngơi 15 phút trước khi đo
Đo ở tư thế ngồi, tay để ngang ngực, bộc lộ cánh tay, mép dưới băngquấn trên nếp gấp cánh tay 3cm Đo 2 lần cách nhau 2 phút, tính huyết áp dựatrên số trung bình 2 lần đo Nếu 2 lần đo đầu chênh lệch nhau > 5 mmHg thì
đo thêm lần nữa
2.6.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán THA
Chẩn đoán THA khi HATT ≥ 140 mmHg, và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg,và/ hoặc đang điều trị THA [1], [41]
Bảng 2.2 Phân độ tăng huyết áp ở người trưởng thành
Phân loại Tâm thu Huyết áp (mmHg) Tâm trương
Nếu huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương ở hai độ khác nhau tínhtheo trị số huyết áp lớn hơn để xếp loại
2.7 Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu của nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0
- Các biến định tính (giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn, loại hình bảohiểm y tế, mức độ tuân thủ điều trị) được tính tỷ lệ %, và kiểm định bằng testχ2 để tìm sự khác biệt, các biến định lượng (tuổi, BMI, chỉ số HA, số loạithuốc sử dụng) được tính trung bình (SD ±) và kiểm định bằng ANOVA Giátrị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê
- Xem xét mối liên quan giữa hai biến: Tính OR, theo quy ước :
+ OR=1 không liên quan
Trang 25+ OR>1 liên quan thuận + OR<1 liên quan nghịch.
Có sự khác biệt khi OR lớn hơn 1 và nằm trong 95% CI, cực dưới của
CI phải lớn hơn 1
2.8 Sai số và cách khống chế sai số
2.8.1 Các sai số
- Sai số trong theo dõi HA
- Sai số do thu thập thông tin
2.8.2 Cách khắc phục
- Các phương tiện đo chuẩn
- Phương pháp đo đúng
- Nghiên cứu viên được tập huấn tốt
- Phiếu điều tra được thử nghiệm trên 30 NB để hoàn chỉnh bộ phiếutrước khi điều tra thật
- Giải thích rõ ràng mục đích nghiên cứu cho NB để họ trả lời thànhthật và chính xác câu hỏi
2.9 Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu không can thiệp, không xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hạiđến cơ thể đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu tuân thủ theo đề cương được Hội đồng khoa học trườngĐại học Y Hà Nội thông qua
- Đối tượng nghiên cứu tự nguyện tham gia sau khi giải thích mục tiêu,phương pháp và nội dung cũng như lợi ích của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu có quyền rút khỏi nghiên cứu hoặc từ chốikhông trả lời bất cứ câu hỏi nào mà không hề bị bất kỳ một sự làm phiền hay
đe dọa nào