Bên cạnh đó, các em gặp phải các khó khăn trong học tập, trong các mối quan hệ xã hội, có nhiều vướng mắc trong giao tiếp ứng xử với bạn bè, thầy cô, gia đình,..Những điều này có thể dẫn
Trang 1Em chân thành cảm ơn cô giáo – ThS Đặng Thị Huyền Oanh người đã hướng dẫn cho em trong suốt thời gian thực hiện khoá luận.
Mặc dù cô bận với rất nhiều công việc nhưng không ngần ngại chỉ dẫn
em, định hướng đi cho em, để em hoàn thành tốt nhiệm vụ Một lần nữa em chân thành cảm ơn cô và chúc cô dồi dào sức khoẻ.
Xin cảm ơn tất cả thầy cô, ban giám hiệu của trường Đại học Sư Phạm và trường THCS Lê Quý Đôn Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, dìu dắt em trong suốt những tháng ngày được thực tập, tạo điều kiện em hoàn thiện khoá luận này.
Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên nội dung của khoá luận không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô góp ý hoàn thiện để khoá luận hoàn thiện hơn.
Một lần nữa xin gửi đến cô Đặng Thị Huyền Oanh, quý thầy cô tận tình giúp đỡ em.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Ngọc Anh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
Chương I : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.Các khái niệm công cụ 5
1.1 Mô hình 5
1.2 Học sinh 5
1.3 Trung học cơ sở 5
1.4 Công tác xã hội 6
3.Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 7
3.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái 7
3.2 Lý thuyết Nhu cầu 9
4 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh THCS 12
4.1 Đặc điểm về sinh lí 13
4.2 Đặc điểm cảm xúc học sinh THCS 14
4.3 Đặc điểm xã hội 15
4.4- Sự phát triển ý thức học sinh THCS 16
5 Đặc điểm trường nghiên cứu 17
CHƯƠNG 2 : CÁC VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP ĐỐI VỚI HỌC SINH TẠI TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN 18
1.Thực trạng các vấn khó khăn đối với học sinh trường THCS Lê Qúy Đôn 18
2.1.1 Khó khăn trong học tập, định hướng tương lai 19
2.1.2 Khó khăn trong mối quan hệ xã hội 23
2.1.3.Khó khăn từ phía bản thân học sinh 29
2.2 Cách ứng phó của học sinh khi gặp khó khăn 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG II : 34
Trang 4CHƯƠNG III : MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TẠI TRƯỜNG HỌC TẠI
TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN 35
3.1 Nhu cầu hoạt động phòng CTXH học sinh 35
3.4 Lượng giá và kết thúc nhóm 66
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC
ĐỀ CƯƠNG PHỎNG VẤN SÂU
Trang 5Học sinh THCS là lứa tuổi dễ bị tổn thương, tác động bởi môi trường sống xung quanh Giai đoạn này các em phải đối mặt với nhiều “khủng hoảng” đầu đời, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các điều kiện văn hóa, giáo dục, kinh tế của gia đình, nhà trường và xã hội, gặp nhiều khó khăn, áp lực trong học hành, thi cử cũng như định hướng nghề nghiệp cho tương lai.
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, số lượng học sinh chán học, lười học chiếm tỷ lệ không nhỏ trong các trường học khiến cho việc học hành ngày càng
sa sút Bên cạnh đó, các em gặp phải các khó khăn trong học tập, trong các mối quan hệ xã hội, có nhiều vướng mắc trong giao tiếp ứng xử với bạn bè, thầy cô, gia đình, Những điều này có thể dẫn đến các vấn đề như rối nhiễu cảm xúc (lo
âu, trầm cảm, tức giận, ), rối nhiễu hành vi (chống đối xã hội, bạo lực học đường,…), nghiện game, sử dụng chất gây nghiện, có thai tuổi vị thành niên, bỏ học, tự tử,…Do đó, cần có một giải pháp phòng ngừa về mặt lâu dài cũng như các can thiệp kịp thời để các em lấy lại cân bằng và tự giải quyết vấn đề của chính mình.
Trong trường học đã có nhiều hoạt động trợ giúp học sinh được triển khai như tư vấn, hoạt động tổ nhóm, câu lạc bộ Tuy nhiên, những hoạt động trợ giúp chưa đáp ứng được nhu cầu của học sinh ở loại hình dịch vụ, mức độ chuyên nghiệp và sự dễ dàng trong tiếp cận Nhân lực làm công tác xã hội trong trường học còn thiếu, bên cạnh đó, nguồn lực để thực hiện hoạt động này còn gặp nhiều
Trang 6khó khăn Hơn cả vấn đề như : bạo lực học đường , khủng hoảng, thiếu kĩ năng sống, học sinh bị xâm hại… vẫn còn tồn tại dẫn đến sự việc đáng tiếc xảy ra và ngày một nghiêm trọng hơn Chính vì thế , việc xây dựng mô hình công tác xã hội trường học trở nên hết sức cần thiết.
