1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức và hoạt động của DNKT độc lập theo pháp luật việt nam

78 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

toán với những mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động linh hoạt nhằm thíchứng với đặc điểm của đối tượng và khách thể kiểm toán trong các cuộc kiểmtoán cụ thể và hướng tới việc thực viện cá

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HOÀNG HẠ

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HOÀNG HẠ

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN ĐÌNH HẢO

HÀ NỘI - năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Luật học này là công trình nghiêncứu của riêng bản thân tôi Các số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trungthực, có nguồn trích dẫn rõ ràng và được đơn vị cung cấp đồng ý cho sử dụng

Tác giả

Trần Hoàng Hạ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin gửi đến các thầy, cô giáo của Học viện Khoa học

Xã hội và cơ sở đào tạo Đà Nẵng lời cảm ơn chân thành nhất Cảm ơn cácthầy, cô giáo đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian tôihọc chương trình thạc sĩ luật luật tại cơ sở đào tạo Đà Nẵng

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Đình Hảo –người thầy đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành tốt bản luận văn này

Đà nẵng, tháng 02 năm 2019

Tác giả

Trần Hoàng Hạ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm, chức năng của kiểm toán độc lập 61.2 Khái niệm, đặc điểm, chức năng, loại hình doanh nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán độc lập 181.3 Tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán độc lập 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 34

2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán độc lập 342.2 Thực tiễn tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán độc lập tạiViệt Nam 432.3 Nhận xét chung về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán độc lập tại Việt Nam 55

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 60

3.1 Định hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán độc lập trong nền kinh tế Việt Nam 603.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán độc lập 63

KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DNKT : Doanh nghiệp kiểm toánKTV : Kiểm toán viên

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế hội nhập hiện nay, hoạt động kiểm toán độc lập hìnhthành và phát triển là một nhu cầu tất yếu khách quan của nền kinh tế Nềnkinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tếmuốn quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư muốn thựchiện đầu tư kể cả cơ quan quản lý nhà nước muốn quản lý nền kinh tế đều cầnphải có các thông tin tài chính, kinh tế chính xác, kịp thời và đáng tin cậy Đểđáp ứng được yêu cầu đó, đòi hỏi phải có một bên thứ ba độc lập khách quan

có trình độ chuyên môn cao, được thị trường chấp nhận và được pháp luật chophép cung cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm Vì vậy, nền kinh tế thịtrường đã hình thành nên loại kiểm toán độc lập và khi nền kinh tế thị trườngcàng hoàn hảo, càng phát triển thì đòi hỏi hoạt động kiểm toán độc lập phảicàng phát triển và hoàn thiện hơn Từ đó hoạt động kiểm toán độc lập đã trởthành nhu cầu cần thiết để công khai, minh bạch thông tin tài chính, phục vụlợi ích của doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần nângcao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành kinh tế, tài chính của Nhà nước vàhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Nhận thức được nhu cầu của hoạt động kiểm toán độc lập, số lượng cáccông ty cung cấp dịch vụ kiểm toán cũng vì vậy ngày càng tăng lên Sự giatăng về số lượng các công ty kiểm toán độc lập càng thể hiện tầm quan trọngcủa kiểm toán độc lập Và một câu hỏi đặt ra là liệu việc tổ chức bộ máy kiểmtoán tại các công ty này đã phù hợp chưa và có đảm bảo chất lượng cho cáccuộc kiểm toán mà họ thực hiện không?

Bộ máy kiểm toán gồm cả con người và phương tiện chứa đựng cácyếu tố của kiểm toán để thực hiện chức năng kiểm toán Tổ chức bộ máy kiểm

Trang 8

toán với những mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động linh hoạt nhằm thíchứng với đặc điểm của đối tượng và khách thể kiểm toán trong các cuộc kiểmtoán cụ thể và hướng tới việc thực viện các chức năng của kiểm toán.

Nhận thức được tầm quan trọng mô hình tổ chức và cơ chế hoạt độngkiểm toán của DNKT độc lập, tìm hiểu lý luận và thực tiễn, tôi đã chọn đề tài

“Tổ chức và hoạt động của DNKT độc lập theo pháp luật Việt Nam” để làm

Luận văn Thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, những vấn đề liên quan đến hoạt động kiểmtoán độc lập được đề cập tại rất nhiều diễn đàn, hoạt động nghiên cứu khoahọc với những quy mô khác nhau, thu hút sự tham gia đông đảo của nhữngngười quan tâm Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu, bài viếtcủa một số tác giả liên quan đến đề tài về kiểm toán độc lập được công bố, cụthể như:

Ở nhóm quy mô luận văn, luận án, đề tài khoa học có thể liệt kê một số

công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam”, Đề tài khoa học cấp bộ, Bộ Tài chính năm 2001, do PGS.TS Vương Đình Huệ làm Chủ nhiệm đề tài;“Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam”,

Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, mã số QK.09.04, thời gianthực hiện từ 2009 đến 2011, do TS Đặng Đức Sơn làm Chủ nhiệm đề tài;

“Pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật

học của tác giả Nguyễn Thị Khuyên, Khoa Luật Đại học Quốc gia, Hà Nội,

năm 2014; “Giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán theo Luật Kiểm toán độc lập ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn

Thanh Hương, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2016

Ở nhóm quy mô bài báo, tạp chí chuyên ngành kiểm toán có một số bài

Trang 9

viết sau: “Môi trường pháp lý hiện hành về kiểm toán độc lập và phương hướng hoàn thiện” của tác giả Hà Thị Ngọc Hà, Tạp chí Kiểm toán số 7 tháng

và ý nghĩa to lớn Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu của các công trình nóitrên cũng sẽ được tác giả tiếp thu có chọn lọc trong quá trình nghiên cứu đểviết Luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Phân tích cơ sở lý luận của pháp luật về hoạt động kiểm toán độc lập

và DNKT độc lập

- Phân tích các quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật

về tổ chức và hoạt động của DNKT độc lập, từ đó đưa ra những vướng mắctrong thực tiễn về áp dụng pháp luật

- Đưa ra các giải pháp hướng dẫn hoàn thiện các quy định pháp luật về

tổ chức và hoạt động và định hướng nâng cao hiệu quả của DNKT độc lậptrong nền kinh tế Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn đượcxác định là:

- Đưa ra khái niệm, đặc điểm, cơ cấu tổ chức và hoạt động của DNKT

Trang 10

độc lập.

- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về DNKT độc lập

- Phân tích tình hình áp dụng pháp luật thông qua thực tiễn hoạt độngkiểm toán của DNKT độc lập, đưa ra những tồn tại vướng mắc trong áp dụngpháp luật

- Đưa ra một số giải pháp để hướng dẫn hoàn thiện các quy định phápluật về tổ chức và hoạt động và định hướng nâng cao hiệu quả của DNKT độclập trong nền kinh tế Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hệ thống quan điểm, các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức vàhoạt động của DNKT độc lập

- Các văn bản pháp luật như: Luật Kiểm toán độc lập năm 2011 và cácnghị định chuyên ngành và có liên quan đến lĩnh vực kiểm toán độc lập

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của DNKT độc

lập theo quy định của Luật Kiểm toán độc lập năm 2011; nghiên cứu thựctrạng áp dụng pháp luật sau khi Luật Kiểm toán độc lập năm 2011 có hiệulực

- Về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2018.

- Về phạm vi: Các DNKT độc lập tại Việt Nam nói chung và tại Công

ty TNHH Kiểm toán FAC nói riêng

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Trang 11

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duyvật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin, kết hợp cácphương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như: phương pháp tổng hợp, phântích, khái quát hóa trong khi tìm hiểu, đánh giá pháp luật về DNKT độc lậpnhằm tìm ra những hạn chế và đề xuất giải pháp phù hợp để nâng cao hiệuquả tổ chức bộ máy kiểm toán tại các công ty và chất lượng cho các cuộckiểm toán mà họ thực hiện

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Luận văn đề xuất các giải phápphù hợp để nâng cao hiệu quả của DNKT độc lập trong nền kinh tế Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của doanhnghiệp kiểm toán độc lập

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểmtoán độc lập theo pháp luật Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiệnpháp luật về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán độc lập

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP

1.1 Khái niệm, đặc điểm, chức năng của kiểm toán độc lập

1.1.1 Khái niệm kiểm toán độc lập

Kiểm toán độc lập là hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn, ra đời và pháttriển trong nền kinh tế thị trường trên thế giới cũng như ở Việt Nam Kiểmtoán độc lập xuất hiện và phát triển theo nhu cầu tự thân của nền kinh tế, hoạtđộng kiểm toán độc lập phục vụ cho doanh nghiệp và nhà đầu tư, sau đó đượcNhà nước thừa nhận do hiệu quả và tính chất xã hội của nó

Trên thế giới, kiểm toán độc lập phát triển mạnh ở các nước có nềnkinh tế thị trường phát triển, đại diện là các công ty được thành lập từ nhữngnăm cuối của thế kỷ XIX phát triển đến hiện nay và trở thành những công tykiểm toán hàng đầu thế giới và được thế giới thừa nhận là nhóm Big Fournhư: Ernst&Young, Price Waterhouse Cooper, KPMG Peat Marwich,Deloitte Touche Hình thức tổ chức của các tổ chức kiểm toán ở các nướckhông hoàn toàn giống nhau Mỗi nước, luật pháp quy định rõ quyền hạn,trách nhiệm của các tổ chức kiểm toán, thừa nhận sự khách quan và độc lậpcủa kiểm toán, vì thế mà xuất hiện rất nhiều định nghĩa khác nhau và cáchtiếp cận khác nhau về kiểm toán độc lập Dưới đây ta sẽ viện dẫn một số địnhnghĩa về kiểm toán được sử dụng phổ biến hiện nay trên thế giới

Theo Liên đoàn quốc tế các nhà kế toán (International Federation ofAccountants - IFAC) định nghĩa thì: “Kiểm toán là việc các KTV độc lập

kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính” [18].

