1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THIẾT kế hệ THÔNG xử lý nước THẢI CHO KHU dân cư vạn PHÚC PHƯỜNG cải ĐAN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN

113 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển của đô thị, Việt Nam đang đối mặt với khá nhiều tháchthức như: thiếu mảng kiến trúc xanh trong đô thị, cơ sở hạ tầng yếu kém, vấn đề xử lýnước thải công nghiệp, nư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

KHOA XÂY DỰNG VÀ MÔI TRƯỜNG

(

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI THIẾT KẾ HỆ THÔNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHO KHU DÂN CƯ VẠN PHÚC PHƯỜNG CẢI ĐAN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

KHOA XÂY DỰNG VÀ MÔI TRƯỜNG

(

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI THIẾT KẾ HỆ THÔNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHO KHU DÂN CƯ VẠN PHÚC PHƯỜNG CẢI ĐAN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN

Giảng viên hướng dẫn : THS VI THỊ MAI HƯƠNG

Sinh viên thực hiện : TRẦN XUÂN TƯỜNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thànhtới các thầy cô giáo trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp nói chung và các thầy côgiáo khoa Xây dựng và Môi trường, bộ môn Kỹ thuật Môi trường nói riêng đã tận tìnhgiảng dạy, truyền đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu, và đã tạo điềukiện thuận lợi để em hoàn thành tốt khóa học Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơngiảng viên hướng dẫn - Th.S Vi Thị Mai Hương đã tận tình giúp đỡ, trực tiếp chỉ bảo,hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp Trong thời gian làmviệc với thầy cô, em không ngừng tiếp thu thêm nhiều kiến thức bổ ích mà còn học tậpđược tinh thần làm việc, thái độ làm việc nghiêm túc, hiệu quả, đây là những điều rấtcần thiết cho em trong quá trình học tập và công tác sau này Sau cùng em xin gửi lờicảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã động viên, đóng góp ý kiến và giúp đỡ trongquá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đồ án tốt nghiệp Do trình độ lý luận cũngnhư kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên đồ án tốt nghiệp của em không thể tránhkhỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô

để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn Sau cùng, em xin kínhchúc quý thầy cô luôn dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh caođẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau

Em xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN (Ký, ghi rõ họ tên)

Trang 5

MỤC LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và hộinhập quốc tế, để đưa nước ta trở thành một nước văn minh, hiện đại, phát triển cả vềkinh tế, văn hóa, xã hội Công nghiệp hóa hiện đại hóa đã đẩy mạnh việc xây dựng cáckhu công nghiệp, khu dân cư, mở rộng sản xuất Các khu công nghiệp đã thu hút sốlượng lớn công nhân lao động trong khu vực và từ các khu vực xung quanh Điều nàylàm cho dân cư xung quanh các khu công nghiệp trở nên đông đúc hơn Đây là nhân tốchính làm cho quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh hơn Dân số tăng nhanh nên việc đápứng nhu cầu về nhà ở cho người dân tăng lên rõ rệt Vì vậy, việc xây dựng nên các khu

đô thị, khu trung cư, khu dân cư tập trung đang là vấn đề cấp thiết của đất nước

Cùng với sự phát triển của đô thị, Việt Nam đang đối mặt với khá nhiều tháchthức như: thiếu mảng kiến trúc xanh trong đô thị, cơ sở hạ tầng yếu kém, vấn đề xử lýnước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, chất thải rắn… chưa được thực hiện triệt

để Việc thu gom xử lý nước thải khó khăn điều kiện vệ sinh xuống cấp nước sạchcung cấp không đảm bảo ảnh hưởng tới chất lượng đời sống của người dân và ô nhiễmmôi trường là không tránh khỏi Vì vậy, sự đô thị hóa, phát triển các khu đô thị cầnphải thắt chặt các vấn đề bảo vệ môi trường, đòi hỏi phải có sự quan tâm của các cấpchính quyền và ý thúc của người dân

Thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên cũng đang trên đà phát triển Với sự giatăng dân số của thành phố nói chung và các khu dân cư nói riêng, xử lý nước thải làmột đề tài nóng hiện nay Dự án xây dụng khu dân cư Vạn Phúc phường Cải Đanthành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên là dự án đang trong quy hoạch mặt bằng củathành phố Sông Công Nước thải từ khu dân cư, khu nhà ở mang đặc tính chung củanước thải sinh hoạt: bị ô nhiễm bởi bã cặn hữu cơ (SS), chất hữu cơ hòa tan (BOD),các chất dầu mỡ trong sinh hoạt (thường là dầu thực vật) và các vi trùng gây bệnh

Từ hiện trạng nêu trên, yêu cầu cấp thiết đặt ra là xử lý triệt để các chất ô nhiễm

để thải ra môi trường đạt tiêu chuẩn xả thải, không ảnh hưởng đến môi trường sốngcủa người dân Do đó, đề tài “Thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cho khu dân

cư Vạn Phúc phường Cải Đan thành phố Thái Nguyên” được đề ra nhằm đáp ứng nhucầu trên

Trang 7

Với đề tài này, để xử lý nước thải khu dân cư thì thiết kế phải phù hợp với quyhoạch cũng như chi phí đầu tư, vận hành phù hợp, không gây ô nhiễm môi trường làlựa chọn hàng đầu Thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cho khu dân cư Vạn Phúc thành phố Sông Công với yêu cầu là đưa ra phương án xử lý nước thải một cáchhợp lý, tính toán các công trình, khai toán giá thành, trình bày quá trình vận hành, các

Trang 8

THIẾT KẾ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHO DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU DÂN CƯ VẠN PHÚC TẠI PHƯỜNG CẢI ĐAN-SÔNG CÔNG- THÁI NGUYÊN

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Tổng quan về quá trình Đô Thị Hóa tại Việt Nam:

1.1.1 Tình hình Đô Thị Hóa tại Việt Nam:

Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đôthị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Nócũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian

Đô thị hóa là quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là cácnước châu Á, trong đó có Việt Nam Nền kinh tế ngày càng phát triển thì quá trình đôthị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát triểnkinh tế-xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhân dân Quá trình đô thị hóa nhanhcòn đồng nghĩa tăng dân cư từ nông thôn ra thành phố gây ra nhiều vấn đề về nhà ở,dịch vụ y tế,… Giao thông phát triển không tương đồng với sự gia tăng dân số nênchưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân Các trung cư đô thị sẽ góp phần đápứng được nhu cầu về nhà ở của người dân, tạo ra một môi trường sống văn minh hiệnđại và đảm bảo an ninh Sự phát triển này sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển củacác khu đô thị, đồng thời các điều kiện vật chất, văn hóa, tinh thần cũng được cải thiệnmột phần trong mỗi người dân

Trước thời kì đổi mới đất nước quá trình đô thị hóa tại Việt Nam diễn ra chậm vàchưa phát triển mạnh Từ khi đất nước bước vào thời kì đổi mới (sau năm 1986) tốc độphát triển đô thị hóa tại Việt Nam diễn ra ngày càng nhanh Theo các chuyên gia củaNgân hàng Thế giới, tốc độ Đô thị hóa bình quân của Việt Nam trong giai đoạn 1999-

2009 là 3,4%/ năm Tính đến cuối năm 2013, tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đạt khoảng33,47%, tương ứng với 29,72 triệu người, so với năm 2012 tăng khoảng 1% (tươngđương với 1,35 triệu người) Một phần tư thế kỷ thực hiện công cuộc đổi mới đấtnước, hệ thống đô thị Việt Nam không ngừng phát triển; từ 629 đô thị (năm 1999) đãtăng lên tới 755 đô thị (năm 2010), và tính đến tháng 11 năm 2013 cả nước đã có 770

Trang 9

đô thị Trong đó, có 02 đô thị loại đặc biệt, 14 đô thị loại I, 11 đô thị loại II, 52 đô thịloại III, 63 đô thị loại IV, còn lại là đô thị loại V Về cấp quản lý hành chính đô thị, tínhđến ngày 31 tháng 12 năm 2013, có 5 thành phố trực thuộc Trung ương (0,6%), 61thành phố trực thuộc tỉnh

Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, nâng cao đờisống nhân dân Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, quá trình Đô thị hóa cũng phátsinh nhiều vấn đề cần giải quyết như: vấn đề việc làm cho nông dân bị mất đất,phương pháp đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, giãn dân và nổi cộmnhất là giải quyết vấn đề liên quan đến môi trường

1.1.2 Vấn đề môi trường liên quan đến quá trình Đô Thị Hóa tại Việt Nam

1.1.2.1 Vấn đề môi trường nước

Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, nền kinh tếphát triển, cuộc sống sinh hoạt ngày càng tiện nghi hơn Quá trình đô thị hóa diễn ranhanh dẫn đến dân số tại các đô thị cũng tăng nhanh, lượng nước thải phát sinh ngàycàng nhiều, gây tác động trực tiếp đến nguồn tiếp nhận nước Theo Hội Bảo vệ thiênnhiên và môi trường Việt Nam (VACNE), nước thải sinh hoạt chiếm khoảng 80% tổng

số nước thải ở các đô thị Vì vậy, việc thu gom và xử lý nước thải là rất cấp thiết Tuynhiên, nước thải mới chỉ được quan tâm thu gom ở những vùng trung tâm hay đô thịlớn, ở những vùng đô thị nhỏ hay nông thôn vẫn còn mang tính tự phát Có ba loạihình hệ thống thoát nước: hệ thống thoát nước chung, hệ thống thoát nước riêng và hệthống thoát nước nửa chung nửa riêng Theo Báo cáo Đánh giá hoạt động quản lý đôthị ở Việt Nam của Ngân hàng thế giới WB năm 2012 cho thấy, đa phần các hộ giađình không thực hiện đấu nối vào hệ thống thu gom nước thải mà lại đầu nối vào hệthống thoát nước công cộng, đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm mùi

ở nhiều khu vực xung quanh nhà[7].

Hiện trạng thu gom nước thải được mô tả theo sơ đồ dưới đây:

Trang 10

Hình 1.1 Hiện trạng thu gom, quản lý nước thải đô thị Việt Nam [7]

Tại hầu hết các thành phố lớn ở Việt Nam như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng

và các thành phố cấp tỉnh khác, 60% hộ gia đình đấu nối vào HTTN công cộng, cònhầu hết nước thải được xả thẳng ra hệ thống tiêu thoát nước bề mặt, chỉ có 10% lượngnước thải được xử lý Tỷ lệ đấu nối hộ gia đình vào hệ thống thoát nước công cộng ởcác thị trấn nhỏ vùng sâu vùng xa, khu vực ven đô và trong các đô thị miền Trung lạirất thấp do nền đất chủ yếu là cát cho phép nước thấm nước tốt Khảo sát của Ngânhàng Thế giới ở Đà Nẵng năm 2012 cho thấy khu vực miền Trung có tỷ lệ đấu nối vào

hệ thống thoát nước dưới 10%, hầu hết các bể tự hoạiđều có giếng thấm để thoát nước

hay ở các khu vực nông thôn, ven đô chủ yếu là thoát nước tự do trên bề mặt[7].

