Luận văn đã khái quát sự phát triển của quy định về các tội hiếp dâmtrong lịch sử quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2014 và kinh nghiệm lập pháp hình sự về các
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ QUỲNH MY
TỘI HIẾP DÂM THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các tư liệu và kết quả trong luận văn là trung thực Nếu có gì sai sót, tôi xinhoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quỳnh My
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI HIẾP DÂM 8
1.1 Những vấn đề lý luận về tội hiếp dâm 81.2 Quy định của pháp luật hình sự về tội hiếp dâm 14
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI HIẾP DÂM TẠI TỈNH QUẢNG NAM 33
2.1 Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ lật hình sự về tội phạm hiếp dâm trênđịa bàn tỉnh Quảng Nam 332.2 Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tộihiếp dâm 50
KẾT LUẬN 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ Luật Hình sự
CTTP : Cấu thành tội phạm
TNHS : Trách nhiệm hình sự
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Số liệu các vụ án hiếp dâm được đưa ra xét xử tại tỉnh
Quảng Nam và cả nước từ năm 2013 đến 2017 372.2 Số liệu khung hình phạt đã áp dụng đối với các vụ án hiếp
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hòa cùng với xu thế hội nhập quốc tế, nước ta đã có những “thay da đổithịt” đáng kể, đời sống người dân được nâng cao Tuy nhiên, cùng với đó làtình trạng tội phạm ngày càng gia tăng, một trong số đó là tội hiếp dâm có xuhướng diễn biến khá phức tạp, gióng lên hồi chuông cảnh báo nghiêm trọngtrong tình hình xã hội hiện nay
Đất nước ta từ xưa đến nay luôn nêu cao truyền thống đoàn kết, yêuthương, giúp đỡ lẫn nhau giữa người với người, đồng thời luôn đặt quyền conngười lên trên hết Điều này được thể hiện rất rõ qua các bản Hiến pháp xuyênsuốt lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước Tuy nhiên, tình hình
xã hội hiện nay đang có những diễn biến khá phức tạp, có những trường hợpquyền con người bị vi phạm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến tinh thần, tínhmạng và sức khỏe của con người Trong đó phải kể đến tội phạm hiếp dâmnhư đã nói ở trên Theo báo cáo tổng kết 5 năm của Tòa án nhân dân tỉnhQuảng Nam từ năm 2013 đến năm 2017, đã đưa ra xét xử 16 vụ án hiếp dâm.Điều đáng lưu ý là diễn biến của các vụ hiếp dâm tính đến thời điểm hiện tại
có tính chất khá phức tạp, có thể dùng mọi thủ đoạn để đạt được mục đíchcuối cùng Điều này đã dẫn đến việc gây tâm lý hoang mang cho xã hội, xônxao cho dư luận Trước tình hình đó, trong những năm qua, Tòa án nhân dântỉnh Quảng Nam cũng đã tập trung giải quyết các vụ việc nghiêm minh, chínhxác, kịp thời và đạt những kết quả nhất định trong công tác xét xử tội hiếpdâm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Tuy nhiên, thực tiễn xét xử vẫn còn nhữngvướng mắc và hạn chế, cần tìm ra nguyên nhân, giải pháp để nâng cao hiệuquả áp dụng quy định của pháp luật về tội phạm hiếp dâm
Bên cạnh đó, Bộ luật hình sự 2015 và luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa BLHS 2015 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày
Trang 801/1/2018 có nhiều quy định mới, trong đó có tội hiếp dâm Do đó, việcnghiên cứu các quy định về tội hiếp dâm trong BLHS là điều cần thiết Học
viên chọn đề tài “Tội hiếp dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn
tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn với mong muốn có những đóng góp nhất
định vào quá trình nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam nói chung và thựctiễn xét xử tội hiếp dâm tại tỉnh Quảng Nam nói riêng
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong khoa học pháp lý hiện nay, qua khảo sát cho thấy chưa có côngtrình nào nghiên cứu trục tiếp tội hiếp dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam
từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam Tuy nhiên, có một số công trình nghiên cứu đãđược công bố có liên quan đến nội dung mà tác giả nghiên cứu như tội hiếpdâm hay hiếp dâm trẻ em Đó là:
- Cao Hữu Sáng (2014), Các tội hiếp dâm theo quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Luận văn đã khái quát sự phát triển của quy định về các tội hiếp dâmtrong lịch sử quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm
2014 và kinh nghiệm lập pháp hình sự về các tội này ở một số nước trên thếgiới; nghiên cứu cá quy định cụ thể về tội hiếp dâm trong BLHS năm 1999của Việt Nam, đánh giá thực tiễn áp dụng đồng thời làm rõ những tồn tại, hạnchế trong việc áp dụng và nguyên nhân của nó; đề xuất hoàn thiện quy định
về các tội hiếp dâm trong BLHS năm 1999 cũng như giải pháp nâng cao hiệuquả áp dụng pháp luật đối với tội này
- Nguyễn Thị Ngọc Linh (2017), Tội hiếp dâm theo pháp luật hình sự
Trang 9luật hình sự Việt Nam về tội hiếp dâm; chỉ ra những tồn tại, thiếu sót vànguyên nhân của nó; đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy định về tội hiếp dâmtrong BLHS năm 2015 cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụngtrong thực tiễn xét xử tội phạm này.