Theo quan niệm của các chuyên gia kiểm toán Hoa Kỳ: “Kiểm toán làmột quá trình mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá

Trang 13

rõ ràng về thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh tếriêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin

có thể lượng hoá với những tiêu chuẩn đã được thiết lập” [21].

Trong Giáo trình kiểm toán của các tác giả Alvin A.Rens và JamesK.Loebbecker cho rằng: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và cóthẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể địnhlượng được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo vềmức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”.Còn trích từ Auditing - Theory & Practice của John Dunn, University ofStrathclyde, Glasgow Nhà xuất bản Prentice Hall thì: “Kiểm toán là thủ phápxem xét và kiểm tra một cách khách quan về từng khoản mục bao gồm việcthẩm tra những thông tin đặc trưng được xác định bởi KTV hoặc thiết lập bởithực hành chung Nói tổng quát, mục đích của kiểm toán là trình bày ý kiếnhoặc đi đến kết luận về cái được kiểm toán”

Ở Việt Nam, theo Thông tư số 22-TC/CĐKT ngày 19/3/1994 của BộTài chính về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế kiểm toán độc lập trong nềnkinh tế quốc dân ban hành kèm theo Nghị định số 07/CP ngày 29/01/1994 củaChính phủ thì: “Kiểm toán độc lập là loại hình hoạt động dịch vụ kiểm toán

vầ tư vấn tài chính kế toán do các KTV chuyên nghiệp của các tổ chức kiểmtoán độc lập thực hiện theo yêu cầu của các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan”.Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/4/2004 của Chính phủ cũng quy định:

“Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của KTV và DNKT về tínhtrung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính củacác doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung là đơn vị được kiểm toán) khi có yêucầu của các đơn vị này”

Khái niệm kiểm toán độc lập được xác định đầy đủ hơn theo các quy

định của Luật Kiểm toán độc lập năm 2011: “Kiểm toán độc lập là việc KTV

Trang 14

hành nghề, DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa

ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”.

Như vậy, kiểm toán độc lập là hoạt động được tiến hành bởi các KTVthuộc các Công ty, Văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp nhằm xác minh vàbày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động của đối tượng được kiểm toán bằng hệthống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoàichứng từ Hoạt động chủ yếu của kiểm toán độc lập là kiểm toán Báo cáo tàichính Ngoài ra, theo yêu cầu của khách hàng, KTV độc lập còn có thể thựchiện các dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán và kiểm toán khác

1.1.2 Đặc điểm của kiểm toán độc lập

Trong từng giai đoạn phát triển, kiểm toán độc lập có những đặc điểmkhác nhau, tuy nhiên nổi bậc và xuyên suốt nhất thì đặc điểm của kiểm toánđộc lập được thể hiện qua một số nội dung như sau:

Một là, đối tượng của kiểm toán độc lập là thực trạng hoạt động tài

chính, tài liệu kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính cùng hiệu quả

và hiệu năng của các nghiệp vụ hay dự án cụ thể

Thực trạng hoạt động tài chính là đối tượng chung của kiểm toán, cóthể hiểu theo nghĩa chung nhất là dùng tiền để giải quyết các mối quan hệkinh tế trong đầu tư, kinh doanh, trong phân phối và thanh toán nhằm đạt tớilợi ích kinh tế xác định Để giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế xã hội theomục tiêu đã xác định, hoạt động tài chính phải có kế hoạch; phải đảm bảo cólợi và tiết kiệm và phải đảm bảo tuân thủ pháp luật và thể lệ tài chính Mặtkhác hoạt động này thường phức tạp trên nhiều lĩnh vực, gồm nhiều loại tàisản, các tài sản hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau nên khi tiến hànhkiểm toán phải chọn trọng điểm và áp dụng các phương pháp kiểm toán thíchhợp

Trang 15

Tài liệu kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính và hiệu quả,hiệu năng là đối tượng cụ thể của kiểm toán.

Tài liệu kế toán trước hết là các báo cáo tài chính, là đối tượng trực tiếp

và thường xuyên của mọi cuộc kiểm toán Các đối tượng cụ thể của kiểm toánthuộc phạm vi tài liệu kế toán bao gồm:

+ Tính hiệu lực của các thông tin kế toán

+ Tính hợp pháp của các biễu mẫu, trình tự lập và luân chuyển các tàiliệu này

+ Tính hợp lý của các đối tượng kế toán phù hợp với nội dung của cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh

+ Tính pháp lý trong việc thực hiện các luật pháp, chuẩn mực và chế độkinh tế tài chính

Thực trạng tài sản được biểu hiện dưới nhiều hình thái vật chất khácnhau với yêu cầu về quy cách, phẩm chất, bảo quản…khác nhau với nhữngngười quản lý khác nhau Thêm vào đó lại xuất hiện nhiều loại tài sản mới doquy mô kinh doanh mở rộng, các mối liên hệ kinh tế ngày càng phức tạp…Tất

cả những yếu tố này dẫn đến khả năng cách biệt giữa tài sản với sự phản ánhcủa nó trong thông tin kế toán Thực tế đó đã thúc đẩy sự ra đời của kiểm toáncùng tính tất yếu phải đặt thực trạng của tài sản vào đối tượng kiểm toán

Tài sản trong kinh doanh cũng như trong mội lĩnh vực hoạt động khácthường xuyên vận động Trong khi đó nghiệp vụ tài chính là các thao táckhác nhau thong quá trình vận động và hình thành vốn Số lượng các nghiệp

vụ tài chính tương đối lớn phụ thuộc nhiều loại hình kinh doanh của từngdoanh nghiệp

Ngoài tài liệu kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính, theoquan điểm hiện đại đối tượng kiểm toán còn bao gồm cả hiệu quả và hiệunăng Hiệu quả được hiểu là quan hệ giữa một bên là các sản phẩm, dịch vụ

Trang 16

làm ra với một bên là nguồn lực đã tạo ra chúng với yêu cầu có kết quả tối đa,với chi phí về nguồn lực tối thiểu Còn hiệu năng là xét đến mục tiêu, kết quả

cụ thể của một chương trình Hiệu quả thường gắn với hoạt động kinh doanhcòn hiệu năng thường gắn với hoạt động quản lý Đây là đối tượng hoàn toànmới, tuy nhiên trên góc độ kiểm toán thì cả hiệu quả và hiệu năng là một bộphận của kiểm toán nghiệp vụ, gắn liền với một nghiệp vụ hay chương trình

cụ thể

Hai là, mục đích của kiểm toán độc lập là kiểm tra, xác nhận và báo

cáo về mức độ phù hợp, trung thực, hợp lý của thông tin trình bày trên báocáo tài chính phục vụ cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thôngtin Nói cách khác, mục đích của kiểm toán độc lập là để có được nhữngthông tin đáng tin cậy Để đạt được mục đích của kiểm toán độc lập thì cầnphải có một bên thứ ba độc lập, khách quan, có kỹ năng nghề nghiệp, địa vị

và trách nhiệm pháp lý kiểm tra và đưa ra kết luận là các báo cáo tài chính củadoanh nghiệp lập ra có hợp thức không, có trung thực và hợp lý hay không

Đó chính là công việc của KTV độc lập thuộc các tổ chức kiểm toán chuyênnghiệp Kiểm toán độc lập hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu này của nềnkinh tế Luật pháp nhiều nước khẳng định rằng, chỉ những báo cáo đã đượcxem xét và có chữ ký của KTV độc lập mới được coi là hợp pháp, làm cơ sởcho Nhà nước tính thuế cũng như các bên quan tâm khác đưa ra các quyếtđịnh kinh tế trong mối quan hệ với doanh nghiệp

Ba là, chủ thể kiểm toán độc lập là các KTV được cấp chứng chỉ hành

nghề hợp pháp thuộc các công ty, các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp.Theo tiêu chuẩn của IFAC (Liên đoàn Kế toán Quốc tế) và luật pháp các nướcthành viên đều quy định các yêu cầu cơ bản của KTV là: Phải có kỹ năng vàkhả năng nghề nghiệp; chính trực, khách quan; độc lập và tôn trọng bí mật

Trang 17

- Về kỹ năng và khả năng của KTV.