Song song với công tác thu gom, công tác xử lý nước thải cũng là một vần đềđáng lưu ý Có khoảng 90% lượng nước thải được thải tự do ra ngoài môi trường màchưa qua xử lý Nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống thoát nước và xử lý nước thảichưa được nâng cấp, cải tạo và quản lý hiệu quả Các công trình xử lý nước thải chính

ở Việt Nam vẫn là các công trình vệ sinh tại chỗ như bể tự hoại, ngay cả khi các hộ giađình đã đấu nối vào hệ thống thoát nước công cộng Nhiều bể tự hoại hoạt động trongtình trạng quá tải, nước thải chưa xử lý tốt trong bể tự hoại khi xả vào hệ thống thoátnước chung vốn đã xuống cấp có thể chứa các chất rắn và làm tắc nghẽn dòng chảyhoặc phát sinh mùi Ở hầu hết các khu vực đô thị cũ đều sử dụng hệ thống thoát nướcchung cho tất cả các loại nước thải và nước mưa Các hệ thống thu gom hầu hết đã cũ

và xuống cấp dẫn đến nước xám và nước mưa chảy trực tiếp ra nguồn tiếp nhận gây ônhiễm Chi phí đòi hỏi để đầu tư xây dựng, vận hành các hệ thống tiếp nhận xử lý

Trang 11

nước thải tập trung là quá lớn đối với đô thị, chưa nói đến các vùng ven đô, nông thôn.Một số địa phương vẫn còn gặp khó khăn trong công tác quy hoạch nên chưa lựa chọnđược công nghệ xử lý phù hợp, hệ thống xử lý và thu gom nước thải chưa hoàn hiện

cũng không giúp cải thiện hiệu quả môi trường[11].

Nhà máy xử lý nước thải Đô thị đầu tiên ở Việt Nam bắt đầu hoạt động khoảngnăm 2000 và đến cuối năm 2012, Việt Nam có tổng cộng 17 nhà máy xử lý nước thải

đô thị tập trung, khá ít so với con số trên 87 triệu dân trên cả nước Trong số đó, 12nhà máy được xây dựng ở 3 thành phố là Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, 5 nhàmáy còn lại nằm rải rác ở các đô thị cấp tỉnh Ngoài ra, hiện nay cả nước có trên 30 dự

án xử lý nước thải đô thị trong quá trình thiết kế hoặc xây dựng Các nhà máy hiệnđang hoạt động chỉ có bốn trong số 17 nhà máy xử lý nước thải tập trung tiếp nhậnnước thải từ hệ thống thoát nước riêng, mười ba nhà máy xử lý nước thải còn lại tiếpnhận nước từ hệ thống thoát nước chung với công suất hoạt động không đồng đều, daođộng trong khoảng 18,4% đến 128% công suất thiết kế Do công suất hoạt động vànồng độ chất ô nhiễm trong nước thải đầu vào thấp hơn thiết kế giúp hầu hết các nhàmáy xử lý nước thải dễ dàng xử lý đạt tiêu chuẩn, dù tiếp nhận nước thải từ hệ thốngthoát nước chung hay riêng Bên cạnh đó, việc lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp cũngảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động nhà máy Điều này thể hiện rõ ở các nhàmáy Bắc Giang, Bãi Cháy, Hà Khánh và một số nhà máy mới xây dựng, toàn bộ cácnhà máy đều áp dụng công nghệ bùn hoạt tính để xử lý nước thải đầu vào có nồng độchất ô nhiễm rất thấp do tiếp nhận từ hệ thống thoát nước chung chưa xây dựng hoànthiện Nhà máy Bắc Thăng Long đã vận hành vài năm nhưng khu vực này thậm chíchưa phát triển đô thị và chưa xây dựng mạng lưới thu gom nước thải Ở Đà Nẵng, bốnnhà máy xử lý nước thải ban đầu là các hồ kỵ khí lộ thiên, giải pháp này không phùhợp vì các nhà máy này nằm trong khu dân cư với khoảng cách cách ly an toàn rất hạnchế Sau này, các nhà máy xử lý nước thải ở Đà Nẵng phải phủ bạt kín trước phản ứngcủa cộng đồng về tình trạng ô nhiễm mùi, biện pháp này giờ đây lại gây khó khăn chohoạt động của các công trình, vì bạt phủ che mất cửa bảo dưỡng và thông hút bùn củacông trình Tám trong số mười ba nhà máy tiếp nhận nước từ hệ thống thoát nướcchung áp dụng công nghệ bùn hoạt tính, sử dụng phương pháp bùn hoạt tính truyềnthống (CAS), Yếm khí – Thiếu khí – Hiếu khí (A2O), bể phản ứng sinh học hoạt độngtheo mẻ (SBR) hay mương oxi hóa (OD) Các phương pháp này đảm bảo xử lý nước

Trang 12

thải đạt chất lượng cao và thường được thiết kế để xử lý nước thải đầu vào có nồng độBOD cao hơn nhiều so với nồng độ thực tế nhà máy đang tiếp nhận Vì vậy, tám nhàmáy xử lý nước thải có khả năng xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn thải hiện hành Nhưngvới nồng độ BOD trung bình trong nước thải sau xử lý của tám nhà máy tiếp nhậnnước từ hệ thống thoát nước chung giao động từ 3-23 mg/l, thấp hơn nhiều so với tiêuchuẩn 50 mg/l cho loại “B” Với nồng độ chất ô nhiễm thấp như vậy, thực tế có thể lựachọn công nghệ xử lý thấp hơn để xử lý đạt tiêu chuẩn nước thải đầu ra, nhờ đó có thể

tiết kiệm chi phí đầu tư cơ bản, đồng thời nâng cao hiệu quả xử lý của hệ thống[7].

Hiện nay, các khu đô thị mới với hệ thống tiếp nhận- xử lý nước thải được xâydựng hoàn chỉnh, không cần dùng bể tự hoại Ở các khu vực đô thị hiện hữu, bể tự

hoại sẽ còn tồn tại một thời gian dài[1] Mặc dù còn là một quốc gia nghèo nhưng Việt

Nam chưa thật sự chú ý đến những giải pháp XLNT có chi phí thấp Khi nồng độ chấthữu cơ trong nước thải đầu vào các công trình xử lý thấp, có thể lựa chọn áp dụng cáccông nghệ xử lý chi phí thấp và cho phép nâng cấp cải tiến dần khi nồng độ các chất ônhiễm tăng lên Các công trình có mức tiêu thụ năng lượng thấp, có khả năng thu hồitài nguyên, năng lượng từ bùn hoặc tái sử dụng nước thải sau xử lý còn chưa được chú

trọng, ưu tiên lựa chọn từ khâu quy hoạch ở Việt Nam[3].

1.1.2.2 Vấn đề môi trường không khí

Môi trường không khí tại các đô thị chịu ảnh hưởng tổng hợp từ nhiều nguồnthải Hiện nay chất lượng không khí đô thị chưa có nhiều cải thiện Chỉ số chất lượngkhông khí AQI vẫn duy trì ở mức tương đối cao, điển hình như ở Hà Nội số ngày cóAQI ở mức kém (AQI = 101 ÷ 200) giai đoạn từ 2010 - 2013 chiếm tới 40 - 60% tổng

số ngày quan trắc trong năm và có những ngày chất lượng không khí suy giảm đếnngưỡng xấu (AQI = 201 ÷ 300) và nguy hại (AQI>300) Nhìn chung, nồng độ bụi caovẫn là vấn đề đáng lo ngại nhất, đặc biệt là đối với môi trường không khí tại các đô thị.Tại các điểm quan trắc cạnh đường giao thông, số ngày có giá trị AQI không đảm bảongưỡng khuyến cáo an toàn với sức khỏe cộng đồng do nồng độ bụi PM10 vượtngưỡng QCVN 05:2013/BTNMT vẫn chiếm tỷ lệ lớn Bên cạnh đó, nồng độ NOxtrong không khí cao vượt mức cho phép QCVN cũng góp phần đáng kể trong nhữngngày giá trị AQI vượt ngưỡng 100

Trang 13

Một điều đáng lưu ý là dựa trên số liệu quan trắc liên tục tự động từ một số trạmven đường có thể thấy nồng độ khí O3 ở Việt Nam đang có xu hướng tăng đáng kể và

rõ rệt từ năm 2013 Các thông số khác như CO, SO2 ,…vẫn duy trì ở ngưỡng cho phépcủa QCVN 05:2013/BTNMT Riêng mức độ ô nhiễm khí SO2 có xu hướng giảm sovới thời gian trước đây Ô nhiễm bụi ở các đô thị được phản ánh thông qua các thông

số bụi lơ lửng tổng số TSP, bụi PM10 và bụi mịn (PM2,5 và PM1 ) Đáng lưu ý là cáchạt bụi mịn thường mang tính axit, có kích thước siêu nhỏ nên tồn tại rất lâu trong khíquyển và có khả năng phát tán xa, mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và cáchoạt động phát triển kinh tế xã hội là đáng kể so với các hạt bụi thô (thường trungtính) Nhìn chung, trong thành phần bụi ở nước ta thì tỷ lệ bụi mịn (PM2,5 và PM1 )chiếm tỷ trọng tương đối cao Đối với Hà Nội, số liệu đo tại trạm quan trắc NguyễnVăn Cừ từ năm 2010 đến năm 2013 cho thấy tỷ lệ này có sự dao động theo quy luật

và ô nhiễm thường tập trung vào các tháng có nhiệt độ thấp hoặc không khí khô làmcản trở sự phát tán của các chất ô nhiễm ở tầng mặt Đây là trường hợp đo được ở HàNội, khu vực có đặc trưng khí hậu cận nhiệt đới ẩm với mùa hè nóng, mưa nhiều(tháng 5-9) và mùa đông lạnh, ít mưa (tháng 11-3)

Số liệu quan trắc giai đoạn từ năm 2008 - 2013 cho thấy có sự khác biệt đáng kể

về nồng độ bụi TSP trong môi trường không khí xung quanh ở các loại đô thị Ô nhiễmthường tập trung cao ở các đô thị có mật độ giao thông lớn (như Hà Nội, Tp Hồ ChíMinh, Biên Hoà) hoặc có các hoạt động sản xuất công nghiệp phát triển mạnh (điểnhình như khai thác công nghiệp than ở Quảng Ninh) và có những thời điểm mức độ ônhiễm vượt ngưỡng cho phép gấp từ 2 - 6 lần QCVN 05: 2013/BTNMT Ô nhiễm bụibiểu hiện rõ ở cạnh các trục giao thông Số liệu quan trắc tại các điểm ven đường nằmtrong chương trình quan trắc ba vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn từ 2008-2013 có tỷ

lệ số giá trị quan trắc vượt QCVN 05:2013/BTNMT dao động từ 42% ở vùng KTTĐmiền Trung, 44% ở vùng KTTĐ miền Nam và cao nhất ở vùng KTTĐ phía Bắc với68% Không chỉ nồng độ các loại bụi trong môi trường không khí duy trì ở ngưỡngcao, số ngày đo được giá trị các loại bụi (PM10, PM2,5) vượt QCVN05:2013/BTNMT cũng vẫn còn nhiều Số liệu đo gần các trục giao thông cũng chothấy tính quy luật của nồng độ bụi PM10, PM2,5 và PM1 thường tăng cao vào các giờcao điểm giao thông do thời điểm này số lượng phương tiện giao thông trên đườngthường cao nhất trong ngày Đối với các khu công trường xây dựng, ô nhiễm bụi xung

Trang 14

quanh các địa điểm xây dựng tương đối nghiêm trọng và duy trì ở ngưỡng cao vớikhoảng thời gian kéo dài tương ứng với thời kỳ tiến hành các hoạt động xây dựng Sốliệu quan trắc gần trục giao thông trong hai năm 2010 và 2011 ở Hà Nội cao hơn hẳncác tỉnh thành còn lại và vượt QCVN 05:2013/ BTNMT trung bình năm từ 2 - 3 lần,không chỉ vì mật độ phương tiện giao thông lớn hơn mà còn do ảnh hưởng từ hoạtđộng xây dựng Điển hình như năm 2010 là thời điểm ở Hà Nội đẩy mạnh các hoạtđộng xây dựng để kịp đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long vào cuối năm 2010 Tạicác khu dân cư, mức độ ô nhiễm bụi thấp hơn nhiều lần so với các trục giao thông vàcác công trường xây dựng Đối với các khu dân cư nằm trong các đô thị lớn chịu ảnhhưởng của giao thông và phát triển về công nghiệp, mức độ ô nhiễm vẫn vượt nhiềulần ngưỡng cho phép QCVN, đáng kể như các điểm đo ở Hà Nội, Bắc Ninh, HảiDương.

