1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÍNH TÍCH cực học tập của SINH VIÊN KHOA tâm lý GIÁO dục học, TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội

108 223 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 323,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu về vai trò của hứng thú vàảnh hưởng của nó đối với việc đạt thành tích cao.Đối với sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục học, tính tích cực học tập rấ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC

-NGUYỄN THANH TÂM

TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC

HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Tâm lý học

Trang 2

Hà Nội, 2019

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC

-NGUYỄN THANH TÂM

TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC,

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Tâm lý học

Người hướng dẫn : PGS.TS Hoàng Thanh Thúy

Hà Nội, 2019

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình

từ phía các thày cô và các em học sinh.

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Thanh Thúy, là người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ dạy và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.

Em xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong khoa Tâm lí – Giáo dục học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình học tập, rèn luyện và nghiên cứu tại khoa.

Tôi xin gửi lời cảm ơn 180 bạn sinh viên đã hợp tác, giúp đỡ tôi trong thời gian làm khóa luận này.

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân đã hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Khóa luận của em mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô giáo đóng góp ý kiến để khóa luận này của

em hoàn thiện hơn!

Em xin chân thành cảm ơn!

Người viết

Nguyễn Thanh Tâm

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU BẢNG

Bảng 1 Thông tin về khách thể khảo sát 42

Bảng 2: Nhận thức của sinh viên về mục tiêu học tập 48

Bảng 3: Tính tích cực học tập biểu hiện qua thái độ của sinh viên 49

Bảng 4: Tính tích cực học tập của sinh viên thông qua chuẩn bị bài 51

Bảng 5: Tính tích cực học tập của sinh viên thông qua công việc trên lớp 54

Bảng 6: Tính tích cực học tập của sinh viên thông qua hoạt động ngoài giờ 55

Bảng 7: Động lực thúc đẩy tính tích cực học tập của SV 59

Bảng 8: Tính không động lực 61

Bảng 9: Nhu cầu hỗ trợ tính tích cực học tập của SV 63

Bảng 10: Nhu cầu thỏa mãn tính tích cực học tập của SV 67

BI Biểu đồ 1: Biểu đồ tính tích cực học tập thông qua nhận thức của SV 47

Biểu đồ 2: Biểu đồ tính tích cực học tập biểu hiện qua thái độ của SV 50

Biểu đồ 3: Biểu đồ tính tích cực học tập thông qua hành vi của SV 57

Biểu đồ 4: Biểu đồ tính tích cực học tập của SV 58

Y

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc khóa luận 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC HỌC 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8

1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài 8

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 12

1.2 Khái niệm công cụ của đề tài 16

1.2.1 Tính tích cực 16

1.2.2 Hoạt động học tập 23

1.2.3 Tính tích cực học tập 24

1.2.4 Khái niệm sinh viên 25

1.2.5 Tính tích cực học tập của sinh viên 25

1.3 Tính tích cực học tập của sinh viên khoa Tâm lý - Giáo dục học 26

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý và hoạt động học của sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục học 26

1.3.2 Vai trò của tính tích cực học tập đối với sinh viên 27

1.3.3 Nguồn gốc của tính tích cực học tập của sinh viên 29

1.3.4 Cấu trúc của tính tích cực học tập 32

1.3.5 Biểu hiện của tính tích cực học tập 33

1.4 Mức độ của tính tích cực học tập: 36

Trang 8

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập 37

Kết luận chương 1 40

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Khái quát về địa danh nghiên cứu 41

2.1.1 Địa bàn khảo sát 41

2.2 Tổ chức nghiên cứu 41

2.2.1 Giai đoạn nghiên cứu lý luận 41

2.2.2 Giai đoạn khảo sát thực trạng 42

2.3 Các phương pháp nghiên cứu 43

2.3.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 43

2.3.2 Phương pháp phỏng vấn 44

2.3.3.Phương pháp quan sát: 44

2.3.4.Phương pháp thống kê toán học 44

2.3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 45

Kết luận chương 2 46

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 47

3.1 Thực trạng tính tích cực học tập của sinh viên 47

3.1.1.Thực trạng tính tích cực học tập thông qua nhận thức của sinh viên về mục tiêu học tập 47

3.1.2 Thực trạng tính tích cực học tập biểu hiện qua thái độ của sinh viên .49

3.1.3 Thực trạng tính tích cực học tập được thể hiện qua hành vi 51

3.1.4 Đánh giá chung về tính tích cực học tập của sinh viên biểu hiện thông qua 3 mặt: Nhận thức – Thái độ - Hành vi 57

3.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập của sinh viên Khoa Tâm lý – Giáo dục học 59

3.2.1 Thực trạng động lực thúc đẩy tính tích cực học tập 59

Trang 9

3.2.2 Nhu cầu thúc đẩy tính tích cực học tập 63

3.3 Các biện pháp nâng cao tính tích cực học tập của sinh viên Khoa Tâm lý – Giáo dục học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 69

3.3.1.Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 69

3.2.2 Một số biện pháp nâng cao tính tích cực học tập của sinh viên 71

Tiểu kết chương 3 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80

1 Kết luận 80

2 Khuyến nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ những năm 2000 đến nay, công nghệ số đã phát triển nhanh chóng,Internet đã trở nên phổ biến và là công cụ thiết yếu ở khắp mọi nơi trên thếgiới Lượng thông tin sản xuất ra ngày càng nhiều và với sự cởi mở củaInternet, con người có thể truy cập và chạm đến nhiều nguồn thông tin, tàiliệu ở mọi khía cạnh và mọi ngôn ngữ Chính vì lẽ đó, kiến thức, thông tin trởnên lỗi thời một cách nhanh chóng Xét đến cuộc cách mạng công nghiệp 4.0,khi trí tuệ nhân tạo lên ngôi và được áp dụng ở hầu hết các lĩnh vực, nguồnnhân lực cũ là gánh nặng của mỗi quốc gia Tuy nhiên, bằng cách tích cực họctập, trau dồi, không ngừng đổi mới, tiếp cận hướng đi phù hợp, tận dụng triệt

để thông tin và chuyển đổi xu hướng hợp lý, con người hoàn toàn có thể thíchứng và nâng cao đời sống bản thân cũng như toàn xã hội

Với mục tiêu về một nền giáo dục dân chủ, xa hơn là giáo dục khaiphóng; lấy người học làm trung tâm và người học được tiếp cận mọi tri thứcmong muốn, tính tích cực học tập của người học trở thành tất yếu và được chútrọng phát huy trong dạy và học

Bước sang bậc học cao – Đại học, Cao Đẳng, hoạt động học tập củasinh viên có nhiều thay đổi Đầu tiên, SV tiếp cận phương pháp học tập mới:hoạt động học tập theo hướng tự học là chủ đạo, bài tập gồm tiểu luận, bài tậplớn, thuyết trình, làm việc nhóm… Điều này đòi hỏi sinh viên phải có các sảnphẩm hoạt động cũng như các tri thức mang tính học thuật Thứ hai, thái độhọc tập của sinh viên có tính tự giác cao, tích cực và chủ động trong quá trìnhtiếp thu, lĩnh hội kiến thức Động cơ học tập mang tính hiện thực gắn với nhucầu và xu hướng nghề nghiệp trong tương lai Sinh viên là chủ thể lựa chọntrường, ngành học, môn học, việc làm… Tuy nhiên, đặc điểm hoạt động họctập của sinh viên cũng xuất hiện sự phân hóa Một số sinh viên học thụ độnghoặc không hứng thú với ngành học cảm thấy mệt mỏi và vô nghĩa khi ở Đại

Trang 11

học Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu về vai trò của hứng thú vàảnh hưởng của nó đối với việc đạt thành tích cao.

Đối với sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục học, tính tích cực học tập rấtquan trọng do: Thứ nhất, khoa Tâm lý – Giáo dục học, trường Đại học Sưphạm Hà Nội là một khoa nghiệp vụ, đào tạo sinh viên tốt nghiệp trở thànhgiảng viên đào tạo cho những giáo viên tương lai về nghiệp vụ sư phạm, lýluận giáo dục, phương pháp giảng dạy; hoặc chuyên viên tâm lý học trườnghọc trợ giúp tham vấn, tư vấn, phòng ngừa cho học sinh, giáo viên, phụhuynh Điều đó, đòi hỏi sinh viên cần được trang bị đầy đủ và thường xuyêncập nhật những thay đổi về tâm sinh lý của người học cũng như nghệ thuật sưphạm, phương pháp giáo dục Với tính tích cực học tập, SV khoa Tâm lý –Giáo dục học sẽ chủ động tiếp cận và cập nhật được nhiều nguồn thông tin:các vấn đề xã hội nổi cộm cần được nghiên cứu; công cụ đo lường, chẩnđoán; các nghiên cứu khoa học; phát hiện mới… nhằm nâng cao kiến thứccho bản thân cũng như khả năng ứng dụng khoa học vào chuyên môn Tuynhiên, xét đến thời điểm hiện tại, các tài liệu về Tâm lý – Giáo dục còn ít vàhầu hết đều đi theo hướng của Liên Xô cũ, gắn Tâm lý – Giáo dục học vớiquan điểm triết học chủ nghĩa Mác – Lê nin, chưa bắt kịp được xu thế và ápdụng toàn diện Hơn nữa, Tâm lý – Giáo dục là ngành khoa học luôn cần sựđổi mới bởi chính vai trò của nó trong đời sống con người