Thực tế các nước trên thế giới cho thấy công tác xã hội trong trường học đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề trên Ở Việt Nam, công tác xã hội đã và đang trên đà phát triển và dường như vẫn còn thiếu vắng một mạng lưới cơ sở cung cấp các dịch vụ công tác xã hội trong trường học nhằm giải quyết hiệu quả các vấn đề trên Trong khuôn khổ khóa luận này, người
viết lựa chọn đề tài:”Đề xuất mô hình hoạt động công tác xã hội trường học đối với học sinh tại trường THCS Lê Quý Đôn ”nhằm tìm hiểu, đánh giá thực
trạng nhu cầu, cũng như thử nghiệm một số vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trường học.
2.Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích nhận diện các vấn đề khó khăn mà học sinh THCS hiện đang gặp phải mà nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu đó đặc biệt là các em lứa tuổi thiếu niên rất dễ bị ảnh hưởng bới môi trường sống xung quanh và sự thay đổi về mặt thể chất, tinh thần Bên cạnh đó cũng tìm hiểu nhu cầu cần có CTXH trong trường học trong việc trợ giúp học sinh gặp khó khăn để mang đến cho các em cuộc sống và môi trường học tốt đẹp, thân thiện hơn.
3 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3.1 – Đối tượng nghiên cứu
Học sinh trường THCS Lê Quý Đôn.
3.2 – Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là học sinh các khối 6, 7, 8, 9 tại trường THCS Lê Quý Đôn, đây là nhóm đối tượng chính mà đề tài hướng tới Ngoài ra khác thể nghiên cứu còn có phụ huynh, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, cán bộ làm việc ở nhà trường Từ đó tìm hiểu về nhu cầu CTXH trường học nhằm hỗ trợ đáp ứng nhu cầu về tâm lí, kĩ năng và phát triển khả năng của các em.
Trang 73.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: tháng 1/2019 đến tháng 5/2019
Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại trường Trường THCS Lê Quý Đôn.
3.4 Địa bàn nghiên cứu
- Trường THCS Lê Quý Đôn, A2 đường Hàm Nghi, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
4 Giả thuyết nghiên cứu
-Tìm hiểu các vấn đề gặp phải gặp phải của học sinh, khó khăn mà học sinh THCS đang gặp phải là các khó khăn trong mối quan hệ bạn bè, trong định hướng tư duy suy nghĩ và các em thiếu kĩ năng.
- Phát hiện những nhu cầu của học sinh trong việc giải quyết những mâu thuẫn , vấn đề mà các em đang gặp phải từ đó đưa ra các hình thức để giúp đỡ học sinh.
-Đề xuất hoạt động CTXH đối với học sinh tại trường THCS Lê Quý Đ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng các vấn đề khó khăn trong học đường mà học sinh THCS đang gặp phải
-Tìm hiểu nhu cầu của học sinh , sự thiếu hụt trong việc trợ giúp và vai trò
sự trợ giúp của nhân viên CTXH trong trường học như : công tác tham vấn tư vấn, hoàn thiện hệ thống trợ giúp học sinh có hoàn cảnh khó khan/hoàn cảnh yếu thế, công tác tư vấn hướng nghiệp…
- Đưa ra các mô hình trong việc giúp đỡ học sinh tại trường THCS Lê Qúy Đôn.
- Đề xuất các hoạt động hỗ trợ CTXH trường học tại trường THCS Lê Quý Đôn.
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tài liệu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tài liệu sẵn có: các nghiên cứu, sách báo, các số liệu liên quan đến việc đánh giá nhu cầu công tác xã hội trong trường học Các nghiên cứu liên quan đến các hoạt động, vai trò của nhân viên CTXH trong trường học; các mô hình CTXH trên thế giới.
Trang 8Phương pháp thảo luận nhóm
Nghiên cứu sử dung phương pháp thảo luận nhóm nhằm tìm hiểu các vấn
đề khó khăn trong học đường của học sinh THCS Từ đó làm cơ sở cho việc thiết
kế bảng hỏi để đi sâu tìm hiểu, đánh giá nhu cầu cần sự trợ giúp của nhân viên CTXH trong trường học Bên cạnh đó, các buổi thảo luận nhóm cũng được triển khai sau khi bảng hỏi được phát ra nhằm kiểm chứng lại nguồn thông tin thu được từ bảng hỏi đồng thời nhằm đi sâu, làm rõ thêm một số vấn đề chưa được thể hiện rõ trong bảng hỏi.
Phương pháp phỏng vấn sâu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm mục đích bổ sung, tìm hiểu sâu hơn về những thông tin mà người nghiên cứu quan tâm nhưng còn thiếu hay chưa có được những thông tin cụ thể, chi tiết trong quá trình thực hiện các phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và thảo luận nhóm.
Phương pháp thu thập thông tin thông qua phiếu trưng cầu ý kiến
Sau tiến hành thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu với vai trò là nhân viên CTXH trường học, người nghiên cứu tiến hành thiết kế bảng hỏi nhằm thu thập thông tin về thực trạng, nhu cầu cần sự trợ giúp của CTXH.
Phương pháp quan sát
Trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, nghiên cứu sử dụng phương pháp quan sát nhằm mục đích thu thập thêm thông tin khách quan của khách thể nghiên cứu, mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong quá trình học tập, mối quan hệ bạn bè của học sinh, thái độ, hành vi của học sinh trong các giờ học,
Câu hỏi nghiên cứu
- Các vấn đề gặp phải đối với học sinh tại trường THCS Lê Quý Đôn?