Việc thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán phải được tiến hànhmột cách thận trọng theo yêu cầu nghề nghiệp Năng lực chuyên môn là nhân

tố quan trọng đối với KTV Năng lực chuyên môn cao hay thấp sẽ ảnh hưởngrất lớn đến chất lượng của cuộc kiểm toán, bởi nó ảnh hưởng đến khả năngcủa KTV trong việc đánh giá tính trung thực hợp lý của các thông tin trên báocáo tài chính, phát hiện ra các sai phạm và đưa ra ý kiến kiểm toán hợp lý Do

đó KTV phải có năng lực, kỹ thuật và kỹ năng đặc biệt Điều đó đạt đượcthông qua việc kết hợp giữa quá trình đào tạo phổ thông với các hiểu biết vềnghiệp vụ đạt được thông qua tự nghiên cứu và các chương trình đào tạochính thức được kết thúc bằng các kỳ thi có cấp chứng chỉ cũng như các kinhnghiệm thực tiễn đã được kiểm nghiệm đúng đắn Hơn nữa, KTV phải tiếptục nhận thức được sự phát triển về kế toán, kiểm toán qua các văn bảnchuyên ngành thích hợp do quốc gia và quốc tế công bố cũng như các quyđịnh có liên quan và các yêu cầu của pháp luật

Trình độ chuyên môn còn yêu cầu về kinh nghiệm làm việc Cần phảimất vài năm để trở thành một KTV đạt trình độ nhất định Mặc dù các tổ chức

có những quy tắc hơi khác nhau nhưng nhìn chung, mọi tổ chức đều có nhưngyêu cầu tối thiểu để kết nạp thành viên Sau khi trở thành một kế toán viên đủtrình độ người đó vẫn chưa được phép làm KTV, mọi tổ chức chuyên nghiệpđều chủ trương là các thành viên của mình không được làm các dịch vụ kếtoán trừ khi họ đã có chứng chỉ hành nghề Trong thực tế rất ít kế toán viênchuyên nghiệp được cấp chứng chỉ hành nghề mà cam chịu sử dụng nghềnghiệp của mình để làm thuê cho các văn phòng chuyên nghiệp hay trongngành

Ngoài ra, trong điều kiện nền kinh tế tài chính thế giới ngày càng quốc

tế hóa sâu rộng, KTV cần phải thông thạo ngoại ngữ để có thể trao đổi với

Trang 18

khách hàng để công việc kiểm toán có thể diễn ra thuận lợi và các báo cáokiểm toán có giá trị quốc tế Mặt khác khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tinngày càng phát triển, máy tính trở nên phổ biến, KTV cần phải có kỹ năng tinhọc, thành thạo các phần mềm kế toán, phần mềm kiểm toán,… Kỹ năng giaotiếp cũng là một kỹ năng quan trọng của KTV Có được một nghệ thuật giaotiếp tốt, KTV sẽ tránh được những hiểu nhầm, tạo thuận lợi trong việc thuthập các số liệu làm bằng chứng kiểm toán và nhất là có thể duy trì một mốiquan hệ tốt đẹp và lâu dài giữa công ty kiểm toán và khách hàng kiểm toán.

- Về chính trực và khách quan

Trình độ chuyên môn là một yêu cầu không thể thiếu của KTV trongviệc đưa ra ý kiến của mình đối với báo cáo tài chính Bên cạnh đó kiểm toánhoạt động mang tính chủ quan, KTV căn cứ vào những bằng chứng thu thậpđược và KTV dựa vào những kinh nghiệm nghề nghiệp và khả năng phán xét

để đưa ra những ý kiến nhận xét trên báo cáo tài chính KTV phải là ngườithẳng thắn, trung thực và có lương tâm nghề nghiệp, phải là người trong sángkhông được phép để cho sự định kiến thiên lệch lấn át tính khách quan KTVphải điều chỉnh mình cho phù hợp với uy tín của ngành nghề, uy tín của bảnthân và của DNKT, phải tự kiềm chế những đức tính có thể phá vỡ uy tínnghề nghiệp

- Về độc lập của KTV.

Một vấn đề cực kì quan trọng là KTV phải được người sử dụng báo cáokiểm toán tin tưởng Và họ không thể tin vào báo cáo kiểm toán nếu họ cảmthấy nội dung của báo cáo đó đã chịu ảnh hưởng của ban giám đốc doanhnghiệp được kiểm toán Độc lập bao gồm độc lập về tư tưởng và độc lập cả vềhình thức Độc lập về tư tưởng là trạng thái suy nghĩ cho phép đưa ra ý kiến

mà không chịu ảnh hưởng của những tác động trái với những đánh giá nghềnghiệp, cho phép một cá nhân hành động một cách chính trực, khách quan và

Trang 19

có sự thận trọng trong nghề nghiệp Độc lập về hình thức là không có cácquan hệ thực tế và hoàn cảnh có ảnh hưởng đáng kể làm cho bên thứ ba hiểu

là không độc lập, hoặc hiểu là tính chính trực, khách quan và thận trọng nghềnghiệp của nhân viên công ty hay thành viên của nhóm cung cấp dịch vụ đảmbảo không được duy trì Ngoài ra một KTV không thể được xem là độc lập,nếu người đó phụ thuộc quá nhiều vào thù lao do khách hàng trả

Vì vậy, khi hành nghề kiểm toán thì KTV phải thể hiện tính độc lập củamình, không để cho các ảnh hưởng chủ quan, khách quan hoặc sự chi phốicủa vật chất làm mất đi tính độc lập Trong quá trình kiểm toán, nếu có sự hạnchế về tính độc lập của KTV thì KTV phải tìm cách loại bỏ sự hạn chế này,nếu không hạn chế được thì KTV phải diễn đạt điều này trong báo cáo kiểmtoán

- Về tôn trọng bí mật của KTV.

Trong tiến trình kiểm tra, các KTV thu được một số lượng thông tinđáng kể bảo mật như lương, chi phí, kế hoạch… Nếu KTV tiết lộ nhữngthông tin này cho những người ở bên ngoài hoặc cho các nhân viên của công

ty khách hàng là những người bị ngăn chặn không cho tiếp cận những thôngtin đó, mối quan hệ của họ với ban quản lý sẽ bị căng thẳng nghiêm trọng vàtrong trường hợp cực đoan sẽ là nguyên nhân làm hại đến công ty khách hàng.Hơn nữa việc tiếp cận với các bản tư liệu sẽ cho các nhân viên của công tykhách hàng một cơ hội để làm thay đổi thông tin trên các tư liệu đó Vì những

lý do này, luôn luôn phải cẩn trọng để bảo vệ các bản tư liệu Chính vì vậy,KTV phải tôn trọng các bí mật của những thông tin đã thu thập được trongquá trình kiểm toán, không được để lộ bất cứ thông tin kiểm toán nào chongười thứ ba khi không có sự uỷ quyền đặc biệt hoạc có trách nhiệm pháp lý,trách nhiệm nghề nghiệp yêu cầu phải công bố

Bốn là, đối tượng áp dụng kiểm toán là các đơn vị được DNKT độc lập

Trang 20

thực hiện kiểm toán Đối tượng áp dụng kiểm toán độc lập có thể chia ra làmhai loại: Loại bắt buộc báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi các tổ chứckiểm toán độc lập và loại thứ hai là loại tự nguyện Doanh nghiệp thuộc loạibắt buộc báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi KTV độc lập là các doanhnghiệp phải được kiểm toán theo yêu cầu của quan hệ thị trường hoặc theoyêu cầu quản lý của nhà nước và được nhà nước quy định cụ thể bằng phápluật Theo yêu cầu của quan hệ thị trường là do tính ảnh hường của doanhnghiệp này đến các chủ thể tham gia thị trường lớn, việc tăng trưởng haykhông của doanh nghiệp này sẽ ảnh hưởng lớn đến lợi ích của các chủ thể cóliên quan Bên cạnh đó trên thị trường còn một số doanh nghiệp mà theo yêucầu quản lý nhà nước, nhà nước cần phải kiểm soát và chi phối, để có cơ sởkiểm soát nhà nước bắt buộc phải kiểm toán độc lập hàng năm thay vì nhànước phải thanh tra, kiểm tra hàng năm Doanh nghiệp thuộc loại tự nguyệnthuê dịch vụ kiểm toán độc lập thường do bản thân doanh nghiệp có nhu cầunhằm tăng cường năng lực quản lý hoặc muốn minh bạch số liệu báo cáo tàichính cho các cổ đông.