- Nguyễn Thị Lệ Thủy (2016), Tội hiếp dâm trong pháp luật hình sự Việt
Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Luận văn đã phân tích, làm rõ nội dung quy địnhvề tội hiếp dâm trongBLHS năm 1999, so sánh và chỉ ra những điểm mới trong quy định củaBLHS năm 2015 về tội hiếp dâm; đề ra nhưng giải pháp, kiến nghị giải thích
rõ quy định về tội hiếp dâm để áp dụng thống nhất và nâng cao hiệu quả đấu
tranh phòng chống tội phạm này - Vũ Hải Anh (2017), Các tội xâm phạm
nhân phẩm, danh dự của con người theo pháp luật hình sự Việt Nam, Luận
án tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội
Luận án đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về các tội xâmphạm nhân phẩm, danh dự của con người như khái niệm, các dấu hiệu pháp lýhình sự về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người theo phápluật hình sự Việt Nam ; Đã phân tích và làm rõ được những quy định củapháp luật hình sự Việt nam qua các thời kỳ, chỉ ra đặc điểm pháp lý của cáctội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người theo pháp luật hình sự ViệtNam, trong đó có tội hiếp dâm; đã phân tích một cách tương đối toàn diệnthực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm nhânphẩm, danh dự của con người và đưa ra được một số biện pháp bảo đảm ápdụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm nhânphẩm, danh dự của con người;
- Hoàng Thị Ngọc Bích (2016), Các tội phạm tình dục theo quy định của
Luật hình sự Việt Nam và một số nước trên thế giới, luận văn thạc sĩ Luật học,
Hà Nội
Trang 10Luận văn đã làm sáng tỏ một cách hệ thống và toàn diện những quy địnhcủa BLHS Việt Nam 1999, có sự liên hệ, đánh giá với BLHS năm 2015 vàBLHS của một số nước trên thế giới về các tội phạm tình dục Thời điểm tácgiả làm luận án, BLHS 1999 vẫn đang được áp dụng nên tác giả đã đề xuấtnhững giải pháp hoàn thiện Bộ luật này trên cơ sở chỉ ra những bất cập của
nó Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất giải pháp hoàn thiện trên cơ sở đánh giábất cập của BLHS năm 2015 (lúc này đã được Quốc hội thông qua nhưng bịlùi hiệu lực do phát hiện có một số sai sót) Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quảcủa hoạt động đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm tình dục trên thực tế.Ngoài ra, còn một số các công trình khác như: Đặng Xuân Nam (2009),
Trao đổi về tội hiếp dâm theo quy định tại Điều 111 BLHS năm 1999, Tạp chí
Kiểm sát số 7; Đặng Việt Cường (2008), Hiếp dâm theo quy định tại Điều
111 BLHS Tạp chí Kiểm sát số 23; Phạm Nữ Quỳnh Trâm (2017), “Tội hiếp dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội”, Luận
văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội; Nguyễn Tuấn Thiện (2015), Các tội xâm phạm
tình dục trẻ em trong Luật hình sự Việt Nam, luận văn thạc sĩ Luật học, Hà
Nội; Đỗ Đức Hồng Hà (2010), Hoàn thiện quy định của BLHS năm 1999 về
các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người, Tạp chí Nghiên cứu
Lập pháp số 8;“Tội hiếp dâm trẻ em lý luận và thực tiễn”, Huỳnh Phúc Huy;
Lê Hữu Du (2015), Đấu tranh phòng, chống tội hiếp dâm trẻ em ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu nói trên đã có những phân tích, đánh giá, kếtluận xác đáng, những kiến nghị hữu ích mang tính áp dụng cao trong thực tế.Song, nghiên cứu về “Tội hiếp dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thựctiễn tỉnh Quảng Nam” thì hiện nay vẫn chưa có công trình nào cả Hơn hết,trong thời gian gần đây, nạn hiếp dâm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cũng đã
có những diễn biến khá phức tạp, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người
Trang 11dân Điều này đã đặt ra một bài toán khá nan giải Luận văn tuy có thể chưaphải là đáp án cuối cùng cho bài toán đó, cho việc giảm thiểu tình trạng phứctạp của tội hiếp dâm trên địa bàn tỉnh nói riêng và nước ta nói chung nhưngcũng đóng góp phần quan trọng, kịp thời trong công cuộc đấu tranh phòngchống tội phạm.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài “Tội hiếp dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnhQuảng Nam” là một đề tài rộng và có tính khái quát cao nên trong phạm vicủa luận văn, tôi chỉ nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễnđối với tội hiếp dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam Đồng thời, đưa ra cácgiải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hiếp dâm trên địabàn tỉnh Quảng Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến tội hiếp dâm theopháp luật hình sự Việt Nam;
- Mô tả thực trạng, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng quy định củapháp luật hình sự về tội hiếp dâm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam;
- Đề xuất các biện pháp, giải pháp bảo đảm áp dụng đúng và thống nhấtpháp luật, nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hiếp dâm ở tỉnh QuảngNam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luậthình sự Việt Namvề tội hiếp dâm, thực tiễn hoạt động định tội danh và quyếtđịnh hình phạt đối với tội hiếp dâm tại tỉnh Quảng Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 12- Về nội dung: đề tài luận văn được nghiên cứu trong phạm vi chuyênngànhLuật hình sự và tố tụng hình sự; luận văn chỉ nghiên cứu quy định củaBLHS Việt Nam về tội hiếp dâm, không nghiên cứu tội hiếp dâm trong quyđịnh của pháp luật hình sự của các nước trên thế giới.
- Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn định tội danh và quyết địnhhình phạt đối với tội hiếp dâm trong xét xử sơ thẩm tại tỉnh Quảng Nam từnăm 2013 đến năm 2017 Luận văn không nghiên cứu hoạt động này tronggiai đoạn điều tra, truy tố cũng như trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự tạitỉnh Quảng Nam
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vậtlịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh vềNhà nước và pháp luật, về chính sách hình sự, về bảo vệ quyền con người,quyền công dân trong xét xử các vụ án hình sự
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Từ mục tiêu và đối tượng nghiên cứu, tác giả rút ra các phương phápnghiên cứu như sau:
- Phương pháp phân tích: thể hiện ở việc phân chia việc nghiên cứu đề tàiluận văn thành các chương, tiểu mục nhằm mục đích nghiên cứu toàn diện vềtội hiếp dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam tại tỉnh Quảng Nam, ;
- Phương pháp tổng hợp: cuối mỗi chương hoặc một số đoạn phântích quan trọng đều có phần tổng kết kết quả phân tích
- Phương pháp diễn dịch: qua số liệu thực tiễn xét xử tội hiếp dâm trênđịa bàn nghiên cứu, rút ra kết quả cụ thể về vấn đề nghiên cứu,…;
- Phương pháp quy nạp: trên cơ sở các phân tích về đề tài, rút ra kết luậnchung;
Trang 13- Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh quy định về tội hiếp dâm theopháp luật hình sự Việt Nam qua các năm, so sánh số liệu giữa địa bàn tỉnh và
cả nước,…;
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: BLHS năm 2015 đã có những thay đổi nhất định, thểhiện ở việc các điều luật nói chung và về tội hiếp dâm nói riêng Luận vănphần nào làm rõ hơn về những thay đổi đó, đồng thời góp phần bổ sungnhững vấn đề lý luận về tội hiếp dâm
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùngtham khảo trong học tập, nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề liên quan đếntội hiếp dâm; Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo bổ ích đối vớinhững người tiến hành tố tụng, người bào chữa trong quá trình giải quyết các
vụ án hiếp dâm; góp phần nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hiếp dâm tạitỉnh Quảng Nam
