1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQ việt nam huyện nông sơn, tỉnh quảng nam

97 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chính trị - xã hội" của tác giả Tô Duy Nghĩa; "Những giải pháp chủ yếu nhằmphát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể nhândân" của tác giả Ngô Bích Ngọc, Nguy

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯU THỊ TUYẾT HỒNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MTTQ VIỆT NAM HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯU THỊ TUYẾT HỒNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MTTQ VIỆT NAM HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

Tác giả luận văn

Lưu Thị Tuyết Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MTTQ VIỆT NAM

HUYỆN 7

1.1 Khái quát về chính sách giám sát và phản biện xã

hội 71.2 Vị trí, vai trò của việc thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội

121.3 Hình thức, nội dung thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội

191.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã

hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội 302.3 Thực trạng thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQViệt Nam huyện Nông Sơn thời gian qua 35

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MTTQ VIỆT

NAM.50 HUYỆN NÔNG SƠN THỜI GIAN TỚI 50

3.1 Phương hướng 50

Trang 5

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

TTND : Thanh tra nhân dân

UBND : Ủy ban nhân dân

UBMTTQVN : Ủy ban MTTQ Việt Nam

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

MTTQ Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ ChíMinh sáng lập, lãnh đạo, được thành lập ngày 18-11-1930 Từ khi có Đảng là

có Mặt trận, ngay sau khi nhân dân giành được chính quyền, Mặt trận đã trởthành một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Trải qua các thời kỳ hoạtđộng với những tên gọi khác nhau, Mặt trận không ngừng phát huy tinh thầnyêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc Việt Nam - một nhân tố góp phầnquan trọng trong thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc,thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Huyện Nông Sơn hiện là một huyện đang trên tiến trình hội nhập cùngvới cả tỉnh, cả nước và phát triển với nhiều thành tựu đạt được trên tất cả cáclĩnh vực về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Cùng với quá trình pháttriển của xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừngđược nâng cao cải thiện, trên mọi mặt của đời sống

Song bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì thực tiễn giám sát vàphản biện xã hội của MTTQ huyện Nông Sơn vẫn còn một số bất cập cụ thểnhư: tỏ ra lúng túng về nội dung, phương pháp thực hiện, dẫn đến hiệu quảcòn hạn chế, chưa phát huy được tác dụng kiểm soát quyền lực Thực hiệnchính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQ là một nhiệm vụ mới, rấtquan trọng, nhạy cảm nhưng chưa có quy định thật rõ

Trước yêu cầu đáp ứng quy định pháp lý cũng như thực tiễn để thực thiquyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước tại địa bàn huyện, việc lựa chọn đề

tài "Thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam

huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam" để nghiên cứu là hết sức cần thiết; có ý

nghĩa về lý luận và thực tiễn

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Giám sát và phản biện xã hội của MTTQ là một đề tài được nhiềunhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành chính sách công, chính trị học, luậthọc, triết học và các nhà chính trị, các nhà quản lý tiếp cận dưới nhiều góc

độ khác nhau

- Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, 1995 Đảng Cộng sản Việt Nam,

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Hà Nội, 2016 Trần Hậu(2009) "Các hình thức và giải pháp thực hiện giám sát xã hội và phản biện xã

hội đối với hệ thống chính trị",Nguyễn Trọng Bình (2008), "Nâng cao hiệu quả phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam", [4].

- Nguyễn Trọng Bình (2007) "Một số ý kiến về phản biện xã hội"

Nguyễn Trọng Bình [5] Lê Văn Đính (2007), "Phản biện xã hội - một trong những phương hướng đặc trưng của thực thi dân chủ ở nước ta hiện nay" [12].

- Trần Ngọc Nhẫn (2007), "Về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc

Việt Nam" Hoàng Văn Tuệ, (2006), "Vấn đề phản biện xã hội với yêu

cầu thực tế hiện nay" Trương Thị Hồng Hà (2007), "Xây dựng cơ chế pháp lý

bảo đảm cho nhân dân tham gia hoạt động giám sát và phản biện xã hội".

- Hoàng Hải (2007), "Về phản biện và giám sát xã hội" [14] Nguyễn

Thọ Ánh (2012) "Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt

trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay" [1] Nguyễn Hữu Đổng (2008), "Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay" [13].

- "Vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể chính trị - xã hội (qua thực tiễn huyện Mê Linh thành phố Hà Nội)"của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- Cuốn kỷ yếu tập họp 3 bài viết tiêu biểu: "Quan niệm về giám sát vàphản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội" củatác giả Ngô Bích Ngọc, Nguyễn Xuân Thủy; "Những nhân tố tác động và

Trang 9

những yêu cầu đặt ra trong giám sát và phản biện xã hội của MTTQ và cácđoàn thể chính trị - xã hội" của tác giả Tô Duy Nghĩa; "Những giải pháp chủyếu nhằm phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể nhân dân" của tác giả Ngô Bích Ngọc, Nguyễn Xuân Thủy

- "Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quyền

làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay" tác giả Nguyễn Thị Hiền Oanh đã

nhấn mạnh vai trò làm chủ của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các

tổ chức chính trị - xã hội Tuy không đi sâu nghiên cứu chức năng phản biện

xã hội nhưng đã bước đầu đề cập đến vấn đề này như một yếu tố cấu thànhphương thức thực thi quyền làm chủ của nhân dân thông qua Mặt trận Tổquốc Việt Nam

- "Thực hiện chức năng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ Quốc Việt

Nam" của tác giả Lê Thị Mộng Diễm đã đề cập tương đối toàn diện về hoạt

động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhưng chưa có tínhkhái quát cao, chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những nội dung cơ bản của việc thựchiện chức năng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc

- Trần Thái Dương (2006), “Góp phần nhận thức về phản biện xã hội ở

nước ta hiện nay”, Tạp chí Luật học, [15].

- Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp

Hà Nội-2012, [9] Lê Văn Đính (2007), "Phản biện xã hội - một trong những

phương hướng đặc trưng của thực thi dân chủ ở nước ta hiện nay"

- Đảng bộ huyện Nông Sơn, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyệnNông Sơn

- Cuốn kỷ yếu tập họp 3 bài viết tiêu biểu: "Quan niệm về giám sát vàphản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội" của tác giảNgô Bích Ngọc, Nguyễn Xuân Thủy; "Những nhân tố tác động và những yêucầu đặt ra trong giám sát và phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể

Trang 10

chính trị - xã hội" của tác giả Tô Duy Nghĩa; "Những giải pháp chủ yếu nhằmphát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể nhândân" của tác giả Ngô Bích Ngọc, Nguyễn Xuân Thủy.