Ở Việt Nam các doanh nghiệp thuộc loại bắt buộc báo cáo kiểm toánphải được kiểm toán độc lập được quy định cụ thể trong Luật Kiểm toán độclập năm 2011, cụ thể như sau:

- Doanh nghiệp, tổ chức mà pháp luật quy định báo cáo tài chính hàngnăm phải được DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam kiểm toán,bao gồm:

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

+ Tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chứctín dụng;

+ Tổ chức tài chính, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệpmôi giới bảo hiểm;

Trang 21

+ Công ty đại chúng, tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứngkhoán.

- Doanh nghiệp, tổ chức phải được DNKT, chi nhánh DNKT nướcngoài tại Việt Nam kiểm toán, bao gồm:

+ Doanh nghiệp nhà nước, trừ doanh nghiệp nhà nước hoạt động tronglĩnh vực thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật phải được kiểmtoán đối với báo cáo tài chính hàng năm;

+ Doanh nghiệp, tổ chức thực hiện dự án quan trọng quốc gia, dự ánnhóm A sử dụng vốn nhà nước, trừ các dự án trong lĩnh vực thuộc bí mật nhànước theo quy định của pháp luật phải được kiểm toán đối với báo cáo quyếttoán dự án hoàn thành;

+ Doanh nghiệp, tổ chức có vốn góp của Nhà nước và dự án sử dụngvốn nhà nước khác do Chính phủ quy định phải được kiểm toán đối với báocáo tài chính hàng năm hoặc báo cáo quyết toán dự án hoàn thành: Doanhnghiệp, tổ chức mà các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nắm giữ từ 20%quyền biểu quyết trở lên tại thời điểm cuối năm tài chính phải được kiểm toánđối với báo cáo tài chính hàng năm; Doanh nghiệp mà các tổ chức niêm yết,

tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứng khoán nắm giữ từ 20% quyềnbiểu quyết trở lên tại thời điểm cuối năm tài chính phải được kiểm toán đốivới báo cáo tài chính hàng năm;

+ DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam phải được kiểmtoán đối với báo cáo tài chính hàng năm

Đối với trường hợp tự nguyện, Nhà nước khuyến khích tất cả các doanhnghiệp và tổ chức thuê DNKT thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính hàngnăm hoặc báo cáo quyết toán dự án đầu tư trước khi nộp cho cơ quan nhànước có thẩm quyền hoặc trước khi công khai tài chính Tuy nhiên các doanhnghiệp thường tự nguyện kiểm toán khi:

Trang 22

- Doanh nghiệp muốn làm ăn chính đáng, luôn đòi hỏi sự chính xác,trung thực, khách quan của số liệu;

- Khi sáp nhập hoặc chia tách doanh nghiệp;

- Khi xảy ra sự cố, rủi ro lớn về kinh tế;

Có thể kể đến một ví dụ điển hình là khi các doanh nghiệp và tổ chức

có nhu cầu vay vốn ngân hàng thương mại hay sử dụng vốn của các tổ chứcquốc tế thì cũng phải thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính theo yêu cầu củacác tổ chức đó

Năm là, phạm vi kiểm toán độc lập Để hình thành ý kiến nhận xét về

các báo cáo tài chính, KTV phải có được các căn cứ vững chắc cũng như cácthông tin cốt yếu trong công việc ghi chép kế toán và các nguồn số liệu đángtin cậy khác đã được dùng làm cơ sở cho việc xây dựng các báo cáo tài chính,hay nói cách khác, KTV phải có đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp Dovậy, phạm vi kiểm toán sẽ là những công việc, thủ tục kiểm toán cần thiết màKTV xác định và thực hiện trong quá trình kiểm toán để thu thập đầy đủ cácbằng chứng thích hợp cho ý kiến kiểm toán hay nói như chuyên môn kiểmtoán là để đạt được mục tiêu kiểm toán Những công việc, thủ tục kiểm toán

sẽ phụ thuộc vào nội dung kiểm toán, tuy nhiên những thủ tục kiểm toán nàyphải được xác định trên cơ sở chuyên môn kiểm toán, phù hợp với yêu cầucủa Hiệp hội nghề nghiệp, phù hợp với pháp luật và các thoả thuận trong hợpđồng kiểm toán Xác định phạm vi kiểm toán có ý nghĩa quan trọng, mà trướchết các đơn vị được kiểm toán cần có những hiểu biết nhất định về kiểm toán,yêu cầu của kiểm toán và việc tiến hành chặn công việc của KTV đều dẫn đếnviệc phạm vi kiểm toán bị giới hạn, trong trường hợp này, nếu KTV khôngthể thực hiện được các thủ tục kiểm toán thay thế khác một cách hợp lý, khi

đó cần đưa ra ý kiến từ chối Tuy nhiên, đôi khi do hạn chế về thời gian, hoàncảnh cũng có thể dẫn đến phạm vi kiểm toán bị giới hạn Trong những trường

Trang 23

hợp như vậy, KTV phải cố gắng tìm ra các phương pháp hợp lý để thu thậpđược các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp để có thể nêu ý kiến

“chấp nhận toàn bộ” trong báo cáo kiểm toán Nếu không, tuỳ theo tính chất,mức độ trọng yếu và các bằng chứng bổ sung mà KTV đánh giá mức độ cầnthiết đề đưa ra ý kiến phù hợp

1.1.3 Chức năng của kiểm toán độc lập

Chức năng của kiểm toán độc lập là kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn,trung thực và hợp lý của các số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của cácdoanh nghiệp, tổ chức, cơ quan và trên cơ sở kết quả kiểm toán đưa ra nhữngkết luận đánh giá việc tuân thủ pháp luật, chính sách, chế độ tài chính kế toán

và hiệu quả hoạt động của đơn vị Từ đó có thể thấy, kiểm toán độc lập có bachức năng chính là: Chức năng kiểm tra, thẩm định thông tin; chức năng xácnhận và chức năng tư vấn

Chức năng kiểm tra, thẩm định thông tin là chức năng cơ sở mà KTV

sẽ sử dụng các phương pháp đặc thù để tiến hành kiểm tra, thẩm định tínhđúng đắn, trung thực, hợp lý, hợp pháp của thông tin Chức năng này gắn liềnvới sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán Kiểm tra và thẩmđịnh là hình thức kiểm tra sau khi các hoạt động tài chính diễn ra Quan hệgiữa kiểm tra và thẩm định với các hoạt động kiểm toán là quan hệ giữa “cáichung và cái riêng”, giữa cái tổng thể và phương diện biểu hiện ra với tínhchất là các nghiệp vụ cụ thể của tổng thể đó Thông qua chức năng kiểm tra

và thẩm định thì KTV dựa trên các bằng chứng xác nhận thực trạng tài chínhcủa doanh nghiệp, xác nhận tính đúng đắn của thông tin đã được ghi nhận trênbáo cáo tài chính Việc xác nhận đó đồng nghĩa với việc giải tỏa trách nhiệmcho những người cung cấp thông tin

Qua kiểm tra, thẩm định và xác nhận từ góc nhìn của kiểm toán, KTV

sẽ thấy những mặt mạnh và mặt yếu của thực trạng tài chính và đưa ra những

Trang 24

ý kiến tư vấn cho cán bộ quản lý nhằm thiết lập lại kỷ cương hệ thống tàichính và hướng tới hiệu quả, chất lượng.