Đối với khu vực đô thị, nguồn gốc phát sinh các loại khí NO - NO2 - NOx chủyếu từ hoạt động giao thông nên xu hướng diễn biến của các thông số này tương tựnhư đối với thông số bụi Cụ thể, NO có xu hướng tăng lên vào giờ cao điểm giaothông buổi sáng và chiều NO2 là hợp chất chuyển hóa của NO trong môi trườngkhông khí, vì vậy nồng độ NO2 thường tăng mạnh sau khi NO phát tán vào môitrường NOx là hỗn hợp các loại khí NO và NO2 và phản ánh mức độ ô nhiễm tổnghợp của hai loại khí trên

O3 trong lớp không khí gần mặt đất ở các đô thị thường có quy luật tăng mạnhnhất vào buổi trưa khi mức độ bức xạ mặt trời là cao nhất và có mặt các khí NOx ,Hydrocacbon, VOCs trong môi trường Kết quả quan trắc thông số O3 của trạm quantrắc Đồng Đế (Nha Trang, giai đoạn từ tháng 1/2013 đến tháng 7/2013) và trạm quantrắc Nguyễn Văn Cừ (Hà Nội, tổng hợp số liệu năm 2012) cho thấy các giá trị O3 phùhợp với quy luật thăng giáng tự nhiên ngày cao đêm thấp Tuy nhiên, theo số liệu quantrắc ở một số tỉnh thành trong những năm gần đây, nồng độ khí O3 ở lớp không khígần mặt đất tương đối cao, xấp xỉ ngưỡng QCVN 05:2013 trung bình 8 giờ (120µg/m3 ) và đặc biệt có một số thời điểm O3 cao về đêm Kết quả quan trắc năm 2013tại trạm quan trắc Nguyễn Văn Cừ (Hà Nội) và trạm quan trắc Lê Duẩn (Đà Nẵng),đều có số ngày có giá trị vượt QCVN lớn hơn so với kết quả tại trạm Đồng Đế (NhaTrang) và hiện tượng O3 cao về đêm thể hiện rất rõ Một số nghiên cứu diễn giải sự

Trang 15

xuất hiện nồng độ O3 cao là do chịu ảnh hưởng bởi một số nguồn gây ô nhiễm khácngoài bức xạ mặt trời.

Khí SO2 , CO Ở khu vực đô thị: khí SO2 thường phát thải từ đốt than và dầuchứa lưu huỳnh (như xe buýt) còn CO phần lớn có nguồn gốc từ các động cơ ô tô xemáy Cả hai khí đều có tác động xấu đối với sức khỏe con người Số liệu đo liên tục từtrạm Nguyễn Văn Cừ (Hà Nội) cho thấy CO thường có giá trị cực đại tương ứng vớihai khung giờ cao điểm giao thông buổi sáng và chiều Kết quả quan trắc liên tục khíSO2 theo tháng tại các vị trí cạnh các trục giao thông nhìn chung còn thấp Theo kếtquả quan trắc định kỳ, đo vào những thời điểm nhất định trong ngày giai đoạn từ 2008– 2012 cho thấy nồng độ SO2 có xu hướng giảm ở hầu hết các tỉnh thành trong toànquốc So sánh giữa các đô thị cho thấy, những tỉnh thành chịu tác động tổng hợp từnhiều nguồn ô nhiễm, ví dụ như đối với những tỉnh thành phát triển về giao thông và

có các ngành công nghiệp phát triển mạnh thì nồng độ khí SO2 trong môi trườngkhông khí xung quanh thường cao hơn Cũng theo kết quả quan trắc thủ công giaiđoạn 2008 – 2012, có sự khác biệt về mức độ ô nhiễm khí SO2 và CO giữa các đô thị,trong đó các đô thị lớn có xu hướng bị ô nhiễm cao hơn các đô thị vừa và nhỏ và mức

độ ô nhiễm tại các trục giao thông thường cao hơn so với khu dân cư từ 2 - 3 lần

Tiếng ồn Ở các đô thị, ô nhiễm tiếng ồn có đặc thù tập trung ở các trục giaothông có mật độ phương tiện tham gia lưu thông cao Ngưỡng ồn đo được ở các tuyếnphố chính tại các đô thị lớn ở Việt Nam đều vượt mức ồn cho phép QCVN26:2010/BTNMT quy định đối với khung giờ từ 6 đến 21 giờ (70 dBA) Đối với các

đô thị vừa và nhỏ, mức ồn đo tại các tuyến đường giao thông tại hầu hết đô thị không

có sự khác biệt lớn và cũng không đảm bảo giới hạn QCVN Đối với các điểm đo ởkhu dân cư, nhìn chung mức ồn vẫn nằm trong ngưỡng quy chuẩn cho phép QCVN26:2010/BTNMT

1.1.2.3 Vấn đề môi trường chất thải đô thị

* Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn

Tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã trở thành nhân tố tích cực đối với pháttriển KT-XH của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về KT-XH, đô thị hóanhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và pháttriển không bền vững Các hoạt động sản xuất, sinh hoạt tăng theo và lượng chất thảicũng tăng theo Tính bình quân người dân đô thị tiêu dùng năng lượng, đồ tiêu dùng,

Trang 16

thực phẩm, cao gấp 2 - 3 lần người dân nông thôn kéo theo lượng rác thải của ngườidân đô thị cũng gấp 2 - 3 lần người dân nông thôn.

Phát sinh CTR ở đô thị chủ yếu là CTR sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70% lượngCTR phát sinh, tiếp theo là CTR xây dựng, CTR công nghiệp, CTR y tế, CTR ở đôthị bao gồm: - CTR sinh hoạt: phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, các khu tập thể,chất thải đường phố, chợ, các trung tâm thương mại, văn phòng, các cơ sở nghiên cứu,trường học,

Tổng khối lượng CTR đô thị phát sinh vào khoảng 8.700 - 8.900 tấn/ngày, trong

đó, CTR xây dựng (xà bần) chiếm khoảng 1.200 - 1.500 tấn/ngày và CTR sinh hoạttrung bình từ 6.200 - 6.700 tấn/ngày Ước tính tỷ lệ gia tăng khoảng 8 - 10%/năm Một

số loại CTR đô thị như: rác khu thương mại, xà bần, rác công nghiệp, trước đây ít thìnhững năm gần đây mức độ tăng (khối lượng và thành phần chất thải) ngày càng cao

Tỷ trọng nguồn phát sinh cụ thể như sau: - Rác hộ dân chiếm tỉ trọng 57,91% tổnglượng rác - Rác đường phố chiếm tỉ trọng 14,29% tổng lượng rác - Rác công sởchiếm tỉ trọng 2,8% tổng lượng rác - Rác chợ chiếm tỉ trọng 13% tổng lượng rác -Rác thương nghiệp chiếm tỉ trọng 12% tổng lượng rác Thành phần chủ yếu trong CTR

đô thị là chất hữu cơ (rác thực phẩm), chiếm tỷ lệ khá cao từ 60 - 75% / tổng khối

lượng chất thải (Nguồn: Sở TN&MT Tp HCM, 2011)

Lượng phát sinh chất thải rắn đô thị Tổng lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị phátsinh trên toàn quốc tăng trung bình 10 ÷ 16 % mỗi năm Tại hầu hết các đô thị, khốilượng CTR sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70% tổng lượng CTR đô thị (một số đô thị tỷ

lệ này lên đến 90%) Chỉ số phát sinh CTR đô thị bình quân đầu người tăng theo mứcsống Năm 2007, chỉ số CTR sinh hoạt phát sinh bình quân đầu người tính trung bìnhcho các đô thị trên phạm vi toàn quốc vào khoảng 0,75 kg/người/ngày Năm 2008,theo Bộ Xây dựng thì chỉ số này là 1,45 kg/người/ngày, lớn hơn nhiều so với ở nôngthôn là 0,4 kg/người/ngày Tuy nhiên, theo Báo cáo của các địa phương năm 2010 thìchỉ số phát sinh CTR sinh hoạt đô thị trung bình trên đầu người năm 2009 của hầu hếtcác địa phương đều chưa tới 1,0 kg/người/ngày Các con số thống kê về lượng phátsinh CTR sinh hoạt đô thị không thống nhất là một trong những thách thức cho việctính toán và dự báo lượng phát thải CTR đô thị ở nước ta Kết quả điều tra tổng thểnăm 2006 - 2007 đã cho thấy, lượng CTR đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở hai đôthị đặc biệt là Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, chiếm tới 45,24% tổng lượng CTR sinhhoạt phát sinh từ tất cả các đô thị tương ứng khoảng 8.000 tấn/ngày (2,92 triệu

Trang 17

tấn/năm) Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, tổng lượng và chỉ số phát sinh CTR

đô thị của đô thị đặc biệt và đô thị loại 1 hiện nay đã tăng lên rất nhiều Nguyên nhâncủa sự gia tăng này là do Thủ đô Hà Nội sau khi điều chỉnh địa giới hành chính thìlượng CTR đô thị phát sinh đã lên đến 6.500 tấn/ngày (con số của năm 2007 là 2.600tấn/ngày), bên cạnh đó, số đô thị loại 1 đã tăng lên 10 đô thị (trong khi năm 2007 là 4

đô thị loại 1) Trong các vùng trọng điểm, vùng Đông Nam Bộ (bao trùm cả KTTĐphía Nam) là nơi có lượng CTR đô thị nhiều nhất, tiếp đến là vùng Đồng bằng sôngHồng (bao trùm cả vùng KTTĐ Bắc Bộ), ít nhất là khu vực Tây Nguyên

Lượng CTR đô thị tăng mạnh ở các đô thị lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Tp

Đà Nẵng, nơi có tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa tăng nhanh Còn một số đô thị nhỏnhư Thái Bình, Nam Định, Vĩnh Long, Tiền Giang, Sóc Trăng, tăng không nhiều dotốc độ đô thị hóa không cao