- "Vai trò của MTTQ Việt Nam đối với việc thực hiện quyền làm chủ của

nhân dân ở nước ta hiện nay" tác giả Nguyễn Thị Hiền Oanh đã nhấn mạnh

vai trò làm chủ của nhân dân thông qua MTTQ và các tổ chức chính trị - xãhội Tuy không đi sâu nghiên cứu chức năng phản biện xã hội nhưng đã bướcđầu đề cập đến vấn đề này như một yếu tố cấu thành phương thức thực thiquyền làm chủ của nhân dân thông qua MTTQ Việt Nam

- "Thực hiện chức năng phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam" của tác

giả Lê Thị Mộng Diễm đã đề cập tương đối toàn diện về hoạt động phản biện

xã hội của MTTQ Việt Nam nhưng chưa có tính khái quát cao, chỉ dừng lại ởviệc chỉ ra những nội dung cơ bản của việc thực hiện chức năng phản biện xãhội của MTTQ

Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước, luậnvăn tiếp tục hướng nghiên cứu làm rõ chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm, tínhchất của hoạt động giám sát của MTTQVN Trên cơ sở đó kiến nghị các giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát của MTTQVN

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về giám sát và phản biện xã hội của MTTQ ViệtNam, khảo sát thực trạng thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hộicủa MTTQ Việt Nam huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay, luận văn

đề xuất phương hướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng caohiệu quả việc thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội củaMTTQVN huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam thời gian tới

Trang 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá và làm rõ thêm cơ sở lý luận về hoạt động giám sát vàphản biện xã hội của MTTQVN nói chung và của huyện nói riêng

- Phân tích thực trạng và khảo sát thực tế làm sáng tỏ những kết quả đạtđược, những tồn tại hạn chế cần khắc phục và một số vấn đề đặt ra về thựchiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN huyện NôngSơn, huyện Nông Sơn

- Đề xuất phương hướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nâng caohiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội của UBMTTQVN huyệnNông Sơn, huyện Nông Sơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách giám sát vàphản biện xã hội của UBMTTQVN huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam giaiđoạn 2013 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về dân chủ, kiểm soát quyền lực; quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam và các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc thực hiện chính sách giámsát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam trong quá trình hình thànhđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; các lýthuyết chính sách công hiện đại về hệ thống chính trị và kiểm soát quyền lực

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp, kết hợp phân tíchđịnh lượng và định tính để giải thích số liệu, liên hệ với các nguyên nhân từthực tiễn, đối chiếu các quy định hiện hành về thực hiện chính sách giám sát

và phản biện xã hội của UBMTTQVN với thực tế thực hiện ở địa phương để

Trang 12

làm rõ những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế cần khắc phục trongthực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN huyện NôngSơn, tỉnh Quảng Nam.

- Điều tra khảo sát thống kê so sánh những yếu tố ảnh hưởng đến hoạtđộng giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN huyện Nông Sơn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Trên cơ sở luận cứ khoa học về giám sát và phản biện xã hội luận vănlàm rõ những đặc thù và vai trò tất yếu của chính sách giám sát và phản biện

xã hội của UBMTTQVN đối với việc thực thi quyền lực của Nhân dân

- Phân tích làm sáng tỏ những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chếcần khắc phục trong việc thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hộicủa UBMTTQVN huyện Nông Sơn

- Đề xuất các phương hướng và giải pháp làm tăng cường hiệu quả củathực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của UBMTTQVN huyệnNông Sơn hiện nay

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu,

giảng dạy, học tập lý luận cho cán bộ Mặt trận và các đoàn thể huyện NôngSơn trong việc thực hiện hoạt động giám sát

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách giám sát vàphản biện xã hội của MTTQ Việt Nam

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giám sát và phản biện xãhội của MTTQ Việt Nam huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường thực hiện chínhsách giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam huyện Nông Sơntrong thời gian tới

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI

CỦA MTTQ VIỆT NAM HUYỆN

1.1 Khái quát về chính sách giám sát và phản biện xã hội

1.1.1 Khái niệm chính sách

Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách nhưsau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực

cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộcvào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”

Như vậy, Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạohay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩmquyền của mình

1.1.2 Khái niệm giám sát

Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì thuật ngữ “giám

sát” được ghi là: “Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều

quy định không” hoặc: “Là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loạicông việc nhất định”

Hiện nay, thuật ngữ giám sát cũng được sử dụng khá phổ biến trong hầuhết văn bản pháp luật của nước ta hiện nay Cụ thể một số văn bản sau đây:

- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013:

“Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân,

chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những

quyết định của mình”;

- Luật MTTQ Việt Nam năm 2015: “Thực hiện giám sát và phản biện

Trang 14

xã hội”; “Nhân dân giám sát hoạt động của MTTQ Việt Nam để bảo đảm

MTTQ Việt Nam thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm theo quy định của

pháp luật”; “Chương V: Hoạt động giám sát”;

- Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015: “Chính quyền địaphương tạo điều kiện để Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị -

xã hội động viên Nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân

dân, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát, phản

biện xã hội đối với hoạt động của chính quyền địa phương”;

- Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm2015: “MTTQ Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng

cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám

sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp”

Như vậy, giám sát có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau nhưng

chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về giám sát như sau: Giám

sát là một phạm trù dùng để chỉ các hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc làm nào đấy, xem việc làm đó đã được thực hiện đúng hoặc sai những điều đã quy định.

1.1.3 Khái niệm giám sát của MTTQ Việt Nam

- Định nghĩa giám sát:

Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị banhành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoànthể chính trị - xã hội đưa ra định nghĩa: Giám sát của MTTQ Việt Nam là việc

theo dõi, phát hiện, xem xét; đánh giá, kiến nghị nhằm tác động đối với cơ

quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhànước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước

Luật MTTQ Việt Nam định nghĩa: Giám sát của MTTQ Việt Nam là

Trang 15

việc Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức

thành viên của MTTQ Việt Nam theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối

với hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viênchức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật

Từ 02 định nghĩa trên chúng ta có thể khái quát thành định nghĩa về

giám sát của MTTQ Việt Nam là việc Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Chủ thể, đối tượng giám sát:

Từ định nghĩa nêu trên, chủ thể giám sát của MTTQ Việt Nam gồm:MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội từ Trung ương đến cơ sở,bao gồm: MTTQ Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam,Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn Thanhniên Cộng sản Hồ Chí Minh Đối tượng giám sát của MTTQ Việt Nam gồmtập thể (cơ quan, tổ chức) và cá nhân (cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử,công chức, viên chức nhà nước) các cấp từ Trung ương đến cơ sở Cụ thể:

+ Đối với tập thể: cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan đảng, cơ quan nhànước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sátnhân dân, các cơ quan hành chính nhà nước), các đơn vị sự nghiệp và doanhnghiệp

+ Đối với cá nhân, bao gồm: cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử (đạibiểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện , huyện, cấp xã), côngchức, viên chức nhà nước

- Tính chất của giám sát của MTTQ Việt Nam là giám sát xã hội, giámsát mang tính nhân dân, không phải là giám sát của Nhà nước hoặc giám sáttrong Đảng Giám sát xã hội chỉ dừng lại ở mức “đánh giá, kiến nghị”

Trang 16

- Mục đích:

+ Giám sát nhằm góp phần xây dựng và thực hiện đúng các chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các chương trìnhkinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại

+ Giúp cho cá nhân, tổ chức nâng cao ý thức trách nhiệm, gương mẫuchấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, pháthiện những nhân tố mới, khuyến khích mặt tích cực, kiến nghị biểu dương,khen thưởng người tốt, việc tốt

+ Giúp cho cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp nắm chắc hơn tình hìnhcán bộ, công chức, đảng viên thuộc diện mình quản lý về phẩm chất chính trị,đạo đức, lối sống, quan hệ với dân