7 Cơ cấu của luận văn: Luận văn gồm hai ch ng ươ kèm mục lục và danh mục tài liệu tham khảo:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội hiếp dâm
Chương 2: Thực tiễn áp dụng và các giải pháp bảo đảm thực hiện đúngquy định của Bộ luật hình sự về tội hiếp dâm tại tỉnh Quảng Nam
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VỀ TỘI HIẾP DÂM
1.1 Những vấn đề lý luận về tội hiếp dâm
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm
Tội hiếp dâm là một trong 14 tội thuộc nhóm các tội xâm phạm nhânphẩm, danh dự Trong những năm gần đây, đối với tội hiếp dâm, cách thứcgiao cấu rất đa dạng và đặc biệt xuất hiện tình trạng ép buộc hoặc cưỡng bứcquan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính; những người chuyểngiới Do vậy, để đảm bảo phản ánh đúng yêu cầu của thực tiễn đặt ra trongđấu tranh phòng chống các tội xâm hại tình dục thì, ngoài hành vi giao cấu,thì hành vi xâm hại tình dục khác cũng được coi là hành vi hiếp dâm
Theo Giáo trình Luật hình sự Việt Nam Phần các tội phạm (quyển 1) củaTrường Đại học Luật Hà Nội thì, Tội hiếp dâm được quy định là hành vi dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được củanạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ
tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân [37, tr.116] Như vậy, có thể hiểu
hành vi hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực; đe dọa dùng vũ lực; lợi dụng tìnhtrạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu trái ýmuốn của nạn nhân So với quan điểm trên thì quan điểm này đã phản ánhđược đầy đủ hơn nội hàm của khái niệm hiếp dâm
Tuy nhiên, để hiểu đúng khái niệm tội hiếp dâm cần phải làm rõ các dấuhiệu pháp lý của tội này
Thứ nhất, về khách thể của tội hiếp dâm:
Ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp, Công dân có quyền bất khảxâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh
Trang 15dự và nhân phẩm; mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được
pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm [21, Đ.20] Tội hiếp dâm như trên đã phân tích thuộc nhóm “Các tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” Và quyền bất khả xâm phạm về
tình dục là một quyền quan trọng được pháp luật ghi nhận và bảo vệ cũngchính là khách thể của tội hiếp dâm
Trước đây, khách thể của tội hiếp dâm được quan niệm là “quyền bất
khả xâm phạm về tình dục của người phụ nữ” Bởi lẽ, thực tiễn xét xử đã cho
thấy được phụ nữ luôn là đối tượng dễ bị xâm phạm về tình dục Tuy nhiên,thực tế cho thấy, không có sự phân biệt về giới đối với nạn nhân bị xâm hạitình dục Chính vì thế, khách thể của tội hiếp dâm đã được nhn nhận một cáchtoàn diện hơn Đó là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụngtình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giaocấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân.Đối tượng tác động của tội hiếp dâm có thể là nam giới, nữ giới hoặc thậm chí
Như vậy, khách thể của tội hiếp dâm là quan hệ nhân thân, quyền tự dotình dục của nạn nhân mà ở đó, hành vi phạm tội xâm phạm đến quyền tự dotính dục, nhân phẩm, danh dự của nạn nhân, xâm phạm đến sức khoẻ, giántiếp xâm phạm tính mạng của nạn nhân
Mặt khách quan của tội hiếp dâm
Trang 16Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồmnhững biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách
quan [7, tr.71].
Hành vi khách quan của tội hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực, đe dọadùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặcthủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với
ý muốn của nạn nhân
- Dùng vũ lực:
Là dùng sức mạnh về thể chất để họ không thể kháng cự được như vậtngã, đè, giữ tay, chân, bịt miệng, bóp cổ, đấm đá, trói, giằng xé quần áo, củanạn nhân để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ýmuốn của họ;
- Đe dọa dùng vũ lực:
Là dùng lời nói, cử chỉ, động tác nhưng chưa tác động vào người nạnnhân, nhưng làm cho nạn nhân hiểu rằng nếu kẻ tấn công không giao cấuđược thì sẽ sử dụng vũ lực ngay tức khắc Ví dụ như dọa giết, đe dọa gâythương tích, ;
- Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân:
Là những trường hợp như nạn nhân bị bệnh nặng, say, già yếu, bất tỉnh
- Dùng thủ đoạn khác:
Là những trường hợp người phạm tội đe dọa, khủng bố tinh thần, làmcho nạn nhân khiếp sợ, dùng thuốc mê, thuốc kích dục, say rượu hay các chấtkích thích khác làm cho nạn nhân hạn chế hoặc mất khả năng chống cự;
- Thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác
Khoản 2 Điều 2 Dự thảo hướng dẫn một số điều của BLHS về tội dâm ô,
hiếp dâm quy định: “Đây không phải là hành vi giao cấu nhưng vẫn làm
thỏa mãn nhu cầu tình dục của người phạm tội (Ví dụ: người phạm tội sử
Trang 17dụng tay, chân, lưỡi, miệng, các dụng cụ tình dục hoặc bất cứ công cụ nào khác để kích thích âm đạo, dương vật hoặc hậu môn của người bị hại hoặc người phạm tội đưa bộ phận sinh dục của mình vào miệng hoặc hậu môn của người bị hại nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục).”
Vậy, đối với trường hợp đối tượng phạm tội bắt người bị hại thực hiệnnhững hành vi ấy cho mình thì giải quyết như thế nào? Đây cũng chính làđiểm cần bổ sung về tình tiết định tội đối với quy định về Hành vi quan hệtình dục khác trong BLHS
Mặt chủ quan của tội hiếp dâm
Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm động cơ, mục đích và lỗi Trong đó,lỗi là dấu hiệu không thể thiếu đối với bất cứ CTTP nào Mục đích và động cơtuy cũng là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm nhưng chúng chỉ đượcphản ánh trong một số CTTP cơ bản như là dấu hiệu bắt buộc hoặc là tình tiếtđịnh khung Lỗi ở đây được hiểu là quan hệ giữa cá nhân người phạm tội với
xã hội khi họ thực hiện hành vi cụ thể gây nguy hiểm cho xã hội Không thểnói đến lỗi khi không có hành vi cụ thể gây nguy hiểm cho xã hội Lỗi gồmhai loại: lỗi cố ý và lỗi vô ý
Đối với tội hiếp dâm, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp Ngườiphạm tội nhận thức đầy đủ hành vi của mình (dùng vũ lực, đe dọa dùng vũlực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủđoạn khác và hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác) là nguyhiểm cho xã hội và trái ý muốn với nạn nhân song vẫn mong muốn thực hiệnhành vi đó
Việc xác định động cơ và mục đích của tội hiếp dâm có ý nghĩa quantrọng trong việc đánh giá mức độ lỗi, đồng thời xác định tính nguy hiểm cho
xã hội của hành vi phạm tội Do đó, nó có ảnh hường không nhỏ đến quyếtđịnh hình phạt
Trang 18Chủ thể của tội hiếp dâm
Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự là con người cụ thể, đangsống và là những người có điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội Bên cạnh đó, chủ thể của tội phạm phải là người có năng lựcTNHS Bởi lẽ, đối với những người như vậy mới có đủ điều kiện cho việc ápdụng biện pháp TNHS Thêm vào đó, để có được năng lực TNHS, con ngườiphải đạt độ tuổi nhất định Chính vì thế, pháp luật hình sự Việt nam quy định
độ tuổi là điều kiện của chủ thể tội phạm
Nhiều ý kiến cho rằng, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội hiếp dâm lànam giới, nữ giới chỉ có thể tham gia trong vụ án hiếp dâm với vai trò là đồngphạm Đối với BLHS 2015, chủ thể của tội hiếp dâm có thể là bất kỳ ngườinào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Từ sự phân tích trên, tội hiếp dâm có thể được hiểu như sau: Tội hiếp
dâm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được thể hiện trên hình thức dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân.