- Nhu cầu mong muốn hỗ trợ CTXH trường học là như thế nào?
- Hoạt động CTXH trường học trong việc hỗ trợ giải quyết các vấn đề gặp phải đối với học sinh trường THCS Lê Quý Đôn?
Trang 9Chương I : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1 Các khái niệm công cụ
1.1 Mô hình
-Mô hình là công cụ giúp ta thể hiện một sự vật, hiện tượng, quá trình… nào đó, phục vụ cho hoạt động học tập, nghiên cứu, sản xuất và các sinh hoạt
tinh thần của con người (Nguồn : từ điển Wiktionary)
-Có thể còn những định nghĩa khác, song với định nghĩa trên mô hình là thứ quá quen thuộc đối với mỗi chúng ta Ngay từ thuở trẻ con với cục đất xét trong tay, bằng nhận xét cùng với trí tưởng tượng phong phú chúng ta đã tạo ra biết bao mô hình để chơi như máy bay, xe tăng, ô tô, đình chùa, trâu bò… Đi học càng lên lớp cao hơn chúng ta lại càng tiếp xúc nhiều hơn với các loại mô hình.
Nó có thể là công thức, đồ thị, bảng biểu, sơ đồ, vật dụng thí nghiệm, thậm chí cả một dây chuyền sản xuất cùng với nguyên vật liệu và sản phẩm
1.2 Học sinh
Học sinh hay học trò là những thiếu niên hoặc thiếu nhi trong độ tuổi đi học (6-18 tuổi) đang học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông Học sinh là đối tượng cần sự giáo dục của cả gia đình và nhà trường,
vì vậy thông thường học sinh được tạo điều kiện đi học ở gần nhà Học sinh rất
dễ bị tác động bởi các hiện tượng xã hội, vì vậy rất cần thiết sự theo dõi, định hướng, giáo dục từ gia đình và nhà trường (Nguồn : từ điển Wiktionary)
1.3 Trung học cơ sở
Trung học cơ sở là một bậc trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam, còn được gọi là cấp II, trên Tiểu học và dướiTrung học phổ thông Trung học cơ sở kéo dài
4 năm (từ lớp 6 đến lớp 9) Thông thường, độ tuổi học sinh ở trường trung học
cơ sở là từ 11 tuổi đến 15 tuổi Trước đây, để tốt nghiệp trung học cơ sở, học sinh phải vượt qua một kỳ thi tốt nghiệp vào cuối lớp 9 nhưng kể từ năm học 2005-2006 thì kỳ thi đã chính thức bị bãi bỏ.Nhưng từ năm 2006-nay thì kỳ thi
đã được tiến hành lại (Nguồn : từ điển Wiktionary)
Trang 10Trường Trung học cơ sở được bố trí tại từng xã, phường, thị trấn Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn có một số xã không có trường Trung học cơ
sở Đó thường là các xã ở vùng sâu, vùng xa hoặc hải đảo Theo quy định trong Luật Ngân sách Nhà nước, đầu tư xây dựng trường Trung học cơ sở cũng như trường Tiểu học thuộc trách nhiệm của chính quyền cấp quận, huyện.
Học sinh THCS trong nhà trường được học các môn văn hóa theo
kế hoạch bộ Giáo dục đào tạo : Toán học, Văn học ,Lịch sử, Địa lí, GDCD,……
1.4 Công tác xã hội
“Công tác xã hội là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó” [3]
(Nguồn: Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ - NASW, 1970)
"Nghề CTXH thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và CTXH là các nguyên tắc căn bản của nghề" [3]
(Nguồn: Định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7 /2000 tại Montréal, Canada (IFSW)
Công tác xã hội trong trường học được hiểu là: “Các dịch vụ công tác xã hội trường học được cung cấp trong môi trường của một cơ quan giáo dục bởi các nhân viên công tác xã hội trường học được chứng nhận hoặc được cấp phép Chuyên ngành CTXH này hướng tới sự giúp đỡ học sinh tạo nên những điều chỉnh phù hợp và phối hợp cũng như tạo ảnh hưởng đối với những nỗ lực của nhà trường, gia đình và cộng đồng để đạt tới mục tiêu này”[3]
(Nguồn: Những tiêu chuẩn của Hiệp hội NVCTXH quốc gia - Hoa Kỳ về
Trang 11các dịch vụ CTXH trường học, 2002)
Trang 123.Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
3.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái
Thuyết hệ thống CTXH bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalaffy Lý thuyết này dựa trên quan điểm sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu
cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và đồng thời bản thân các tiểu hệ thống cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Người có công đưa lí thuyết hệ thống áp dụng vào thực tiễn CTXH phải kể đến công lao của Pincus và Minahan cùng các đồng sự khác Tiếp đến là Germain và Giterman Những nhà khoa học trên đã góp phần phát triển và hoàn thiện thuyết Hệ thống trong thực hành CTXH trên toàn thế giới.