*Công tác thu gom CTR đô thị

Mặc dù ngày càng được chính quyền các cấp quan tâm, nhưng do lượng CTR đôthị ngày càng tăng, năng lực thu gom còn hạn chế cả về thiết bị lẫn nhân lực nên tỷ lệthu gom vẫn chưa đạt yêu cầu Mặt khác, do nhận thức của người dân còn chưa caonên lượng rác bị vứt bừa bãi ra môi trường còn nhiều, việc thu gom có phân loại tạinguồn vẫn chưa được áp dụng rộng rãi do thiếu đầu tư cho hạ tầng cơ sở cũng nhưthiết bị, nhân lực và nâng cao nhận thức Hình thức thu gom Việc phân loại CTR tạinguồn vẫn chưa được triển khai rộng rãi Vì vậy ở hầu hết các đô thị nước ta, việc thugom rác chưa phân loại vẫn là chủ yếu Công tác thu gom thông thường sử dụng 2hình thức là thu gom sơ cấp (người dân tự thu gom vào các thùng/túi chứa sau đó đượccông nhân thu gom vào các thùng rác đẩy tay cỡ nhỏ) và thu gom thứ cấp (rác các hộgia đình được công nhân thu gom vào các xe đẩy tay sau đó chuyển đến các xe ép rácchuyên dụng và chuyển đến khu xử lý hoặc tại các chợ/khu dân cư có đặt containerchứa rác, công ty môi trường đô thị có xe chuyên dụng chở container đến khu xử lý.Mặc dù tỷ lệ thu gom có tăng nhưng vẫn còn khoảng 15 ÷ 17% CTR đô thị bịthải ra môi trường vứt vào bãi đất, hố đất, ao hồ, hoặc đốt lộ thiên gây ô nhiễm môitrường Theo báo cáo của các Sở TN&MT năm 2010, một số đô thị đặc biệt, đô thị loại

1, có tỷ lệ thu gom đạt mức cao hơn như Hà Nội đạt khoảng 90 - 95% ở 4 quận nộithành cũ, Tp Hồ Chí Minh đạt 90 - 97%, Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng đều đạt khoảng90% ở khu vực nội thành, các đô thị loại 2 cũng có cải thiện đáng kể, đa số các đô thịloại 2 và 3 đều đạt tỷ lệ thu gom ở khu vực nội thành đạt trên 80% Ở các đô thị loại 4

và 5 thì công tác thu gom được cải thiện không nhiều do nguồn lực vẫn hạn chế, thu

Trang 18

gom phần lớn do các hợp tác xã hoặc tư nhân thực hiện nên thiếu vốn đầu tư trangthiết bị thu gom Mặt khác, ý thức người dân ở các đô thị này cũng chưa cao nên cógia đình không sử dụng dịch vụ thu gom rác.

* Các biện pháp xử lý chất thải rắn hiện nay

Tỷ lệ CTR được chôn lấp hiện chiếm khoảng 76 - 82% lượng CTR thu gom được(trong đó, khoảng 50% được chôn lấp hợp vệ sinh và 50% chôn lấp không hợp vệsinh) Thống kê trên toàn quốc có 98 bãi chôn lấp chất thải tập trung ở các thành phốlớn đang vận hành nhưng chỉ có 16 bãi được coi là hợp vệ sinh Ở phần lớn các bãichôn lấp, việc chôn lấp rác được thực hiện hết sức sơ sài Như vậy, cùng với lượngCTR được tái chế, hiện ước tính có khoảng 60% CTR đô thị đã được xử lý bằngphương pháp chôn lấp hợp vệ sinh và tái chế trong các nhà máy xử lý CTR để tạo raphân compost, tái chế nhựa, Đốt chất thải sinh hoạt đô thị chủ yếu ở các bãi ráckhông hợp vệ sinh: sau khi rác thu gom được đổ thải ra bãi rác phun chế phẩm EM đểkhử mùi và định kỳ phun vôi bột để khử trùng, rác để khô rồi đổ dầu vào đốt Tuynhiên, vào mùa mưa, rác bị ướt không đốt được hoặc bị đốt không triệt để Ước tínhkhoảng 40 ÷ 50% lượng rác đưa vào bãi chôn lấp không hợp vệ sinh được đốt lộ thiên.Công nghệ đốt CTR sinh hoạt với hệ thống thiết bị đốt được thiết kế bài bản mới được

áp dụng tại Nhà máy đốt rác ở Sơn Tây (Hà Nội) Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minhđang có kế hoạch nhập dây chuyền công nghệ đốt chất thải có tận dụng nhiệt để phátđiện trong thời gian tới Chất thải xây dựng chiếm khoảng 10 ÷ 15% lượng CTR đô thịphát sinh Về nguyên lý chất thải xây dựng có thể tận dụng để lấp chỗ trũng, rải đườngnhưng do không có sự phối kết hợp giữa các Sở GTVT Báo cáo của Bộ TN&MT đánhgiá tình hình thực hiện Quyết định 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (năm2011) cho thấy, trên toàn quốc còn đến 27/52 bãi chôn lấp vẫn đang triển khai xử lý ônhiễm triệt để; chỉ có 25/52 bãi chôn lấp không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêmtrọng Rất nhiều trong số các bãi chôn lấp đang triển khai xử lý ô nhiễm triệt để là cácđiểm ô nhiễm tồn lưu Do đó, bãi chôn lấp đã đóng cửa cần có sự quan tâm và các biệnpháp quyết liệt để xử lý, khắc phục ô nhiễm Tổng hợp các kết quả điều tra nghiên cứu

và báo cáo của các địa phương cho thấy rất nhiều tỉnh thành phố chưa có bãi chôn lấphợp vệ sinh và nhà máy xử lý rác, việc xử lý và tiêu hủy rác ở đây chủ yếu là chôn lấp

và đốt ngay tại các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh Các bãi rác không được quy hoạch

và phân bố nhỏ lẻ ở khắp các thành phố, thị xã và các huyện Một số địa phương điển

Trang 19

hình như: Điện Biên, Hà Giang, Thanh Hóa, Quảng Trị, Bình Thuận, Bình Phước, TiềnGiang, Hậu Giang, Thời gian tới, công nghệ xử lý CTR tại Việt Nam sẽ được pháttriển theo hướng giảm thiểu tối đa lượng rác thải chôn lấp và tăng cường tỷ lệ tái chế,tái sử dụng Gần đây, có nhiều nhà đầu tư tư nhân đến Việt Nam đem theo các côngnghệ đa dạng, tuy nhiên, một số công nghệ không đáp ứng yêu cầu Bộ Xây dựng đãcấp giấy phép cho một số công nghệ nội địa trong lĩnh vực xử lý CTR sinh hoạt đểthúc đẩy các công nghệ phù hợp.

1.2 Hiện trạng về quá trình Đô Thị Hóa tại Thành phố Sông Công

1.2.1 Quá trình Đô Thị Hóa tại thành phố Sông Công

TX Sông Công là một đơn vị hành chính mới ra đời vào năm 1985, xuất phát

từ yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá XHCN ở nước ta Từ nhữngnăm 70, vùng Tây Bắc huyện Phổ Yên (dọc theo tả ngạn sông Công) vốn là đồi gòđược xây dựng thành một trung tâm công nghiệp cơ khí qui mô lớn của Tổ quốc:KCN Gò Đầm Nơi đây có Nhà máy Y cụ chuyên sản xuất các loại dụng cụ y tế

và một số mặt hàng xuất khẩu; Cty Phụ tùng ô tô số sản xuất các loại phụ tùng nổcho nhiều loại động cơ ô tô Cty Điêzen, với thiết bị hiện đại, có khả năng mỗi nămchế tạo được 2.000 đầu máy kéo 50 mã lực

Sự hình thành KCN Gò Đầm đã đặt ra yêu cầu về tổ chức một đơn vị hànhchính Để quản lí hành chính và giải quyết những công việc hành chính cho hàngngàn công nhân viên chức từ các nơi khác đến xây dựng nhà máy, Chính phủ chothành lập thị trấn Mỏ Chè, trực thuộc huyện Phổ Yên Những năm sau đó, các nhàmáy được mở rộng, xây dựng ngày một nhiều, hệ thống các trường dạy nghề,trường phổ thông phát triển với tốc độ nhanh chóng Mật độ dân cư trong khu vựctăng lên Nhu cầu dịch vụ, phục vụ cho KCN ngày càng lớn, vượt khỏi tầm vóc củamột thị trấn Ngày 11/4/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyếtđịnh số 113 QĐ/HĐBT thành lập TX Sông Công, bao gồm thị trấn Mỏ Chè, xã CảiĐan của huyện Phổ Yên, xã Tân Quang và xã Bá Xuyên của huyện Đồng Hỷ

Là một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, lúc mới thành lập TX Sông Công có 3phường ( Mỏ Chè, Lương Châu, Thắng Lợi ) và 3 xã ( Cải Đan, Tân Quang, BáXuyên) Trải qua gần hai thập kỷ phát triển, địa giới TX Sông Công có một số thay

Trang 20

định số 18/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính và thành lập các xã,phường thuộc TX Sông Công : Thành lập phường Phố Cò trên cơ sở 465 ha diện tích

tự nhiên và 4.898 nhân khẩu của xã Cải Đan.Thành lập xã Vinh Sơn trên cơ sở 410 hadiện tích tự nhiên, 904 nhân khẩu của xã Bá Xuyên và 382 ha diện tích tự nhiên,1.119 nhân khẩu của xã Cải Đan Xã Vinh Sơn có 792 ha diện tích tự nhiên và 2.023nhân khẩu Thành lập phường Cải Đan trên cơ sở 533 ha diện tích tự nhiên và 1.336nhân khẩu (phần còn lại) của xã Cải Đan Chuyển giao xã Bình Sơn thuộc huyệnPhổ Yên về TX Sông Công quản lí Quyết định số 05/NQ-CP ngày 13/11/2010 vềviệc điều chỉnh địa giới hành chính xã Tân Quang, thành lập phường Bách Quang

và xã Tân Quang Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, TX Sông Công có 10 đơn

vị hành chính gồm 6 phường: Phố Cò, Thắng Lợi, Cải Đan, Mỏ Chè, Lương Châu vàBách Quang và 4 xã: Vinh Sơn, Tân Quang, Bình Sơn và Bá Xuyên

Đô thị hóa ở thành phố Sông Công có nhiều mặt tích cực, song cũng còn nhiềuhạn chế