Với mục đích như trên, tôi lựa chọn đề tài: “Tính tích cực học tập của

sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội” để

tiến hành nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng tính tích cực học tập củasinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, khóaluận đề xuất một số biện pháp tác động theo hướng Tâm lý học và Tâm lý họcGiáo dục nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên

Trang 12

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

 Khách thể nghiên cứu: 180 sinh viên khoa TL-GDH, trườngĐHSPHN

tính tích cực học tập của sinh viên

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, sinh viên khoa TL – GDH trường ĐHSP Hà Nội đã có tínhtích cực học tập Tuy nhiên mức độ tính tích cực chưa cao Có nhiều yếu tốtác động đến tính tích cực học tập của sinh viên Nếu đề xuất được các biệnpháp tác động đến nhận thức của sinh viên, tạo ra cơ hội trải nghiệm, đượcchia sẻ và hợp tác thì sẽ góp phần nâng cao tính tích cực học tập của sinh viênkhoa TL – GDH trường ĐHSP Hà Nội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

như: tính tích cực; tính tích cực học tập; tính tích cực học tập của sinh viên;các biểu hiện, mức độ và yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập; đặcđiểm tâm sinh lý của SV khoa TL-GDH, trường ĐHSPHN làm cơ sở lý luậncho vấn đề nghiên cứu

TL – GDH, trường ĐHSPHN

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu về nhận thức, biểu hiện

và yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực học tập của sinh viên khoa TL –GDHtrường ĐHSP Hà Nội theo lý thuyết SDT của (Deci & Ryan, 1985, 1991;Ryan & Deci, 2000a, 2002)

Trang 13

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp nghiên cứu lý luận là tổ hợp các phương pháp nhận thứckhoa học bằng con đường suy luận dựa trên các tài liệu lý luận

Xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu

Dùng để viết tổng quan của vấn đề nghiên cứu (viết lịch sử vấn đềnghiên cứu)

Xây dựng các khái niệm công cụ, các khái niệm cơ bản của đề tàinghiên cứu

7.1.2 Cách thức tiến hành:

Thu thập được những thông tin để hệ thống cơ sở lý luận có liên quanđến nghiên cứu (tính tích cực; tính tích cực học tập; tính tích cực học tập củasinh viên; đặc điểm tâm sinh lý của SV khoa TL-GDH, trường ĐHSPHN)

7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp sử dụng một phiếutrung cầu ý kiến với một hệ thống câu hỏi đã được soạn sẵn nhằm thu thậpnhững thông tin cần thiết về hiện tượng tâm lý được nghiên cứu

Đây là phương pháp chính được sử dụng trong đề tài

Tìm hiểu thực trạng tính tích cực học tập của SV khoa TL-GDH,trường ĐHSPHN

Những số liệu thu được là cơ sở chính để trình bày về kết quả nghiêncứu, từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao tính tích cực học tập của SVkhoa TL-GDH

Trang 14

7.2.2 Cách thức tiến hành:

Xây dựng phiếu hỏi gồm các câu hỏi đóng, mở, tự luận, cường độ Cáccâu hỏi tập trung khai thác biểu hiện, mức độ và yếu tố ảnh hưởng đến tínhtích cực học tập của sinh viên Từ đó, đưa ra khái quát về thực trạng tính tíchcực học tập của SV khoa TL-GDH

7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp trò chuyện, đặt câu hỏitrực tiếp nhằm thu lại các thông tin chi tiết, làm rõ hơn về hiện tượng tâm lýđược nghiên cứu

7.3.1 Mục đích nghiên cứu:

Thu thập thông tin bổ sung

Làm rõ, xem xét tương quan kết quả thu được từ các phương pháp khác

7.4.2 Nội dung quan sát:

Quan sát các cử chỉ, hành vi, các hoạt động của khách thể nghiên cứu

Trang 15

7.5 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phần mềm SPSS for Windows phiên bản 22.0 để nhập và xử líthống kê, từ đó làm cơ sở để phân tích các số liệu thu được từ phiếu điều tra

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị và Tài liệu tham khảo cấu trúc Khóa luận bao gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập

CHƯƠNG 3:

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC HỌC

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài

Tính tích cực học tập của người học là một vấn đề đã đã được nhiều tácgiả quan tâm nghiên cứu và có mầm mống từ thời cổ đại

Nhà triết học Hylạp Xôcrat đưa ra phương pháp vấn đáp Ơrístic trongdạy học: Người thầy giáo là người dẫn dắt, gợi mở để học sinh đi tìm chân lý,hình thành tính tự lực và phát huy trí lực của họ

Ngay từ trước công nguyên (551-479) nhà triết học, nhà văn hóa, nhàgiáo dục (Trung Quốc) Khổng Tử đã quan tâm đến dạy học làm sao phải pháthuy được tính tích cực suy nghĩ cho trò Ông nói: “Vật có bốn góc, bảo chobiết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa Hoặc ông yêucầu học trò cố gắng tự suy nghĩ: “Học mà không suy nghĩ thì uổng công vôích, suy nghĩ mà không học thì nguy hiểm”

Ở Châu Âu thế kỷ XVII (1592-1670) J.A Cômenki, trong tác phẩm “Lýluận dạy học vĩ đại” của mình đã đề cập đến tính tự giác, tính tích cực với tưcách là một trong những nguyên tắc dạy học quan trọng và cơ bản nhất

I.F.Kharlamôp (1979) trong tác phẩm “Phát huy tính tích cực của họcsinh như thế nào” của mình, ông đã nêu lên một loạt những phương pháp,những thủ thuật như phép tương tự, phân tích - tổng hợp, quy nạp, tìm nguyênnhân gây ra hiện tượng, nhấn mạnh mâu thuẫn chứa đựng trong tài liệu nhằmkích thích và phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh Tác giả cho rằng

“ Hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởimục đích tự giác là lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những phương thứchành vi và những dạng hoạt động nhất định” Từ đó, có thể nhận thấy kháiniệm hoạt động học tập hẹp hơn khái niệm hoạt đông nhận thức, tính tích cực

Trang 17

của cá nhân được huy động và hướng vào một lĩnh vực, một môi trường cụthể để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể nhằm vào những đối tượng và mụctiêu đã xác định, bởi vậy ở trạng thái chuyên biệt có thể phân tích tính tíchcực của người học thành 3 loại:

sự hoạt động, chủ thể đã ý thức được mục đích của hành động

Geoffrey Petty (1988), Dạy và học ngày nay, NXB Stanley ThornesAnh Quốc Cuốn sách có 4 phần, trong đó, tác giả dành riêng phần đầu tiên đểnói về nhu cầu thực tế và tình cảm của người học Ở phần này, tác giả đi sâuvào phân tích các cách học, các trường phái về học: 1 Học là một quá trìnhtích cực và xây dựng ý nghĩa; 2 Trường phái hành vi: Khen thưởng và tạođộng cơ; 3 Học tập có tính xã hội: có cái học mà không phải dạy Dù theotrường phái nào, muốn nâng cao chất lượng dạy và học, cần phải nghiên cứu,tìm hiểu về động cơ học tập, từ đó có những biện pháp khen ngợi hay phêbình đúng mức và đúng lúc, tạo ra mối quan hệ thầy trò tích cực, có các cơhội bình đẳng giữa giáo viên và SV

Carrol.E.Jzarl (1992) trong tác phẩm “Những cảm xúc của người” đãcông bố công trình nghiên cứu về hệ thống thái độ của con người – thànhphần không thể thiếu của tính tích cực của con người, tác giả đã trình bày ảnhhưởng chi phối của cảm xúc với ý thức, mức độ phát triển cao của tính tíchcực Tác giả còn nghiên cứu sâu sắc thành phần tâm lý quan trọng tính tíchcực của con người mà biểu hiện từ mức độ thấp là “tính tò mò” và mức độcao là “khát vọng nghiên cứu”, khao khát khám phá cũng như tính lựa chọn

Trang 18

trong tri giác và chú ý …Trong tác phẩm này, tác giả đã tiếp thu thành tựu củacác tác giả nghiên cứu về các hiện tượng trên một cách có chọn lọc, có phêphán như Freud, Tomkins, Murphy, Mc Dougall, Berlyne, Shand…

Các nhà Tâm lý học, Giáo dục học phương Tây tiếp thu thành tựunghiên cứu sinh lý học, triết học, tâm lý học Macxit đã coi học là một hoạtđộng Khi nghiên cứu về tính tích cực học tập – nhận thức, A.N.Lêônchiev(1998) cho rằng: Sự khác biệt cơ bản giữa các quá trình thích nghi theo đúngnghĩa của nó và các quá trình tiếp thu, lĩnh hội là ở chỗ quá trình thích nghisinh vật là quá trình thay đổi các thuộc tính của loài và năng lực cơ thể cũngnhư hành vi loài của cơ thể Quá trình tiếp thu hay lĩnh hội thì khác, đó là quátrình mang lại kết quả là, cá thể tái tạo lại được những năng lực và chức năngngười đã hình thành trong quá trình lịch sử Như vậy, chỉ bằng cách ngườithầy tổ chức cho học sinh tích cực học tập, khi đó học sinh mới “chuyển” trithức của nhân loại thành tri thức bản thân