Trong CTXH có hai loại thuyết hệ thống nổi bật được đề cập đến là thuyết
hệ thống tổng quát và thuyết hệ thống sinh thái Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng lý thuyết hệ thống sinh thái - một lý thuyết được vận dụng nhiều trong CTXH Đại diện của lý thuyết này là Hearn, Siporin, Germain & Gitterman Thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh vào sự tương tác của con người với môi trường sinh thái của mình Sự can thiệp tại bất cứ điểm nào trong hệ thống cũng
sẽ ảnh hưởng hoặc tạo ra sự thay đổi trong toàn bộ hệ thống Vì thế, NV thân chủ H cần sáng tạo khi lập kế hoạch với thân chủ, tạo ra những ảnh hưởng cho những hệ thống liên quan, hướng đến việc hỗ trợ một cách hiệu quả nhất.
“Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất” Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống (Tiểu hệ thống là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ), các tiểu hệ thống được phân biệt với nhau bởi các ranh giới) đồng thời hệ thống đó cũng là một bộ phận của hệ thống lớn hơn.
Bản thân mỗi cá nhân cũng là một hệ thống và hệ thống (cá nhân) đó bao gồm nhiều tiểu hệ thống như: hệ thống sinh lý, hệ thống nhận thức, hệ thống tình cảm, hành động và các hệ thống phản ứng… Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu các đặc điểm về sinh lý, nhận thức, tình cảm cũng như như tâm tư nguyện vọng của các
cá nhân trong nhóm như một hệ thống Từ đó có thể đưa ra các phương pháp trợ giúp phù hợp với từng thân chủ.
Trang 13Hệ thống mà NVCTXH làm việc là những hệ thống rất đa dạng: gia đình, cộng đồng, hệ thống xã hội, môi trường văn hoá mà con người tồn tại Tuy nhiên
hệ thống được phân thành 3 hình thức chính sau đây:
Hệ thống phi chính thức: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…
Hệ thống chính thức: Nhóm cộng đồng, tổ chức đoàn thể, cơ quan…
Hệ thống xã hội: các tổ chức xã hội, bệnh viện, trường học…
Trong lý thuyết hệ thống cần lưu ý đến một số khái niệm cơ bản, cũng là
cơ chế hoạt động của hệ thống.
Tương tác: Sự tác động qua lại giữa các thành phần tạo nên các nhân hay giữa các cá nhân và các thành phần khác trong hệ thống Tác động qua lại này có thể tiêu cực hoặc tích cực và ảnh hưởng đến an sinh của cá nhân Đây cũng là một trong những nhiệm vụ chính mà NVXH cần lưu ý khi làm việc với nhóm.
Nguyên liệu: là năng lượng, thông tin, truyền thông, sự hỗ trợ của các nguồn tài nguyên mà cá nhân nhận được từ môi trường
Sản phẩm: là năng lượng, thông tin, truyền thông, sự hỗ trợ của các nhân dành cho môi trường[24]
Các hệ thống luôn có sự tác động lên các cá nhân Có thể đó là sự tác động tiêu cực hoặc tích cực Bên cạnh đó không phải tất cả mọi người đều có khả năng tiếp cận sự hỗ trợ như nhau về nguồn lực có từ các hệ thống tồn tại xung quanh Như vậy, mỗi cá nhân chịu sự tác động khác nhau từ các hệ thống
mà họ tồn tại Đối với học sinh trong trường học cũng vậy, mỗi học sinh đều chịu tác động của nhiều hệ thống khác nhau.
Thuyết hệ thống được sử dụng rộng rãi trong CTXH nói chung cũng như CTXH trong trường học nói riêng vì thuyết này giúp cho NVCTXH hiểu được mỗi cá nhân là một hệ thống của các yếu tố tương tác với nhau Bên cạnh đó, để
cá nhân có thể phát triển, cần có những tương tác với những hệ thống khác bên ngoài Các cá nhân thường xuyên có những nhu cầu luôn thay đổi để đạt được mục đích, mục tiêu và duy trì sự cân bằng, ổn định Vì vậy mỗi cá nhân cần huy động nguồn lực hỗ trợ từ các hệ thống để đáp ứng nhu cầu.
Trang 14Nhân viên CTXH trong trường học cũng là một trong những hệ thống thường xuyên tương tác với học sinh nhằm tìm hiểu những khó khăn mà học sinh đang gặp phải để đưa ra các cách thức trợ giúp phù hợp, bên cạnh đó hệ thống nhà còn đóng vai trò kết nối các hệ thống dịch vụ cung cấp cho thân chủ khi có nhu cầu.
Tóm lại, nghiên cứu sử dụng thuyết hệ thống để xem xét mối tương tác giữa thân chủ với các cá nhân các cũng như các hệ thống nguồn lực xung quanh thân chủ Từ đó có những định hướng cho việc can thiệp Lí thuyết nhìn nhận được những khó khăn, vướng mắc của học sinh, từ đó đưa ra những giải pháp, áp dụng nhu cầu CTXH trong việc giải quyết các khó khăn, vướng mắc của học sinh, những điều bất trắc khiến các em cảm thấy chưa thoải mái , từ đó đề xuất
mô hình CTXH.