1.2.1 Khái niệm phản biện xã hội

Khi tìm hiểu thuật ngữ phản biện và phản biện xã hội đã có rất nhiều tàiliệu của các tác giả, các nhà nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau nên

họ đã đưa ra khái niệm phản biện ở những góc độ khác nhau:

Tác giả Trần Thái Dương cho rằng, “Phản biện xã hội theo nghĩa rộng

như vậy được thể hiện ở toàn bộ cách thức mà các lực lượng xã hội phản ứngtrước những tác động của lực lượng lãnh đạo, quản lý xã hội như dư luận xãhội, phê phán xã hội, giám sát xã hội, tham gia xã hội” Tác giả Trần Đăng

Tuấn cho rằng, phản biện xã hội là: “đưa ra các lập luận, phân tích nhằm phát

hiện, chứng minh, khẳng định, bổ sung hoặc bác bỏ một đề án (phương án, dựán) xã hội đã được hình thành và công bố trước đó”

Từ các quan niệm, có thể nêu khái niệm phản biện xã hội như sau:

Phản biện xã hội là phản biện - phản biện mang tính xã hội đối với quá trình hoạch định đường lối, chính sách của Đảng - nhất là Đảng cầm quyền và Nhà nước nhằm làm cho đường lối, chính sách ấy phù hợp và đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội.

Trang 17

1.2.2 Khái niệm phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam

- Định nghĩa:

Quyết định 217-QĐ/TW ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị ban hành

“Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể

chính trị-xã hội” giải thích: Phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam là việc

nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương,

đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 định nghĩa: “Phản biện xã hội của

MTTQ Việt Nam là việc Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề

nghị các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu

chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch,

chương trình, dự án, đề án của cơ quan nhà nước”

Từ các định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể khái quát: Phản biện xã hội

của MTTQ Việt Nam là việc Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành

viên nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ

trương, đường lối của Đảng, dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch,chương trình, dự án, đề án của cơ quan Nhà nước

- Chủ thể phản biện: Từ định nghĩa nêu trên chúng ta xác định chủ thể,đối tượng phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam gồm Ủy ban MTTQ ViệtNam và các đoàn thể chính trị-xã hội từ Trung ương đến cơ sở, bao gồm: Ủyban MTTQ Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, HộiLiên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn Thanh niêncộng sản Hồ Chí Minh

- Đối tượng phản biện: Các văn bản dự thảo về chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự

án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bímật quốc gia) phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình

Trang 18

Chỉ phản biện đối với dự thảo chủ trương, đường lối của Đảng, chính

sách, pháp luật của Nhà nước, không phản biện các chủ trương, đường lối,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã được ban hành, đang triểnkhai thực hiện

- Mục đích: Phản biện xã hội nhằm phát hiện những nội dung còn thiếu,chưa sát, chưa đúng, chưa phù hợp trong các văn bản dự thảo của các cơ quanĐảng, Nhà nước; kiến nghị những nội dung thiết thực, góp phần bảo đảm tínhđúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả trong việchoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân

1.2.3 Khái niệm chính sách giám sát và phản biện xã hội

Từ những khái niệm có trên, có thể hiểu thực hiện chính sách và phảnbiện xã hội của MTTQ Việt Nam là việc vận dụng những chuẩn tắc cụ thể đểthực hiện việc giám sát và phản biện xã hội của MTTQ được thực hiện trongthời gian nhất định

1.2 Vị trí, vai trò của việc thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội

- Giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam đảm bảo quyền phản hồi xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp đối với thể chế cầm quyền, nhờ đó, có tác dụng phòng ngừa hoặc hạn chế sai lầm.

Trước khi ban hành quyết định chính trị bao giờ giới cầm quyền cũngcần đến các nguồn thông tin (thông tin lý luận và thông tin xã hội) Thông tinchính xác, đa chiều giúp giới cầm quyền có điều kiện phân tích, xử lý để đưa

ra quyết định đúng đắn nhất Khi chuyển sang khâu tổ chức thực hiện, phảnbiện xã hội giúp đo đạc phản hồi xã hội, nhờ đó phát hiện được mặt bất cậpcần hiệu chỉnh, mặt sai lầm cần loại bỏ, mặt thiếu sót cần bổ khuyết

Trang 19

- Giám sát xã hội và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam có vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước sau quá trình uỷ quyền.

Đây là nhu cầu khách quan của bất kỳ hệ thống quyền lực nhà nướcnào, bởi không bị kiểm soát thì quyền lực sẽ tha hóa Chủ tịch Hồ Chí Minhcũng hết sức nhấn mạnh đến vai trò của “kiểm tra”, kiểm soát”, “xem xét”,

“điều tra”, “nắm tình hình”, “nghe báo cáo”, “phê bình” trong giáo dục, rènluyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; chủ động phòng ngừa những sai phạm củacán bộ, công chức, “Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên vàcán bộ làm tròn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốtcho nhân dân Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổchức”

- Giám sát xã hội và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam có tác dụng khắc phục các biểu hiện dân chủ hình thức, thúc đẩy minh bạch hoá và quản trị quốc gia theo nguyên tắc dân chủ.

Giám sát xã hội và phản biện xã hội góp phần giúp thể chế chính trịthoát khỏi tình trạng bất lực trong thực hành dân chủ, mà trong nhiều trườnghợp là các biểu hiện dân chủ hình thức chỉ làm “mòn mỏi, cùn nhụt” ý chí củanhân dân

- Giám sát xã hội và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam có tác dụng trực tiếp chống lãng phí, thực hành tiết kiệm.

Thực tế cho thấy, thông qua hoạt động giám sát của MTTQ Việt Namnhất là ở cơ sở (hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giámsát đầu tư của cộng đồng) đối với những công trình, dự án được đầu tư từnguồn ngân sách nhà nước, nguồn đóng góp trực tiếp của nhân dân, các nguồntài trợ trực tiếp cho cộng đồng…

Tóm lại, giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam có vai tròquan trọng trong thực hành dân chủ, góp phần năng động hoá sự cầm quyền,

Trang 20

tăng cường chất lượng thể chế, nâng cao ý thức và năng lực làm chủ củangười dân.

- MTTQ Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị:

Với tư cách là vị trí chiến lược trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện

nay, MTTQ Việt Nam tất yếu có vai trò to lớn trong hệ thống chính trị Hiện

nay, hệ thống chính trị ở nước ta đang ổn định và tích cực thích ứng vớinhững thay đổi của cơ sở hạ tầng trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước Tuy nhiên, thực tiễn công cuộc đổi mới cũng đang ngày càng làmchuyển đổi, phát sinh những vấn đề mới như các quan hệ xã hội về cơ cấu laođộng, phân công lao động, sở hữu và hưởng thụ, tích luỹ và tiêu dùng, nông

thôn và thành thị, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội… Do vậy, một

mặt không chỉ kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và mục tiêu mà

Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn mà mặt khác, phải phát huy tính

sáng tạo, linh hoạt trong việc huy động tất cả các lực lượng xã hội, các thànhphần xã hội thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vaitrò quan trọng của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệthống chính trị thể hiện ở các mặt sau:

+ MTTQ Việt Nam tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh:

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “mỗi công việc của Đảng phải giữ

nguyên tắc và phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng” và “giữ chặt mối liên hệ với quần chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng mà nhờ đó Đảng thắng lợi” Cho nên, MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị -xã hội, với tính cách

là sự thể hiện của khối đại đoàn kết toàn dân tộc có vai trò to lớn đối với việcphát huy sức mạnh của Đảng

Đại hội lần thứ XII nhấn mạnh: “Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa cácquan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân

Trang 21

tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vaitrò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảođảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; khắc phục những hạn chế,bảo đảm tác dụng, hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội củaMTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội; tạo sự đồng thuận xã hội”.