Các nhà tâm lý học ở Đức như H.Hipsơ, M.Forvec, S.Fanz…cũng đãnghiên cứu về thái độ, thái độ học tập và các biểu hiện của nó một cách côngphu, cụ thể Đặc biệt nghiên cứu của S.Fanz về những biểu hiện thái độ họctập tích cực đã được công nhận và sử dụng rộng rãi đó là: 1/ Trên lớp chú ýnghe giảng; 2/ Học bài và làm bài đầy đủ; 3/ Cố gắng vươn lên học đượcnhiều; 4/ Không vội vàng phản ứng tiêu cực nếu có chỗ nào chưa hiểu hoặckhông nhất trí với bài giảng; 5/ Đảm bảo kỷ luật để học tốt; 6/ Cố gắng đạtthành tích học tập tốt và nâng cao thành tích học tập của mình một cách trungthực; 7/ Thích độc lập thực hiện nhiệm vụ học tập; 8/ Hăng hái nhiệt tìnhtrong giờ thảo luận và chữa bài tập ; 9/ Hoàn thành nhiệm vụ học tập mộtcách nghiêm túc; 10/ Giữ gìn tài liệu học tập cẩn thận Cơ sở lý luận này đãđược Đào Lan Hương (1999) vận dụng “Nghiên cứu sự tự đánh giá phù hợp

về thái độ học toán của sinh viên cao đẳng sư phạm Hà Nội” khá thành công

Robert Fisher (2003), trong tác phẩm “Dạy trẻ học”, Dự án Việt Bỉ.Tác giả giới thiệu công trình nghiên cứu 10 chiến lược dạy học cho học sinh,

Trang 19

SV là: “1 Tư duy để học; 2 Đặt câu hỏi; 3 Lập kế hoạch; 4 Thảo luận; 5 Vẽ

sơ đồ nhận thức; 6 Tư duy đa hướng; 7 Học tập hợp tác; 8 Kèm cặp; 9.Kiểm điểm; 10 Tạo nên một cộng đồng học tập.” Tác giả đã nêu lên các cáchthức học tập hiệu quả và một hệ thống bài tập để học sinh, SV bộc lộ, hìnhthành và phát triển các cách thức học tập đó, một thành phần của hoạt độnghọc tập, đó là hành động tích cực lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của nhânloại chuyển thành tâm lý, ý thức của bản thân Mỗi người học phải tự tìm ramột cách thức học phù hợp với năng lực và mục đích học tập của chính bảnthân mình Theo tác giả, phương pháp học là quan trọng Nếu người học biếttìm cho mình phương pháp học đúng sẽ làm tăng niềm đam mê và TTC họctập Như vậy, thành công sẽ nối tiếp thành công

Hetty Hofman, Pamela Wright, Lê Thu Hoà và Nguyễn Hữu Cát biêndịch, (2005) trong các công trình “Học tích cực – Bước tiếp theo để tăngcường giáo dục y khoa tại Việt Nam”, Dự án Việt Nam – Hà Lan: “Tăngcường giảng dạy hướng cộng đồng trong tám trường đại học Y Việt Nam”.Theo các tác giả, để trả lời cho các câu hỏi: Tại sao SV của tôi học? Học nhưthế nào? Cần học những gì để trở thành một bác sỹ giỏi? Họ muốn học những

gì, người thầy phải có những hiểu biết sâu sắc về những khái niệm cốt lõi vềnhu cầu, động lực và sự hỗ trợ xã hội và phải tạo ra được một môi trường họctập có hiệu quả Mặc dù tác giả không chỉ rõ những nhân tố nào ảnh hưởng tớiTTC học tập của SV nhưng qua việc phân tích những lý thuyết về học tập,đưa ra những cơ sở của học tích cực, tác giả dường như chú trọng đến động

cơ học tập và môi trường học tập của người học

Với những nghiên cứu gần đây về tính tích cực học tập, các nhà nghiêncứu nước ngoài chú trọng tìm hiểu các kỹ thuật áp dụng phương pháp học tậptích cực trong lớp học đồng thời các ứng dụng của nó trong nhiều môi trườngkhác nhau Có thể kể đến mô hình lớp học đảo ngược của Lucke và Dunn(2017), Bishop và Verleger (2013) với phương pháp sử dụng các bài giảngvideo trong bài tập về nhà, bài tập nhóm… Một số nghiên cứu của Bodnar và

Trang 20

Clark (2014), Dicheva et al (2015), Barna và Fodor (2017) khám phá tácđộng của việc chơi game ở học sinh ở giáo dục đại học nhận được kết quả tíchcực và đầy hứa hẹn Hướng dẫn đồng đẳng (PI) cũng là một kỹ thuật học tậptích cực đã được sử dụng trong 25 năm qua trong Giáo dục Vật lý, Bundle et

al (2017), và nó đã được kết hợp gần đây trong các lĩnh vực giáo dục khác

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên luôn được các nhà tâm lýhọc, giáo dục học, các nhà giáo có tâm huyết với nghề dạy học quan tâmnghiên cứu Có thể kể đến một số công trình nổi bật của các tác giả:

Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, tác giả Phan Thị Diệu Vân(1964) đã nghiên cứu tính tích cực học tập của học sinh trong giờ học vớicông trình: “Làm cho học sinh tích cực, chủ động và độc lập sáng tạo tronggiờ lên lớp” Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã phân tích tínhtích cực học tập không chỉ thể hiện trong các mặt quan sát, chú ý, tư duy, trínhớ mà phải căn cứ vào cường độ, độ sâu, nhịp điệu của những hoạt động đótrong 1 thời gian nhất định

Phạm Minh Hạc (1996), Tuyển tập J.Piaget, NXB Giáo dục Hà Nội.Tác giả cho rằng TTC là một thuộc tính của nhân cách, bao gồm các thành tốtâm lý như: nhu cầu, động cơ, hứng thú, niềm tin, lý tưởng Các thành tố tâm

lý này của TTC có tác động qua lại lẫn nhau, được thể hiện ở những hoạtđộng muôn màu, muôn vẻ và đa dạng nhằm biến đổi, cải tạo thế giới xungquanh, cải tạo bản thân con người, cải tạo những đặc trưng tâm lý của mình

Các nhà tâm lý học Sư phạm như Nguyễn Văn Thàng, Lê Ngọc Lan,Phạm Thành Nghị (1997) trong các công trình nghiên cứu của mình cũng đãcoi hoạt động học tập của sinh viên là một quá trình nhận thức tích cực Đó làhoạt động đặc thù chỉ có ở con người nhằm lĩnh hội tri thức nhân loại chuyểnthành tâm lý, ý thức của bản thân cho nên muốn đạt được mục đích dạy họcthì phải tạo ra tính tích cực trong hoạt động của học sinh, sinh viên, làm cho

Trang 21

“các em vừa ý thức được đối tượng cần lĩnh hội, vừa biết cách chiếm lĩnhđược đối tượng đó” Các tác giả cũng chỉ ra việc hình thành tính tích cực họctập ở học sinh, sinh viên chính là quá trình quá trình hoạt động học ở họ.Muốn vậy phải thấy rõ được mối quan hệ chặt chẽ giữ dạy học và sự pháttriển trí tuệ từ đó mới đào tạo ra những con người không chỉ có tri thức phòngphú về mọi lĩnh vực mà còn có các kỹ năng, kỹ xảo tương ứng phù hợp vớiyêu cầu của xã hội Theo các tác giả, dạy học phải dựa trên các thành tựunghiên cứu tâm lý học của S.L.Rubinstêin, L.V.Zancôp, V.V.Đavưdôp,N.A.Mentsinscaia, tức là ứng dụng kết quả nghiên cứu tâm lý sư phạm vàotrong quá trình tổ chức, điều khiển hoạt động của học sinh, sinh viên.

Trần Bá Hoành, Lê Tràng Định, Phó Đức Hòa (2003), Áp dụng dạy vàhọc tích cực trong môn Tâm lý-Giáo dục học, NXB ĐHSP Hà Nội Tại côngtrình nghiên cứu này, các tác giả đã giới thiệu cơ sở lý luận, thực nghiệm, quytrình áp dụng dạy học tích cực ở nhà trường Phổ thông cũng như Đại học.Khái niệm TTC nhận thức được đưa ra dựa trên cơ sở tiếp thu quan niệm củaKharlamop Các tác giả coi “hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nênTTC” TTC là phẩm chất vốn có của con người và được biểu hiện trong hoạtđộng TTC học tập là sự gắng sức cao trong hoạt động học tập mà chủ yếutrong hoạt động nhận thức

Đặng Vũ Hoạt (2008) cho rằng tính tích cực học tập học tập biểu hiện ởchỗ huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý, đặc biệt là chức năng tưduy Trong đó, sự kết hợp thống nhất giữa các yếu tố tâm lý nhận thức với cácyếu tố tình cảm, ý chí càng linh hoạt bao nhiêu nhất thì ở người học tính tíchcực càng cao bấy nhiêu

Hồ Ngọc Đại với công trình “Tâm lý học dạy học’’, ông cùng các cộng

sự áp dụng lý thuyết của Ganpêrin, Encônhin, Đavưdôp, Piagiê để xây dựngcông nghệ dạy học gồm 3 giai đoạn:

Trang 22

 Tổ chức cho học sinh thao tác trên đối tượng ở hình thái vật chất.

hình thành tri thức của mình Thực chất của lý thuyết này là Algôrit hóa họctâp, phát huy tính tích cực