1.1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tội hiếp dâm
Việc nghiên cứu tội phạm nói chung và tội hiếp dâm luôn có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng Bởi nếu ví việc nghiên cứu tội phạm mang lại kết quả là chochúng ta một bức tranh toàn cảnh về tội phạm đã xảy ra thì nghiên cứu tộihiếp dâm như một mảnh ghép quan trọng cho tổng thể bức tranh lớn đó Khitiến hành nghiên cứu tội phạm nói chung hay tội hiếp dâm nói riêng, cần chútrọng đến hai mặt lý luận và thực tiến
Việc nghiên cứu tội hiếp dâm góp phần bảo vệ quyền con người nóichung cũng như quyền bất khả xâm phạm về nhân phẩm, danh dự, quyền bấtkhả xam phạm về tình dục, hay nói một cách khác là bảo vệ quyền và lợi ích
Trang 19Việc nghiên cứu tội hiếp dâm góp phần làm hiểu đúng hơn những vấn đề
lý luận và từ đó góp phần hoàn thiện hơn quy định của pháp luật;
Xét về mặt lý luận, để phù hợp với sự phát triển của xã hội, những quyđịnh về tội hiếp dâm ngày càng được hoàn thiện phù hợp từ BLHS năm 1985,
1999, và mới nhất là BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2015
Nghiên cứu tội hiếp dâm góp phần đấu tranh phòng ngừa, chống tộiphạm, bảo đảm an toàn trật tự xã hội;
Việc hiểu đúng những vấn đề lý luận, pháp luật và thực tiễn có tác dụngxác định đúng tội danh và quyết định hình phạt góp phần vào việc giải quyết
vụ án được khách quan, toàn diện, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tộiđồng thời không làm oan người vô tội;
1.1.3 Phân biệt tội hiếp dâm với một số tội xâm hại tình dục khác
Tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm
Tội cưỡng dâm là hành vi ép buộc người lệ thuộc mình hoặc người đang
ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc thực hiện hành viquan hệ tình dục khác Đối tượng tác động của hành vi cưỡng dâm là người bị
lệ thuộc hoặc là người đang ở trong tình trạng quẫn bách Quan hệ lệ thuộc ởđây có thể là quan hệ lệ thuộc về công việc, về kinh tế, về tín ngưỡng hay giađình Hành vi ép buộc cưỡng dâm là hành vi lợi dụng các quan hệ lệ thuộchoặc hoàn cảnh quẫn bách của nạn nhân để khống chế tư tưởng, buộc nạnnhân phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệtình dục khác Tuy nhiên, khác với tội hiếp dâm, hành vi đe dọa ở tội cưỡng
Trang 20dâm chưa đến mức làm người bị đe dọa tê liệt ý chí không dám kháng cự như
ở tội hiếp dâm Người bị đe dọa chỉ bị khống chế về tư tưởng Họ vẫn có khảnăng phản kháng nhưng lại miễn cưỡng chịu gio cấu hoặc chịu thực hiện hành
vi quan hệ tình dục khác [37, tr.123, 124].
Tội hiếp dâm và tội dâm ô
Không giống tội hiếp dâm hay cưỡng dâm, tội dâm ô là hình vi xúcphạm nhân phẩm người khác nhằm kích thích hoặc thỏa mãn nhu cầu tình dụcnhưng không giao cấu với nạn nhân và cũng không có hành vi quan hệ tìnhdục khác Hành vi này bị coi là tội phạm khi đối tượng của hành vi dâm ô làngười dưới 16 tuổi
1.2 Quy định của pháp luật hình sự về tội hiếp dâm
1.2.1 Khái quát quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội hiếp dâm trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015
Cùng với dòng chảy của lịch sử, pháp luật hình sự Việt Nam cũng đã cónhững thay đổi đáng kể Những thay đổi này có thể chia thành hai giai đoạnchính: Giai đoạn từ 1986 đến trước khi có BLHS năm 2015 (sửa đổi) và giaiđoạn từ khi có BLHS năm 2015 đến nay Trong mỗi giai đoạn như thế, luậthình sự Việt Nam đều có những đặc trưng nhất định Đối với tội hiếp dâm làmột điều luật được quy định xuyên suốt trong luật hình sự qua các thời kỳ,cũng được chia theo giai đoạn như trên
Quy định của BLHS năm 1985 về tội hiếp dâm:
Năm 1985, đất nước ta đang tiến vào thời kỳ đổi mới, và cũng chínhtrong năm này, BLHS Việt Nam đầu tiên ra đời với ý nghĩa là nguồn duy nhấtquy định tội phạm và hình phạt được xây dựng trên cơ sở kinh tế xã hội củanền kinh tế bao cấp và trên cơ sở thực tiễn của tình hình tội phạm thời bấy giờ.Trong đó, tội hiếp dâm đã được quy định tại Điều 112 BLHS năm 1985 baogồm 4 khoản như sau:
Trang 21“ 1 Người nào dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác giao cấu với người khác trái ý muốn của họ thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm;
2 Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ 13 tuổi trở lên hoặc là người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh thì bị phạt từ hai năm đến bảy năm:
a) Hiếp dâm có tổ chức hoặc nhiều người hiếp một người;
b) Hiếp nhiều người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân; c) Tái phạm nguy hiểm;
3 Phạm tội làm cho nạn nhân chết, tự sát hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
4 Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em dưới mười ba tuổi đều là phạm tội hiếp dâm và người phạm tội bị phạt theo các khoản 2 và 3 Điều này.”
BLHS 1985 ra đời đã đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử các thời kỳluật pháp nước nhà Tuy nhiên, có thể thấy BLHS lúc bấy giờ ở trong tìnhtrạng không phù hợp với chủ trương cũng như những đòi hỏi của đổi mới.Trong đó, riêng đối với quy định tại khoản 4 Điều 112 thì mọi trường hợpgiao cấu với trẻ em dưới mười ba tuổi đều là phạm tội hiếp dâm và ngườiphạm tội bị phạt theo cơ sở pháp lý được quy định tại khoản 2, khoản 3 cùngĐiều trên Đây là điểm bất hợp lý vì như vậy, nếu phạt người phạm tội mứchình phạt hai mươi năm (mức thấp nhất của khung hình phạt theo khoản 4Điều 112a BLHS năm 1985) thì không tương xứng với tính chất mức độ nguyhiểm của hành vi phạm tội Chính vì vậy, BLHS năm 1985 sửa đổi bổ sunglần thứ hai được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 8 năm 1991 đã tăng khung
hình phạt tại khoản 4 Điều 112 như sau: “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em
dưới
13 tuổi là phạm tội hiếp dâm và người phạm tội bị phạt tù từ 7 năm đến 15
Trang 223 điều này bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”.