Trong giai đoạn hiện nay, tăng cường sức mạnh của Đảng trên cơ sởkhắc phục những hạn chế, khiếm khuyết trong tổ chức và hoạt động của Đảng

là yêu cầu cấp bách, khách quan Sức mạnh của Đảng chỉ có thể được pháthuy cao nhất thông qua việc tăng cường, củng cố mối quan hệ “máu thịt” giữaĐảng với Nhân dân Bởi vì, thông qua thực tiễn mối liên hệ giữa quần chúngnhân dân với Đảng, Đảng mới xây dựng được đường lối chính trị đúng đắnlàm định hướng cho mọi quá trình phát triển tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội; Đảng mới phát hiện được những khiếm khuyết trong lãnh đạo và chỉđạo thực tiễn, trong tổ chức và cán bộ của Đảng Để lãnh đạo sự nghiệp cáchmạng, Đảng phải xây dựng được bộ máy tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh

ở các cấp khác nhau và vận hành thống nhất trong phạm vi cả nước Với tưcách là cơ sở quần chúng của Đảng, MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chínhtrị - xã hội thông qua phương thức hoạt động của mình (hiệp thương, phối hợpthống nhất hành động) đã góp phần phát huy sức mạnh bộ máy tổ chức Đảng,thể hiện ở các mặt sau: Phối hợp hành động của các tổ chức thành viên thựchiện tốt chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác xây dựng Đảng nóichung, xây dựng bộ máy, tổ chức Đảng nói riêng Vận động toàn thể nhân dânphát huy tích cực chính trị của mình trong việc xây dựng và bảo vệ Đảng;giám sát hoạt động của cấp uỷ Đảng tại địa phương để kịp thời phát hiệnnhững sai sót, khiếm khuyết của cấp uỷ Đảng trong công tác lãnh đạo của địaphương Phối hợp hành động của các tổ chức thành viên trong việc tuyêntruyền, vận động nhân dân thực hiện các cuộc vận động lớn của Đảngnhằm xây dựng Đảng

Trang 22

vững mạnh, nâng cao uy tín của Đảng trong đời sống chính trị xã hội Thôngqua các phong trào thực tiễn, tuỳ thuộc vào điều kiện đặc thù của tổ chứcmình, Mặt trận và các tổ chức thành viên bên cạnh việc giáo dục chính trị- tưtưởng cho đoàn viên, hội viên đã phát hiện và bồi dưỡng những quần chúng

ưu tú, tích cực, có năng lực giới thiệu cho Đảng tiến hành kết nạp để tăng sốlượng và chất lượng công tác phát triển đảng viên mới của Đảng

+ MTTQ Việt Nam tham gia xây dựng các chủ trương, chính sách củaĐảng:

Vai trò lãnh đạo chính trị đòi hỏi Đảng phải nắm vững và làm tốt mặtlãnh đạo, tổ chức công tác thực tiễn Đảng lãnh đạo bằng tổ chức, bằng đườnglối Đường lối của Đảng thể hiện qua các chủ trương, chính sách của Đảng.Chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng chínhđáng của nhân dân; bằng thực tiễn mới kiểm tra được tính đúng đắn, hiệu quảcác chủ trương, chính sách của Đảng Bởi mỗi một khẩu hiệu, mỗi một côngtác, mỗi một chủ trương, chính sách của Đảng phải được tổng kết từ nhữngsáng kiến và kinh nghiệm của nhân dân phù hợp với thực tiễn phát triển củađất nước MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò quantrọng trong việc góp phần xây dựng các chủ trương, chính sách của Đảng Vaitrò này thể hiện ở chỗ: MTTQ Việt Nam phản ánh ý kiến của nhân dân về cácvấn đề bức xúc trong đời sống xã hội cho Đảng để Đảng kịp thời đề ra nhữngchủ trương, chính sách hợp lý trong quá trình lãnh đạo nhằm giải quyết cóhiệu quả Đối với những chủ trương, chính sách lớn của Đảng ảnh hưởng đếnđại bộ phận quần chúng nhân dân, các dự thảo Nghị quyết Đại hội Đảng trướccác kỳ Đại hội của Đảng, MTTQ Việt Nam tiến hành lấy ý kiến của nhân dân

để nhân dân công khai góp ý kiến của mình MTTQ các cấp và từng tổ chứcđoàn thể tổ chức các Hội nghị để lấy ý kiến đóng góp của quần chúng nhândân Thông qua ý kiến đóng góp rộng rãi của quần chúng nhân dân, để Đảng

Trang 23

kịp thời điều chỉnh những vấn đề chưa phù hợp, bổ sung những vấn đề cònthiếu sót, đảm bảo tính hiệu quả và giá trị thực tiễn trong các chủ trương,chính sách, nghị quyết của Đảng khi ban hành.

+ MTTQ Việt Nam đưa đường lối, chính sách, các nghị quyết của Đảngvào cuộc sống:

MTTQ Việt Nam với vai trò là liên minh chính trị rộng rãi, phối hợp sứcmạnh của các tổ chức thành viên, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dânnhận thức rõ ràng về đường lối, chủ trương, chính sách và các nghị quyết củaĐảng Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp tổ chức cho nhân dân học tập, nghiêncứu về các chính sách, nghị quyết của Đảng Thông qua các hình thức như in

ấn phổ biến các tài liệu, thông qua hệ thống cơ quan truyền thông của Mặttrận, thông qua các cuộc thi tìm hiểu, các diễn đàn nhân dân Mặt trận và cácđoàn thể tích cực phổ biến chủ trương, chính sách, các nghị quyết của Đảngvào đời sống nhân dân Cùng với việc tuyên truyền, phổ biến, Uỷ ban MTTQViệt Nam các cấp, phối hợp với chính quyền và các đoàn thể vận động nhândân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng

Trong quá trình vận động nhân dân thực hiện chủ trương chính sách,nghị quyết của Đảng, thông qua ý kiến quần chúng nhân dân, MTTQ ViệtNam kịp thời đề xuất với Đảng về những khiếm khuyết trong đường lối, chínhsách của Đảng Đảng tiếp thu xem xét và kịp thời có những giải pháp chỉ đạolinh hoạt để điều chỉnh, làm cho các chính sách của Đảng đạt được hiệu quảcao trong thực tiễn đời sống nhân dân Thông qua việc thực hiện các chủtrương, chính sách của Đảng trong lĩnh vực đời sống xã hội, Đảng rút ranhững kinh nghiệm quý báu trong việc đề ra các quyết định cụ thể của mình

+ MTTQ Việt Nam là cơ sở quần chúng của Đảng, là cầu nối giữa Đảng

với nhân dân để làm cho Đảng ngày càng liên hệ chặt chẽ với nhân dân.