Mặt tích cực : Quá trình đô thị hóa ngày càng nâng cao vai trò chủ đạo của khu

vực nội thị trong quá trình phát triển chung của toàn Thành phố cũng như củatoàn tỉnh, thể hiện ở việc mở rộng qui mô đô thị về dân số, diện tích, đóng gópGDP (Nhiều chỉ tiêu đã trở thành thế mạnh của quá trình đô thị hóa như: tỉ lệ laođộng phi nông nghiệp, tốc độ mở rộng diện tích đất nội thị, tốc dộ tăng trưởng kinh

tế, đầu mối giao thồng, tỉ lệ cấp nước sạch, số lượng các cơ sở công nghiệp, thươngmại và dịch vụ…Đô thị hóa thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu

sử dụng đất và cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng tích cực, giảm khu vực nôngnghiệp và tăng ở khu vực phi nông nghiệp Đô thị hóa góp phần tạo việc làm,tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đô thị, hoàn thiện dần hệ thống

cơ sở hạ tầng theo hướng hiện đại, từ đó nang cao chất lượng cuộc sống và lối sốngvăn minh đô thị Kiến trúc cảnh quan đô thị ngày càng phát triển theo qui hoạch, về

cơ bản thể hiện nhiều nét kiến trúc cảnh quan của một đô thị công nghiệp Quản lý đôthị ngày càng được quan tâm hơn giúp cho quá trình đô thị hóa ngày càng mang tínhchủ động hơn trong quá trình phát triển

Mặt hạn chế : Đô thị hóa chưa cân xứng với tiềm năng phát triển của Thànhphố và yêu cầu của một đô thị loại II, nhiều chỉ tiêu còn vay mượn so với qui

Trang 21

chuẩn của đô thị Đô thị hóa diễn ra không đồng đều giữa các địa phương, cácphường, xã Dân số nội thị và diện tích đất nội thị tăng đột biến vào một số năm cóquyết định hành chính thành lập các phường mới, việc chuyển đổi đất ngoại thị thànhnội thị chưa gắn liền với qui hoạch sử dụng lao động nên gây sức ép về việc làm và

tổ chức đời sống xã hội ở vùng chuyển đổi đất Hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị cònnhiều yếu kém, nhất là giao thông và môi trường đô thị Kiến trúc cảnh quan đô thịcòn chắp vá, chưa có qui hoạch chi tiết cho từng vùng đô thị Chưa có qui hoạch chitiết phát triển và quản lí cây xanh toàn đô thị Việc mở rộng đô thị chủ yếu vẫn làbiến nông thôn thành đô thị một cách chủ quan dẫn đến đô thị hóa thiếu bền vững

ở những nơi mới được công nhận là đô thị Đô thị hóa ở ngoại thị vẫn mang tính tựphát, nội thị và ngoại thị chênh lệch lớn về nhiều lĩnh vực

1.2.2 Hiện trạng thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tại Thành phố Sông Công

* Các nguồn phát sinh nước thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Sông Công

Nước thải sinh hoạt là nước thải hình thành trong quá trình sinh hoạt của conngười Ở thành phố Sông Công, nước thải sinh hoạt phát sinh từ 3 nguồn chính sauđây:

 Nguồn nước thải sinh hoạt đô thị (6 phường của thành phố);

 Nguồn nước thải sinh hoạt nông thôn (4 xã của thành phố);

 Nguồn nước thải từ các khu vệ sinh công cộng, du lịch

Lượng nước thải sinh hoạt phát sinh dao động trong phạm vi rất lớn, phụ thuộcnhiều vào điều kiện từng khu vực, quy mô khu dân cư, nguồn cấp nước sinh hoạt vàcác thói quen của người dân

Lưu vực sông Công, thành phố Sông Công là nơi có nhiều dân cư tập trung.Mật độ dân số trung bình của thị xã là 905,93 người/km2, cao vào loại thứ ba trongtỉnh Nơi có mật độ dân số lớn nhất là phường Mỏ Chè với mật độ là 3.425 người/km2,gấp 3,5 lần so với phường Lương Châu Trong khi đó cơ sở hạ tầng phát triển khôngtheo kịp Dân số tăng cùng với mức sống được nâng cao đã tăng lượng nước thải sinhhoạt ra môi trường Mặt khác, nhu cầu về nhà ở không được đáp ứng sẽ làm nảy sinhcác khu nhà tạm gây mất vệ sinh, làm nảy sinh tình trạng ô nhiễm Hệ thống cấp nước

Trang 22

và thoát nước ở một số nơi trong thành phố còn đơn giản, chưa được xây dựng quy

mô, đồng bộ Hiện nay, nước thải tại khu dân cư, các cơ quan, khu du lịch trên địa bànThành phố được đổ trực tiếp vào các suối thoát nước mưa ven các đường giao thôngnội thị, sau đó thải ra các ao, hồ, sông…

Tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thị xã Sông Công

Theo Quyết định 925/QĐ-BXD ngày 18 tháng 10 năm 2010 của Bộ trưởng BộXây Dựng về việc công nhận thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên là đô thị loại II,

ta có tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt cho thị xã Sông Công về định mức dùng nước chomỗi đầu người tùy theo từng vùng và từng giai đoạn Cụ thể như sau:

Bảng 1.1 Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt thị xã Sông Công

Tiêu chuẩn nước cấp (lít/người.ngày)

Tỷ lệ phần trăm dân số được cấp nước (%)

12085

15099

2 Đô thị loại IV, loại V và khu vực nông thôn

Tiêu chuẩn nước cấp (lít/người.ngày)

Tỷ lệ phần trăm dân số được cấp nước (%)

6075

10090

Nguồn: Bộ Xây Dựng, TCXDVN 33:2006, Tiêu chuẩn thiết kế Cấp nước – Mạng

lưới đường ống và Công trình

Với dân số thành phố Sông Công tại thời điểm năm 2015 là 72.692 người, trong

đó dân ở thành thị có 53,38%, ở nông thôn là 47,62% Ta có thể tính được dân sốthành thị và dân số nông thôn của thành phố Sông Công tại thời điểm năm 2015 nhưsau:

Dân số thành thị thị xã Sông Công năm 2015 là 38.803 (người)

Dân số khu vực nông thôn thị xã Sông Công năm 2015 là 33.889 (người)

Trang 23

Mặt khác căn cứ theo các tính toán của WHO, tổng lượng nước thải trong sinhhoạt sẽ được tính bằng 80% tổng lưu lượng nước cấp Ta có thể ước tính được lưu lượngnước thải phát sinh trên địa bàn thành phố Sông Công cụ thể theo như bảng 1.1

Bảng 2.1 Hiện trạng phát thải nước thải sinh hoạt trên địa bàn thị xã Sông Công

Stt

Thị xã Sông Công Tiêu chuẩn

cấp nước (lít/ng.ngđ)

Tỉ lệ dân số được cấp nước

Tiêu chuẩn thải nước

Tổng lượng thải (lít/ng.ngđ)

là 4.386.329 lít/ ngày.đêm, tương đương với 1.601.010 m3/năm

* Hiện trạng công tác thu gom, xử lý nước thải trên địa bàn thị xã Sông Công

Hiện trạng công tác thu gom, xử lý nước thải trên địa bàn thành phố Sông Công

Theo báo cáo “Quy hoạch bảo vệ Môi trường tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020”

của UBND tỉnh Thái Nguyên, hiện nay phần lớn lượng nước thải sinh hoạt của cácthành phố, thị xã, thị trấn và khu dân cư trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên chủ yếu mớichỉ được xử lý qua bể tự hoại và đưa vào hệ thống thoát nước của địa phương Hệthống thoát nước trên địa bàn thành phố là hệ thống thoát nước chung, nước mưa vẫnchưa được tách riêng khỏi hệ thống thoát nước thải

Các đô thị trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, ngoại trừ thành phố Thái Nguyên đã

có dự án xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung, các đô thị khác trên địa bàn tỉnh nhưthành phố Sông Công và các thị trấn khác nước thải sinh hoạt đều chưa được xử lý.Hiện nay, nước thải từ các đô thị, các khu dân cư vẫn đang được xả thải trực tiếp rasông suối kênh rạch trên thị xã rồi từ đó đổ vào sông Công Điều đó khiến cho chấtlượng môi trường nước sông Công và các sông suối kênh rạch khác hiện đang và sẽngày càng bị ô nhiễm

- Ở phường Bách Quang-Thành phố Sông Công hiện nay đang áp dụng khá

thành công Công trình “Hệ thống xử lý NTSH áp dụng công nghệ lọc kỵ khí kết hợp

Trang 24

bãi lọc ngầm trồng cây tại phường Bách Quang, thị xã Sông Công” Hệ thống xử lý

đã và đang hoạt động rất tốt và đem lại những hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trườngcho địa phương Sự thành công của dự án sẽ giúp cho công tác quản lý môi trường,hoạch định chính sách môi trường sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn Những hiệu quả củacông trình này được thể hiện cụ thể dưới đây:

+ Hiệu quả xử lý của công trình

Trong giai đoạn vận hành thử nghiệm, từ ngày 15 tháng 05 năm 2013 đến ngày

15 tháng 11 năm 2013, Trung tâm Tư vấn và Công nghệ Môi trường đã tiến hành lấymẫu và phân tích chất lượng nước đầu vào và đầu ra của hệ thống xử lý

Chất lượng nước thải trước khi xử lý được thể hiện qua Bảng 3.14 sau:

Bảng 1.3: Kết quả phân tích nước thải đầu vào của dự án

QCVN 14: 2008/BTNMT (B)

Nguồn: Viện Khoa học và Công nghệ mới -2013

Chất lượng nước thải sau xử lý được thể hiện ở Bảng 3.15 sau:

Bảng 1.5 Kết quả phân tích nước thải đầu ra của dự án

Trang 25

R1; R2; R3 nước thải đầu ra sau xử lý;

Nhìn chung chất lượng nước thải sau xử lý các chỉ tiêu phân tích đều đạt hoặc

nằm dưới giới hạn cho phép của QCVN 14:2008/BTNMT cột B (Quy định giá trị tối

đa cho phép trong nước thải sinh hoạt kh i thải vào các nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt)

+ Hiệu quả về kinh tế - xã hội

Quá trình đô thị hoá tại Việt Nam đang diễn ra rất nhanh Dân số ở hầu hết cáctrung tâm thành phố, tỉnh, huyện thị xã trên lưu vực sông Cầu đều tăng trong nhữngnăm qua Do sự phát triển bất cân đối giữa quá trình đô thị hóa và cơ sở hạ tầng, đặcbiệt là hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tại Việt Nam còn thiếu thốn và thô sơ, nguồn

nước ở Việt Nam đang bị ô nhiễm hàng ngày do nước thải sinh hoạt thải ra Vì vậy,

việc thực hiện thành công dự án sẽ góp phần rất lớn vào công tác bảo vệ môi trườngnước nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung

Khi công trình đi vào hoạt động, một lượng lớn nước thải của phường Bách Quang

sẽ được xử lý, góp phần cải thiện môi trường, giảm thiểu ô nhiễm, hạn chế lây lanbệnh tật, hạn chế suy giảm chất lượng môi trường tự nhiên và bảo vệ sức khỏe cộngđồng cho người dân ở khu vực phường Bách Quang cũng như của thị xã Sông Công

Sự thành công của dự án sẽ giúp cho công tác quản lý môi trường, hoạch địnhchính sách môi trường sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn và Là địa chỉ phục vụ cho công tácgiao lưu, tham quan, học hỏi kinh nghiệm trong công tác bảo vệ môi trường, nâng caonhận thức cộng đồng

+Tác động đối với môi trường

Tác động về mặt cảnh quan: Công trình được thiết kế với hệ thống bể ngầm, trên mặt

bằng của bể được trồng các cây cảnh, các công trình nổi được thiết kế theo hướng kiến