Hoạt động kiểm toán giúp cho các đơn vị phát hiện ra những nội dung

mà pháp luật quy định còn chưa chặt chẽ, bất cập để kiến nghị các cơ quanhữu quan sửa đổi cho phù hợp Trong quá trình kiểm toán, nếu phát hiệnnhững dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì KTV phải thông báo với

cơ quan thi hành pháp luật để cơ quan này thực hiện nhiệm vụ

1.2 Khái niệm, đặc điểm, chức năng, loại hình doanh nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán độc lập

1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp kiểm toán độc lập

DNKT độc lập là doanh nghiệp thực hiện chức năng của kiểm toán độclập Như vậy DNKT độc lập trước tiên phải là một doanh nghiệp được thànhlập và tổ chức hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, chịu

sự điều chỉnh chung của pháp luật về doanh nghiệp Ngoài ra doanh nghiệp đểthực hiện chức năng kiểm toán độc lập phải đảm bảo các quy định về điềukiện hoạt động của kiểm toán độc lập theo quy định của pháp luật, chịu sựđiều chỉnh của pháp luật chuyên ngành về ngành nghề kinh doanh kiểm toánđộc lập

Có thể khái niệm, DNKT độc lập là doanh nghiệp được thành lập và tổchức hoạt động theo pháp luật về doanh nghiệp và đủ điều kiện kinh doanhdịch vụ kiểm toán độc lập theo quy định của pháp luật

1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp kiểm toán độc lập

Kiểm toán độc lập là một trong các loại hình được phân theo chủ thểkiểm toán, ngoài ra còn có kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ Kiểm toánđộc lập là hoạt động đặc trưng của kinh tế thị trường DNKT độc lập làdoanh nghiệp thực hiện chức năng kiểm toán, do vậy nó có những đặc điểmriêng đó là:

Trang 25

- Khác với kiểm toán nhà nước và kiểm toán nội bộ, DNKT độc lậpthực hiện kiểm toán hoặc tư vấn theo yêu cầu của khách hàng, chủ thể bênngoài DNKT Đây là loại hình dịch vụ được pháp luật thừa nhận và bảo hộ,được quản lý chặt chẽ bởi cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành và hiệphội nghề nghiệp Quan hệ giữa DNKT và khách hàng là quan hệ mua bán dịch

vụ, khách hàng phải trả phí dịch vụ cho DNKT theo thỏa thuận Kiểm toánnhà nước và kiểm toán nội bộ thực hiện kiểm toán theo yêu cầu quản lý củachủ thể kiểm toán, nhà nước hoặc chủ doanh nghiệp

- DNKT độc lập là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có điều kiện,chịu sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ của nhà nước Chất lượng dịch vụ củaDNKT độc lập có tính ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản lý của doanh nghiệpđược kiểm toán, hiệu quả đầu tư của các nhà đầu tư, hiệu quả quản lý của cơquan quản lý nhà nước

- DNKT độc lập là loại hình doanh nghiệp mang tính đối nhân nhiềuhơn đối vốn, mặc dù DNKT độc lập có loại hình công ty TNHH hai thànhviên trở lên và phải có vốn pháp định Tuy nhiên do yêu cầu quản lý về ngànhnghề nên yêu cầu về vốn đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên kiểmtoán độc lập vẫn là thứ yếu Trong tất cả các loại hình doanh nghiệp, pháp luậtđều quy định chủ sở hữu DNKT hoặc sở hữu vốn chi phối của DNKT đềuphải là kiểm toán viên hành nghề

- Do tính chuyên nghiệp và đòi hỏi chuyên môn cao của kiểm toán độclập nên DNKT độc lập có phạm vi hoạt động chỉ hạn chế trong các ngànhnghề dịch vụ và tư vấn liên quan đến kiểm toán, kế toán DNKT độc lậpkhông được kinh doanh các ngành nghề khác ngoài phạm vi quy định củapháp luật

1.2.3 Chức năng của doanh nghiệp kiểm toán độc lập

Hoạt động kiểm toán độc lập là hoạt động kiểm toán rất phổ biến ở các

Trang 26

nước có nền kinh tế phát triển, vì thế hoạt động kiểm toán nói chung thườngđược coi là hoạt động kiểm toán độc lập Đáp ứng yêu cầu của nền kinh tếtheo cơ chế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập ra đời và trở thành bộphận cần thiết và quan trọng không thể thiếu trong đời sống các hoạt độngkinh tế Kiểm toán độc lập cung cấp cho những người sử dụng kết quả kiểmtoán sự hiểu biết về những thông tin tài chính họ được cung cấp có được lậptrên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn mực theo qui định hay không và các thôngtin đó có trung thực và hợp lý hay không.

Ở nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển quy định chỉ cócác báo cáo tài chính đã được DNKT thực hiện kiểm toán độc lập mới có giátrị pháp lý và đáng tin cậy Do đó, chức năng của DNKT độc lập trong hoạtđộng kiểm toán độc lập thể hiện như sau:

Thứ nhất, DNKT độc lập tạo niềm tin cho những người quan tâm, có

- Người lao động cũng cần thông tin đáng tin cậy về kết quả kinhdoanh, về phân phối lợi nhuận, về thực hiện chính sách tiền lương và bảohiểm Nhu cầu đó chỉ có thể đáp ứng thông qua hệ thống kiểm toán hoànchỉnh

- Khách hàng, nhà cung cấp và những nhà quan tâm khác cũng cần hiểu

rõ thực chất về kinh doanh và tài chính của các đơn vị được kiểm toán về

Trang 27

nhiều mặt: Số lượng và chất lượng của sản phẩm hàng hoá, có cấu tài sản vàkhả năng thanh toán, hiệu năng và hiệu quả các bộ phận cung ứng, tiêu thụhoặc sản xuất ở đơn vị được kiểm toán.

- Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp vay vốncũng phải hiểu rõ tình hình kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng đểquyết định cho vay, thu hồi vốn hoặc không cho vay Hoạt động kiểm toán sẽgiúp ngân hàng hoặc những người cho vay làm việc đó

- Trong các quan hệ kinh tế, thông qua các dịch vụ mà DNKT độc lậpcung cấp, các doanh nghiệp đã có sự tin cậy lẫn nhau, trung thực trình bày vềtình hình tài chính của mình Đây là yếu tố hết sức quan trọng để các doanhnghiệp đánh giá, lựa chọn đối tác kinh doanh Đặc biệt trong quan hệ hợp táckinh doanh với nước ngoài, nếu nhà đầu tư nước ngoài muốn tìm hiểu về hoạtđộng kinh doanh và đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp trướckhi đầu tư, hợp tác kinh doanh thông qua DNKT độc lập sẽ hiệu quả hơnnhiều so với việc các bên phải tự chứng minh về khả năng tài chính của mình.Ngay cả khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài đã được thành lập thì nhucầu kiểm toán của các công ty này là tất yếu bởi yêu cầu quản lý của nhà đầu

tư và đối tượng quan tâm khác Do vậy kiểm toán độc lập ra đời đã đáp ứngtốt nhu cầu của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần cải thiện môitrường đầu tư

Thứ hai, DNKT độc lập góp phần hướng dẫn nghiệp vụ, củng cố nề

nếp hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động của các đơn vị nóichung Hoạt động tài chính bao gồm những mối quan hệ đa dạng, luôn luônbiến đổi và được cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể Để hướng cácnghiệp vụ này vào mục tiêu giải quyết tốt các mối quan hệ trên không chỉ cần

có định hướng đúng và thực hiện tốt mà cần thường xuyên soát xét việc thựchiện để hướng các nghiệp vụ vào quỹ đạo mong muốn

Trang 28

Thứ ba, DNKT độc lập góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản

lý của doanh nghiệp được kiểm toán Rõ ràng kiểm toán không chỉ có chứcnăng xác minh mà còn có chức năng tư vấn Các chủ doang nghiệp không thểkiểm soát hết các nghiệp vụ tài chính kế toán đã xảy ra trong doanh nghiệp

Vì vậy họ thường kiểm soát thông qua người phụ trách kế toán Để biết đượcmột cách chính xác, trung thực tình hình tài chính kế toán của mình vào kỳhạn nào đó, người chủ doanh nghiệp thường mời các KTV chuyên nghiệp độclập có uy tín thực hiện việc kiểm tra và nhận xét bảng báo cáo tài chính củadoanh nghiệp mình do người phụ trách kế toán lập ra

Những nhận xét của KTV sẽ giúp cho các chủ doanh nghiệp kịp thờiphát hiện những sai sót, lãng phí hoặc vi phạm pháp luật do cố ý hay vô ý để

xử lý kịp thời hay ngăn ngừa các tổn thất Điều đó giúp doanh nghiệp hạn chếđược những rủi ro và phát hiện ra tiềm năng tài chính nội tại có trong doanhnghiệp

Thứ tư, kiểm toán độc lập còn là hoạt động dịch vụ và như vậy nó tạo

ra giá trị cho nền kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập quốc dân, nâng caonguồn thu cho ngân sách Hoạt động kiểm toán là loại hình dịch vụ tư vấn ởcấp độ chuyên môn cao và chuyên sâu, do vậy hoạt động này sẽ khai thácđược nguồn nhân lực ở cấp độ chuyên môn này

1.2.4 Loại hình doanh nghiệp của doanh nghiệp kiểm toán độc lập

Hoạt động kiểm toán độc lập trên thế giới đã xuất hiện trên 100 năm vàngày càng phát triển mạnh mẽ Hình thức tổ chức của các tổ chức kiểm toán ởcác nước không hoàn toàn giống nhau Số lượng nhân viên và các tổ chứckiểm toán phụ thuộc vào mức độ phát triển của hoạt động kiểm toán và nềnkinh tế Ở Hoa kỳ, hiện nay có hơn 45.000 tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp

Ở Cộng hoà Pháp hiện có 24 văn phòng kiểm toán khu vực và 2.500 vănphòng con cơ sở trực tiếp là dịch vụ và hơn 10.000 người làm kiểm toán Ở

Trang 29

các nước nói trên và các nước khác, luật pháp qui định rõ quyền hạn, tráchnhiệm của các tổ chức kiểm toán, thừa nhận sự khách quan và độc lập củakiểm toán, chấp nhận giá trị pháp lý của các tài liệu có chữ ký của kiểm toán.