Với vai trò liên minh chính trị “MTTQ không đứng ngoài cuộc mà cùng

Trang 24

Đảng đồng tâm hiệp lực trong đội ngũ cách mạng kiên cường, khắc phục khó khăn, phấn đấu ổn định tình hình kinh tế - xã hội bằng những hành động cụ thể, nói đi đôi với làm Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi cơ sở sức mạnh

của Đảng là sự liên hệ chặt chẽ với nhân dân, Đảng phải biết phát huy trí tuệcủa nhân dân trong quá trình lãnh đạo của mình Toàn Đảng cũng như mọi

cán bộ, đảng viên phải “tin vào dân chúng, đưa mọi vấn đề cho dân chúng

thảo luận và tìm cách giải quyết” Người cho rằng, dân chúng biết giải quyết

nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ mà người tài giỏi, những

đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra; “Nghị quyết mà dân chúng cho là không

hợp thì để họ đề nghị sửa chữa Dựa vào ý kiến của quần chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức Đảng” MTTQ Việt Nam bằng thực tiễn hoạt động của

mình, góp phần củng cố và tăng cường mối liên hệ chặt chẽ giữa nhân dân vớiĐảng, sức mạnh của Đảng được tăng cường Nhờ đó, nhân dân ngày cànggiác ngộ sâu sắc về chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào đường lối lãnh đạo củaĐảng; hăng hái tham gia các phong trào hành động cách mạng, thi đua yêunước nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

+ MTTQ Việt Nam phát huy sức mạnh tổ chức và hoạt động của Nhànước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân:

Sự hình thành và phát triển thể chế Nhà nước của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân ở nước ta là một quá trình liên tục trong tính hậu thuẫn rất lớn củakhối đại đoàn kết toàn dân tộc Sức mạnh Nhà nước chỉ có thể có được dựatrên sức mạnh của nhân dân Điều này cũng khẳng định thêm một luận điểm

của Lênin về xây dựng chính quyền: “Chỉ có một chính quyền dựa một cách

công nhiên và dứt khoát vào đa số nhân dân mới có thể vững chắc được”.

Ngày nay công cuộc đổi mới đang đặt ra những vấn đề cấp bách trongviệc nâng cao sức mạnh của Nhà nước về cả thể chế, quan hệ lẫn hoạt động,

Trang 25

thể hiện ở một số định hướng cơ bản sau đây: Nhà nước phải thực hiện tốthơn nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh quá trình dân chủ hoá mọi mặtcủa đời sống xã hội; đồng thời Nhà nước phải thực sự quản lý kinh tế, xã hộibằng pháp luật Đề cao dân chủ gắn liền với pháp luật là vấn đề nổi bật tronghoạt động quản lý của Nhà nước Bộ máy Nhà nước phải khắc phục cho đượcnhững khuyết điểm để có đủ năng lực thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu: thểchế hoá đường lối của Đảng và cơ chế quản lý mới thành pháp luật và chínhsách cụ thể, xây dựng chiến lược kinh tế-xã hội và cụ thể hoá những kếhoạch; điều hành, quản lý xã hội bằng pháp luật, chính sách, giữ vững phápluật, kỷ cương, xây dựng bộ máy gọn nhẹ, trong sạch, vững mạnh Phối hợpchặt chẽ với MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, phát huy sứcmạnh của nhân dân trong tham gia xây dựng, củng cố tăng cường sức mạnhNhà nước.

1.3 Hình thức, nội dung thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội

1.3.1 Hình thức thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của Ủy ban MTTQ Việt Nam

Theo các văn bản pháp luật hiện hành và Nghị định 50/CP ngày16/8/2001 của Chính phủ (quy định chi tiết thi hành một số điều của luật(MTTQ Việt Nam) thì thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội củaUBMTTQ Việt Nam được thực hiện chủ yếu thông qua các hình thức cơ bảnsau:

Thứ nhất: Vận động nhân dân giám sát

Hình thức này chủ yếu tập trung vào việc chỉ đạo tổ chức và hoạt độngcủa ban thanh tra nhân dân (TTND) và ban giám sát đầu tư cộng đồng vớimột số cơ chế sau:

- Cơ quan Nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ giám sát, kiểm tra, thanhtra ở địa phương có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét tiếp thu kiến nghị của

Trang 26

UBMTTQ cùng cấp, của ban TTND và ý kiến của các tầng lớp nhân dân phảnánh thông qua MTTQ.

- Khi cần thiết cơ quan Nhà nước có trách nhiệm mời đại diện banTTND tham gia giám sát, kiểm tra tại địa phương Ban TTND có trách nhiệmcung cấp thông tin, cử người tham gia khi được yêu cầu tham gia giám sát,kiểm tra, thanh tra cùng cơ quan Nhà nước

Thứ hai: Tham gia giám sát với Hội đồng nhân dân (HĐND).

Theo quy định tại khoản 3 điều 13 Nghị định 50/CP của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của luật MTTQ Việt Nam và quy chế hoạtđộng của HĐND ban hành kèm theo Nghị quyết số 753 ngày 2/4/2005 của Ủyban Thường vụ Quốc hội quy định: HĐND các cấp khi thực hiện nhiệm vụgiám sát có trách nhiệm:

- Mời đại diện ban thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấptham gia xây dựng kế hoạch giám sát của HĐND

- Mời đại diện ban thường trực Ủy ban MTTQ cùng cấp tham gia hoạtđộng giám sát

- Cung cấp thông tin có liên quan đến công tác giám sát của HĐND cho

Ủy ban MTTQ cùng cấp

- Tạo điều kiện để đại diện ban thường trực UBMTTQ đưa các kiếnnghị liên quan đến nội dung giám sát

Thứ ba: Tự mình thực hiện giám sát.

Theo quy định tại khoản 4 điều 13 Nghị định 50/CP của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Luật MTTQ Việt Nam quy định: Trongtrường hợp MTTQ tổ chức hoạt động giám sát thì người đứng đầu cơ quanNhà nước có trách nhiệm:

- Tiếp, cung cấp thông tin và giải trình các vấn đề có liên quan theo yêucầu của MTTQ khi tiến hành hoạt động giám sát

Trang 27

- Cử đại diện tham gia thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQ khi MTTQ đề nghị.