Chúng tôi cũng không thể không kể đến Phan Trọng Luận (1975) , LêKhánh Bằng, Phạm Viết Vượng(1997), Trần Văn Nguyệt, Nguyễn Cảnh Toàn(1998), Nguyễn Hữu Long (1995), Nguyễn Thị Tình (2009) trong các bài báo

và bài viết của mình đều nói đến tính tích cực của học sinh là sự say mê, tìmtòi, khám phá tri thức và vì vậy người thầy phải có phương pháp thích hợp đểkích thích, phát triển tính chủ động, sáng tạo đó chứ không phải là “nhồinhét” kiến thức “sẵn có” vào đầu họ Có như vậy mới đào tạo được một thế hệtương lai “biết làm, muốn làm” và tự kiếm được “việc làm” trong xã hội đầybiến động của thiên niên kỷ này

Nghiên cứu về khoảng cách giữa nhận thức và thực hành của sinh viên,Nguyễn Quý Thanh (2012) phát hiện ra các biến số như phương pháp giảngtích cực, tâm trạng hào hứng, vui vẻ, vị trí ngồi đầu lớp, chủ động chọn ngànhhọc … là những biến số có thể góp phần làm giảm khoảng cách giữa nhậnthức và thực hành

Ngoài ra, một số luận văn, luận án của các tác giả cũng đề cập đến vấn

đề này

Luận án tiến sỹ Tâm lý học của tác giả Đào Hương Lan (2000) với đềtài “Nghiên cứu sự đánh giá phù hợp về thái độ học Toán của sinh viênTrường Cao đẳng sư phạm Hà Nội” Tác giả nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ

sở thực tiễn về thái độ học tập tích cực của sinh viên, là một thành phần rấtquan trọng trong tính tích cực của sinh viên

Đỗ Thị Coỏng (2004), Nghiên cứu TTC học tập môn tâm lý học của

SV đại học Sư phạm Hải Phòng, Luận án Tiến sĩ Tác giả cho rằng TTC họctập môn Tâm lý học của SV chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, chủ quan và

Trang 23

khách quan, trong đó yếu tố chủ quan là quyết định trực tiếp đến TTC học tậpcủa các em Học là hoạt động nhận thức tích cực, tự lực, sáng tạo của ngườihọc Do đó, sức học, sức tự học, tự phát triển của trò là nội lực quyết định sựphát triển của bản thân người học Tác động của thầy, của môi trường xã hộichỉ là ngoại lực hỗ trợ, thúc đẩy, xúc tác và tạo điều kiện thuận lợi cho ngườihọc Vì thế, để phát huy TTC của SV, người giảng viên phải tổ chức quá trìnhdạy học có nội dung môn học hấp dẫn, phương pháp dạy học tích cực, hìnhthức tổ chức dạy học phong phú làm cho SV hiểu rằng muốn chiếm lĩnh đượctri thức tâm lý học thì phải tự giác đề ra mục đích, tự tổ chức, điều khiển hoạtđộng học tập của mình một cách khoa học.

Luận án tiến sỹ của Nguyễn Xuân Thức (2005) với đề tài “Nghiên cứutính tích cực giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động vui chơi”, đãchỉ ra cơ sở lý luận về tính tích cực nói chung và tính tích cực học tập của họcsinh nói riêng

Nguyễn Thu Hường, Đại học Sư phạm Hà Nội (2005), Tìm hiểu TTCtrong học tập của SV đối với môn học, Đề tài NCKH đạt giải SV Nghiên cứukhoa học cấp Bộ TTC của người học nảy sinh trong quá trình học tập nhưng

nó lại chịu nhiều tác động khác nhau nhưng nhìn chung phụ thuộc vào nhữngnhân tố sau: 1.Hứng thú; 2 Nhu cầu; 3 Động cơ; 4 Năng lực; 5 Ý chí; 6.Sức khỏe; 7 Môi trường Trong những nhân tố trên, có những nhân tố có thểhình thành ngay nhưng có những nhân tố chỉ được hình thành qua một quátrình dài lâu dưới ảnh hưởng của rất nhiều tác động Do đó, việc tích cực hóangười học đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và toàn diện khi phối hợp hoạt độnggia đình, nhà trường và xã hội Tuy nhiên, ở đề tài này, tác giả không phântích ảnh hưởng của những nhân tố này đến TTC của SV đại học mà chỉ nêuvấn đề ở góc độ lý luận là chủ yếu

Nguyễn Quý Thanh (2007), Nhận thức, thái độ và thực hành của SVvới phương pháp học tích cực”, Đề tài NCKH cấp ĐHQGHN Tác giả chorằng giữa nhận thức, xúc cảm và thực hành của SV trong vấn đề học tích cực

Trang 24

tồn tại một độchênh nhất định: Chỉ số nhận thức đúng của SV về học tập tíchcực đạt gần mức tuyệt đối: 94,7/100, trong khi đó, chỉ số thực hành chỉ đạt62/100, còn chỉ số xúc cảm đúng là thấp nhất: 55,5/100) Trong khi phân tích

độ chênh này, tác giả cũng đã phát hiện ra một số nhân tố ảnh hưởng đến TTChọc tập của SV như yếu tố giới tính, năm học, cách chọn ngành học, nguồngốc xuất thân, nơi cư trú hiện tại, phương pháp giảng dạy của giảng viên, điềukiện cơ sở vật chất

1.2 Khái niệm công cụ của đề tài

Theo từ điển Tiếng Việt (Trần Kiều, Nguyễn Thị Lan Anh), tích cực

là một trạng thái tinh thần có tác dụng khẳng định và thúc đẩy sự phát triển

Theo từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý, 1996), tính tích cực bao gồm

3 nghĩa:

phát triển, trái với tiêu cực

theo hướng phát triển

 Ba là: Hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ, với công việc

- Quan điểm của các nhà Triết học: Các nhà triết học cho rằng mỗi sự

vật bao giờ cũng thể hiện tính tích cực của nó bởi vật chất luôn vận động vàphát triển không ngừng

Các nhà triết học duy vật như K.Marx, F.Ăngghen… khi bàn đến tínhtích cực đều coi nó như là thuộc tính của vật chất, tạo điều kiện tiên quyết bên

Trang 25

trong cho sự tự vận động và tự biểu hiện của hoạt động Tính tích cực là mộtphẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội, thể hiện ở sức mạnhcon người trong việc chinh phục, cải tạo thế giới tự nhien xã hội và cải tạochính bản thân mình Hình thành và phát triển tích cực xã hội là một trongnhững nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo ra những con người năngđộng, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng.

Theo V.I.Lênin, tính tích cực là thái độ cải tạo của chủ thể đối vớikhách thể, đối với đối tượng, sự vật xung quanh; là khả năng của mỗi ngườiđối với việc tổ chức cuộc sống, điều chỉnh những nhu cầu, năng lực của họthông qua các mối quan hệ xã hội

- Quan điểm của các nhà Sinh học: Xuất phát từ sự nghiên cứu trong

các lĩnh vực khác nhau, các nhà sinh học cũng giải thích khác nhau về tínhtích cực

Theo M.Kagan thì tính tích cực của các thực vật đó là tính hướng, là sựhướng tới những yếu tố, hoàn cảnh để tạo nên sự thay đổi, vận động hay thíchnghi của các sinh vật đối với môi trường

Phát kiến của I.P.Paplôp về hệ thống tín hiệu thứ hai giúp chúng ta giảithích cơ sở sinh lý của tính tích cực hoạt động của con người vốn mang tínhchất đặc thù, khác biệt về chất so với động vật Ông cho rằng: cơ sơ sinh lý củatính tích cực chính là hoạt động của vỏ bán cầu đại não và hệ thống tin hiệu thứhai Đây là sự khác biệt giữa con người với con vật Con vật chỉ bắt chước chứkhông có tính tích cực Chỉ có ở con người mới có tính tích cực hành động,hoạt động Việc thường xuyên đối chiếu các động cơ hành động với hoàn cảnhbên ngoài và kinh nghiệm tích lũy được sẽ gây cho con người thích ứng tốtnhất với hoàn cảnh sống xã hội và có khả năng cải tạo cuộc sống đó

Theo I.M.Xesênôp hoạt động là phản ánh của hoàn cảnh bên trong vàbên ngoài của cuộc sống con người: “Nguyên nhân đầu tiên của mọi hànhđộng của con người vốn nằm ở bên ngoài nó” Bởi ông đã theo quan điểm chủđạo của chủ nghĩa Mác-Lênin là: Tâm lý là cơ năng của cái phần nhỏ đặc biệt

Trang 26

phức tạp của vật chất mà ta gọi là bộ não con người Nguyên tắc quyết địnhluận là nguyên tắc chủ đạo trong chủ nghĩa duy vật khi giải thích hành độngcủa con người và tính tích cực hoạt động của cá nhân.