Về hình thức tổ chức của các tổ chức kiểm toán, có thể là các công tykiểm toán, là cá nhân hành nghề kiểm toán, công ty hợp danh hoặc cổ phần.Trong công ty hoặc cả những cá nhân hành nghề kiểm toán, trong quá trìnhhoạt động của mình thường tuyển dụng đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp đểgiúp họ thực hiện công việc kiểm toán

Cơ cấu tổ chức trong các công ty kiểm toán ở các nước phát triểnthường theo hệ thống cấp bậc về chuyên môn bao gồm các chủ phần hùn(Partner) (gồm chủ phần hùn có cổ phần trong công ty và chủ phần hùn không

có cổ phần), là những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao nhất, tiếpđến là cấp điều hành viên cao cấp (Senior Manager, hoặc Principal) tiếp đó làcác cấp quản lý, kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán viên Mức độ chi tiếttrong các cấp bậc trong công ty phụ thuộc vào qui mô và cách thức tổ chứcquản lý của từng công ty Trong công ty kiểm toán thường có nhiều các hoạtđộng dịch vụ và ở mỗi loại dịch vụ đều phân theo các cấp bậc tương ứng

Qui mô, cách thức tổ chức của các công ty kiểm toán ở các nước pháttriển rất đa dạng, bao gồm:

Các công ty đa quốc gia (các công ty kiểm toán quốc tế), trong đó vănphòng chính đặt ở một thành phố lớn trên thế giới (thường ở Mỹ và ở Anh)tiếp đó là các văn phòng chính cho các khu vực và các văn phòng ở các nước.Văn phòng ở các nước được thành lập theo luật của nước sở tại Các vănphòng này sẽ trực thuộc sự quản lý của văn phòng chính của khu vực

Các công ty thuộc phạm vi trong một quốc gia: Các công ty này có thể

có một hoặc nhiều các văn phòng, chi nhánh trực thuộc và tổ chức hoạt độngtrong phạm vi một quốc gia Có những công ty qui mô nhỏ hơn ở cấp địa

Trang 30

phương với số lượng nhân viên là một vài chục người.

Để quản lý và thống nhất sự hoạt động của các công ty kiểm toán, ởmỗi nước hoặc các khu vực đều có Hiệp hội kế toán, là tổ chức độc lập củanhững người làm công tác kế toán, kiểm toán hoặc quan tâm đến lĩnh vực nàynhư: Viện kế toán viên công chứng Hoa kỳ – AICPA, Hiệp hội kế toánchuyên nghiệp Anh và xứ Wales – ICAEW; Hiệp hội kế toán Hồng Kông –HKSA

Ở Việt Nam, hiện nay các công ty chỉ được đăng ký kinh doanh dịch vụkiểm toán nếu thuộc một trong các loại hình doanh nghiệp sau:

+ Công ty TNHH hai thành viên trở lên

+ Công ty hợp danh

+ Doanh nghiệp tư nhân

Như vậy công ty TNHH một thành viên và công ty cổ phần là hai hìnhthức doanh nghiệp không được đăng ký kinh doanh dịch vụ kiểm toán Vấn

đề này sẽ được phân tích làm rõ ở chương sau Ngoài ra công ty kiểm toán sẽkhông được đầu tư vốn để thành lập một doanh nghiệp khác

1.3 Tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán độc lập

1.3.1 Điều kiện, trình tự thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán cho doanh nghiệp kiểm toán độc lập

1.3.1.1 Điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán độc lập

Với đặc điểm là loại hình doanh nghiệp đối nhân, KTV là yếu tố cấuthành nên bộ máy của DNKT DNKT có năng lực mạnh hay yếu phụ thuộc rấtnhiều vào số lượng và chất lượng của KTV hành nghề tại DNKT Để mộtDNKT có thể đáp ứng được nhu cầu cơ bản về chất lượng dịch vụ kiểm toáncho nền kinh tế thì đòi hỏi phải có một điều kiện nhất định về số lượng và

Trang 31

chất lượng của KTV hành nghề tại DNKT Tuy nhiên,trong DNKT khôngphải tất cả KTV hành nghề đều là người làm chủ doanh nghiệp, do vậy ngoàikhả năng độc lập về chuyên môn, KTV hành nghề còn phải chịu sự chi phốicủa chủ sở hữu doanh nghiệp thông qua các quy chế, quy định nội bộ riêngcủa từng DNKT mà không trái với quy định của pháp luật Điều này đặt rayêu cầu chủ sở hữu DNKT cũng phải là KTV hành nghề thì mới am hiểu vàkiểm soát được toàn diện hoạt động của DNKT.

Hoạt động kiểm toán là độc lập, đòi hỏi từng KTV phải độc lập vàDNKT cũng phải độc lập Do vậy một KTV không thể hành nghề ở nhiều hơnmột DNKT và một thể nhân cũng không thể làm chủ sở hữu của nhiều hơnmột DNKT, một tổ chức cũng không thể nắm giữ phần vốn chi phối tạiDNKT

Hoạt động kiểm toán độc lập là hoạt động có phát sinh rủi ro cao vềnghề nghiệp bởi do những sai sót tiềm tàng tại doanh nghiệp được kiểm toánhoặc những gian lận của Ban giám đốc doanh nghiệp được kiểm toán, bằngcác thủ tục kiểm toán KTV cũng như DNKT không thể phát hiện và kiểm soátđược dẫn đến những sai sót trong báo cáo kiểm toán gây thiệt hại cho bên thứ

ba Bên cạnh đó cần phải kiểm soát việc KTV, DNKT thông đồng với doanhnghiệp được kiểm toán làm sai lệch số liệu gây thiệt hại cho bên thứ ba.DNKT cần phải có một nguồn lực tài chính hoặc một ràng buộc tài chính đểđảm bảo hạn chế tối đa các rủi ro kể trên

Như vậy điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán của DNKT cần phảiquy định về các nội dung: Hình thức sở hữu vốn hay loại hình doanh nghiệpcủa DNKT; Chủ sở hữu DNKT phải là KTV hành nghề tại DNKT và khôngtham gia chủ sở hữu vốn hoặc hành nghề tại DNKT khác; Số lượng KTVhành nghề tại DNKT và chỉ được hành nghề tại một DNKT

Tại Việt Nam, hiện nay doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đủ

Trang 32

điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán nếu đáp ứng được các điều kiện sau:

+ Có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

+ Người đại diện theo pháp luật phải là KTV

Ngoài ra đối với hình thức công ty TNHH 2 thành viên trở lên thì phảiđáp ứng thêm 2 điều kiện sau:

+ Vốn điều lệ tối thiểu của công ty TNHH phải từ 5 tỷ đồng trở lên vàphải đảm bảo duy trì được khoản vốn này trong suốt quá trình hoạt động

+ Tổng vốn góp của các thành viên là tổ chức tối đa là 35% vốn điều lệcủa công ty Người đại diện theo ủy quyền của tổ chức tham gia thành viêncủa DNKT phải là KTV

1.3.1.2 Trình tự thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán cho doanh nghiệp kiểm toán độc lập

Kiểm toán độc là ngành nghề được pháp luật bảo hộ và được quản lýchặt chẽ bởi cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành và hiệp hội nghềnghiệp Do vậy trình tự thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh Giấy chứng nhận đủđiều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán cho DNKT độc lập do cơ quan quản

lý nhà nước chuyên ngành quy định DNKT trong quá trình hoạt động phảiluôn đảm bảo điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật, trường hợp cóthay đổi những nội dung chính trong Giấy đăng ký kinh doanh cũng như Giấychứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán phải báo cáo cơ quanquản lý nhà nước để điều chỉnh, cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinhdoanh dịch vụ kiểm toán

Trang 33

Trong từng giai đoạn phát triển và tùy thuộc vào đặc thù quản lý nhànước của từng quốc gia việc cấp, cấp lại, điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điềukiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán cho DNKT độc lập do hiệp hội nghềnghiệp về kế toán quản lý và thực hiện.