- Xem xét, giải quyết các kiến nghị của MTTQ về biểu dương, khenthưởng những gương người tốt, việc tốt

1.3.2 Nội dung thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của Ủy ban MTTQ Việt Nam

- Đối với cơ quan, tổ chức: Ủy ban MTTQ Việt Nam từ Trung ương đến

cơ sở tiến hành giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia).Như vậy, nội dung giám sát đối với tập thể các cơ quan, tổ chức là rất rộng,cho nên tuỳ tình hình cụ thể của từng thời điểm, từng địa phương, MTTQ ViệtNam chọn những nội dung phù hợp, có liên quan trực tiếp đến chức năng,nhiệm vụ của tổ chức mình để giám sát, nội dung cụ thể như sau:

+ Việc thực hiện Cương lĩnh chính trị; các chiến lược, kế hoạch, nghịquyết, chỉ thị, quyết định và các quy định của tổ chức đảng các cấp; chínhsách, pháp luật của Nhà nước

+ Đối với cơ quan Nhà nước: Ngoài các nội dung trên còn giám sát việcthực hiện các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình, dự án phát triển kinh tế,văn hoá, xã hội của cơ quan nhà nước các cấp; việc thực hiện các văn bản quyphạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành, phù hợp với chức năng,nhiệm vụ của mình

- Đối với cá nhân: Ủy ban MTTQ Việt Nam từ Trung ương đến cơ sởtiến hành giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đángcủa Nhân dân, quyền và trách nhiệm của MTTQ Việt Nam của cán bộ, côngchức, viên chức, đảng viên, đại biểu dân cử

Trang 28

- Ủy ban MTTQ Việt Nam tổ chức phản biện xã hội đối với các văn bản

dự thảo về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật, các quyhoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội củaNhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) phù hợp với chức năng,nhiệm vụ của mình Chỉ phản biện đối với dự thảo chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không phản biện các chủ trương,đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã được ban hành,đang triển khai thực hiện

- Nội dung phản biện xã hội tập trung làm rõ sự cần thiết, tính cấp thiếtcủa văn bản dự thảo; sự phù hợp của văn bản dự thảo với chủ trương, đườnglối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; thực tiễn của đơn vị, địaphương; tính đúng đắn, khoa học, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội vàtính khả thi của văn bản dự thảo; Dự báo tác động, hiệu quả về chính trị, kinh

tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của văn bản dự thảo

MTTQ Việt Nam đã tổ chức nhiều chính sách giám sát như:

Một là, MTTQ Việt Nam thực hiện giám sát các hoạt động của cơ quan

Nhà nước bao gồm: hoạt động của Quốc hội, HĐND, hoạt động xây dựngpháp luật, quản lý, điều hành và thực thi pháp luật của Chính phủ, Ủy bannhân dân các cấp, hoạt động điều tra, truy xét, xét xử, thi hành án của các cơquan tư pháp

Hai là, giám sát hoạt động đại biểu dân cử Mặt trận đã thực hiện giám

sát trên những nội dung cơ bản Trước hết là việc giám sát chấp hành chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chấphành các quy ước ở khu dân cư Một nội dung quan trọng nữa mà Mặt trậnchú trọng trong quá trình giám sát đại biểu dân cử là giám sát quá trình tiếpthu, phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân

Ba là, giám sát cán bộ, công chức Nhà nước được thực hiện theo Nghị

Trang 29

quyết liên tịch giữa Chính phủ và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam (số

05 ngày 21/4/2006) ban hành quy chế giám sát cán bộ, công chức, đảng viên

ở khu dân cư

MTTQ giám sát cán bộ, công chức còn được quy định cụ thể trongPháp lệnh thực hiện dân chủ, ở xã, phường, thị trấn năm 2007 với hình thức

"phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt do HĐND cấp xã bầu", đó là Chủtịch HĐND, Phó chủ tịch HDND, Chủ tịch UBND, Phó chủ tịch UBND doBan Thường trực UBMTTQ cấp xã chủ trì tổ chức việc lấy phiếu tín nhiệm.Giám sát cán bộ, công chức theo quy định của Luật phòng, chống thamnhũng; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội

1.4.1 Yêu cầu về nhận thức

Giám sát và phản biện xã hội là chủ trương mới của Đảng ta nhằm pháthuy và mở rộng một bước dân chủ trong xã hội, khơi dậy ý thức và tráchnhiệm xã hội, huy động sự tham gia của các tổ chức nhân dân và cá nhân vàoviệc xây dựng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước khiban hành được sự hưởng ứng và chấp hành nghiêm chỉnh của các tầng lớpnhân dân, khắc phục được những khiếm khuyết, quan liêu, chủ quan, lợi íchcục bộ, xa thực tế, thiếu tính khả thi và hình thức trong quá trình xâydựng đồng thời chất lượng xây dựng văn bản từng bước được nâng cao

Về nhận thức, cần phải thấy rằng, giám sát và phản biện xã hội làquyền, là trách nhiệm của Mặt trận với dân, với Đảng Đảng vừa là thànhviên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận, Đảng cần tạo mọi điều kiện để Mặt trậnhoàn thành nhiệm vụ đưa giám sát xã hội vào cuộc sống, trở thành một nếpsinh hoạt thường xuyên ở mọi nơi trên cả nước

Trang 30

1.4.2 Yêu cầu về pháp lý

Những quy định của pháp luật hiện hành chưa thực sự tạo được một cơchế pháp lý hữu hiệu cho MTTQ thực hiện giám sát xã hội Do vậy, cần hoànthiện cơ chế pháp lý bảo đảm cho MTTQ tham gia giám sát và phản biện xãhội theo hướng sau đây:

- Xây dựng cơ chế pháp lý bảo đảm cho nhân dân thực hiện việc giám

sát xã hội đối với quá trình xây dựng, hoạch định các chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước phải trên cơ sở quán triệt quanđiểm của Đảng về mở rộng dân chủ, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản

lý nhà nước, quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng

- Cần quy định đầy đủ và rõ ràng về nội dung, hình thức, cơ chế và hiệuquả pháp lý của thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của Mặttrận

- Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ hơn nữa giữa Đảng, chính quyền,

MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân

1.4.3 Yêu cầu về nguồn lực

Phát huy vai trò của các tổ chức thành viên, của các cá nhân tiêu biểu,các Hội đồng tư vấn của MTTQ Hiện nay, Uỷ ban Trung ương MTTQ ViệtNam có 8 Hội đồng tư vấn; MTTQ các tỉnh, huyện, thành phố có từ 2- 4 Hộiđồng tư vấn trên các lĩnh vực pháp luật về kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học,giáo dục và đối ngoại

Trong điều kiện đặc thù của thể chế chính trị nước ta với chỉ một Đảnglãnh đạo, để củng cố và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, MTTQ có vai tròrất lớn, nhất là khi Đảng chủ động yêu cầu Mặt trận phải làm tốt chức nănggiám sát xã hội Đây chính là nhiệm vụ lớn lao mà không một tổ chức nào cóthể đảm đương thay Mặt trận được Vì vậy, phải dám mạnh dạn tập trung vàochức năng quan trọng này, giảm bớt những việc tuy có thể cũng quan trọng và

Trang 31

Tiểu kết Chương 1

Giám sát và phản biện xã hội là nhu cầu khách quan, tất yếu trong tiếntrình phát triển của xã hội loài người Trong xã hội có giai cấp, quá trình pháttriển của các nền dân chủ, đặc biệt là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thì giámsát và phản biện xã hội được coi là hoạt động không thể thiếu và đó cũng làdấu hiệu đặc trưng của việc thực thi dân chủ Bởi vì không thể có dân chủtrong một xã hội không có giám sát và phản biện và ngược lại Thông quahoạt động giám sát và phản biện xã hội góp phần đưa lại kết quả tích cựctrong việc hoạch định và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, phápluật của giai cấp cầm quyền nói chung, của đảng cầm quyền và nhà nước nóiriêng Qua hoạt động giám sát và phản biện xã hội góp phần khắc phục nhữnghạn chế của căn bệnh chuyên quyền, lạm quyền, lộng quyền, chủ quan, duy ýchí của các lực lượng cầm quyền, tiến tới là một trong những cơ chế kiểmsoát quyền lực của Nhân dân