Trang 26

trúc hài hòa với thiên nhiên và sinh thái, các dải cây xanh, công viên được bố trí xen

kẽ với các công trình xử lý, do đó công trình không gây tác động về mặt cảnh quan màngược lại công trình còn có tác dụng cải tạo cảnh quan sinh thái xung quanh khu vực

Tác động của công trình tới môi trường xung quanh: Công trình sử dụng nhiều loại

thực vật để xử lý các chất ô nhiễm có trong nước thải sinh hoạt, khi các loại thực vật,thủy trúc, dong riềng, cây sậỵ và các cây tạo cảnh quan đến giai đoạn trưởng thành sẽtạo cho khu vực có một không gian xanh, khi đó tác động tới môi trường xung quanh

là tác động tích cực như tạo bóng mát, cảnh quan, tăng cường oxy làm cho không khísạch…

Về mặt xã hội: khi công trình hoàn thành và đi vào vận hành, sẽ tạo ra một khu công

viên sinh thái nhỏ cho người dân được dạo chơi mỗi buổi sáng và buổi chiều, làm chotinh thần người dân phấn khởi hơn, tăng cường sức khỏe cho người dân sống quanhkhu vực, qua đó có tác dụng tuyên truyền giáo dục người dân có ý thức bảo vệ và gìngiữ môi trường sống

+Tính bền vững của dự án

Khu vực thực hiện dự án được lựa chọn có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, hệ thốnggiao thông được quy hoạch và đã xây dựng tới khu vực dự án, hệ thống thu gom đãđược xây dựng đến trạm xử lý

Khu đất của dự án thuộc đất dự trữ của thị xã để xây dựng các công trình côngcộng, do đó có thể nói vị trí xây dựng mang tính ổn định lâu dài

Quy trình vận hành của hệ thống đơn giản, không phức tạp, do đó yêu cầu về trình

độ của công nhân vận hành không cao, phù hợp với trình độ của khu vực

Hệ thống vận hành chủ yếu theo chế độ tự chảy, ít tốn kém chi phí về điện năng do

đó giảm chi phí vận hành của công trình

Tóm lại, có thể thấy đây là công trình xử lý nước thải với chi phí thấp, dễ vậnhành, phù hợp với điều kiện hiện nay của địa phương và có tính bền vững cao cả vềmặt kinh tế xã hội cũng như về môi trường

-Đánh giá công tác thu gom, xử lý nước thải trên địa bàn thị xã Sông Công

Hiện tại, công tác thu gom, xử lý nước thải trên địa bàn thị xã Sông Công đượcUBND tỉnh cũng như UBND thị xã quan tâm sâu sắc Cụ thể năm 2010 UBND tỉnh đã

phê duyệt “Quy hoạch Bảo vệ môi trường tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020” tại quyết

định số 25/2010/QĐ-UBND ngày 25 tháng 8 năm 2010, trong đó đặc biệt quan tâm

Trang 27

nhấn mạnh đến vấn đề thu gom xử lý nước thải, bảo vệ môi trường nước, kiểm soát ônhiễm môi trường nước cũng như bảo vệ môi trường khu đô thị.

1.3 Tổng quan về dự án

1.3.1 Giới thiệu chung về dự án

Quá trình Đô Thị Hóa tại Việt Nam đang diễn ra với tốc độ rất nhanh chóng vàmạnh mẽ Điều đó đã thúc đẩy sự phát triển Đô Thị Hóa tại các thành phố trực thuộctỉnh, trong đó có thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên Trên đà phát triển ấy Dự ánxây dựng khu đô thị Vạn Phúc Sông Công đã ra đời và góp phần thúc đẩy quá trình ĐôThị Hóa tại Việt Nam nói chung và tại thành phố Sông Công nói riêng phát triển

Dự án xây dưng khu dân cư Vạn Phúc được Ủy ban nhân dân tỉnh Thái nguyênphê duyệt ngày 31/8/2011 Dự án được xây dựng tại tổ dân phố Xuân Miếu 1 và XuânMiếu 2 tại phường Cải Đan- Thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên

“ Dự án Đầu tư xây dựng hạ tầng khu dân cư Vạn Phúc Sông Công, phường CảiĐan, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên” có chủ đầu tư là Công ty cố phần Đầu

tư xây dựng và thương mại Vạn Phúc Việt Dự án có diện tích đất dự kiến sử dụng là199.876m2

Vốn đầu tư của dự án là: 348.117.000.000 đồng và thời hạn thực hiện dự án

là 4 năm.

Khu đất xây dựng dự án có phía Đông tiếp giáp với đường quy hoạch ven kênhtưới tiêu Hồ Núi Cốc Phía Bắc tiếp giáp tuyến đường quy hoạch từ UBND thị xã điquốc lộ 3 Phía Nam tiếp giáp đường quy hoạch và khu dân cư hiện có Phía Tây tiếpgiáp với khu chức năng quy hoạch, các khu dân cư hiện có và một phần đường Cáchmạng tháng 8

Mục tiêu của dự án là tạo điều kiện cho cấu trúc phát triển về không gian và hạtầng kĩ thuật thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên.Với quy mô xây dựng đồng bộ

hạ tầng khu dân cư bao gồm các khu chức năng: khu công trình công cộng, khu nhà ở,khu cây xanh, khu thể dục thể thao và khu giao thông để phục vụ cho quy mô dân sốkhoảng 4000 người Trên toàn khu quy hoạch được bố trí các công trình kiến trúc vàcác khu chức năng hài hòa với không gian kiến trúc xung quanh và phù hợp với quyhoạch của thị xã Sông Công

Trang 28

+Từ quý II/2013 đến Quý IV/2013: Chuẩn bị đầu tư, khảo sát địa chất công trìnhlên phương án tổng thế đền bù GPMB.

+Từ Quý I/2014 đến Quý III/2015: Đền bù giải phóng mặt bằng và thi công xâydựng hạ tầng kĩ thuật 10ha phần tiếp giáp với đường cách mạng tháng 8, bao gồm:+ Thi công san lấp toàn bộ diện tích đã GPMB

+Thi công xây dựng các công trình hạ tầng ngầm (hệ thống thoát nước, nước thải,cấp nước, cấp điện)

+Thi công nền đường và rải base hệ thống đường giao thông

+Đấu nối hệ thống hạ tầng kĩ thuật của dự án và hệ thống hạ tầng có trong khuvực

-Từ Quý III/2015 đến Quý I/2017: Đền bù, giải phóng mặt bằng và thi công xâydựng hạ tầng kỹ thuật 9,98 ha phần diện tich còn lại bao gồm:

+Thi công san lấp toàn bộ điện tích đã giải phóng mặt bằng

+ Thi công xây dựng các công trình hạ tầng ngầm (hệ thống thoát nước, nước thải,cấp nước, cấp điện)

+Thi công nền đường và rải base hệ thống đường giao thông

+ Đấu nối hệ thống hạ tầng kĩ thuật của dự án và hệ thống hạ tầng có trong khuvực

-Quý II/2017: Hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đưa dư án vào sử dụng

Đến nay Dự án đang bị chậm tiến độ do Dự án gặp một số khó khăn về vốn và quỹđất san lấp măt bằng Dự kiến đến đầu năm 2019 Dự án sẽ đi vào hoàn hiện nhữnghạng mục công trình cuỗi cùng

1.3.2 Nội dung của Dự án

Dự án xây dựng khu dân cư Vạn Phúc Sông Công với mục tiêu tạo điều kiệncho cấu trúc phát triển về không gian và hạ tầng kĩ thuật thành phố Sông Công- TháiNguyên có những nội dung như sau:

Phân khu chức năng, quy hoạch sử dùng đất đai và bố cục không gian kiến trúc cảnh quan:

- Phân khu chức năng:

Trong quy hoạch chi tiết Dự án gồm có: Đất công trình công cộng, dịch vụ, thươngmại, nhà văn hóa, trường mầm non, Đất ở, đất ở tái định cư, đất ở xã hội, đất ở nhà liền kề, đất ở biệt thự; Đất cây xanh, khu thể dục thể thao, Đất giao thông

Trang 29

Quy hoạch cụ thể diện tích đất sử dụng cho các khu chức năng được thể hiện cụ thể ở Bảng 1.1 dưới đây:

- Đất ở tái định cư, đất ở xã hội 12.297 5,76

2 Đất công trình công cộng ( dịch vụthương mại, nhà văn hóa, trường

+) Quy hoạch không gian kiến trúc cảnh quan:

Trên toàn khu quy hoạch được bố trí các công trình kiến trúc cảnh quan xung quanh và phù hợp với quy hoạch chung của thị xã Sông Công

•Công trình công cộng dịch vụ với chiều cao 7-15 tầng được bố trí ven trục đường tạo điểm nhấn cho khu quy hoạch

•Khu nhà ở quy hoạch mới và nhà ở xã hội đươc bố trí tiếp giáp với đường giaothông

Quy hoạch hệ thống hạ tầng kĩ thuật:

-Quy hoạch giao thông.

+ Đường quy hoạch ứng với mặt cắt 1-1:

Trang 30

+ Cao độ san nền các lô cao hơn các tim tuyến đường nội bộ trung bình.

+ Tính toán khối lượng san nền cho từng lô trên mặt bằng không bao gồm khốilượng các tuyến đường nội bộ

+Cao độ thiết kế khống chế tại các khu chức năng được tính toán cụ thể trongbản vẽ chuẩn bị kĩ thuật

- Quy hoạch cấp nước:

Nguồn nước lấy từ hệ thống đường ống nước sạch của thị xã Sông Công cáchkhu vực quy hoạch khoảng 1500m Nước cấp đảm bảo tiêu chuẩn sinh hoạt, đủ lưulượng, áp lực yêu cầu theo quy định hiện hành tiêu chuẩn cấp nước cho khu dân cư.Mạng lưới đường ống cấp nước được thiết kế theo sơ đồ mạng vòng kết hợp với mạnglưới cụt chạy dọc theo trục đường giao thông chính của khu quy hoạch Mạng lướiđường ống phân phối được đấu nối với hệ thống các đường truyền dẫn đã có, phânphối nước vào đến các khu chức năng trong toàn khu quy hoạch Đối với hệ thống cấpnước cứu hỏa được thiết kế kết hợp với hệ thống cấp nước sinh hoạt, thời gian dập tắtđám cháy là 3 giờ Các khu trụ cứu hỏa loại nổi, đặt gần ngã ba, ngã tư, thuận lợi cho

xe lấy nước chữa cháy

- Quy hoạch thoát nước:

Hệ thống thoát nước nằm trên vỉa hè, thành rãnh áp sát bó vỉa hè đường Thiết

kế hệ thống rãnh dọc xây gạch đậy tấm đan dự kiến chiều rộng bằng 60cm Hệ thống

Trang 31

thoát nước phân làm 2 hướng chính đó là Hướng ra đường CMT8 và đấu vào hệthống cống dọc tuyến đường này Thứ hai là Hướng thoát chung với khu dân cư sốphường Cải Đan Nước thải sinh hoạt sau khi được xử lý sơ bộ trong từng căn hộ, rồiđược tập trung xả vào hệ thống thoát nước mưa chung của thị xã Sông Công Côngsuất thoát nước thải: 340,17m3/ngđ.