3.2 Lý thuyết Nhu cầu
Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mỹ, được thế giới biết đến như là nhà tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology) bởi hệ thống lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người Ngay từ sau khi ra đời, lý thuyết này có tầm ảnh hưởng khá rộng rãi và được ứng dụng ở rất nhiều lĩnh vực khoa học
Abraham Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự
Trang 15ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau:
– Bậc 1 Những nhu cầu về sinh lí:
Là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất đảm bảo cho con người tồn tại Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu cầu sinh lý, bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như: ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,… Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất.
– Bậc 2 Những nhu cầu về an ninh và an toàn:
Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức là các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ
có nhu cầu cao hơn Đó là những nhu cầu về an toàn, không bị đe dọa về tài sản, công việc, sức khỏe, tính mạng và gia đình…
Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ,…
Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở,…Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng là do nhu cầu an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần.
– Bậc 3 Những nhu cầu về xã hội:
là những nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, mong muốn được tham gia vào một tổ chức hay một đoàn thể nào đó Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận Con
Trang 16người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển.
– Bậc 4 Những nhu cầu được đánh giá và tôn trọng:
Theo A.Maslow, khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng Nhu cầu loại này dẫn tới sự thỏa mãn như: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin.
Đây là mong muốn của con người khi nhận được sự chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắt xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội Việc họ được tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành người hữu dụng theo một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng công” Vì thế, con người thường có mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn trọng và kính nể
– Bậc 5 Những nhu cầu về sự hoàn thiện:
Là những nhu cầu về chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, mong muốn phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ… Thuyết nhu cầu của A.Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung Việc sắp xếp nhu cầu theo thang bậc từ thấp đến cao cho thấy độ “dã man” của con người giảm dần và độ “văn minh” của con người tăng dần.
Chúng ta có thể thấy nhiều người xung quanh mình, khi đã đi đến đoạn cuối của sự nghiệp thì lại luôn hối tiếc vì mình đã không được làm việc đúng như khả năng, mong ước của mình Hoặc có nhiều trường hợp, một người đang giữ một vị trí lương cao trong một công ty, lại vẫn dứt áo
ra đi vì muốn thực hiện các công việc mà mình mong muốn, cái công việc mà Maslow đã nói “born to do”.Đó chính là việc đi tìm kiếm các cách thức mà năng lực, trí tuệ, khả năng của mình được phát huy và mình cảm thấy hài lòng về nó.
Trang 17Loài ngừời là những sinh vật có suy nghĩ, với bộ não phức tạp đòi hỏi có kích thích tư duy Chúng ta bị thúc đẩy bởi nhu cầu mạnh mẽ về nhận thức muốn biết quá khứ của mình để hiểu biết những bí ẩn của cuộc sống hiện tại, và để đoán trước được tương lai Sức mạnh của các nhu cầu này giúp học giả và các nhà khoa học cống hiến cuộc đời mình cho các cuộc truy tìm kiến thức mới
Tại đỉnh của hệ thứ bậc là những con người được nuôi dưỡng, che chở, được yêu thương và yêu thương, được yên tâm, được tư duy và sáng tạo Những con người này đã chuyển động vượt ra ngoài những nhu cầu
cơ bản của con người để tìm kiếm sự phát huy đầy đủ tiềm năng của mình, còn gọi là sự ý thức đầy đủ về bản thân Một con người có ý thức đầy đủ về mình, tự nhận thức được mình, tự chấp nhận , thì nhiệt tình với
xã hội, có tính sáng tạo, không gò bó, sẵn sàng tiếp nhận cái mới và sẵn sàng chấp nhận thử thách – không kể các phẩm chất tích cực khác.
Nhu cầu về sự hoàn thiện là nhu cầu quan trọng nhất vì các em luôn mong muốn hiểu về bản thân, được chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, được lắng nghe thấu hiểu chia sẻ để các em lớn lên toàn diện
cả về thể chất lẫn tinh thần Nhu cầu này sẽ được thể hiện rõ qua việc nghiên cứu tâm sinh lí học sinh THCS ở chương II.
Áp dụng lí thuyết nhu cầu vào công tác xã hội để thấy những nhu cầu của các em học sinh theo thang bậc, từ đó thấy được những khó khăn
mà các em gặp phải theo thang bậc nhu cầu Nhân viên CTXH học đường phải luôn nhận thức rằng, các em học sinh cần được hỗ trợ để phát triển
và đạt được những nhu cầu cao hơn Không chỉ dừng ở mức thoả mãn nhu cầu về vật chất mà còn phải tập trung giúp đỡ trẻ có những nhu cầu cao hơn về tinh thần để sống có ích và lành mạnh, cũng như thành công trong học tập và tương lai Nhân viên CTXH học đường cần cung cấp thêm thông tin, kiến thức, kỹ năng,…và liên kết các nguồn lực cũng như
tư vấn cho phụ huynh và nhà trường trong việc đáp ứng nhu cầu của các
em vì một số nhu cầu các em không thể tự mình đạt được Nhân viên
Trang 18CTXH học đường lắng nghe học sinh để hiểu các nhu cầu của các em, giúp các em tìm thấy thế mạnh, tính cách cá nhân, khả năng của bản thân phát huy được tiềm năng nhằm sử dụng chúng phục vụ cho việc thoả mãn nhu cầu và vượt lên bậc thang nhu cầu.Bên cạnh đó, nhân viên CTXH học đường cần giúp kết hợp các nguồn lực để giúp học sinh phát triển cá nhân và học hỏi, hoàn thiện bản thân mình bao gồm những cơ hội giúp các em có điều kiện để nâng cao năng lực cá nhân, năng lực tinh thần, trí tuệ biến khả năng của mình thành hiện thực, bộc lộ ở phát triển tối đa tiềm năng của bản thân [20,21]
4 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh THCS
Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này.