Ở nước ta hiện nay, trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền thìviệc thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Namlại càng có ý nghĩa thiết thực và vô cùng quan trọng Thực hiện tốt vai trògiám sát và phản biện xã hội của mình, MTTQ Việt Nam sẽ thực hiện tốt hơnchức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhândân; phát huy quyền làm chủ, tăng cường sự giám sát của nhân dân đối vớihoạt động của tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, đảng viên,viên chức, đại biểu dân cử… góp phần xây dựng Đảng, xây dựng chính quyềnngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả vì lợi ích củaNhân dân

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MTTQ

VIỆT NAM HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội tác động đến hoạt động giám sát và phản biện xã hội

2.1.1 Yếu tố thuận lợi

- Về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội:

Huyện Nông Sơn là đơn vị hành chính thuộc huyện Nông Sơn được chiatách từ huyện Quế Sơn năm 2008 theo Nghị định số 42/2008/NĐ-CPngày

08/4/2008 của Chính phủ, có điều kiện địa lý: Phía Đông giáp với huyện QuếSơn, phía Tây giáp huyện Nam Giang, phía Nam giáp huyện Hiệp Đức vàhuyện Phước Sơn, phía Bắc giáp huyện Duy Xuyên và Đại Lộc; cách trungtâm thành phố Tam kỳ 75km về phía Tây Tổng diện tích tự nhiên là47.163,64 ha với tổng dân số 32.021 người Toàn huyện hiện có 07 đơn vịhành chính cấp xã và 39 thôn Nông Sơn là nơi hội tụ của nhiều phong tục,tập quán Phong phú về văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh và lễ hội Nơi đây cũng

là vùng đất học với nhiều nhà tri thức nổi tiếng như “Tứ kiệt” Nguyễn ĐìnhHiến, bác sỹ Bùi Kiến Tín, giáo sư Hoàng Châu Ký, nhà thơ Tường Linhv.v…

Nông Sơn xưa là căn cứ địa cách mạng Rừng Nông Sơn che bộ đội, vâyquân thù Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Nông Sơn có vị tríchiến lược quan trọng Những địa danh lịch sử như: Tân Huyện -Trung Lộc,của cụ Hường Hiệu, thời kỳ 1885-1887; Khu chiến Hoàng Văn Thụ, thời kỳ1946-1954…ghi dấu một thời oanh liệt của bao thế hệ cách mạng anh hùng đãlập nên nhiều chiến công vang dội; góp phần tô thắm thêm những trang sử vẻvang của quê hương, dân tộc, làm cho kẻ thù khiếp vía Bia chiến thắng Nông

Trang 33

Sơn - Trung Phước (18/7/1974) là minh chứng cho tinh thần chiến đấuquật

Trang 34

cường, dũng cảm, khó khăn không sờn lòng, hiểm nguy không lùi bước, củaquân và dân Nông Sơn trong cuộc kháng chiến trường kỳ… Sau 10 năm thànhlập, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Nông Sơn phát huy truyềnthống cách mạng, chung sức, đồng lòng, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt quakhó khăn, thách thức đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốcphòng, an ninh, tạo bước chuyển cơ bản từ một huyện thuần nông sang côngnghiệp hóa, hiện đại hóa; từ một trong những huyện nghèo nhất nước đã vươnlên trở thành một trong những địa phương phát triển khá ở khu vực miềntrung.

Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được đảmbảo, chất lượng cuộc sống của nhân dân được tăng lên Sự nghiệp văn hóađược quan tâm đúng mức Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa phát triển rộng khắp Thiết chế văn hoá được đầu tư khá đồng bộ.Công tác thông tin, truyền thông, báo chí được đẩy mạnh

Quy mô giáo dục được mở rộng, chất lượng giáo dục có cải thiện, đãhoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, xoá mù chữ; phổ cập tiểu học đúng độtuổi Hệ thống các trường đào tạo được mở rộng, đa dạng hoá ngành nghề và

số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh Công tác dạy nghề được mở rộng vềquy mô và có tiến bộ về chất lượng

Công tác đối ngoại phát triển phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế Tăngcường và thiết lập quan hệ hợp tác với nhiều địa phương nước ngoài Công tácđối ngoại nhân dân được tăng cường Công tác thông tin đối ngoại, giaolưu văn hóa với nước ngoài được chú trọng

Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân huyện Nông Sơn ngày càngđược cải thiện rõ rệt, trình độ dân trí được nâng lên đáng kể, ý thức tráchnhiệm công dân và tinh thần làm chủ của nhân dân được phát huy, trong đó có

ý thức trách nhiệm cao trong việc tích cực tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây

Trang 35

dựng chính quyền các cấp ngày càng trong sạch, vững mạnh thông quaviệc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.

Trang 36

Về truyền thống văn hóa:

Người dân huyện Nông Sơn, huyện Nông Sơn luôn giản dị, cần cù, chịukhó; tính cách cương trực, thẳng thắn, chất phát, ham học hỏi Đặc biệt đặctính “hay cãi” của người Nông Sơn là một đức tính tốt, thể hiện trách nhiệm,bản lĩnh của mình trước cuộc sống, để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ cái đúng, cái hợp

lý Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng của người dân Nông Sơn khi thực hiệnquyền giám sát và phản biện xã hội của mình đối với quá trình hoạch định vàthực thi chủ trương, đường lối của các cấp ủy Đảng, chính sách, pháp luật củachính quyền các cấp

Dân chủ và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trên địa bàn huyệntiếp tục được phát huy MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hộikhông ngừng được củng cố về tổ chức, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạtđộng Nhận thức về vai trò làm chủ của nhân dân, chức năng, nhiệm vụ củaMTTQ Việt Nam trong hệ thống chính trị các cấp và đội ngũ cán bộ, côngchức, đảng viên có sự chuyển biến rõ nét

Trong công tác cán bộ, thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày

30-6-2011 của Huyện ủy Nông Sơn (khóa XX) về công tác cán bộ giai đoạn 30-6-2011-

2015 và định hướng đến năm 2020, công tác cán bộ và chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức, viên chức từ huyện đến cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực vàđạt nhiều kết quả Thực hiện chủ trương thí điểm thi tuyển để bổ nhiệm một sốchức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý ở đơn vị sự nghiệp và Đề án tuyển chọnđào tạo nguồn cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn giai đoạn 2011 - 2016 bướcđầu đạt kết quả; công tác cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ là người dân tộc thiểu

số được quan tâm và có nhiều chuyển biến tích cực

Chất lượng đội ngũ cán bộ từ huyện đến cơ sở nâng lên đáng kể Độingũ cán bộ cấp xã có trình độ đại học trở lên đạt 55,83% Đội ngũ cán bộ cấphuyện có trình độ sau đại học đạt 9,68% Chất lượng cấp ủy các cấp nhiệm kỳ

Trang 37

2020 được nâng lên.

