Bệnh viêm mũi xoang cấp là tình trạng viêm của lớp niêm mạc lót trong mũi xoang, có thể viêm một hay nhiều xoang, gây đau nhức vùng sọ mặt ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng học tập và lao
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Mũi là cửa ngõ của đường hô hấp, có chức năng sinh lý rất quan trọng là làm ấm, làm ẩm và lọc sạch không khí để thở Ngoài ra mũi còn đảm nhận chức năng khứu giác và đóng vai trò như một hòm cộng minh, cộng hưởng trong phát âm Khi mũi bị viêm, tất cả các chức năng sinh lý này ít nhiều bị ảnh hưởng không có lợi cho sức khoẻ con người [8]
Viêm mũi thường đi kèm với viêm xoang, là một trong những bệnh hay gặp trong chuyên khoa Tai Mũi Họng, bệnh có thể gặp có thể gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới với nhiều thể lâm sàng khác nhau và có thể gây nhiều biến chứng tới những bộ phận xung quanh [3], [8]
Bệnh viêm mũi xoang cấp là tình trạng viêm của lớp niêm mạc lót trong mũi xoang, có thể viêm một hay nhiều xoang, gây đau nhức vùng sọ mặt ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng học tập và lao động, có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm cho tính mạng người bệnh
Ở nước ta bệnh viêm mũi xoang chiếm tỉ lệ 2 – 5% dân số nói chung và
có xu hướng tăng lên Theo thống kê của Viện Tai Mũi Họng Trung Ương trong
5 năm tổng số các bệnh nhân đến khám trong giai đoạn chuyển mùa thì viêm mũi xoang cấp chiếm gần 87% Trên thế giới, bệnh viêm mũi xoang cấp có tỷ lệ mắc khá cao, tại châu Âu ước tính có khoảng 5% dân số mắc bệnh viêm mũi xoang [1],[2], [6]
Viêm mũi xoang cấp tính là bệnh phổ biến gặp ở mọi lứa tuổi, hay gặp ở trẻ em
Ở thành thị mắc cao hơn so với nông thôn
Tỷ lệ mắc bệnh không có sự khác biệt giữa nam và nữ
Viêm mũi xoang cấp thường được gây ra bởi cảm lạnh thông thường, thời tiết thay đổi môi trường sống bị ô nhiễm…
Viêm mũi xoang cấp có thể bị gây ra bởi: - Nhiễm vi rút Hầu hết các trường hợp viêm mũi xoang cấp khởi đầu do cảm lạnh thông thường [1]
Trang 2Yếu tố khởi phát thường gặp nhất là bệnh viêm mũi họng cấp, nguyên nhân khác gây nên bao gồm vi khuẩn, dị ứng và nhiễm nấm Viêm mũi xoang dai dẳng có thể dẫn viêm mũi xoang mạn tính và các biến chứng khác Điều trị viêm xoang cấp tính phụ thuộc vào nguyên nhân Hiện nay, với sự phát triển của chụp cắt lớp vi tính và kỹ thuật nội soi Tai Mũi Họng việc chẩn đoán bệnh viêm mũi xoang đã được cải thiện chính xác hơn Chính vì vậy em thực hiện chuyên
đề viêm mũi xoang cấp tính với mục tiêu:
1 Vận dụng được những kiến thức về giải phẫu sinh lý và bệnh học mũi xoang trong chẩn đoán và điều trị viêm mũi xoang cấp tính
2 Chẩn đoán và điều trị được bệnh viêm mũi xoang cấp tính
3 Nhận thức được bệnh viêm mũi xoang cấp tính rất thường gặp và có thể gây ra các biến chứng ảnh hưởng dén sức khoẻ và đời sống
Trang 3NỘI DUNG
1 Sơ lược giải phẫu và sinh lý mũi xoang
1.1 Giải phẫu mũi xoang
1.1.1 Mũi: Gồm có tháp mũi và hố mũi
1.1.1.1 Tháp mũi:
Ở giữa mặt, giống như một cái tháp rỗng để đứng
Gồm có: Hai xương chính mũi hình chữ nhật nằm ở hai bên rễ mũi và hình thành vòm hố mũi Sụn tam giác tiếp nối xương chính mũi và sụn cánh mũi cuốn quanh cửa mũi Tháp mũi được bao phủ bên ngoài bởi lớp da và cơ cánh mũi 1.1.1.2 Hố mũi:
Là hai ống dẹt nằm song song với nhau ở giữa mặt Hai ống cách nhau bởi vách ngăn Lỗ trước hình tam giác gọi là cửa mũi trước, lỗ sau có hình trái soan gọi là cửa mũi sau Trong hố mũi có các cuốn mũi: cuốn trên, cuốn giữa và cuốn dưới
Các cuốn tạo với thành ngoài hố mũi các khe: khe trên có lỗ thông với xoang sau, khe giữa có lỗ thông với nhóm xoang trước, khe dưới có ống lệ tỵ Toàn bộ hố mũi được lót bởi một lớp niêm mạc đặc biệt, liên tiếp với niêm mạc xoang, trong đó có tế bào lông chuyển
Phần trước của hố mũi sát cạnh cửa mũi trước gọi là tiền đình mũi, ở đây không có niêm mạc mà chỉ có da và lông mũi
Hình 1 Tháp mũi [1] Hình 2 Cửa mũi [1]
1 Sụn cánh mũi
2 Sụn tam giác
3 Xương chính mũi
1 Sụn tứ giác
2 - 4 Lỗ mũi
3 Tiểu trụ
Trang 41.1.1.3 Mạch máu hố mũi
Ở mũi có nhiều mạch máu thuộc hệ thống động mạch cảnh trong và hệ thống động mạch cảnh ngoài
- Hệ thống động mạch cảnh trong: gồm có hai động mạch sàng trước và động mạch sàng sau đều xuất phát từ động mạch mắt Động mạch sàng trước to hơn động mạch sàng sau qua ống sàng, vào hốc mũi chia làm hai nhánh: nhánh trong tưới máu cho phần trước trong của vách ngăn; nhánh ngoài tưới máu cho thành ngoài của hốc mũi
Hình 3 Sơ đồ mạch máu hốc mũi [1]
- Hệ thống động mạch cảnh ngoài:
Động mạch bướm - khẩu cái vào hốc mũi qua lỗ bướm khẩu cái và chia làm hai nhánh: bướm khẩu cái ngoài tưới máu cho thành ngoài hốc mũi; bướm khẩu cái trong tưới máu cho vách ngăn
Động mạch khẩu cái lên: qua ống khẩu cái sau vào phần sau hàm ếch nuôi dưỡng niêm mạc hàm ếch rồi lại chui vào lỗ khẩu cái trước vào hốc mũi tưới máu cho phần dưới ngoài vách ngăn và phần tiền đình mũi
Tất cả các nhánh mạch máu (phần nuôi dưỡng vách ngăn) đến tận cùng nối với nhau thành một đám rối mau mạch gọi là điểm mạch Kisselbach (gọi tắt là điểm mạch)
1 Động mạch bướm khẩu cái
2 Nhánh mũi ngoài của động mạch sàng sau
3 Nhánh mũi ngoài của động mạch sàng trước
4 Điểm mạch Kisselbach
5 Động mạch khẩu cái
Trang 5Các tĩnh mạch chạy kèm theo động mạch và đổ vào tĩnh mạch mắt, tĩnh mạch mặt, tĩnh mạch chân bướm
1.1.1 4 Thần kinh
Ở mũi có hai loại dây thần kinh: thần kinh cảm giác và thần kinh khứu giác Khứu giác: dây thần kinh I giữ chức năng ngửi, nó bắt đầu từ tế bào thần
nên gọi là điểm vàng
Cảm giác: chi phối bởi nhánh mắt và nhánh hàm của dây thần kinh V Thần kinh giao cảm: giữ vai trò rất quan trọng trong bệnh học mũi - xoang, đặc biệt trong điều hòa vận mạch của mũi, chủ yếu ở tổ chức cương ở cuốn dưới Hệ giao cảm có nguồn gốc từ hạch bướm - khẩu cái
1.1.2 Xoang
Xoang là những hốc rỗng của xương mặt và xương sọ, gồm có 5 đôi và được xếp thành 2 nhóm: Xoang trước và xoang sau tùy theo vị trí và mỗi xoang
có một lỗ thông với hố mũi
Nhóm xoang trước có: xoang hàm, xoang trán, xoang sàng trước, dẫn lưu vào phía trước của khe giữa, vào trong hoặc gần phễu sàng, dưới chỗ bám của cuốn mũi giữa
Nhóm xoang sau có: xoang sàng sau và xoang bướm dẫn lưu vào khe trên, trên chỗ bám của cuốn mũi giữa