Tinh thần này được khẳng định một lần nữa khi vào ngày 02 tháng 3năm1995, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 73-TK hướngdẫn về đường lối xét xử loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, trong đó có
đoạn:“Để góp phần ngăn chặn tệ nạn nói trên, Toà án nhân dân tối cao yêu
cầu toà án nhân dân các địa phương chủ động làm việc với các cơ quan Công
an và Viện kiểm sát cùng cấp nắm tình hình và có kế hoạch phối hợp ngay từ giai đoạn điều tra để nhanh chóng đưa ra truy tố, xét xử những người có hành vi hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm trẻ em, giao cấu với trẻ em dưới 16 tuổi, chứa hoặc môi giới gái mại dâm là trẻ em Khi đưa ra xét xử những người có hành vi phạm tội nêu trên, các Toà án lưu ý như sau:
- Phải xử phạt thật nghiêm khắc với hình phạt cao trong khung hình phạt quy định tại các điều luật đã áp dụng; đồng thời phải áp dụng thêm hình phạt
bổ sung theo quy định của Bộ Luật Hình sự….”
Nhằm phân hóa tội phạm rõ ràng hơn, BLHS năm 1985 sửa đổi bổ sunglần thứ tư được Quốc hội thông qua ngày 10 tháng 5 năm 1997 đã tách đoạn
2 khoản 1 và khoản 4 của Điều 112 BLHS thành một tội riêng, được quy
định tại Điều 112a “Tội hiếp dâm trẻ em” với mức hình phạt rất nghiêm
khắc mà mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình Trước khi BLHSnăm 1985 ra đời, Chủ tịch Chính phủ lâm thời và các cơ quan nhà nước đãban hành một số lượng rất lớn các văn bản để xây dựng và củng cố chínhquyền nhân dân, duy trì trật tự xã hội, chăm lo đời sống nhân dân và chuẩn
bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp BLHS năm 1985
đã mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu mốc đầu tiên nước ta cómột văn bản pháp luật hình sự thống nhất, không nằm rải rác trong nhiềuthông tư, nghị định, sắc lệnh, như giai đoạn trước đó Qua bốn lần sửađổi, bổ sung, BLHS 1985 có trên 100 lượt điều luật được sửa đổi hoặc bổ
Trang 23sung, đáp ứng được phần nào đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng chống tộiphạm nói chung và tội phạm hiếp dâm nói riêng trong điều kiện đổi mớicủa đất nước.
Quy định của BLHS năm 1999 về tội hiếp dâm:
Giai đoạn từ 1986 đến 1999, luật hình sự Việt Nam đã có những thay đổimang tính phát triển đáng kể
Theo đó, Bộ luật hình sự năm 1999 được xây dựng trên cơ sở sửa đổi,
bổ sung một cách tương đối toàn diện so với BLHS năm 1985 Bên cạnh đó,
có kế thừa những nội dung hợp lí, tích cực của BLHS này qua bốn lần sửa đổi,
bổ sung.So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đã có những thay đổi đáng
kể, riêng đối với tội hiếp dâm, có những đổi mới sau:
Thứ nhất, từ việc quy định chung trong một Điều (Điều 112 BLHS năm1985), nay được tách riêng thành hai tội là Tội hiếp dâm quy định tại Điều
111 và Tội hiếp dâm trẻ em quy định tại Điều 112 Trước đó, tội hiếp dâmtrong BLHS năm 1985 bao gồm cả tội hiếp dâm trẻ em
Thứ hai, dấu hiệu định tội Thay vì quy định dấu hiệu là “Người nào
dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác” tại khoản 1 Điều 112 BLHS năm 1985 thì
Điều 111 BLHS năm 1999 quy định: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng
vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác”.
Thứ ba, hình phạt đối với tội hiếp dâm So với BLHS năm 1985 (khunghình phạt là 5), BLHS năm 1999 có số khung hình phạt ít hơn (khung hìnhphạt là 4)
Thứ tư, đối với dấu hiệu định khung tăng nặng, BLHS năm 1999 quy
định thêm một số tình tiết định khung mới tại Điều 111 là: “đối với người mà
người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; làm nạn nhân
có thai; gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến
Trang 2460% “ (khoản 2 Điều 111); gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội” (khoản 3
Điều 111)
Có thể thấy, qua từng giai đoạn, quy định về tội hiếp dâm trong luậthình sự Việt Nam dần đổi mới, hoàn thiện phù hợp với điều kiện, hoàn cảnhcủa đất nước ta BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung một lần vào năm
2009 Sự sửa đổi rõ nét và quan trọng nhất của BLHS năm 2009 thể hiệnBLHS đã phi hình sự hóa đối với một số hành vi phạm tội Liên quan đến tộihiếp dâm, khoản 1 Điều 1 Luật số 37/209/QH12 về sửa đổi bổ sung một số
Điều BLHS quy định: “1 Bỏ hình phạt tử hình ở các Điều 111,…” cùng với bảy tội khác Đồng thời, sửa đổi cụm từ “hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử
hình” thành cụm từ “hai mươi năm hoặc tù chung thân” tại khoản 3 Điều 111.
Tuy nhiên, tình hình tội phạm vẫn luôn là một vấn đề nan giải; có hướngchuyển biến phức tạp và tinh vi hơn Tất nhiên, BLHS năm 1999 trong bốicảnh đó không thể không bộc lộ những hạn chế, bất cập trước tình hình xãhội Và điều này đặt ra thách thức là phải tiếp tục đổi mới, bổ sung BLHSnăm 1999 hoàn thiện hơn, đảm bảo công cuộc đấu tranh phòng, chống tộiphạm trong tình hình mới được xuyên suốt và hiệu quả hơn
1.2.2 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội hiếp dâm
Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141 BLHS năm 2015
- Quy định về cấu thành cơ bản:
Cấu thành cơ bản của tội hiếp dâm được quy định tại Khoản 1 Điều 141
BLHS năm 2015, theo đó: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi
dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.
Theo quy định trên, hành vi khách quan của tội hiếp dâm là hành vi
Trang 25“giao cấu” hoặc “hành vi quan hệ tình dục khác” trái với ý muốn của nạnnhân được thực hiện bằng các thủ đoạn như dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lựchoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạnkhác Như vậy, so với Điều 111 BLHS năm 1999, khoản 1 Điều 141 BLHSnăm 2015 có điểm mới là, ngoài hành vi “giao cấu trái với ý muốn của nạnnhân”, BLHS năm 2015 đã bổ sung một loại hành vi thuộc mặt khách quancủa tội phạm là “thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của
nạn nhân” [5, tr.123].