Trang 38

Đối với tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam, Nghị quyết Đại hộiĐảng bộ huyện lần thứ XXI xác định nhiệm vụ trọng tâm là: “Phát huy vai tròcủa MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc tập hợp và vận động cáctầng lớp nhân dân thực hiện các phong trào hành động cách mạng; giám sát vàphản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền Phát huy dân chủ điđôi với tăng cường kỷ cương, pháp luật”.

Với những điều kiện thuận lợi và định hướng cơ bản nêu trên, công tácMTTQ Việt Nam huyện Nông Sơn nói chung và hoạt động giám sát và phảnbiện xã hội nói riêng sẽ được triển khai thực hiện đúng trọng tâm và đạt kếtquả

2.1.2 Về những khó khăn

- Điều kiện tự nhiên của huyện Nông Sơn bên cạnh những thuận lợi nêutrên thì Nông Sơn là huyện miền núi Đây là vùng có địa hình phức tạp, độdốc lớn, hiểm trở, giao thông chia cắt gây rất nhiều khó khăn, trở ngại đối vớiviệc hoạch định và triển khai chủ trương, chính sách giảm nghèo, phát triểnkinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân gắn vớiđảm bảo quốc phòng, an ninh biên giới Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo của miền núihuyện Nông Sơn còn cao 18,28% năm 2017 Tâm lý ỷ lại, trông chờ, thụđộng, thiếu tích cực trong lao động sản xuất cũng như trong xây dựng đờisống văn hóa, xây dựng nông thôn mới, xây dựng Đảng, xây dựng chínhquyền Do đó, nhận thức về quyền làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân trongviệc tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức,đảng viên… cũng như góp ý xây dựng chủ trương, chính sách và pháp luậtcủa Nhân dân còn nhiều hạn chế

- Đời sống kinh tế của một bộ phận Nhân dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ

hộ nghèo còn cao, điều kiện và mức độ tiếp cận thông tin còn nhiều hạn chế

Do đó, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, năng lực thực hành dân chủ của

Trang 39

đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế nên việc tuyên truyền, độngviên

Trang 40

Nhân dân phát huy quyền làm chủ tích cực tham gia giám sát và phản biện xãhội, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xâydựng chính quyền sẽ gặp nhiều khó khăn.

- Huyện Nông Sơn đang trong giai đoạn tập trung, đẩy mạnh hoạt độnglập và triển khai thục hiện quy hoạch, đầu tư xây dựng hạ tầng, phát triển kinh

tế - xã hội, phấn đấu đạt mục tiêu sớm trở thành huyện khá của huyện vàonăm

2025 và ban hành nhiều chủ trương, chính sách lớn mang tính đột phá, đổimới… đang được các cấp ủy, chính quyền tập trung nghiên cứu xây dựng Do

đó số lượng dự thảo văn bản cần được phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam

là rất lớn Hơn nữa, trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội của huyện phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúcnhư tình trạng tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, mâu thuẫn, ô nhiễmmôi trường, thu hẹp đất sản xuất, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nôngthôn khi nhà nước thu hối đất… cần có giải pháp giải quyết hợp lý, đảm bảoquyền lợi của Nhân dân Ngoài ra, tình trạng lãng phí, tham nhũng vặt, tệ nạnquan liêu, sách nhiễu, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, công chức chưa đượcquản lý hiệu quả làm ảnh hưởng đến niềm tin, tinh thần trách nhiệm công dân

và tính tích cực xã hội của Nhân dân Vấn đề này sẽ tác động không nhỏ đếnquá trình triển khai thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội củaMTTQ Việt Nam trong thời gian qua cũng như trong thời gian đến

2.2 Đặc điểm của MTTQ Việt Nam huyện Nông Sơn gắn với yêu cầu thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội

2.2.1 Về tổ chức bộ máy

MTTQ Việt Nam huyện Nông Sơn được thành lập từ năm 2008, là tổchức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chứcchính trị - xã hội, tổ chức xã hội và cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng

Ngày đăng: 11/07/2019, 11:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Chấp hành Trung ương (2013), Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 2013 về việc ban hành Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 217-QĐ/TW ngày2013 về việc ban hành Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQViệt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2013
3. Ban Chấp hành Trung ương (2013), Quyết định số 218-QĐ/TW ngàv 12/12/2013 quy định về việc MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dụng Đảng, xây dựng chính quyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 218-QĐ/TW ngàv12/12/2013 quy định về việc MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xãhội và nhân dân tham gia góp ý xây dụng Đảng, xây dựng chính quyền
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2013
6. Trần Thái Dương (2006), “Góp phần nhận thức về phản biện xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Luật học, tr.15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nhận thức về phản biện xã hội ởnước ta hiện nay”, Tạp chí "Luật học
Tác giả: Trần Thái Dương
Năm: 2006
7. Đảng bộ huyện Nông Sơn, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nông Sơn lần thứ XXIV, nhiệm kỳ 2015-2020, tr.76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyệnNông Sơn lần thứ XXIV
8. Đảng bộ huyện Nông Sơn, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nông Sơn, tr.106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyệnNông Sơn
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H 2011, tr.124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXI
Nhà XB: Nxb CTQG
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Hà Nội, 2016, tr.178 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương, tr.124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XII
19. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Nxb CTQG, t.5, tr.269 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
20. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Nxb CTQG, t.11, tr.300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
23. Hoàng Phê (Chủ biên) (2004), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2004
25. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến phápnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Sựthật
Năm: 2013
26. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật MTTQ Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật MTTQViệt Nam
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2015
27. Tô Huy Rứa (Chủ biên) (2008), Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị một số nước trên thế giới, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức và hoạt động của hệthống chính trị một số nước trên thế giới
Tác giả: Tô Huy Rứa (Chủ biên)
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2008
28. Trung tâm Từ điển học (2003), Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 3, NXB. Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam
Tác giả: Trung tâm Từ điển học
Nhà XB: NXB. Từ điển bách khoa
Năm: 2003
29. Trần Đăng Tuấn (2006), "Phản biện xã hội - một số vấn đề chung", Tạp chí Cộng sản, (17), tr.38 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phản biện xã hội - một số vấn đề chung
Tác giả: Trần Đăng Tuấn
Năm: 2006
30. Hoàng Văn Tuệ (2006), "Vấn đề phản biện xã hội với yêu cầu thực tế hiện nay", Tạp chí Triết học, (4), tr.53 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phản biện xã hội với yêu cầu thực tếhiện nay
Tác giả: Hoàng Văn Tuệ
Năm: 2006
31. Đinh Văn Tư (2006), "Chính dân là người phản biện", Báo Đại Đoàn kết, (ll),tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính dân là người phản biện
Tác giả: Đinh Văn Tư
Năm: 2006
32. Trần Đăng Tuấn (2006), Phản biện xã hội – Câu hỏi đặt ra từ cuộc sống, Nxb Đà Nẵng, tr.38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phản biện xã hội – Câu hỏi đặt ra từ cuộc sống
Tác giả: Trần Đăng Tuấn
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2006
33. Lê Đức Tiết (2007), "Phản biện xã hội - phương thuốc chữa căn bệnh duy ý chí", Tạp chí Mặt trận, (40), tr.42 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phản biện xã hội - phương thuốc chữa căn bệnhduy ý chí
Tác giả: Lê Đức Tiết
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w