4.1 Đặc điểm về sinh lí
a Sự phát triển cơ thể của thiếu niên diễn ra mạnh mẻ nhưng không cân đối.
Sự hoạt động tổng hợp của các tuyến nội tiết quan trọng nhất (tuyến yên, tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận) tạo ra nhiều thay đổi trong cơ thể trẻ, trong
đó sự nhảy vọt về chiều cao và sự phát dục
- Chiều cao của các em tăng lên một cách đột ngột, hằng năm có thể tăng
từ 5 - 6 cm; Trọng lượng cơ thể hằng năm tăng từ 2,4 - 6 kg; tăng vòng ngực…là những yếu tố đặc biệt trong sự phát triển thể chất của trẻ.
- Ở giai đoạn dưới 14 tuổi vẫn còn có các đốt sụn hoàn toàn giữa các đốt xương sống, nên cột sống dễ bị cong vẹo khi đứng ngồi không đúng tư thế.
- Sự tăng khối lượng các bắp thịt và lực của cơ bắp diễn ra mạnh nhất vào cuối thời kì dậy thì khiến các em khỏe ra rõ rệt Tuy nhiên, sự phát triển cơ của các em trai khác biệt nhất định báo hiệu sự hình thành ở các em những nét khác biệt về cơ thể : con trai cao lên, vai rộng ra, con gái tròn trặn dần, xương chậu rộng ra
Sự phát triển cơ thể diễn ra không cân đối làm cho các em lúng túng, vụng
Trang 19về, “lóng ngóng”.
- Xương chân và tay chóng dài nhưng cơ phát triển chậm hơn và lồng ngực phát triển chậm, nên đầu tuổi thiếu niên thường có thân hình dài, hơi gầy
và ít nhiều không cân đối.
- Sự phát triển của hệ tim - mạch cũng không cân đối : thể tích tim tăng nhanh, hoạt động mạnh hơn nhưng đường kính phát triển chậm hơn Điều này gây nên rối loạn tạm thời của hệ tuần hoàn máu.
b Hoạt động thần kinh cấp cao của tuổi thiếu niên cũng có những nét riêng biệt.
- Ở tuổi thiếu niên, quá trình hưng phấn chiếm ưu thế rõ rệt, dẫn đến thiếu niên không làm chủ được cảm xúc của mình, không kiềm chế được xúc động mạnh Các em dễ bị kích động, dễ bực tức, cáu gắt, mất bình tĩnh…
- Ở tuổi thiếu niên, phản xạ có điều kiện đối với những tính hiệu trực tiếp được hình thành nhanh hơn những phản xạ có điều kiện đối với những tính hiệu
từ ngữ Do vậy, ngôn ngữ của trẻ cũng thay đổi Các em nói chậm hơn, hay
“nhát gừng”, “cộc lốc”…
c Hiện tượng dậy thì
Sự trưởng thành về mặt sinh dục là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển cơ thể của thể thiếu niên Tuyến sinh dục bắt đầu hoạt động và cơ thể các
em xuất hiện những dấu hiệu phụ khiến chúng ta nhận ra các em đang ở độ tuổi dậy thì.
Biểu hiện bên ngoài chủ yếu của sự chín muồi của các cơ quan sinh dục ở các em trai là sự xuất tinh, ở các em gái là hiện tượng thấy kinh Tuổi dậy thì của các em nữ thường vào khoảng 12 - 14 tuổi, các em nam bắt đầu và kết thúc chậm hơn các em gái khoảng 1,5 - 2 năm.
Sự phát dục cùng với những chuyển biến trong sự phát triển cơ thể của thiếu niên có một ý nghĩa không nhỏ trong sự nảy sinh những cấu tạo tâm lý mới : Cảm giác về tính người lớn thực sự của mình ; cảm giác về tình cảm giới tính mới lạ, quan tâm tới người khác giới.
4.2 Đặc điểm cảm xúc học sinh THCS
Trang 20Khi nghiên cứu tâm lý của học sinh THCS để thấy những khó khăn mà các em gặp phải Những khó khăn này có thể xem là những “rối nhiễu” nhẹ, tạm thời, các em hoàn toàn có thể vượt qua nếu có nhận thức đúng đắn, sự cố gắng điều chỉnh cùng sự giúp đỡ của gia đình, nhà trường và bạn bè Tuy nhiên, nếu những khó khăn này kéo dài, không được giải quyết sẽ gây ra cho các em những khó khăn lớn hơn.