Hành vi giao cấu là dạng hành vi thông thường của hành vi quan hệ tìnhdục Trước khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành, hành vi khách quan củatội hiếp dâm chỉ giới hạn là hành vi giao cấu Theo BLHS năm 2015 thì hành
vi quan hệ tình dục khác cũng thuộc hành vi khách quan của tội hiếp dâm.Tuy nhiên, dấu hiệu hành vi khách quan được quy định trong điều 141 BLHSnăm 2015 chỉ đòi hỏi hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác
được thực hiện mà không đòi hỏi hành vi này phải kết thúc về sinh lý [37,
tr.118].
Hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác được thực hiện tráivới ý muốn của nạn nhân và được thực hiện bằng một trong các thủ đoạn sau:
- Dùng vũ lực:
Ví dụ: Khoảng 19h00 ngày 30 tháng 5 năm 2018, chị Lê Thị T cùng bạn
là chị Trần Thị N (SN 1996, ở huyện Đông Anh) đến quán bia tại xóm Bãi, xã
Uy Nỗ, huyện Đông Anh uống bia Khi đến quán bia, chị T gặp Nguyễn PhúKhánh (SN 1983, trú tại tổ 20, thị trấn Đông Anh) cùng một số nam thanhniên là bạn của Khánh đang ngồi uống bia trước vỉa hè của quán Do quenbiết nhau từ trước, Khánh mời chị T và chị N vào bàn ngồi uống bia cùng vàhai cô gái đồng ý
Cả nhóm ngồi uống bia đến khoảng 22h30 cùng ngày thì ra về và một
Trang 26người bạn của Khánh đã thanh toán tiền bia cho chủ quán Chị T dắt xe, nổmáy định đi về thì Khánh chặn đầu xe không cho về và nói: “Em say rồi, đểanh đưa về” Do có cảm giác say bia, nên chị T đồng ý để Khánh đưa về.Khánh nảy sinh ý định “quan hệ” với chị T, nên điều khiển chiếc xe máy chở
T vào nhà nghỉ “Minh Huyền”, ở tổ 15, thị trấn Đông Anh
Khi biết Khánh đưa vào nhà nghỉ, chị T không đồng ý, đòi về và nói:
“Anh cho em về nhà”, nhưng Khánh không đồng ý và đưa chị T lên phòng
201 nhà nghỉ vì khi đó chị T say bia không đi được Khánh đã dìu chị T nằm
ra giường, đòi “quan hệ” nhưng chị T không đồng ý Khánh dùng vũ lựckhống chế cô gái yếu đuối đang trong tình trạng say bia để giao cấu trái ýmuốn với chị T Đến khoảng 03h00 ngày 31-5, Khánh tiếp tục giao cấu trái ýmuốn với chị T lần thứ 2
Trong ví dụ này, hành vi khách quan của Nguyễn Phú Khánh là dùng vũlực làm mất khả năng tự vệ, chống trả của nạn nhân Từ đó, thực hiện hành vigiao cấu trái ý muốn 2 lần đối với chị Lê Thị T
- Đe dọa dùng vũ lực:
Ví dụ: Vào đầu tháng 12 năm 2017, Lê Minh Thuận (29 tuổi, ở Thị trấnTrà Ôn, huyện Trà Ôn, Vĩnh Long) làm quen và lấy xe máy đón L.T.M.T.(13 tuổi, ở cùng địa phương) đến một quán cà phê ở xã Thiện Mỹ, huyện Trà
Ôn để nói chuyện
Tại đây, Thuận đã lấy ra một con dao lam có dính máu và đưa dao lêngần mặt của T đe dọa Do quá sợ hãi nên T để cho Thuận thực hiện hành vithú tính của mình, đồng thời Thuận còn dùng điện thoại di động quay lại.Trước khi ra về, đối tượng còn dọa nếu như lần sau gọi mà T không đến thì
sẽ đưa đoạn clip này lên mạng
Trong vụ việc này, hành vi khách quan của Lê Minh Thuận là dùng daolam đe dọa nhưng chưa tác động vào L.T.M.T, làm cho nạn nhân sợ hãi vì sợ
Trang 27rằng nếu Thuận không dao cấu được sẽ dùng dao lam để cứa vào mặt T Từ
đó, thực hiện hành vi giao cấu với T
- Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân:
Ví dụ: Theo trình báo của bà Lành (đã đổi tên, 57 tuổi, trú huyện CamLâm, Khánh Hòa), sáng 24/7 bà đến Bệnh viện đa khoa Tâm Trí Nha Trang
để khám đại tràng Sau khi thăm khám, các bác sĩ chỉ định nội soi kiểm tra.Trưa cùng ngày, sau khi nội soi, các bác sĩ ra khỏi phòng, giao bệnhnhân Lành cho điều dưỡng tên Hoàng Văn Dương vệ sinh cá nhân, chờ hồitỉnh sau gây mê
Lúc 12h50, bà Lành có cảm giác đang có người xâm hại mình, nhưng dochưa hết thuốc mê nên không thể phản ứng Khi tỉnh lại, nữ bệnh nhân yêucầu gặp giám đốc bệnh viện và điều dưỡng Dương để làm rõ
Đến chiều cùng ngày, bà Lành đến cơ quan công an trình báo sự việc.Tại cơ quan công an, nam điều dưỡng Hoàng Văn Dương thừa nhận hành vi
“Trong lúc vệ sinh cơ thể bệnh nhân Lành, tôi nảy sinh ý định quan hệ.Lợi dụng lúc chị ấy chưa tỉnh thuốc mê, tôi đã thực hiện hành vi”, Dươngkhai với công an
Trong vụ việc này, Hoàng Văn Dương đã có hành vi khách quan là lợidụng tình trạng không thể tự vệ được do còn chưa hết thuốc mê của bà Lành
để thực hiện hành vi thú tính
Thứ tư, dùng thủ đoạn khác: như đe dọa, khủng bố tinh thần, làm cho
nạn nhân khiếp sợ, dùng thuốc mê hay các chất kích thích khác làm cho nạnnhân hạn chế hoặc mất khả năng chống cự
- Điều 141 BLHS năm 2015 không mô tả dấu hiệu đặc biệt của chủ thểtội hiếp dâm Trước khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành, theo quan niệmtruyền thống và thực tiễn xét xử thì chủ thể của tội này được xác định là chủthể đặc biệt, đó là dấu hiệu về giới tính mà chủ thể của tội hiếp dâm chỉ có thể
Trang 28là nam giới BLHS năm 2015 đã thay đổi quan niệm về chủ thể của tội hiếpdâm so với quy định trước đây không chỉ là nam giới mà có thể là nữ giới hayngười đồng tính, người chuyển giới.