Xoang hàm và xoang sàng có ngay khi sinh, trong khi đó xoang bướm và xoang trán xuất hiện vào thời kỳ thứ hai tới thời kỳ thứ ba của cuộc sống Thông thường các xoang phát triển hoàn chỉnh vào lúc 18 tuổi
Trang 6Hình 4: Sơ đồ các xoang cạnh mũi (Thiết đồ đứng ngang) [10]
Xoang hàm: Thường có ngay từ lúc mới sinh Xoang hàm có hình tháp
nằm ở trong xương hàm trên Nó có ba mặt, một nền và một đỉnh: mặt trên là sàn của hố mắt; mặt trước là hố nanh; mặt sau nhìn vào hố chân bướm - hàm; nền của tháp là thành ngoài của hố mũi (vách mũi - xoang); đỉnh của tháp ở về phía xương
gò má Xoang hàm ăn thông với hố mũi qua một lỗ nhỏ gọi là ostium và đổ ra khe giữa
Xoang trán: Xoang trán giống hình tháp dựng đứng trong xương trán Nó có
ba mặt và một nền: mặt trước có vị trí tương ứng vùng rễ lông mày; mặt sau là lớp trong của xương sọ có liên quan đến màng não và não; mặt trong là vách ngăn cách biệt hai xoang trán; nền của xoang trán gồm hai phần (phần ngoài liên hệ với hố mắt, phần trong thấp hơn và dính liền với phễu trán) Xoang trán ăn thông với mũi qua ống mũi - trán, ống này đi từ phễu trán, xuyên qua các tế bào xoang sàng trước và đổ vào khe giữa
Xoang sàng: Là xoang phát triển nhất khi sinh Hệ thống xoang sàng có
khoảng một chục hốc nhỏ gọi là các tế bào sàng, ở giữa hố mắt và hố mũi Các
tế bào này nằm trong hai khối bên của xương sàng Mỗi khối có hình hộp chữ nhật sáu mặt: mặt ngoài giáp với hố mắt (xương giấy); mặt trong với hố mũi; mặt trên với nền sọ; mặt dưới với khe giữa; mặt trước với xương chính mũi; mặt
1 Xoang hàm
2 Hố mắt
3 Vách ngăn mũi
4 Xoang sàng trước
5 Xoang trán
Trang 7sau với xoang bướm.
Xoang sàng chia ra làm hai phần: xoang sàng trước ăn thông với khe giữa, xoang sàng sau ăn thông với khe trên
Xoang bướm: Là một cái hốc rỗng nằm trong thân xương bướm Xoang
bướm giáp: phía trước với xoang sàng sau; phía sau với mảnh nền của xương chẩm; phía trên với tuyến yên, với giao thoa thần kinh thị giác; phía trước với nóc vòm; phía ngoài với xoang hang, với ống thị giác; phía trong với vách ngăn của xoang bướm Lỗ thông của xoang này ở phía trước và đổ ra khe trên
Hình 5: Sơ đồ các xoang cạnh mũi (Thiết đồ đứng dọc) [10]
1.2 Chức năng sinh lý mũi xoang
1.2.1 Mũi
Thở: mũi được coi là cửa ngõ của đường thở Nhờ cuốn dưới, hệ thống
mạch máu, các tuyến và tế bào lông chuyển nên không khí qua mũi được sưởi
ấm, làm ẩm và lọc sạch trước khi vào phổi Cuốn dưới có tính chất cương nên
niêm mạc sản sinh các thực bào và dịch thể miễn dịch Nó hoạt động như một hệ thống bảo vệ chống lại các kháng nguyên khi hệ thống lông - nhày không loại trừ được
Như vậy niêm mạc mũi giữ vai trò rất quan trọng để bảo vệ đường hô hấp
và đảm bảo tốt chức năng sinh lý hô hấp nhờ hệ thống lông - nhày và hệ thống tế bào dưới niêm mạc của nó
Ngửi: Để ngửi được, luồng không khí phải đến được vùng ngửi, không bị
1 Xoang trán
2 Xoang sàng
3 Não
4 Xoang bướm
5 Cuốn mũi dưới
Trang 8các u, lệch hình, dính ở hốc mũi cản trở Các chất có mùi phải hòa tan được trong dịch nhày phủ trên các tế bào thần kinh cảm giác thì mới tạo được kích thích tới dây thần kinh khứu giác
Các bít tắc ở hốc mũi làm cho luồng khí không đi được tới vùng ngửi; gây giảm, mất ngửi Các tổn thương tế bào thần kinh cảm giác ở nóc hốc mũi, tổn thương dây thần kinh khứu giác và các nhân thần kinh ở não sẽ gây mất ngửi