- Vệ sinh môi trường:

Trên khu vực thu gom bố trí các điểm thu gom chất thải rắn, lượng chấtthải rắn phải được tính toán theo tiêu chuẩn Chất thải rắn sinh hoạt được phân loại từnguồn thải, thành các chất thải vô cơ, hữu cơ, trước khi chuyển đến khu vực xử lý chấtthải rắn Trên các trục đường, các công trình công cộng được đạt các thùng thu rác.Các điểm thu gom được đặt trung bình khoảng 800m đến 1km, mỗi điểm đặt 1 xe gomrác dung tích 0,8-1,0m3, đặt những nơi thuận tiện sau đó chuyển đến điểm tập kết,chuyển vào ô tô chuyên dùng rồi chở đến khu xử lý chất thải rắn

- Thiết kế đô thị:

Các công trình xây dựng cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về chỉ giới đường

đỏ, chỉ giới xây dựng, mật độ xây dựng và chiều cao công trình để đảm bảo ý đồ tổchức không gian kiến trúc cảnh quan tạo mỹ quan cho khu dân cư Ngoài ra các côngtrình khi xây dựng phải tuân thủ các yêu cầu thiết kế đô thị về mặt bố trí công trình,cốt cao độ các tầng, các quy định về mái công trình, ban công, bậc thềm, bậu cửa, màusắc, vật liệu trang trí được quy định tại bản vẽ đô thị, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựngViệt Nam và các tiêu chuẩn thiết kế hiện hành

1.3.3 Hiện trạng môi trường khu vực thực hiện Dự án

Địa hình Thành phố Sông Công tương đối bằng phẳng, mang đặc điểm củamiền trung du, nền dốc dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, có nhiều ngọncao vài trăm mét Nơi cao nhất trong khu vực nội thị là ngọn núi Tảo (54 m), cao độnền trung bình thường ở mức 15 – 17 m

Thị xã Sông Công nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình trong nămkhoảng 220C Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 7 - 8 trung bình 380C, thấp nhất là tháng

1, khoảng 150 đến 160 Số giờ nắng trong năm đạt 1.628 giờ, năng lượng bức xạ 115kcal/cm2 Thời tiết trong năm có hai mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10,thường có gió đông nam thổi về, mang theo hơi nước từ biển Đông vào, gây ra nhữngtrận mưa lớn Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường có gió mùa đông bắctràn xuống, nhiệt độ hạ thấp, tiết trời giá rét, không chỉ có hại cho sức khoẻ con người,

mà còn gây trở ngại cho sự phát triển cây trồng và chăn nuôi

Trang 32

Lượng mưa trung bình hằng năm ở thị xã Sông Công khoảng 2.097 mm; trong

đó mùa mưa (tương ứng với mùa nóng) chiếm 91,6% lượng mưa cả năm Mưa nhiềunhất vào tháng 7, tháng 8, nhiều khi xẩy ra lũ lụt Mùa khô (ứng với mùa lạnh) cólượng mưa ít hơn, chỉ chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm

Chảy qua địa bàn Thị xã theo hướng Bắc - Nam là dòng sông Công Đó là phần

hạ lưu sông, có chiều dài 9,8 km Lượng nước sông Công rất dồi dào, do chảy qua khuvực có lượng mưa nhiều nhất tỉnh Dòng sông Công được ngăn lại ở Đại Từ, tạo thành

hồ Núi Cốc Hệ thống thuỷ lợi Núi Cốc là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuấtcông, nông nghiệp và nước sinh hoạt của thị xã Sông Công

Khu vực thực hiện dự án có địa hình tương đối bằng phẳng, nguồn gốc đất chủyếu là đất ruộng lúa và hoa màu có xen lẫn một phần đất thổ cư lâu năm, vì vậy rấtthuận lợi cho công tác xây dựng Cao độ địa hình thấp dần từ Đông Bắc xuống TâyNam

Do địa hình chủ yếu là đất ruộng trũng và hoa màu nên khi tính toán san nền cần nghiên cứu tới yếu tố này

Căn cứ vào tài liệu một số công trình xây dựng trên địa bàn có thể kết luận sơ bộđịa chất khu vực này tương đối phù hợp cho công tác xây dựng nhà ở hay một số côngtrình cơ sở hạ tầng Địa chất nơi đây tương đối ổn định

Khu dân cư Vạn Phúc Sông Công hiện tại là khu ruộng thấp, người dân vẫnđang tiến hành canh tác Nước thải trong khu vực dự án chủ yếu thoát ra hệ thốngmương cấp thoát nước phục vụ cho quá trình sản xuất nông nghiệp Sau khi đầu tưhoàn thành công tác giải phóng mặt bằng và bàn giao mặt bằng thì việc tiến hành xâydựng đồng bộ cơ sở hạ tầng nơi đây là rất cần thiết

Trang 33

CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT TRÊN THẾ

GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

2.1 Đặc trưng thành phần, tính chất và lưu lượng của nước thải sinh hoạt 2.1.1 Nguồn gốc, đặc trưng của nước thải sinh hoạt

Nguồn gốc nước thải sinh hoạt

Nước thải sinh hoạt là nước thải ra từ các hoạt động sinh hoạt của con người nhưtắm giặt, vệ sinh cá nhân, vệ sinh nhà cửa hoặc các sinh hoạt khác và được thải từnhiều nguồn khác nhau như từ các khu dân cư, hộ gia đình, trường học, bệnh viện, từcác trung tâm thương mại, các khu vui chơi giải trí hoặc từ các cơ quan công sở

Lượng nước thải sinh hoạt của một khu dân cư phụ thuộc vào dân số, tiêu chuẩncấp nước và đặc điểm hệ thống thoát nước của từng khu vực Tiêu chuẩn nước thảisinh hoạt các khu dân cư đô thị thường là từ 100 đến 250 l/người.ngày (đối với cácnước đang phát triển) và từ 150 đến 500 l/người.ngày (đối với các nước phát triển) Ởnước ta hiện nay, tiêu chuẩn cấp nước dao động trong khoảng từ 120 đến 180l/người.ngày ở khu vực đô thị Đối với khu vực nông thôn, tiêu chuẩn cấp nước thảisinh hoạt là từ 50 đến 100 l/người.ngày Các trung tâm đô thị thường có tiêu chuẩn cấpnước cao hơn so với các vùng ngoại thành và vùng nông thôn Do đó, lượng nước thảisinh hoạt tính trên một đầu người cũng có sự khác biệt và dao động trong phạm vi rấtlớn, lệ thuộc vào những thiết bị vệ sinh nhà ở, khí hậu, thời tiết và thói quen sinhhoạt… của người dân ở khu vực đó Thông thường tiêu chuẩn nước thải sinh hoạt lấy

bằng 80 - 100% tiêu chuẩn cấp nước[4].

Theo TCXDVN 51:2006 – Tiêu chuẩn thoát nước- Mạng lưới bên ngoài côngtrình- Tiêu chuẩn thiết kế thì tiêu chuẩn thải nước khu vực dân cư phụ thuộc vàonhững thiết bị vệ sinh nhà ở được thể hiện trong bảng 2.1 Ngoài ra, tiêu chuẩn thảinước còn phụ thuộc và loại hình cơ quan, nhà hàng được thể hiện trong bảng 2.2

Trang 34

Bảng 2.1 Tiêu chuẩn thải nước khu vực dân cư [14]

ST

T Mức độ thiết bị vệ sinh trong công trình

Tiêu chuẩn thải

1 Có hệ thống cấp thoát nước, có dụng cụ vệ sinh,

không có thiết bị tắm 60 – 100

2 Có hệ thống cấp thoát nước, có dụng cụ vệ sinh và

thiết bị tắm thông thường (vòi sen) 100 – 150

3 Có hệ thống cấp thoát nước, có dụng cụ vệ sinh, có

bồn tắm và cấp nước nóng cục bộ 200 – 300

Bảng 2.2 Tiêu chuẩn thải nước một số cơ sở dịch vụ và công trình công cộng[24]

5 Khách sạn Khách hàng 151-212

Người phục vụ 26-49

6 Tiệm ăn Người ăn 7,5-15

Như vậy, lượng nước thải sinh hoạt tại các cơ sở dịch vụ, công trình công cộngphụ thuộc vào loại công trình, chức năng, số người tham gia phục vụ trong đó Lượngnước thải từ các cơ sở thương mại và dịch vụ cũng có thể được chọn từ 15 đến 25%tổng lượng nước thải của toàn thành phố

Tính chất, thành phần của nước thải sinh hoạt

Nước thải sinh hoạt gồm 2 loại:

- Nước thải nhiễm bẩn do chất bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh

Trang 35

- Nước thải nhiễm bẩn do các chất thải sinh hoạt: cặn bã từ nhà bếp, các chất tẩyrửa…

Trong sinh hoạt, con người đưa vào hệ thống thoát nước một lượng lớn các chấtbẩn nhất định, phần lớn là các cặn, chất hữu cơ, chất dinh dưỡng các loại Lượng chấtbẩn tính cho một người dân đô thị xả vào hệ thống thoát nước trong một ngày đượcquy định trong TCXDVN 51:2006 và được trình bày trong bảng 2.3 như sau:

Bảng 2.3 Lượng chất bẩn một người trong một ngày xả vào hệ thống thoát nước[14]

- Chất lơ lửng (SS)

- BOD5 của nước thải chưa lắng

- BOD5 của nước thải chưa lắng

- Nitơ amôni (N-NH4)

- Photphat (P2O5)

- Clorua (Cl-)

60÷656530÷3571,710Nước thải sinh hoạt chứa hàm lượng chất hữu cơ lớn (55 – 65%) tổng lượng chấtbẩn), chứa nhiều vi sinh vật, trong đó có vi sinh vật gây bệnh Chất hữu cơ chứa trongnước thải bao gồm các hợp chất như protein(40%-50%), hydrat cacbon(40%-50%).Nồng độ chất hữu cơ trong nước thải sinh hoạt dao động trong khoảng 150-450 mg/ltheo trọng lượng khô Có khoảng 20-40% chất hữu cơ khó bị phân hủy Thành phầnnước thải sinh hoạt phụ thuộc vào tiêu chuẩn cấp nước, đặc điểm hệ thống thoát nước,điều kiện trang thiết bị vệ sinh,… Thành phần và nồng độ các chất ô nhiễm trongnước thải sinh hoạt được thể hiện trong bảng 2.4 Mức độ đánh giá ô nhiễm được thểhiện trong bảng 2.5

Trang 36

Bảng 2.4 Thành phần và nồng độ ô nhiễm cơ bản của nước thải sinh hoạt [14]

Độ kiềm, mg CaCO3/l 50 – 200 100

Tổng chất béo, mg/l 50 - 150 100

Bảng 2.5 Nồng độ đánh giá mức độ ô nhiễm nước thải sinh hoạt[8]

Chất ô nhiễm trong chất thải

Trang 37

tổng số coliform từ 106 đến 109 MPN/100ml Mức độ ô nhiễm nước thải sinh hoạt phụthuộc vào sự có mặt ít hay nhiều của các chất ô nhiễm trong nước thải