Tuy nhiên, có một số người hiểu nguyên tắc này một cách đơn giản coicon người phản ánh những tác động bên ngoài giống như sự phản chiếu.Đồng thời họ giải thích hoạt động của con người một cách trực tiếp từ hoàncảnh hiện tại và những yêu cầu của hoàn cảnh đó Một quan niệm mà thựcchất có tính chất cơ giới như vậy sẽ đưa đến chỗ công nhận tính thụ động của

cá nhân và tính chất máy móc trong hành vi của cá nhân

- Quan điểm của các nhà giáo dục học:

V.Ôkôn cho rằng: Tính tích cực là lòng mong muốn hành động đượcnảy sinh một cách chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bêntrong của hoạt động

Kharlamôp coi tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể nghĩa làcủa người hành động Một số tác giả khác lại cho tính tích cực chủ thể là mộthành động ý chí hay một phẩm chất tâm lý

Các tác giả: B.P.Êxipôp, A.I.Secbacôp, L.Aistô; Đặng Vũ Hoạt,Nguyễn Ngọc Bảo… xem tính tích cực như là thái độ cải tạo của chủ thể đốivới thế giới khách quan thông qua việc huy động ở mức độ cao các chức năngtâm lý nhằm giải quyết các vấn đề nảy sinh Tính tích cực vừa là mục đíchcủa hoạt động Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân

- Quan điểm của các nhà Tâm lý học:

Theo từ điển Tâm lý học: Tính tích cực là đặc điểm chung củua các cơthể sống Trong mối tương quan với hoạt động tính tích cực đóng vai trò điềukiện động lực của các quá trình hình thành, thực hiện và thay đổi về loại hìnhcủa hoạt động, nó là thuộc tính quan trọng của sự vận động nội sinh của hoạtđộng Tính tích cực được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các của cáchành động đang diễn ra, tính đặc thù của những trạng thái bên trong của chủ

Trang 27

thể ở thời điểm hành động, tính quy định của mục đích ban đầu, và tính bềnvững tương đối của hành động trong sự tương quan với mù đích đã thông qua.

S.Freud (phân tâm học) cho rằng tính tích cực của con người coi nhưmột sức mạnh tự nhiên sinh vật giống như bản năng động vật Luân điểm cơbản của ông là: Con người gồm ba khối: Cái ấy – cái vô thức bao gồm cái bảnnăng vô thứ như ăn uống, tình dục, tự vệ trong đó bản năng tình dục giữ vaitrò trung tâm quyết định toàn bộ đời sống tâm lý và hành vi của con người,cái ấy tồn tại theo nguyên tắc thỏa mãn và đòi hỏi, theo đó tính tích cực tronghành vi và hoạt động của con người sở hữu như một bản năng bị cái ấy chiphối; Cái tôi là con người thường ngày, con người có ý thức, tồn tại theonguyên tắc hiện thực- cái tôi có ý thức theo ông là cái tôi giả hiệu, cái tôi bềngoài của cái nhân lõi bên trong là “cái ấy”; Cái siêu tôi là cái siêu phàm, cáitôi lý tưởng không bao giờ vươn tới được và tồn tại theo nguyên tắc kiểmduyệt, chèn ép

Tâm lý học hành vi quan niệm hành vi của con người cũng như độngvật là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kíchthích nào đó Toàn bộ hành vi, phản ứng của con người và động vật phản ánhbằng công thức:

S – R (Kích thích – phản ứng)

Có thể thấy chủ nghĩa hành vi đã đánh đồng con người với động vật,chỉ quan trọng hành vi, coi con người như những thực thể giống máy móc,phản ứng rập khuôn tương ứng dưới những tác động vật lý mà bỏ qua phần ýthức, tâm lý thực chất mang tính quyết định đến việc lựa chọn các hoạt độngcho bản thân Sau này, các đại diện khác của chủ nghĩa hành vi như Tomen,Hulơ, Skinner… có đưa vào công thức những biến số trung gian bao hàm nhucầu, trạng chờ đón, kinh nghiệm sống của con người hoặc hành vi tạo tácnhằm đáp ứng những kích thích có lợi cho cơ thể, nhưng cơ bản vẫn coi conngười có hành vi mang tính chất cơ học

Trang 28

- Theo tâm lý học Macxit: các nhà tâm lý học Macxit dựa vào triết họcMac-Lênin nghiên cứu vấn đề tính tích cực hoạt động của cá nhân trên lậptrường quyết định luận xã hội cho rằng các thái độ hình thành nên trong hoạtđộng và ở đặc điểm số lượng, chất lượng của hiệu số hoạt động Nhìn nhậntính tích cực theo góc độ này được thể hiện như sau:

+ Tính tích cực được đề cập và nhấn mạnh như là một đặc điểm chungcủa sinh vật sống, là động lực đặc biệt của mối liên hệ giữa sinh vật sống vàhoàn cảnh, là khả năng đặc biệt tồn tại giúp cơ thể thích ứng với môi trường

+ Tính tích cực gắn liền với hoạt động và hoàn cảnh bên ngoài, nóđược biểu hiện như sau:

Nó gắn liền với sự hoạt động, được thể hiện như là động lực để hìnhthành và hiện thực hóa hoạt động

Ở mức độ cao, nó thể hiện tính chế ước, chế định trạng thái bên trongcủa chủ thể

Nó thể hiện sự thích ứng một cách chủ động với hoàn cảnh, môi trườngsống bên ngoài

Như vậy, tính tích cực được nghiên cứu trong mối quan hệ với hoạtđộng, nó làm xuất hiện động lực thúc đẩy con người hoạt động có hiệu quả

+ Tính ổn định – bền vừng của hoạt động tạo thành kiểu phản ứng đốivới môi trường bên ngoài của chủ thể

- Dựa trên học thuyết của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mac-lênin, cácnhà tâm lý học đã nghiên cứu vấn đề tính tích cực hoạt động của cá nhân trênlập trường quyết định luận xã hội và theo các xu hướng sau:

Trang 29

+ Xu hướng 1: tính tích cực được xem xét từ góc độ chức năng, vai trò

của chủ thể với thế giới bên ngoài Đại diện là S.D.Sirnop, V.P,Dintrenco.Các tác giả cho rằng sự phát triển của tính tích cực là sự phức tạp hóa dần cácchức năng tính tích cực của chủ thể Theo đó, tính tích cực thể hiện tính chủđịnh của ý thức, tính chủ động của chủ thể với thế giới bên ngoài, biểu hiện

sự thích nghi mà cao hơn là sự thích ứng, cải tạo và sáng tạo của chủ thể Tínhtích cực thực hiện chức năng chỉ báo hoạt động của con người, con người cótính tích cực là con người đang hoạt động

+ Xu hướng 2: Xem xét tính tích cực gắn với hành động và được thể

hiện trong các mức độ lĩnh hội khác nhau đó là chỉ số đo tính tích cực của chủthể Đại diện tiêu biểu là P.Ia.Ganpênin (sử dụng phạm trù hành động đánhdấu thể hiện mức độ phát triển của tính tích cực) và A.A.Liublinxcaia (chorằng tính tích cực biểu hiện trong hoạt động và mức độ phát triển tính tích cựcđược đánh giá qua mức độ lĩnh hội hoạt động có ý thức)

+ Xu hướng 3: Nhìn nhận tính tích cực qua các dấu hiệu của chúng.

Theo hướng này, một số tác giả như M.I.Lixra, A.N.Lêonchiep, A.V.Dapôrôzet…

đã đánh giá tính tích cực của trẻ thông qua những dấu hiệu, những biểu hiện

và các thành tố tâm lý đặc trưng của tính tích cực: tính tích cực chỉ tính chủđộng, hành động có ý thức theo chủ ý, chỉ tính sẵn sàng hoạt động của chủthể, là nhu cầu đối với hoạt động của chủ thể và chỉ thể hiện trong trạng tháihoạt động và biểu hiện trong hoạt động, hành vi cụ thể

+ Xu hướng 4: Nhóm các tác giả L.M.Ackhangenxki; R.Minle;

I.Lich…Xem xét thuật ngữ “tính tích cực” khi đánh giá trình độ tính chất đặctrưng cơ bản của tính tích cực lao động, tính tích cực chính trị xã hội… baohàm và thể hiện ở 4 chỉ số: tính giá trị và tính tự nguyện, tính hiệu quả, tínhsáng tạo, tính phát triển của hành động

nhau về tính tích cực Để nhìn nhận khách quan đầy đủ tính tích cực trong cáclĩnh vực khác nhau phải có những nguyên tắc nhất định Nhóm tác giả:

Trang 30

L.M.Ackhangenxki, L.P.Buê, L.I.Ivasco… đã đặt ra vấn đề này và đã xácđịnh 3 nguyên tắc sau:

- Không nên giải thích phiến diện hay chỉ xem tính tích cực duy nhất làtrạng thái hoạt động

- Không được tách rời mặt bên trong (hình thức tồn tại bên trong) củatính tích cực với mặt biểu hiện bên ngoài của tính tích cực

- Sự phát triển tính tích cực có thể được thể hiện bằng các đặc trưng sốlượng và chất lượng của hoạt động con người

- Dưới góc độ Tâm lý học, trên quan điểm tiếp cận hoạt động – nhân cách – giao tiếp các nhà Tâm lý học Việt Nam như Phạm Minh Hạc; Trần

Trọng Thủy; Nguyễn Ánh Tuyết; Nguyễn Quang Uẩn… đều thống nhất chorằng: nhân cách là sản phẩm của quá trình tác động qua lại giữa cá nhân vàmôi trường, tức là nhân cách vừa là khách thể vừa là chủ thể của các quan hệ

xã hội Vì thế tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách, là một phẩm chấtnhân cách điển hình của con người Một cá nhân được thừa nhận là một nhâncách khi nào anh ta tích cực hoạt động trong những hình thức đa dạng của nó,nhờ vào việc nhận thức, cải tạo sáng tạo ra thế giới và đồng thời cải tạo chínhbản thân mình Giá trị đích thực của nhân cách, chức năng xã hội và cốt cáchlàm người của cá nhân thể hiện c rõ nét ở tính tích cực của nhân cách Nhưvậy, cá nhân được coi là nhân cách khi họ tích cực hoạt động và giao lưu trong

xã hội một cách có ý thức Tính tích cứ là đặc trung hoạt động của con người

Từ sự phân tích trên, bước đầu chúng ta có thể nhận thấy, về mặt thuậtngữ, tính tích cực được đề cập đến thường gắn liền với hoạt động, hay nóikhác đi phải thể hiện trong trạng thái hoạt động và được biểu hiện trongnhhững hành động, hành vi cụ thể của con người, nảy sinh, hình thành và pháttriển trong hành động Đồng thời, trong mối quan hệ với môi trường sốngxung quanh, tính tích cực thể hiện ở sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, ở sự chủđộng tự giác hoạt động có mục đích của chủ thể; chỉ tính sẵn sàng đối vớihoạt động, là nhu cầu đối với hoạt động Yếu tố nhu cầu có mối quan hệ chặt

Trang 31

chẽ với tính tích cực, là động lực thúc đẩy con người thể hiện tính tích cựctrong các hoạt động sống.