Phát âm: mũi còn đóng vai trò phát âm tạo ra âm sắc và độ vang của tiếng
âm sắc được gọi là giọng mũi kín [7]
1.2.2 Xoang
Niêm mạc của các xoang cũng là niêm mạc của đường hô hấp trên, cũng có cấu tạo giống niêm mạc mũi Gồm có các tế bào lông chuyển và các tế bào tiết, tạo thành hệ thống lông – nhày để phối hợp và hỗ trợ cho hoạt động của mũi Biểu mô lót trong mũi và các xoang cạnh mũi là biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển có tuyến chế tiết nhầy Sự chuyển động của các lông trên bề mặt tế bào lông trong các xoang theo hướng đồng tâm, tâm điểm là lỗ thông mũi – xoang
Sinh lý của xoang dựa vào sự lưu thông không khí và dẫn lưu nhờ các lỗ thông Nếu lỗ thông tắc, xoang lâm vào tình trạng bệnh lý
Sự vận chuyển niêm dịch của mũi xoang bao gồm hai quá trình: trong xoang và ngoài xoang Tất cả các niêm dịch của mũi xoang đều được vận chuyển tới cửa mũi sau, rồi xuống họng
Khi mũi xoang bị viêm sẽ gây bít tắc, phù nề, tắc nghẽn lỗ thông xoang tạo ra sự kém thông khí ở các xoang, làm cản trở sự thông khí và dẫn lưu xoang, làm thay đổi áp lực không khí trong xoang, rối loạn hoạt động sinh lý của niêm mạc xoang Khi chức năng lông chuyển bị rối loạn, lớp phủ nhầy không hoạt động bình thường, yếu tố đề kháng tại chỗ bị giảm Lỗ thông bị tắc, chất tiết bị ứ lại Ban đầu có sự gia tăng thoáng qua của áp suất trong mũi theo sau áp suất âm trong mũi là hậu quả của sự giảm oxy xoang Sự thở qua mũi giảm là kết quả của nhiều yếu tố gây phù niêm mạc và giảm oxy Hắt hơi, sổ mũi, và chảy mũi
Trang 9có thể đi vào trong xoang và lần nữa sự ứ đọng chất tiết xảy ra Chức năng lông chuyển bị giảm
Chức năng ngửi và phát âm chưa được xác định rõ, nhưng thấy rằng khi viêm xoang sàng sau cũng có thể giảm hoặc mất ngửi
Việc phát âm được vang và to là do các hốc rỗng trong khối xương mặt ở quanh hốc mũi, các xoang đặc biệt là xoang trán và xoang hàm[8], [9], [11]
2 Nguyên nhân
2.1 Nhiễm khuẩn
Chủ yếu do virut hoặc thứ phát sau các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên như cúm, sởi, thuỷ đậu, bạch hầu…hoặc sau các bệnh như viêm Amyđan, viêm VA quá phát, viêm lợi, viêm răng (đặc biệt là các răng 4,5,6, hàm trên liên quan mật thiết với xoang hàm gây viêm xoang hàm)
2.2 Dị ứng
Hay gặp ở những người có cơ địa dị ứng với các dị nguyên như bụi nhà, phấn hoa, đồ ăn Do niêm mạc mũi xoang quá mẫn cảm với các yếu tố kích thích, hơn nữa mũi xoang là cửa ngõ của đường hô hấp Dị ứng và nhiễm khuẩn
có liên quan mật thiết với nhau (vi khuẩn có thể là một kháng nguyên hay ngược lại, sau dị ứng là sự bội nhiễm của vi khuẩn)
2.3 Chấn thương
Các chấn thương cơ học, do hoả khí gặp trong tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt làm vỡ xoang hay tụ máu trong xoang đều có thể gây viêm xoang Ngoài ra, các chấn thương về áp lực như thay đổi áp suất trong quá trình du lịch bằng máy bay, bơi lội hoặc lặn có thể xuất huyết, phù nề niêm mạc rồi gây ra viêm xoang
Ngoài các nguyên nhân cơ bản trên, người ta còn thấy các yếu tố thuận lợi sau:
Yếu tố lý hoá học: do tiếp xúc với các loại bụi, hoá chất, hơi độc.