Tóm lại, chủ thể của tội hiếp dâm có thể là bất kỳ người nào có năng lựctrách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Như vậy, theoquy định tại Điều 141 BLHS năm 2015 thì người nào đủ năng lực trách nhiệmhình sự, dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự
vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành
vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân thì đều có thể trở thànhchủ thể của tội phạm đối với tội hiếp dâm
- Quy định về cấu thành tăng nặng tại khoản 2 Điều 141 BLHS:
Các trường hợp phạm tội bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
* Hiếp dâm có tổ chức (điểm a khoản 2 Điều 141 BLHS):
Việc xác định một tội phạm có tình tiết tăng nặng là “phạm tội có tổchức” hay không là điều rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi íchtinh thần cũng như vật chất của nạn nhân cũng như tới mức hình phạt củangười phạm tội Trong thực tế xét xử, có nhiều trường hợp tòa án thực hiệnviệc định tội sai giữa phạm tội hiếp dâm có tổ chức và nhiều người cùnghiếp dâm một người (quy định tại điểm c khoản 2 Điều 141) Các dấu hiệucủa phạm tội có tổ chức được quy định tại khoản 2 Điều 17 BLHS 2015.Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữanhững người cùng thực hiện tội phạm Khái niệm đồng phạm được pháp luậthình sự nước ta ghi nhận tại Điều 17 với định nghĩa là "có hai người trở lên cố
ý cùng thực hiện một tội phạm”, nhưng phạm tội có tổ chức lại là hình thứcđồng phạm có sự câu kết chặt chẽ hơn, bao gồm nhiều người cùng tham gia,trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.Như vậy, có thể nói đây là trường hợp đồng phạm hiếp dâm ở hình thức có tổ
Trang 29* Hiếp dâm đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc,giáo dục, chữa bệnh (điểm b khoản 2 Điều 141 BLHS).
Trong trường hợp này, người phạm tội có nghĩa vụ với nạn nhân Nhưvậy, những nghĩa vụ đề cập đến trong quy định trên hướng đến những mốiquan hệ như: qua hệ huyết thống (bố mẹ đối với con cái…), quan hệ giáo dục(giáo viên đối với học sinh…), quan hệ chữa bệnh (thầy thuốc đối với bệnhnhân…),
Ví dụ: Trần Văn A là giáo viên trường THPT huyện B, một lần A cùngvới một số bạn đi ăn nhậu, trên đường về gặp em Lê Thị C là học sinh lớp 12của trường, các bạn của A trêu gẹo C và cùng A kéo C vào chỗ vắng hãmhiếp Sau khi gây án, A mới biết em C là học sinh của trường
* Nhiều người hiếp một người (điểm c khoản 2 Điều 141 BLHS):Trường hợp nhiều người hiếp một người là tất cả những người tham gia
Trang 30đều giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người bị hại.Nếu phạm tội có tổ chức mà lại có từ hai người trở lên giao cấu hoặc thựchiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân thì những người giao cấuhoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân phạm tội có haitình tiết: hiếp dâm có tổ chức và nhiều người hiếp một người, và trong trườnghợp này hình phạt đối với họ sẽ nặng hơn những người khác nếu các tình tiếtkhác của vụ án như nhau.
* Hiếp dâm nhiều lần (điểm d khoản 2 Điều 141 BLHS):
Hiếp dâm nhiều lần là trường hợp một người hiếp một người từ hai lầntrở lên hoặc nhiều người hiếp một người, trong đó mỗi người hiếp nạn nhân
từ hai lần trở lên
* Hiếp dâm đối với hai người trở lên (điểm đ khoản 2 Điều 141 BLHS):Trường hợp này là một người hiếp hai người trở lên hoặc nhiều ngườihiếp hai người trở lên
* Hiếp dâm có tính chất loạn luân (điểm e khoản 2 Điều 141 BLHS)
Tính chất loạn luân được thể hiện ở chỗ giữa người phạm tội hiếp dâmvới người bị hại có cùng dòng máu trực hệ ( bố mẹ với con cái, ông bà với cáccháu), giữa anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng
mẹ khác cha Hiếp dâm có tính chất loạn luân là trường hợp có tính nguy hiểmcao hơn các trường hợp hiếp dâm bình thường khác, qua thực tiễn xét xử thấycần phải trừng trị nghiêm khắc người phạm tội hiếp dâm có tính chất loạnluân
* Hiếp dâm làm nạn nhân có thai (điểm g khoản 2 Điều 141 BLHS)
Đây là trường hợp vì hành vi hiếp dâm của người phạm tội mà nạn nhân
có thai Nếu nạn nhân tuy có bị hiếp dâm nhưng việc nạn nhân có thai lại là kếtquả của việc giao cấu giữa nạn nhân với người khác thì người phạm tội hiếpdâm không phải chịu tình tiết “làm nạn nhân có thai” Chỉ khi nào có đủ căn cứ
Trang 31xác định nạn nhân có thai là do hành vi hiếp dâm gây ra thì người phạm tộihiếp dâm mới phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 2Điều 141 BLHS 2015.
* Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệtổn thương cơ thể từ 31% đến 60% (điểm h khoản 2 Điều 141BLHS):
Căn cứ để xác định tình tiết phạm tội này là kết quả giám định tỷ lệ tổnthương cơ thể của nạn nhân do hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại sứckhỏe nạn nhânthực hiện bởi người phạm tội Kết quả này do Hội đồng giámđịnh pháp y kết luận
* Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45% (điểm
i khoản 2 Điều 141 BLHS)
Căn cứ để xác định tình tiết phạm tội này là kết quả giám định pháp y về
tỷ lệ rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân tại các trung tâm hoặc phòngkhám giám định pháp y tâm thần (đối với những trường hợp đơn giản, khôngkhó khăn trong chẩn đoán, xác định năng lực và trách nhiệm hành vi)
* Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm (điểm k khoản 2Điều 141 BLHS 2)
Người phạm tội hiếp dâm bị coi là tái phạm nguy hiểm nếu đã bị kết án
về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá ántích mà lại phạm tội hiếp dâm thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3hoặc khoản 4 Điều 141 BLHS, hoặc đã tái phạm, chưa được xoá án tích màlại phạm tội hiếp dâm Đối với tội hiếp dâm, cũng như đối với một số tộiphạm khác nếu thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, thì người phạm tội sẽ
bị truy cứu trách nhiệm hình sự nặng hơn trường hợp không phải là tái phạmnguy hiểm.Các dấu hiệu về tái phạm nguy hiểm được quy định tại khoản 2Điều 53 BLHS cũng như các trường hợp tái phạm nguy hiểm khác trong cáctội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người
Trang 32- Quy định cấu thành tăng nặng tại khoản 3 Điều 141 BLHS:
Các trường hợp phạm tội phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
* Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệtổn thương cơ thể từ 61% trở lên (điểm a khoản 3 Điều 141 BLHS)
“3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
05 năm đến 10 năm:”
Thứ nhất, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên (điểm a khoản 3 Điều 141 BLHS).
Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trườnghợp hiếp dâm gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương
cơ thể từ 31% đến 60% quy định tại điểm h khoản 2 Điều 141 BLHS 2015,chỉ khác nhau ở chỗ, tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân trong trường hợpnày là từ 61% trở lên và người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự
có khung hình phạt từ mười hai năm đến hai mươi năm tù, tù chung thân
* Người phạm tội biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội (điểm b
khoản 3 Điều 141 BLHS)
Đối với trường hợp phạm tội này, người phạm tội biết mình nhiễm HIV
mà vẫn thực hiện hành vi hiếp dâm, tức là cố ý lây truyền HIV cho ngườikhác bằng hành vi phạm tội của mình Điều này làm cho tính chất và mức độcủa hành vi hiếp dâm nguy hiểm hơn nhiều so với những trường hợp hiếpdâm trên.Khi áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội cần chú ý đến căn
cứ cho rằng người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm haykhông Nếu người phạm tội bị nhiễm HIV thật nhưng họ không biết, sau khiphạm tội cơ quan Y tế mới xét nghiệm thấy người phạm tội bị nhiễm HIV thìhiển nhiên không áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội
* Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên (điểm ckhoản 3 Điều 141 BLHS)
Trang 33Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp hiếp dâm gâyrối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân Điểm khác nhau ở đây là, tỷ lệ rốiloạn của nạn nhân từ 46% trở lên và người phạm tội phải bị truy cứu tráchnhiệm hình sự có khung hình phạt từ mười hai năm đến hai mươi năm tù, tùchung thân.
* Hiếp dâm làm nạn nhân chết hoặc tự sát (điểm d khoản 3 Điều 141BLHS)
Đây là trường hợp nạn nhân do bị hiếp dâm mà chết hoặc tự sát Nếunạn nhân bị chết hoặc tự sát không phải là do bị hiếp mà do nguyên nhân khácthì không thuộc trường hợp phạm tội này Như vậy, tuỳ từng trường hợp cụthể mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm
và tội phạm tương ứng với hành vi làm cho nạn nhân bị chết hoặc tự sát
Nếu hành vi của người phạm tội có đủ dấu hiệu của tội giết người thìtruy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người và tội hiếp dâm Cũng cótrường hợp lúc đầungười phạm tội đã dùng vũ lực làm cho nạn nhân bị ngấtrồi thực hiện hành vi giao cấu với nạn nhân, nhưng sau đó người phạm tội bỏmặc cho nạn nhân dẫn đến cái chết cho nạn nhân thì không phải thuộc trườnghợp hiếp dâm làm nạn nhân chết mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệmhình sự về hai tội: Tội giết người và tội hiếp dâm Trường hợp hiếp dâm làmnạn nhân chết là trường hợp do bị hiếp (thường là bị nhiều người hiếp) nạnnhân do sức yếu không chịu nổi sự hãm hiếp của người phạm tội nên bị chết
Có trường hợp do quá sợ hãi nên nạn nhân bị ngất đi và sau đó bị chết thìcũng coi là trường hợp hiếp dâm làm nạn nhân chết
Đối với hiếp dâm làm nạn nhân tự sát cũng tương tự như vậy Mộtngười tự sát có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng nếu vì bị hiếp dâm mà tự sátthì người đã hiếp dâm nạn nhân sẽ phạm tội thuộc trường hợp hiếp dâm làmnạn nhân tự sát Chỉ cần xác định nạn nhân vì bị hiếp dâm mà tự sát, còn nạn
Trang 34nhân có bị chết hay không, không phải là dấu hiệu bắt buộc để xác định tìnhtiết phạm tội này.
* Hiếp dâm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (khoản 4 Điều
141 BLHS):
Đối với trường hợp này, căn cứ để xác định hành vi phạm tội cũng nhưkhung hình phạt đối với người phạm tội là tuổi của nạn nhân Chỉ khi nạnnhân từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì mới định tội hiếp dâm đối với ngườiphạm tội.Người chưa thành niên rất dễ bị xâm phạm về tình dục và việc họ bịhiếp dâm có thể gây ra những hậu qua hết sức nặng nề.Chính vì vậy, hiếp dâmngười từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu sự trừng phạt nghiêm khắc sovới các trường hợp còn lại.Để xác định được tuổi của nạn nhân, các cơ quantiến hành tố tụng phải chứng minh tuổi của người bị hại, biện pháp chứngminh có hiệu quả nhất chính là giấy khai sinh của nạn nhân.Tuy nhiên, thực tếcũng có một số trường hợp, không có giấy khai sinh hoặc giấy khai sinhkhông đúng với tuổi thật của họ, thì phải xác minh tuổi thật của người bị hại.Tại khoản 4 Điều 141 BLHS cũng có quy định rằng, trong trường hợp nạnnhân theo quy định tại khoản này, nhưng có tình tiết định khung thuộc khoản
2 và khoản 3 thì xử phạt theo mức quy định tại khoản đó
- Quy định về hình phạt đối với tội hiếp dâm tại Điều 141 BLHS
Điều 30 BLHS 2015 có quy định như sau: “Hình phạt là biện pháp
cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này,
do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.”
Căn cứ vào Điều 32 và Điều 141 BLHS năm 2015 thì tội hiếp dâm cócác loại hình phạt chính: Tù có thời hạn, tù chung thân và hình phạt bổ sung:cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, không
Trang 35có hình phạt tử hình.
Đối với các hình phạt chính:
Một là, hình phạt tù có thời hạn (khoản 1 Điều 38 BLHS năm 2015)
Đây là biện pháp nhằm hạn chế người phạm tội gây tội mới làm ảnhhưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội
Hai là, hình phạt tù chung thân (Điều 39 BLHS năm 2015)
Đây là hình phạt có tính chất rất nghiêm khắc, chỉ sau hình phạt tử hình
Về bản chất, tù chung thân có nhiều điểm tương đồng với hình phạt tù có thờihạn: tước tự do của người bị kết án, cách ly họ khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo
và phòng ngừa tội phạm Nhưng hình phạt chung thân có mức độ nghiêmkhắc hơn rất nhiều hình phạt tù có thời hạn, đó chính là người phạm tội có thể
bị cách ly với xã hội không có thời hạn, bị giam trong trại suốt đời Hình phạt
tù chung thân được áp dụng đối với hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng,hình phạt tù có thời hạn không đủ mức độ răn đe, giáo dục nhưng chưa đếnmức cần thiết áp dụng hình phạt tử hình
Do tính chất nghiêm khắc của hình phạt tù chung thân và xuất phát từnguyên tắc xử lý người người chưa thành niên phạm tội, luật hình sự Việt Namkhông áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Đối với hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 141 BLHS
năm 2015 thì hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghềhoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm
“Điều 41 Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó thì có thể gây nguy hại cho xã hội.