Ở Việt Nam trước khi Luật Kiểm toán độc lập có hiệu lực, việc cấp,cấp lại, điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểmtoán cho DNKT độc lập do Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam(VACPA) thực hiện Sau khi Luật kiểm toán độc lập có hiệu lực việc cấp, cấplại, điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toáncho DNKT độc lập do Bộ Tài chính thực hiện

1.3.2 Tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán độc lập

Bộ máy tổ chức của DNKT độc lập bao gồm cả con người và phươngtiện chứa đựng các yếu tố của kiểm toán để thực hiện chức năng kiểm toán

- Về con người: KTV là yếu tố cơ bản cấu thành bộ máy của DNKT

Sự tồn tại cũng như chất lượng hoạt động của bộ máy của DNKT được quyếtđịnh bởi số lượng và chất lượng đội ngũ KTV, đó là nguyên lý chung cho việc

tổ chức mọi hoạt động bộ máy Kinh doanh dịch vụ kiểm toán là kinh doanhmột nghề chuyên sâu nên KTV phải có đủ điều kiện hành nghề Do đó chỉ cónhững người có chứng chỉ KTV và đủ điều kiện hành nghề mới được phépkinh doanh dịch vụ này Thông thường cùng với dịch vụ kiểm toán, bộ máynày có thể thực hiện các dịch vụ khác có liên quan như kế toán, tư vấn thuế,tài chính, …

- Về phương tiện: Một trong những yếu tố cơ bản gắn với đội ngũ KTVkhông thể thiếu là trang thiết bị cụ thể cho kiểm toán đó là những máy móc,thiết bị, phương tiện thích ứng với kỹ thuật kiểm toán (cả phần cứng và phầnmềm nếu có) và hình thành cơ chế hoạt động thống nhất để thực hiện chứcnăng kiểm toán

Trang 34

Bộ máy tổ chức của DNKT độc lập đáp ứng được các yếu trên thì chấtlượng dịch vụ sẽ đảm bảo Bởi vì, kiểm toán là một loại hình kinh doanh dịch

vụ tư vấn đặc biệt, dịch vụ làm cho người dùng tin cậy, an tâm về chất lượngcác con số, an tâm về tính trung thực, khách quan, đầy đủ, hợp pháp, hợp lý,hợp thủ tục của các thông tin kinh tế, tài chính, nhất là các thông tin tổng hợptrên báo cáo tài chính

Tại một số quốc gia có bề dày về lịch sử phát triển ngành kiểm toán độclập, bộ máy kiểm toán độc lập có hai mô hình cơ bản là văn phòng kiểm toán

tư và công ty kiểm toán

+ Văn phòng kiểm toán tư:

Văn phòng kiểm toán tư được hình thành bởi một hoặc nhiều KTV độclập để kinh doanh dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có liên quan Cácvăn phòng này được thành lập, hoạt động không theo mô hình tổ chức côngty

Đặc điểm của mô hình:

Ưu điểm: Phát huy tính năng động cao của bộ máy kiểm toán, thíchứng tốt với nhu cầu kiểm toán và tư vấn của các doanh nghiệp vừa và nhỏcũng như nhu cầu đại lý thuế (thu nhập) cho nhà nước

Nhược điểm: Các văn phòng này chỉ thực hiện giới hạn các dịch vụ vàsức cạnh tranh của mỗi tổ chức kiểm toán cũng hạn chế Sự hợp tác bồi dưỡngkinh nghiệm của các KTV do đó cũng bị bó hẹp Vì vậy để thành lập vănphòng kiểm toán độc lập tư, KTV phải có năng lực toàn diện và trình độchuyên môn vững; hoạt động của hiệp hội KTV độc lập cũng phải tăng lênkhi số lượng văn phòng kiểm toán tư và các công ty kiểm toán nhỏ tăng lên

Tuy nhiên, theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam thì hoạtđộng kiểm toán không được hành nghề với tư cách cá nhân Do vậy loại hìnhvăn phòng kiểm toán tư này chỉ tồn tại theo thông lệ quốc tế và không được

Trang 35

pháp luật Việt Nam thừa nhận.

+ Công ty kiểm toán:

Mô hình chung: Công ty kiểm toán là bộ máy tổ chức kiểm toán độclập với số lượng lớn các KTV độc lập Đây chủ yếu là các công ty mang tầmquốc gia hoặc đa quốc gia

Phương thức hoạt động: Các công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ trênđịa bàn rộng lớn do đó chúng được tổ chức theo loại hình phân tán và điềuhành phương thức chức năng hoặc kết hợp

Mô hình cụ thể: Mỗi công ty thường có nhiều văn phòng bố trí ở nhiềuvùng trong trong nước (công ty quốc gia) hoặc nhiều văn phòng ở các nướckhác nhau (công ty quốc tế) Và đặc điểm nổi bật của mô hình này và từngvăn phòng cụ thể có quyền tự chủ như một công ty con và có thể được hạchtoán độc lập Mỗi văn phòng riêng hoặc văn phòng khu vực này cũng kinhdoanh nhiều loại dịch vụ và có thể được tổ chức thành các bộ phận chức năngriêng biệt

Đặc điểm của mô hình này:

Ưu điểm: Tiềm năng của mỗi công ty là rất lớn, có khả năng cung cấpnhiều loại dịch vụ có qui mô lớn trong khoảng thời gian ngắn và có sức cạnhtranh lớn trên thị trường

Nhược điểm: Các công ty lớn đòi hỏi trình độ tổ chức phối hợp cao củacác nhà quản lý, đòi hỏi khả năng chuyên môn cao và toàn diện của KTV vàcủa lãnh đạo công ty, đòi hỏi đầu tư lớn về cả chuyên gia, kinh nghiệm và tiềnvốn

- Hoạt động của DNKT:

Thị trường kiểm toán độc lập tại đa số các quốc gia hoặc khu vực đượcphân chia khá rõ ràng tùy theo quy mô và uy tín của DNKT (hãng kiểm toán).Đối với các DNKT (hãng kiểm toán) có uy tín cao, quy mô toán cầu, như các

Trang 36

DNKT thuộc nhóm Big Four thì khách hàng là các công ty, tập đoàn lớn cóquy mô đa quốc gia Các DNKT (hãng kiểm toán) có quy mô nhỏ hơn thìkhách hàng là các công ty, tập đoàn có quy mô nhỏ hơn Các DNKT, vănphòng kiểm toán trong nước thì khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệptrong nước, ngoài ra còn thực hiện thêm các dịch vụ đại lý thuế,

Tại Việt Nam, việc phân chia thị trường này giữa các DNKT 100% vốnnước ngoài và DNKT trong nước cũng khá rõ ràng Các DNKT 100% vốnnước ngoài khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

và các dự án quốc tế Các khách hàng của các công ty kiểm toán này thường

là các khách hàng lớn và có công ty mẹ ở nước ngoài cũng do công ty kiểmtoán trong cùng hệ thống với công ty kiểm toán ở Việt nam kiểm toán CácDNKT trong nước còn ít khách hàng và chưa có thị trường khách hàng ổnđịnh, các DNKT trong nước cũng có sự phân biệt về quy mô, tuy nhiên về thịtrường thì không được phân chia như DNKT 100% vốn nước ngoài

Về các dịch vụ cung cấp, đa số các công ty kiểm toán hoạt động ở Việtnam hiện nay đều cung cấp một số loại hình dịch vụ chủ yếu sau:

+ Dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính: Bao gồm kiểm toán báo cáo tàichính năm, báo cáo quyết toán giá trị công trình xây dựng cơ bản, quyết toánhợp đồng kinh tế,…

+ Dịch vụ thuế: Bao gồm làm các thủ tục kê khai nộp thuế, tư vấn cácnội dung về thuế, giải trình các trường hợp đặc biệt về nghĩa vụ thuế,…

+ Dịch vụ kế toán: Xây dựng và đăng ký hệ thống kế toán thích hợp ápdụng cho đơn vị (doanh nghiệp hoặc các ban quan lý các dự án), làm các côngviệc kế toán trực tiếp cho khách hàng như lập chứng từ, ghi sổ, chuẩn bị báocáo tài chính,…

+ Dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ tài chính, kế toán và quản lý tàichính cho những đối tượng có nhu cầu

Trang 37

+ Dịch vụ tư vấn tài chính, quản lý: Xác định giá trị tài sản thế chấpvay vốn ngân hàng, góp vốn liên doanh, cổ phần hoá doanh nghiệp, Tư vấncải tiến hệ thống kiểm soát nội bộ, tư vấn đầu tư, chuyển nhượng vốn đầutư…

+ Các dịch vụ khác có liên quan đến xác nhận thông tin liên quan đến

kế toán, tài chính như kiểm toán xác nhận tỷ lệ nội địa hoá trong sản xuất,kiểm toán quyết toán vốn đầu tư, kiểm toán theo nội dung, thủ tục thoả thuậntrước,…