Tiếp thu quan điểm nhận định tính tích cực là một đặc điểm chung củađời sống sinh vật, là động lực đặc biệt của mối liên hệ giữa sinh vật sống vàhoàn cảnh, là khả năng đặc biệt của tồn tại sống giúp cơ thể thích ứng với môitrường Tính tích cực gắn liền với hoạt động và hoàn cảnh bên ngoài được thểhiện như để hoàn thành và thực hiện hóa hoạt động Nó là sự thích ứng mộtcách chủ động với hoàn cảnh, môi trường sống bên ngoài, tính tích cực mangtính chất vượt khó khăn, trở ngại trong mọi hoàn cảnh theo mục đích của chủthể, mang tính ổn định, bền vững của hoạt động tạo ra kiểu phản ứng đối vớimôi trường bên ngoài Từ đó, nghiên cứu đồng ý với khái niệm của tác giảPhạm Văn Tuân (2011) trong luận văn “Tìm hiểu tính tích cực học tập môntâm lý học đại cương của sinh viên hệ Đại học trường Đại học Trà Vinh”:

“Tính tích cực là sự sẵn sàng của chủ thể đối với hoạt động Tính tích cực

được nảy sinh từ chính nhu cầu, động lực của cá nhân với đối tượng trong hoạt động và được thể hiện thông qua hệ thống hành vi trong hoạt động.”

Khái niệm trên về tính tích cực sẽ được xem xét trong suốt toàn bộ nghiêncứu này

1.2.2 Hoạt động học tập

Trong tác phẩm Tâm lý học sư phạm đại học của Nguyễn Thạc (2002)chủ biên, tác giả trích dẫn khái niệm của A.V.Petrovxki và chỉ ra rằng hoạtđộng học tập là vấn đề phẩm chất tư duy và kết hợp các hoạt động trong việcthực hiện mục đích và nhiệm vụ giảng dạy Trong khi đó, các tác giả khácnhư A.N.Lêônchiev, P.Ia.Ganpêrin và N.Phtalưdina lại coi học tập xuất phát

từ mục đích trực tiếp và nhiệm vụ giảng dạy được biểu hiện ở hình thức tâm

lý bên ngoài và bên trong của hoạt động đó

Theo tác giả Trần Lan Anh (2009) “hoạt động học là hoạt động đặc thùcủa con người được điều khiển bởi mục đích tự giác để lĩnh hội những tri

Trang 32

thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt độngnhất định nhằm phát triển nhân cách của chính mình.”

Tuy nhiên, trong khóa luận này, tôi tiếp cận khái niệm về hoạt động

học tập của tác giả Lê Văn Hồng (1998) đưa ra như sau: “Hoạt động học tập

là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác

là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới những phương thức hành

vi và hoạt động nhất định”

1.2.3 Tính tích cực học tập

Có nhiều quan điểm khác nhau về tính tích cực học tập

Theo Ô Kôn (1987) thì : “Tính tích cực là lòng ham muốn hành động đượcnảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặcbên trong của hoạt động” Và I.F.Kharlamôp (1979) cho rằng “Tính tích cựcnhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, đặc trưng bởi khát vọng họctập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững tri thức” Cácquan điểm trên cho ta thấy quá trình nhận thức trong học tập không phảinhằm phát hiện những điều mà loài người chưa biết, những gì mà nhân loạichưa khám phá ra mà là nhằm tái tạo lại tri thức loài người đã tìm ra và tíchlũy được thành tri thức của riêng mình Đó phải là hoạt động khám phá củangười học đối với những hiểu biết mới với họ Người học chỉ thực sự có đượctri thức và nắm vững nó bằng chính hoạt động của bản thân, trong đó phải cónhững cố gắng về mặt trí tuệ

tích cực nhận thức, ở đây xem “ Học tập là trường hợp riêng của sự nhậnthức, đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáoviên” hay tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự gắngsức cao về nhiều mặt trong hoạt động học tập Bởi vậy, khi nói đến tính tíchcực học tập thực sự là nói đến một dạng của tính tích cực nhận thức

Trang 33

 Quan điểm thứ ba: Các tác giả B.P.Êxipôp, Đặng Vũ Hoạt, NguyễnNgọc Bảo (2008) xem tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thểđối với khách thể thông qua việc huy động ở mức độ cao các chức năng tâm

lý nhằm giải quyết vấn đề học tập nhận thức Nó vừa là mục đích hoạt độngvừa là phương tiện, điều kiện đạt mục đích, vừa là kết quả của hoạt động

tính tích cực nhận thức là nhu cầu nhận thức và khả năng tự điều chỉnh hoạtđộng tìm kiếm, thái độ lựa chọn đối tượng, xác định mục đích, nhiệm vụ, cáchthức và hành động cải tạo đối tượng Một số nhà tâm lý học Việt nam chorằng tính tích cực là một phẩm chất nhân cách điển hình của con người, trong

đó các thành tố của tính tích cực là nhu cầu, hứng thú, động cơ, lý tưởng,niềm tin Như vậy, nội dung tính tích cực học tập được các tác giả nghiên cứusâu sắc và phát triển dần, ngày càng hoàn thiện hơn

Nghiên cứu này tiếp thu các quan điểm trên và đưa ra khái niệm về tính

tích cực học tập là: “Tính tích cực học tập là sự sẵn sàng của người học đối

với hoạt động học Tính tích cực học tập được nảy sinh từ chính nhu cầu, động lực của người học với học tập và được thể hiện thông qua hệ thống hành vi trong hoạt động học Bằng hoạt động và thông qua hoạt động tích cực, chủ động chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội, chiếm lĩnh tri thức khoa học dưới sự tổ chức và điều khiển của người dạy, người học dần hoàn thiện tri thức của bản thân, làm chủ được mình, làm chủ được xã hội.”

1.2.4 Khái niệm sinh viên

Theo từ điển Bách khoa thư – tiếng Nga, thuật ngữ “sinh viên” đượcbắt nguồn từ một từ gốc Latinh: “Students” với nghĩa là người làm việc, họctập, tìm hiểu, khai thác tri thức

Hiểu theo nghĩa thông thường thì “Sinh viên” là những người đang họctrong các trường Đại học, cao đẳng Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài

Trang 34

bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xãhội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học.

1.2.5 Tính tích cực học tập của sinh viên

Trên cơ sở khái niệm về tính tích cực và tính tích cực học tập trên,

nghiên cứu có khái niệm về tính tích cực học tập của sinh viên là: “Tính tích

cực học tập của sinh viên là sự sẵn sàng của sinh viên đối với hoạt động học Tính tích cực học tập của sinh viên được nảy sinh từ chính nhu cầu, động lực của sinh viên với học tập và được thể hiện thông qua hệ thống hành vi trong hoạt động học Bằng hoạt động và thông qua hoạt động tích cực, chủ động chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội, chiếm lĩnh tri thức khoa học dưới sự tổ chức và điều khiển của giảng viên, sinh viên dần hoàn thiện tri thức của bản thân, làm chủ được mình, làm chủ được xã hội.”