Khó khăn cảm xúc ở tuổi thiếu niên được biểu hiện rất đa dạng, phong phú Đó là những cảm xúc bối rối, mất tự tin, buồn chán, hụt hẫng, không kềm chế được cảm xúc,… Những khó khăn này do biến động tâm sinh lý đặc trưng của lứa tuổi gây ra.
Khi bước vào tuổi dậy thì, những thay đổi bất ngờ về tâm, sinh lý khiến thiếu niên cảm thấy mặc cảm về ngoại hình, thường tỏ ra rụt rè trong giao tiếp, ngại tiếp xúc với bạn bè xung quanh, bối rối trong việc xử lý những vướng mắc của mình Từ đó, các em trở nên không hài lòng với bản thân, chán ghét chính mình và rơi những cảm xúc tiêu cực Nếu trạng thái này diễn ra thường xuyên, thiếu niên có thể rơi vào trạng thái stress Đây cũng là nền tảng của những chứng bệnh tâm lý khác nặng hơn như trầm cảm hay lệch lạc giới tính tuổi dậy thì,…
Những khó khăn cảm xúc lớn nhất xuất phát từ sự đỗ vỡ trong các mối quan hệ bạn bè, trẻ cảm thấy đơn độc, không thể hòa nhập được với tập thể lớp, bạn bè xung quanh.
Mặt khác, những đặc điểm về thần kinh khiến cho các em có những “rối nhiễu” về cảm xúc, dễ kích động và không có khả năng kềm chế cảm xúc.
4.3 Đặc điểm xã hội
Vị thế của thiếu niên trong xã hội: Thiếu niên có những quyền
hạn và trách nhiệm xã hội lớn hơn so với HS tiểu học: 14 tuổi các em đuợc làm chứng mình thư Cùng với học tập, HS THCS tham gia nhiều hoạt động xã hội phong phú: giáo dục các em nhỏ; giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt si, gia đình có công với cách mạng; tham gia các hoạt động tập thể chống tệ nạn xã hội; làm tình nguyện viên; vệ sinh trường lớp, đường phố Điều này giúp cho HS THCS mở rộng các quan hệ xã
Trang 21hội, kinh nghiệm sống thêm phong phú, ý thức xã hội được năng cao.
Vị thế của thiếu niên trong gia đình: Thiếu niên được thừa nhận
là một thành viên tích cực trong gia đình, được giao một số nhiệm vụ như: chăm sóc em nhỏ, nấu ăn, dọn dep Ở những gia đình khó khăn, các em đã tham gia lao động thực sự, góp phần thu nhập cho gia đình HS THCS được cha mẹ trao đổi, bàn bạc một số công việc trong nhà Các em quan tâm đến việc xây dựng và bảo vệ uy tín gia đình Nhìn chung, các
em ý thức được vị thế mới của mình trong gia đình và thực hiện một cách tích cực Tuy nhiên, đa số thiếu niên vẫn còn đi học, các em vẫn phụ thuộc vào cha mẹ về kinh tế, giáo dục Điều này tạo ra hoàn cảnh có tính hai mặt trong đời sống của thiếu niên trong gia đình.
Vị thế của thiếu niên trong nhà trưởng THCS: Vị thế của HS
THCS hơn hẳn vị thế của HS tiểu học HS THCS ít phụ thuộc vào giáo
viên hơn so với nhi đồng Các em học tập theo phân nhóm Mỗi nhóm học do một giáo viên đảm nhiệm Mỗi giáo viên có yêu cầu khác nhau đối với HS, có trình độ, tay nghề, phẩm chất sư phạm và có phong cách giảng dạy riêng đòi hỏi HS THCS phải thích ứng với những yêu cầu mới của các giáo viên Sự thay đổi này có thể tạo ra những khó khăn nhất định cho HS nhưng lại là yếu tố khách quan để các em dần có được phương thức nhận thức người khác.
4.4- Sự phát triển ý thức học sinh THCS
Khác với học sinh nhỏ, thiếu niên có nhu cầu tìm hiểu, nhận xét, đánh giá
về những đặc điểm của bản thân Từ đó, tìm ra những ưu khuyết điểm của mình Trên cơ sở đó mà thể hiện sự hài lòng hay không hài lòng với bản thân Sự đánh giá này có thể theo hai hướng: Một là đánh giá đúng những đặc điểm của các
em, chấp nhận những thiếu sót và cố gắng điều chỉnh nó Hai là đánh giá không đúng: đánh giá quá thấp hoặc quá cao bản thân, từ đó dẫn đến những khó khăn nhất định trong giao tiếp với bạn bè Những em đánh giá thấp bản thân thường thấy mình không có ưu điểm gì, còn những em luôn đánh giá cao bản thân thì lại thường thấy mình giỏi hơn các bạn Nhìn chung, thiếu niên thường có xu hướng
Trang 22tự đánh giá mình cao hơn so với hiện thực, các em thích thổi phồng những khả năng của mình, thích chứng tỏ trước bạn bè.