Nhìn chung, trong các dịch vụ mà các công ty kiểm toán độc lập cungcấp hiện nay thì dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính chiếm tỷ trọng doanh thulớn nhất

1.3.3 Tạm ngừng, đình chỉ, chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán

và thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán

Với chức năng của mình, DNKT có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với nềnkinh tế thị trường, đòi hỏi năng lực chuyên môn của DNKT phải thườngxuyên được duy trì ở mức đáp ứng được nhu cầu của thị trường, theo quyđịnh của pháp luật để đảm bảo được chất lượng của dịch vụ kiểm toán DNKTđộc lập phải đảm bảo điều kiện được cấp Giấp chứng nhận kinh doanh dịch

vụ kiểm toán trong suốt quá trình hoạt động của mình

Khi DNKT không còn đảm bảo được điều kiện cần thiết để cấp Giấychứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán thì sẽ bị thu hồi Giấychứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán Hoạt động củaDNKT sẽ phải tạm ngừng hoặc chấm dứt do không đủ điều kiện hoạt động.Ngoài ra hoạt động của DNKT độc lập có thể bị tạm ngừng hoặc chấm dứt do

ý chí của chủ sở hữu doanh nghiệp

DNKT độc lập bị đình chỉ hoạt động khi bị cơ quan quản lý nhà nước

Trang 38

phát hiện sai phạm đến mức phải đình chỉ hoạt động theo quy định về xử lý viphạm đối với DNKT độc lập.

Tiểu kết Chương 1

Trong Chương 1 của luận văn này, tác giả đã nghiên cứu những vấn đề

lý luận về tổ chức và hoạt động của DNKT độc lập thông qua việc nghiên cứutổng quan về kiểm toán độc lập, DNKT độc lập và nghiên cứu cụ thể tổ chức,hoạt động của DNKT độc lập cùng với các điều kiện cấp Giấy chứng nhậnkinh doanh dịch vụ kiểm toán và thu hồi Giấy chứng nhận kinh doanh dịch vụkiểm toán

Các nội dung được nghiên cứu và luận bàn gồm: Khái niệm, đặc điểm,chức năng của kiểm toán độc lập, khái niệm, đặc điểm, chức năng, loại hìnhdoanh nghiệp của DNKT độc lập; Điều kiện, trình tự thủ tục cấp, cấp lại, điềuchỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán cho doanhnghiệp kiểm toán độc lập; Tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toánđộc lập; Tạm ngừng, đình chỉ, chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán và thuhồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán

Đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt độngkiểm toán độc lập ra đời và trở thành bộ phận cần thiết và quan trọng khôngthể thiếu trong các hoạt động kinh tế Kiểm toán độc lập cung cấp cho các đốitác đầu tư, các chủ sở hữu doanh nghiệp sự hiểu biết về những thông tin tàichính họ được cung cấp có được lập trên cơ sở các nguyên tắc và đúng cácchuẩn mực theo qui định hay không và các thông tin đó có trung thực và hợp

lý hay không DNKT độc lập là tổ chức thực hiện chức năng kiểm toán độclập, được thành lập, hoạt động theo luật doanh nghiệp và đủ điều kiện kinhdoanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của pháp luật Tổ chức và hoạt độngcủa DNKT độc lập luôn gắn liền với những điều kiện để được cấp Giấy chứng

Trang 39

nhận kinh doanh dịch vụ kiểm toán, trong suốt quá trình hoạt động DNKTphải luôn đảm bảo điều kiện trên Khi DNKT không đủ điều kiện để được cấpGiấy chứng nhận kinh doanh dịch vụ kiểm toán nữa thì phải tạm ngừng hoặcchấm dứt hoạt động kiểm toán và khi DNKT bị phát hiện sai phạm thì bị đìnhchỉ hoạt động theo quy định về xử phạt vi phạm đối với DNKT độc lập.

Từ các nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý luận về tổ chức và hoạtđộng của DNKT độc lập ở Chương này, tiếp theo trong Chương 2 tác tiếnhành nghiên cứu và tìm hiểu về thực trạng tổ chức và hoạt động của DNKTđộc lập theo pháp luật Việt Nam

Ngày đăng: 11/07/2019, 11:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2012) Thông tư 150/2012/TT-BTC hướng dẫn cập nhật kiến thức hàng năm cho KTV (KTV) đăng ký hành nghề kiểm toán, ban hành ngày 12/09/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 150/2012/TT-BTC hướng dẫn cập nhật kiếnthức hàng năm cho KTV (KTV) đăng ký hành nghề kiểm toán
2. Bộ Tài chính (2012) Thông tư 202/2012/TT-BTC hướng dẫn về đăng ký, quản lý và công khai danh sách KTV hành nghề kiểm toán, ban hành ngày 19/11/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 202/2012/TT-BTC hướng dẫn về đăng ký,quản lý và công khai danh sách KTV hành nghề kiểm toán
3. Bộ Tài chính (2012) Thông tư 203/2012/TT-BTC về trình tự, thủ tục cấp, quản lý, sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán, ban hành ngày 19/11/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 203/2012/TT-BTC về trình tự, thủ tục cấp,quản lý, sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểmtoán
5. Bộ Tài chính (2014) Thông tư số 157/2014/TT-BTC quy định về kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán, ban hành ngày 23/10/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 157/2014/TT-BTC quy định về kiểm soátchất lượng dịch vụ kiểm toán
7. Bộ Tài chính (2017), Thông tư 91/2017/TT-BTC quy định về việc thi, cấp, quản lý Chứng chỉ KTV và Chứng chỉ hành nghề kế toán, ban hành ngày 31/8/2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 91/2017/TT-BTC quy định về việc thi, cấp,quản lý Chứng chỉ KTV và Chứng chỉ hành nghề kế toán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2017
8. Bộ Tài chính, Hội KTV hành nghề Việt Nam (2018), Tài liệu họp thường niên Giám đốc các công ty kiểm toán năm 2017 – 2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu họp thườngniên Giám đốc các công ty kiểm toán năm 2017 – 2018
Tác giả: Bộ Tài chính, Hội KTV hành nghề Việt Nam
Năm: 2018
11.Chính phủ (2012), Nghị định số 17/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kiểm toán độc lập, ban hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 17/2012/NĐ-CP quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kiểm toán độc lập
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
12.Chính phủ (2013), Nghị định số 41/2018/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, ban hành ngày 12/3/2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 41/2018/NĐ-CP quy định về xử phạt hànhchính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
13.Công ty TNHH Kiểm toán FAC (2010, 2015, 2018), Báo cáo hoạt động năm, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt độngnăm
14.Hà Thị Ngọc Hà (2009), “Môi trường pháp lý hiện hành về kiểm toán độc lập và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Kiểm toán số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường pháp lý hiện hành về kiểm toán độclập và phương hướng hoàn thiện”, "Tạp chí Kiểm toán
Tác giả: Hà Thị Ngọc Hà
Năm: 2009
15.Vương Đình Huệ (2001), Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp bộ, Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng hoạtđộng kiểm toán độc lập ở Việt Nam
Tác giả: Vương Đình Huệ
Năm: 2001
16.Nguyễn Thanh Hương (2016), Giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán theo Luật Kiểm toán độc lập ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán theoLuật Kiểm toán độc lập ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thanh Hương
Năm: 2016
17.Nguyễn Thị Khuyên (2014), Pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập ở ViệtNam
Tác giả: Nguyễn Thị Khuyên
Năm: 2014
18.Bùi Văn Mai (1995), Tìm hiểu về kiểm toán độc lập ở Việt Nam, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về kiểm toán độc lập ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Mai
Nhà XB: NXB Tàichính
Năm: 1995
19.Quốc hội (2011), Luật kiểm toán độc lập luật số 67/2011/QH12, ban hành ngày 29/3/2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật kiểm toán độc lập luật số 67/2011/QH12
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2011
20.Quốc hội (2014), Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, ban hành ngày 26/11/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
21.Nguyễn Quang Quynh (1988), Lý thuyết kiểm toán, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết kiểm toán
Tác giả: Nguyễn Quang Quynh
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 1988
22.Đặng Đức Sơn (2011) Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngkiểm toán độc lập ở Việt Nam
9. Bộ Tài chính – VACPA (2018), Báo cáo tổng kết 20 năm hoạt động kiểm toán độc lập (2011) và Tài liệu họp thường niên Giám đốc các công ty kiểm toán năm 2017-2018 Khác
10.Bộ Tài chính – VACPA (2018), Tài liệu họp thường niên Giám đốc các công ty kiểm toán năm 2017-2018 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w