1.3 Tính tích cực học tập của sinh viên khoa Tâm lý - Giáo dục học

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý và hoạt động học của sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục học

Theo Giáo trình Tâm lý học phát triển của Dương Thị Diệu Hoa vàcộng sự (2015), bước sang giai đoạn sinh viên, giải phẫu và sinh lý lứa tuổi

đã trưởng thành và hoàn thiện Tính độc lập, chủ động, sáng tạo trong nhậnthức là phẩm chất tâm lý đặc trưng của sinh viên Phát triển xu hướng nhâncách cá nhân và xây dựng kịch bản đường đời là những nét đặc trưng của giaiđoạn này Xuất phát từ các định hướng giá trị khác nhau, mỗi sinh viên xâydựng cho mình một kịch bản riêng Chính vì vậy, động cơ học của sinh viên

có sự phân hóa và đa dạng hơn, nhằm thỏa mãn nhu cầu của riêng mình

Sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục học, trường Đại học Sư phạm HàNội trước hết mang đặc điểm tâm sinh lý của một sinh viên sư phạm Theo tácgiả Nguyễn Thị Ngọc Anh (2014) lao động sư phạm không nhằm mục đíchtạo ra giá trị vật chất nhưng sản phẩm lao động sư phạm chú ý đến hình thànhnhân cách và năng lực của người học Đối với nghề sư phạm, mục đích là

Trang 35

hình thành phẩm chất, năng lực của một người giáo viên Vì vậy, đặc điểmcủa sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội

có phần nào ảnh hưởng và có một thế giới quan khoa học, lòng yêu trẻ, tậntụy với công việc, lòng nhiệt tình, thái độ ân cần, chu đáo, vị tha

Bên cạnh đó, là sinh viên Tâm lý giáo dục cũng có những đặc thù riêng

Sư phạm tâm lý giáo dục giúp cho bản thân mỗi sinh viên trước tiên là nhậnthức về bản thân với những đặc điểm tâm lý, hiểu được bản chất các quá trìnhtâm lý và giáo dục trong sự hình thành và phát triển nhân cách Từ đó, sinhviên khoa Tâm lý giáo dục hiểu mình, hiểu người, biết đồng cảm, thông cảm,cởi mở trước những khác biệt của mỗi cá nhân

Nhằm giúp cho học sinh hình thành một nhân cách chuẩn mực, nhậnbiết được các quá trình phát triển tâm lý của bản thân, người giáo viên sưphạm tâm lý giáo dục cần sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, kết hợpnhưng phải tạo nên một sự thống nhất trong quá trình giáo dục Hệ thống trithức, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp và các dạng hoạt động được tổ chức phùhợp với từng lứa tuổi là những phương tiện cần thiết cho người giáo viên tâm

lý giáo dục

Chính vì những điều trên, đặc điểm tâm sinh lý và hoạt động học của sinhviên khoa Tâm lý giáo dục học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội có những yếu

tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập đến môn khoa học đặc thù này

1.3.2 Vai trò của tính tích cực học tập đối với sinh viên

cơ bản của nhân cách Một cá nhân chỉ được thừa nhận là một nhân cách khinào anh ta tích cực hoạt động trong những hình thức đa dạng của nó, nhờ vàoviệc nhận thức, cải tạo, sáng tạo ra thế giới và đồng thời cải tạo cả chínhh bảnthân mình Giá trị đích thực của nhân cách, chức năng xã hội và cốt cách làmngười của cá nhân thể hiện rõ nét ở tính tích cực của nhân cách Nói cáchkhác, tính tích cực là động lực chủ yếu tạo nên giá trị nhân cách cho mỗi cá

Trang 36

nhân, và tốc độ phát triển của các phẩm chất, năng lực của từng nhân cáchphụ thuộc vào sự gia tăng tính tích cực trong chính các cá nhân ấy.

Từ đó có thể khẳng định vai trò quan trọng của tính tích cực trong việctạo nên hiệu quả hoạt động của con người:

- Tính tích cực như một động lực thúc đẩy hoạt động của con người: Vìnguồn gốc, động lực của tính tích cực là nhu cầu, và bất cứ môt hoạt động nàocủa con người cũng đều hướng tới sự thỏa mãn một nhu cầu nào đó Khả năngthỏa mãn nhu cầu sẽ thúc đẩy con người tích cực hoạt động, điều khiển, điềuchỉnh hoạt động nhằm đạt mục đích xác định

- Tính tích cực góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quảcủa hoạt động Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng Đối tượng của hoạtđộng là cái mà ta tác động vào nhằm làm thay đổi hoặc chiếm lĩnh, trên cơ sở

đó tạo ra sản phẩm kép, cả về phía chủ thể và cả phía khách thể Sản phầmnày là biểu hiện của năng suất, chất lượng và hiệu quả của hoạt động Mức độ

về số lượng cũng như chất lượng của sản phẩm phụ thuộc phần lớn vào tínhtích cực hoạt động của chủ thể Nói cách khác, tính tích cực là yếu tố quyếtđịnh trực tiếp chất lượng và hiệu quả mọi hoạt động của cá nhân

- Tính tích cực là một nguồn gốc của sự sáng tạo Sáng tạo là một trongnhững biểu hiện cơ bản của bản năng và thiên tài Một sự phát minh, sáng chếtrong một lĩnh vực nhất định, xét cho đến cùng, là tổ hợp các năng lực đã đạttới tình độ phát triển cao, và sự lao động vất vả, căng thẳng, kiên trì, bên bỉ

Đó chính là khả năng là việc phi thhường và sự nỗ lực ý chí sắt đá nhằm đạtđược mục đích cuối cùng với chất lượng cao Những người có tài như thếđược gọi là nhân tài, là nền tảng tạo ra những thành công khác nhau cho đấtnước Tuy nhiên, để có được những điều đó, con người phải hoạt động tíchcực ở mức độ cao, có sự đầu tư về thời gian và sức lực, cũng như sự nỗ lực ýchí cao độ

Trang 37

- Tính tích cực là yếu độ giúp con người hướng tới sự thành đạt Mỗi cánhân đều có những quan niệm khác nhau về sự thành đạt Tuy nhiên, để cóđược sự thành đạt trên, mỗi cá nhan đều có những cách thức hoạt động nhấtđịnh, song có một điểm chung đó là sự tích cực hoạt động; nỗ lực cố gắngvượt qua mọi khó khăn trở ngại, vươn lên để khẳng định mình.

Có thể nói, tính tích cực là động lực chủ yếu tạo nên giá trị nhân cáchcho mỗi cá nhân, và tốc độ phát triển của các phẩm chất, năng lực của từngnhân cách phụ thuộc vào sự gia tăng tính tích cực trong chính cá nhân ấy

Đối với sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục học, tính tích cực học tập rấtquan trọng do: Thứ nhất, khoa Tâm lý – Giáo dục học, trường Đại học Sưphạm Hà Nội là một khoa nghiệp vụ, đào tạo sinh viên tốt nghiệp trở thànhgiảng viên đào tạo cho những giáo viên tương lai về nghiệp vụ sư phạm, lýluận giáo dục, phương pháp giảng dạy; hoặc chuyên viên tâm lý học trườnghọc trợ giúp tham vấn, tư vấn, phòng ngừa cho học sinh, giáo viên, phụhuynh Điều đó, đòi hỏi sinh viên cần được trang bị đầy đủ và thường xuyêncập nhật những thay đổi về tâm sinh lý của người học cũng như nghệ thuật sưphạm, phương pháp giáo dục Với tính tích cực học tập, SV khoa Tâm lý –Giáo dục học sẽ chủ động tiếp cận và cập nhật được nhiều nguồn thông tin:các vấn đề xã hội nổi cộm cần được nghiên cứu; công cụ đo lường, chẩnđoán; các nghiên cứu khoa học; phát hiện mới… nhằm nâng cao kiến thứccho bản thân cũng như khả năng ứng dụng khoa học vào chuyên môn Tuynhiên, xét đến thời điểm hiện tại, các tài liệu về Tâm lý – Giáo dục còn ít,chưa bắt kịp được xu thế và áp dụng toàn diện Hơn nữa, Tâm lý – Giáo dục

là ngành khoa học luôn cần sự đổi mới bởi chính vai trò của nó trong đời sốngcon người

Trang 38

1.3.3 Nguồn gốc của tính tích cực học tập của sinh viên

Bất kỳ hiện tượng nào trong cuộc sống đều có ý nghĩa thiết thực đối với

cá nhân đó N.F.Đôbrunhin đã vạch rõ tính chất biện chứng trong mối quan hệqua lại giữa ý nghĩa xã hội và ý nghĩa cá nhân, giữa ý nghĩa khách quan và ýnghĩa chủ quan Ý nghĩa khách quan của những quan hệ nào đó, khi đã trởthành ý nghĩa chủ quan của con người thì lúc đó chẳng những nó không bịyếu đi mà trái lại trở thành một nguồn quan trọng nhất thúc đẩy con ngườitích cực hoạt động – đó chính là nhu cầu của con người

Các nhà tâm lý học cũng cho rằng nguồn gốc của tính tích cực chính lànhu cầu Chính nhu cầu đã thúc đẩy con người ta hành động theo một cáchnhất định và một hướng nhất định Và cũng chính nhu cầu là sự kích thích bêntrong đầu tiên của bất cứ hoạt động nào C.Mác đã từng khẳng định rằng: Conngười sẽ chẳng làm gì cả nếu không có những nhu cầu của mình kích thíchhành động Khi nó kết hợp với ý thức sẽ tạo ra một động lực thúc đẩy hành vicủa con người Trong hoạt động, con người nảy sinh những như cầu cụ thể,rồi lại từ nhu cầu để tiến hành hoạt động tiếp theo nhằm đạt được mục đíchcuối cùng Vì vậy, nhu cầu không những biểu hiện vai trò quyết định các điềukiện bên ngoài và các điều kiện bên trong, mà còn biểu hiện vai trò của tínhsáng tạo, của ý thức trong hoạt động của con người

Về vấn đề này Ph.Ăngghen viết: “Hoạt động lịch sử cơ bản nhất củacon người, hoạt động nâng con người từ trạng thái đng vật sang trạng thái conngười, hoạt động của con người chính là sự sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầusống của con người”

Nhu cầu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của con người đối vớihoàn cảnh, là đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại

và phát triển Ngoài những nhu cầu vật chất, còn có những nhhu cầu tinh thần

và xã hội muôn màu muôn vẻ thúc đẩy con người hoạt động Tính tích cực

Trang 39

của nhân cách thể hiện trong quá trình thỏa mãn các nhu cầu của nó Cũngchính ở đây, ta thấy có sự khác nhau giữa các hình thức của tính tích cực củacon người với của động vật Các nhu cầu của con người được hình thànhtrong quá trình giáo dục, tức là trong quá trình tiếp nhận thế giới văn hóa củaloài người Nhu cầu của con người đòi hỏi con người ấy với tư cách là mộtnhân cách, phải có một quá trình nắm được những cách thức hoạt động đãđược hình thành trong lịch sử Vì thế mà ở con người quá trình thỏa mãn cácnhu cầu được coi là một quá trình tích cực có mục đích trong đó con ngườilàm chủ được những hình thức hoạt động do sự phát triển xã hội quy định.