Như vậy, nước thải sinh hoạt của các đô thị, các khu dân cư, các cơ sở dịch vụ vàcác công trình công cộng phụ thuộc vào mạng lưới thu gom nước thải, mức độ tiện nghi của các trang thiết bị trong công trình

Lưu lượng nước thải sinh hoạt

Ở nước ta hiện nay, lượng nước thải tập trung của đô thị là rất lớn Tổng lượngnước thải của thành phố Hà Nội (năm 2006) là gần 500.000m3/ngày Nước thải sinhhoạt ở các trung tâm đô thị thường thoát bằng hệ thống thoát nước dẫn ra các sông,kênh rạch, còn các vùng ngoại thành và nông thôn do không có hệ thống thoát nướcnên thường được tiêu thoát tự nhiên vào các ao, hồ hoặc thoát bằng biện pháp tự thoát.Lưu lượng nước thải có sự biến động lớn trong 1 ngày Vào các giờ cao điểm sửdụng nước cho sinh hoạt thì lưu lượng nước thải tăng cao Thường vào buổi trưa, chiềutối khi có nhiều hoạt động tắm, giặt, nấu ăn thì lượng nước thải tăng đột biến, vào cáckhung giờ khác thì lưu lương thải ít hơn nhiều

1.2 Ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt đến môi trường và con người

Đối với con người

Nước thải sinh hoạt chứa rất nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học, ngoài racòn có thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh nguy hiểm Vì vậy, nếukhông được xử lý đúng quy định sẽ gây ra ô nhiễm môi trường

Khi nước thải sinh hoạt có chứa lượng lớn chất hữu cơ được thải trực tiếp vàonguồn nước tiếp nhận, sẽ xảy ra sự phân hủy chất hữu cơ Quá trình này đã làm tiêuthụ một lượng lớn và gây thiếu hụt oxy của nguồn nước, từ đó sẽ gây ảnh hưởng tớiđời sống của thủy sinh vật tại nguồn nước tiếp nhận Bên cạnh đó quá trình phân hủycòn phát sinh mùi, làm nước chuyển sang màu nâu đen ảnh hưởng đến đời sống củadân cư xung quanh, gây mất vệ sinh, cảnh quan khu vực

Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người mắc các bệnh cấp vàmãn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư, các bệnh

về da liễu….ngày càng tăng Người dân sống quanh khu vực ô nhiễm ngày càng mắc

Trang 38

nhiều loại bệnh có thể là do dùng nước bẩn trong mọi sinh hoạt Ngoài ra ô nhiễmnguồn nước còn gây tổn thất lớn cho các nghành sản xuất, kinh doanh, các hộ trồngtrọt chăn nuôi [2,4]

- Gây một số bệnh ngoài da: nấm da, viêm da…

- Gây một số bệnh về đường tiêu hóa: Một số loại vi sinh vật có trong nước thải sinhhoạt như:

• Vi khuẩn Gram âm, kị khí tùy tiện: Aeromonas, Enterobacter…

• Vi khuẩn Gram âm hiếu khí: Psedomonas, Acientobacter…

• Vi khuẩn Gram dương sinh bào tử: Bacillus spp…

• Vi khuẩn Gram dương không sinh bào tử: Arthobacter, Rhodococcus…

Vi khuẩn, ký sinh trùng các loại là nguyên nhân gây các bệnh đường tiêu hóa,nhiễm giun, sán gây bệnh tả, kiết lỵ…

- Nhiễm Amoni, Nitrat, Nitrit gây mắc bệnh xanh da, thiếu máu, có thể gây ung thư.Chất tẩy trắng Xenon peroxide, sodium percarbonate gây viêm đường hô hấp, oxalatekết hợp với calcium tạo ra calcium oxalate gây đau thận, sỏi mật [4]

- Gây mùi hôi thối khó chịu: khi nước thải sinh hoạt không được xử lý đúng quy định,trong quá trình phân hủy tạo ra mùi khó chịu ảnh hưởng tới hệ thần kinh của conngười [2,4]

Tại một số nơi, hệ thống xả nước thải được xây dựng tạm bợ, không đáp ứngđược với nhu cầu xử lý của khu vực nên gây ra hiện tượng ứ đọng, tràn ra xung quanhlàm ô nhiễm môi trường Không những thế nó còn gây trở ngại cho lưu thông, đi lạicủa cư dân trong khu vực.Như vậy, việc thiết kế và đưa vào hoạt động các công trình

xử lý nước thải sinh hoạt là rất cần thiết để đảm bảo và nâng cao chất lượng môitrường

Đối với môi trường

Thành phần các chất có mặt trong nước thải sinh hoạt gây ra nhiều tác động vềmôi trường cụ thể như:

-Các chất hữu cơ, các hợp chất của nitơ (NO3-, NO2- ) và các hợp chất củaphotpho ( PO43-, orthophotphat, ) có trong nước thải sinh hoạt cũng là các chất dinhdưỡng đối với thực vật Ở nồng độ thích hợp chúng tạo điều kiện cho cây cỏ, rong tảo

Trang 39

phát triển Tuy nhiên, hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người đã làm gia tăngnồng độ các ion này trong nước tự nhiên gây ra hiện tượng phú dưỡng nước Hiệntượng này xả ra với sự phát triển bùng nổ của tảo, làm cho nước thủy vực trở nên cómàu xanh, một lượng lớn bùn lắng được tạo thành do xác của tảo chết Nước của thủyvực có màu xanh đen, bốc mùi hôi thối do sự phân hủy của tảo Dần dần, thủy vực đó

sẽ trở thành vùng đầm lầy và cuối cùng là vùng đất khô, cuộc sống của động vật thủysinh trong hồ bị ngừng trệ

- Nguồn nước có hàm lượng BOD, COD cao: xảy ra sự khoáng hóa, ổn định chấthữu cơ sẽ tiêu thụ một lượng lớn và gây thiếu hụt oxy trong nuốc Nếu ô nhiễm quámức, điều kiện yếm khí có thể hình thành Trong quá trình phân hủy yếm khí sinh racác sản phẩm như: H2S, NH3, CH4… làm cho nước có mùi hôi thối và làm giảm pHcủa môi trường

- Nguồn nước bị ô nhiễm có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thủy sinh vật trong nguồntiếp nhận, việc sử dụng nguồn nước vào mục đích cấp nước hoặc mỹ quan của thànhphố

- Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nguồn tiếp nhận như: ao, hồ, sông thường

có màu đen, xám gây mất mỹ quan

- Ngoài ra trong nước thải sinh hoạt còn chứa một luượng các vi trùng, vi khuẩngây bệnh Một số các sinh vật gây bệnh có thể sống một thời gian khá dài trong nước

và là nguy cơ truyền bệnh tiềm tàng, bao gồm vi khuẩn, vi rút, giun sán

2.2: Các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt:

2.2.1 Phương pháp xử lý cơ học:

Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học được đặt ở đầu hệ thống xử lý, nhằmloại ra khỏi nước thải các vật có thể gây tắc nghẽn đường ống làm hư hại máy bơm vàlàm giảm hiệu quả xử lý của giai đoạn sau, cụ thể là:

-Loại bỏ hoặc cắt nhỏ những vật nổi lơ lửng có kích thước lớn có trong nước thảinhư mảnh gỗ, nhựa, gạc bong, rẻ rách, giấy, vỏ hoa quả, lá cây, cành cây…

-Loại bỏ cặn nặng như sỏi, cát, mảnh kim loại, thủy tinh…

-Loại bỏ phần lớn dầu mỡ [2]

Trang 40

Có nhiều công trình xử lý nước thải khác nhau.Việc lựa chọn công trình xử lýnào trong hệ thống tùy thuộc mục đích xử lý, đặc trưng nước thải kích thước các hạt,tính chất hóa lý, nồng độ các hạt lơ lửng, lưu lượng nước thải, mức độ làm sạch cầnthiết Các công trình xử lý cơ học phổ biến gồm có song chắn rác, bể lắng cát, bể điềuhòa, bể tách dầu mỡ, bể lắng nước thải Chức năng, cấu tạo và ứng dụng của các côngtrình được thể hiện cụ thể dưới đây:

2.2.1.1 Song chắn rác

-Chức năng: Song chắn rác là công trình xử lý sơ bộ để chuẩn bị điều kiện chocông trình xử lý nước thải sau đó Song chắn rác dùng để giữ lại các tạp chất thô nhưgiấy, rác, túi nilon, vỏ cây và các tạp chất có trong nước thải nhằm đảm bảo cho máybơm, các công trình và thiết bị xử lý nước thải hoạt động ổn định

-Cấu tạo: Song chắn rác là các song chắn xếp kế tiếp nhau trên mương dẫn nước,Khoảng cách giữa các song chắn gọi là khe hở (mắt lưới) Song chắn có thể dùng loạitiết diện tròn d=8-10mm, chữ nhật Sxb= 10 x 40 và 8 x 60mm, bầu dục…Tiết diệnhình tròn ít được sử dụng vì rác dễ dính chặt vào song chắn gây khó khăn cho côngtác cào rác Được sử dụng nhiều là các tiết diện hình chữ nhật, tuy nhiên loại này tổnthất thủy lực lớn Lượng rác được giữ lại ở song chắn rác phụ thuộc vào kích thướckhe hở giữa các song chắn {3 Khoảng cách khe hở song chắn rác lượng rác giữ lại đầungười được thế hiện cụ thể ở bảng 2.6:

Bảng 2.6: Khoảng cách khe hở song chắn và lượng rác giữ lại tính theo đầu người/

Chú thích: - Tử số là lượng rác giữ lại ở song chắn rác cơ giới

- Mẫu số là lượng rác giữ lại ở song chắn rác thủ công

Ngày đăng: 10/07/2019, 22:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. QCVN 14 : 2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt” Sách, tạp chí
Tiêu đề: QCVN 14 : 2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt
2. TS.Phạm Hương Quỳnh, ThS.Vi Thị Mai Hương; Bài giảng kỹ thuật xử lý nước thải; Khoa Xây Dựng và Môi Trường, Năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng kỹ thuật xử lý nước thải
3. “TCXDVN 51:2008_Thoát nước- mạng lưới và công trình bên ngoài. Tiêu chuẩn thiết kế”. Bộ xây xây dựng. Hà Nội 1/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TCXDVN 51:2008_Thoát nước- mạng lưới và công trình bên ngoài. Tiêu chuẩn thiết kế
4. GS.TS. Lâm Minh Triết; Xử lý nước thải đô thị và công nghiệp; Nhà xuất bản đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý nước thải đô thị và công nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
5. ThS Mạc Duy Hưng, Giáo trình thiết kế hệ thống xử lý chất thải, Khoa xây dựng và môi trường, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thiết kế hệ thống xử lý chất thải
8. TS. Trịnh Xuân Lai, Tính toán thiết kế các công trình xử lý nước thải, Nhà xuất bản xây dựng Hà Nội, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính toán thiết kế các công trình xử lý nước thải
Nhà XB: Nhà xuất bản xây dựng Hà Nội
6. ThS. Lâm Vĩnh Sơn; Bài giảng kỹ thuật xử lý nước thải Khác
7. TCXDVN 33:2006 Cấp nước – mạng lưới đường ống và công trình - Tiêu chuẩn thiết kế Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w