Yếu tố tại chỗ: những cấu tạo bất thường của mũi xoang như xoang quá
rộng, quá hẹp, vẹo vách ngăn, gai mũi, cuốn mũi quá phát, dị hình khe giữa, dị
Trang 10hình xoang, các khối u trong xoang và hốc mũi hoặc nhét mechè mũi lâu ngày… làm cản trở sự dẫn lưu và thông khí của xoang
Yếu tố toàn thân: ở những người bị suy nhược toàn thân, rối loạn nội tiết
như tiểu đường, rối loạn vận mạch, rối loạn về nước và điện giải, những người có bệnh mạn tính như lao, viêm phế quản…dễ bị viêm xoang [1], [3], [7]
3 Triệu chứng
3.1 Triệu chứng lâm sàng
Viêm mũi xoang cấp tính là viêm niêm mạc mũi xoang thường nguyên phát
do virus hoặc thứ phát sau các bệnh truyền nhiễm như: cúm, sởi, thuỷ đậu, bạch hầu còn gặp sau viêm amyđan, V.A cấp, viêm mũi cấp Có thể viêm một xoang đơn độc: viêm xoang hàm cấp do răng Nhưng thường gặp là viêm nhiều xoang vì các xoang đều thông với nhau qua hốc mũi
3.1.1.Triệu chứng toàn thân
Bệnh nhân có thể sốt nhẹ, kém ăn, suy nhược, mệt mỏi…
3.1.2 Triệu chứng cơ năng
Đau đầu là triệu chứng nổi bật: đau có tính chất chu kỳ, thường đau nhiều vào buổi sáng, ngoài cơn đau bệnh nhân chỉ cảm thấy nặng đầu Vị trí đau tương ứng với xoang viêm (những cơn đau có giờ rõ rệt thường là viêm xoang trán, ngoài cơn đau bệnh nhân chỉ thấy nặng đầu, nhức đầu nhiều ở vùng chẩm phải nghĩ đến viêm xoang sau)
Chảy mủ mũi: đặc, nhày, mùi tanh, chảy cả hai bên nhưng chảy nhiều bên xoang viêm Chảy ra cả cửa mũi trước và cửa mũi sau Mủ có khi lẫn ít máu tươi
do bệnh nhân xì mạnh làm vỡ mao mạch mũi
Tắc mũi: thường tắc cả hai bên mũi nhưng tắc nhiều hơn bên xoang viêm
3.1.3 Triệu chứng thực thể
Ấn điểm đau tương ứng xoang viêm, bệnh nhân rất đau:
Điểm hố nanh trong viêm xoang hàm
Điểm Ewing (đầu trong cung mày) trong viêm xoang trán
Trang 11Điểm Grunwald (bờ trong - trên hố mắt) trong viêm xoang sàng trước Khám nội soi: Phương pháp nội soi mũi là cần thiết và có giá trị để xác định viêm mũi xoang cấp tính
Soi mũi trước: niêm mạc mũi xung huyết toàn bộ, cuốn mũi to, nề, đỏ Sau khi đặt thuốc co mạch thấy khe giữa có mủ đây là triệu chứng rất có giá trị trong chẩn đoán viêm nhóm xoang trước cấp
Soi mũi sau: mủ chảy từ khe trên qua của mũi sau xuống thành sau họng (viêm nhóm xoang sau)
Hình 6a Hình ảnh nội soi mũi Hình 6b Hình ảnh nội soi mũi trong viêm xoang trước cấp [7] trong viêm xoang sau cấp [2]
3.2 Triệu chứng cận lâm sàng
Xét nghiệm máu: bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao
X quang: Chụp phim Blondeau, phim Hirtz: Trong viêm xoang sẽ có hình ảnh
mờ đều các xoang viêm Tuy nhiên khi đã sử dụng kháng sinh, thuốc chống viêm, hình ảnh viêm xoang cấp trên phim không còn điển hình
Chụp CT Scanner: Là phương pháp được lựa chọn trong chẩn đoán viêm mũi xoang, trong một số trường hợp giúp chẩn đoán nguyên nhân viêm xoang (do răng, nấm)….[2], [3]
Dải mủ chảy từ khe giữa xuống 1 Cửa mũi sau
2 Vách ngăn
3 Dải mủ chảy từ khe trên xuống