Abraham Maslow (1908 – 1970) là nhà Tâm lý học nổi tiếng, cha đẻcủa Tâm lý học nhân văn và là tác giả của Tháp nhu cầu – giải thích các nhucầu cơ bản của con người để hướng đến một cuộc sống khỏe mạnh về thể chất

và tinh thần Các nhu cầu của Maslow đưa ra được hiểu rằng nhu cầu có ảnhhưởng tới tính tích cực học tập Và nguồn gốc của tính tích cực nảy sinh từ hệthống nhu cầu của con người Maslow giải thích “bản chất của con người”bằng một mô hình thứ bậc gầm 5 phần: Nhu cầu sinh lý; Nhu cầu an toàn;Nhu cầu xã hội; Nhu cầu được tôn trọng và Nhu cầu tự khẳng định mình Ônggợi ý rằng có những nhu cầu phổ quát, giống như bản năng mà tất thảy mọingười đều phấn đấu để được thoả mãn Gần như tất cả các hoạt động của conngười đều có thể được nhìn nhận từ góc độ những nhu cầu này Chính vì vậy,động lực để SV có thể tích cực học tập là để thỏa mãn các nhu cầu: được nuôidưỡng; được người khác tôn trọng; được xã hội thừa nhận, ủng hộ; có nănglực, tự trọng, tiếp thu kiến thức và phát huy hết tiềm năng của bản thân Nếunhu cầu không được thoả mãn, SV sẽ cảm thấy: bứt rứt, ngán ngẩm, thiếu sứcsống, thấy đời vô nghĩa, tẻ ngắt và không có mục đích, từ đó có xu hướng lẩntránh và trở nên “vật vờ” Ngược lại, nếu nhu cầu được thoả mãn, SV sẽ cảmthấy mong muốn tăng trưởng và phát triển theo hướng có giá trị cao hơn, trởnên sáng tạo, tích cực và năng động, khao khát vô tư được góp phần hữu ích,

Trang 40

đặc biệt là có xu hướng tò mò, cởi mở đối với những kinh nghiệm mới, khátkhao nghĩ cho mình để ngày càng nhận rõ bản sắc.

Theo Deci & Ryan, để có động lực (motivation) có nghĩa là được di chuyển (move) để làm một cái gì đó Do đó, một người cảm thấy không có sự

thúc đẩy hoặc cảm hứng để hành động sẽ không có động lực trong khi mộtngười có năng lượng hoặc được kích hoạt đến cuối cùng được coi là có độnglực Hầu hết mọi người làm việc hoặc chơi với người khác có liên quan đếnđộng lực, động lực từ người khác, chính họ, và để diễn ra lâu dài cần đến sựbồi dưỡng động lực đó với những người xung quanh họ Hầu hết các lý thuyết

về động lực phản ánh những mối quan tâm này bằng cách xem động lực làmột hiện tượng thay đổi từ ít đến nhiều

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho thấy động lực hầu như khôngphải là đơn nhất Mỗi cá nhân không chỉ có số lượng khác nhau, mà còn cócác loại động lực khác nhau Nghĩa là, chúng không chỉ khác nhau về mức độđộng lực (tức là, bao nhiêu động lực), mà còn ở định hướng của động lực đó(tức là, loại động lực nào) Định hướng động lực liên quan đến các thái độ vàmục tiêu cơ bản làm phát sinh hành động, từ đó đưa ra nguyên nhân hànhđộng Ví dụ, một học sinh có thể có động lực cao để làm bài tập về nhà vì tò

mò và thích thú Tuy nhiên, học sinh cũng có thể làm bài tập về nhà vì muốn

có được sự khen thưởng của giáo viên hoặc phụ huynh Lúc này, học sinh cóthể được thúc đẩy để học một nhóm kỹ năng mới do hiểu được lợi ích các kỹnăng sẽ mang lại để dành điểm cao Trong các ví dụ này, lượng động lựckhông nhất thiết phải thay đổi, nhưng bản chất và trọng tâm của động lựcđược chứng minh chắc chắn là có

1.3.4 Cấu trúc của tính tích cực học tập

Theo khái niệm mà khóa luận này đưa ra, cấu trúc của tính tích cực họctập bao gồm:

Ngày đăng: 10/07/2019, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Hữu Long (1995), “Công nghệ dạy học – Định nghĩa và mô hình tổng quát”, Tạp chí ĐH và GDCN (số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ dạy học – Định nghĩa và mô hìnhtổng quát
Tác giả: Nguyễn Hữu Long
Năm: 1995
13. Phan Trọng Luận (1975), “Về khái niệm học sinh làm trung tâm”, Tạp chí TT Khoa học giáo dục (số 48) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm học sinh làm trung tâm
Tác giả: Phan Trọng Luận
Năm: 1975
16. Nguyễn Xuân Thức (2005), “Bàn về khái niệm tính tích cực trong Tâm lý học”, Tạp chí Tâm lý học, Số 01, tr. 64 - 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khái niệm tính tích cực trong Tâm lýhọc
Tác giả: Nguyễn Xuân Thức
Năm: 2005
17. Nguyễn Thị Tình (2009), “Một số biểu hiện cơ bản về tính tích cực giảng dạy của giảng viên các trường đại học”, Tạp chí Tâm lý học, Số 2, tr.31 - 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biểu hiện cơ bản về tính tích cực giảng dạycủa giảng viên các trường đại học
Tác giả: Nguyễn Thị Tình
Năm: 2009
18. Nguyễn Cảnh Toàn (1998), “Soạn bài dạy trên lớp theo tinh thần dẫn dắt học sinh sáng tạo, tự dành lấy kiến thức”, Tạp chí NCGD (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soạn bài dạy trên lớp theo tinh thần dẫn dắthọc sinh sáng tạo, tự dành lấy kiến thức
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Năm: 1998
1. Trần Lan Anh (2009), Những yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực học tập của SV đại học, LV Thạc sĩ Tâm lí học Khác
2. Nguyễn Ngọc Anh (2014), Định hướng sư phạm của sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
3. Lê Khánh Bằng (1995), Nội dung dạy học với vấn đề tổ chức quá trình dạy học ở PTTH (Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1993 – 1996 cho giáo viên PTTH), Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ giáo viên Khác
4. Đổ Thị Coỏng (2004): Nghiên cứu TTC học tập môn tâm lí học của SV Đại học Sư phạm Hải Phòng,LA TS Tâm lí học Khác
5. Phạm Minh Hạc (1996), Tuyển tập J.Piaget, NXB Giáo dục Hà Nội Khác
6. Dương Thị Diệu Hoa, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Kế Hào, Phan Trọng Ngọ, Đỗ Thị Hạnh Phúc. (2015). Giáo trình Tâm lí học phát triển. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Khác
7. BS Trần Bá Hoành, Phó Đức Hòa (2003): Áp dụng dạy và học tích cực trong môn tâm lý giáo dục học: Tài liệu dùng cho giảng viên sư phạm môn tâm lý giáo dục học, NXB ĐH SPHN Khác
8. Đặng Vũ Hoạt (2008): Bài giảng chuyên đề về tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh. Giáo trình xêmina về lí luận dạy học, Trường ĐHSPHN, lưu hành nội bộ Khác
9. Lê Văn Hồng (chủ biên) (1998), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội Khác
10. Đào Hương Lan (2000): Nghiên cứu sự tự đánh giá thái độ học tập môn toán của SV Cao đẳng sư phạm Hà Nội, Luận án TS Tâm lí Khác
11. Nguyễn Thu Hường (2005), Đại học Sư phạm Hà Nội, Tìm hiểu TTC trong học tập của SV đối với môn học, Đề tài NCKH đạt giải SV Nghiên cứu khoa học cấp Bộ Khác
14. Nguyễn Thạc (chủ biên)1992, Tâm lý học sư phạm đại học, Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội Khác
15. Nguyễn Quý Thanh (2007), Nhận thức, thái độvà thực hành của SV với phương pháp học tích cực”, Đề tài NCKH cấp ĐHQGHN Khác
19. Phạm Văn Tuân (2011), Tìm hiểu tính tích cực học tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên hệ đại học trường Đại học Trà Vinh, LV Thạc sĩ Tâm lý học Khác
20. Phan Thị Diệu Vân (1964), Làm cho học sinh tích cực , chủ động và độc lập, sáng tạo trong giờ lên lớp, Nội san tâm lý giáo dục, ĐHSP Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w