Để chứng tỏ với bạn bè, thiếu niên thường tỏ ra bướng bỉnh ngang tàng, thậm chí là có những hành động nguy hiểm mà các em hay nhầm lẫn là gan dạ, dũng cảm Cũng xuất phát từ đặc điểm này, các em hay ngưỡng mộ và thích kết giao với những bạn có tính cách mạnh mẽ, “anh hùng” Chính những suy nghĩ nông nổi và những đánh giá không đúng đó mà các quyết định của thiếu niên ít dẫn đến thành công, những thất bại nho nhỏ, những xích mích vụn vặt cũng có thể làm các em thất vọng, chán nản, dễ dẫn đến những hành vi nông nổi.
Song song với những đặc điểm trên, một điểm hạn chế nữa ở tuổi thiếu niên là các em không nhận diện được những cảm xúc bản thân và nguyên nhân của nó Một phần là do các em chưa được trang bị những kỹ năng cần thiết về vấn đề này.
Bên cạnh khả năng tự đánh giá, thiếu niên thường đánh giá người khác và bạn bè Khả năng này thường đầy đủ và chính xác hơn khả năng tự đánh giá Thiếu niên đánh giá bạn cả về hình thức lẫn những phẩm chất bên trong.Các
em càng không thể làm bạn thay đổi nhận thức, tình cảm, hành vi theo mong muốn của mình – mục đích của giao tiếp với bạn.
5 Đặc điểm trường nghiên cứu
Trường THCS Lê Quý Đôn đi vào hoạt động năm 2009- 2010 phát triển theo mô hình trường chất lượng cao, tăng cường Tiếng Anh Gồm các mô hình lớp: lớp chọn Tiếng Anh chất lượng cao, lớp chọn Toán chất lượng cao và lớp chất lượng cao Với mục tiêu đào tạo toàn diện và hướng học sinh đến sự phát triển về mọi mặt Trường có 100% giáo viên người Việt đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, đều có bằng tốt nghiệp đại học và trên đại học Giáo viên tiếng Anh nước ngoài là người bản ngữ, có đầy đủ bằng cấp và giấy phép giảng dạy tại Việt Nam, có trình độ chuyên môn cao và nghiệp vụ sư phạm tốt Ngoài ra, nhà trường còn cộng tác với nhóm giáo viên chuyên gia người Việt,
là những giáo viên giỏi đến từ các trường THPT chuyên trên địa bàn Hà Nội.
Trang 23Bên cạnh đó, với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp có trách nhiệm nghề nghiệp cao, nhà trường đảm bảo sự phục vụ tối ưu tới các quý vị PHHS và chăm sóc tốt cho các học sinh.
-Hệ thống trường Lê Quý Đôn được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đầy
đủ, hiện đại và đồng bộ, cung cấp cho học sinh sự tiện nghi trong học tập và vui chơi giải trí.
Như vậy, để thực hiện tốt nhiêm vụ công tác xã hội học đường, người NVXH học đường cần phải có vài năm kinh nghiệm làm việc với trẻ em và gia đình Đồng thời, họ cũng cần được tạo điều kiện để tiếp cận được với một hệ thống hỗ trợ cần thiết tại nhà trường và cộng đồng Đây là trường hợp lý tưởng ở các nước đã hình thành và phát triển hệ thống an sinh xã hội Việt Nam ta cũng cần phải bắt đầu xây dựng hệ thống hỗ trợ này nếu muốn hoạt động công tác xã hội được hiệu quả.
Trang 24CHƯƠNG 2 : CÁC VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP ĐỐI VỚI HỌC
SINH TẠI TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN.
1.Thực trạng các vấn khó khăn đối với học sinh trường THCS Lê Qúy Đôn
Khi bước vào lứa tuổi THCS, đặc biệt đối với các học sinh từ mới chuyển cấp 1 lên cấp 2, các em hầu hết có những khó khăn nhất định, từ môi trường được coi là trẻ thơ và được an ủi vỗ về trong vòng tay của cha mẹ , thầy cô, các em dần lớn lên trưởng thành và khôn lớn, vững vàng trên con đường những năm tháng tới trường Đối với học sinh lớp 7,8 là thời điểm các em có những thay đổi về tâm sinh
lí rõ rệt , những biến đổi nhanh về sinh lí, tâm lí khiến học sinh cũng gặp không ít những trở ngại trong cuộc sống cũng như học tập Bên cạnh đó, các em lớp 9 lại bước sang thời kì chuyển cấp, nhất là môi trường dân lập được đề cao quá trình học Tiếng Anh , các em có những mối lo trên con đường lựa chọn tương lai, chọn ngôi trường tiếp tục những năm tháng cấp 3 ở Việt Nam hoặc đi du học Khi được khảo sát học sinh các khối lớp, tôi đưa ra 3 khó khăn chính như sau :
1.Khó khăn từ phía bản thân học sinh
2.Khó khăn trong học tập và định hướng tương lai.
3.Khó khăn trong các mối quan hệ trong nhà trường và xã hội.
Trong phần này, người nghiên cứu tập trung nghiên cứu mức độ, tần suất gặp các vấn đề khó khăn của học sinh Trên mỗi nhóm khó khăn, sẽ tìm hiểu những khó khăn cụ thể nào mà hoc sinh hay gặp nhất Bên cạnh đó, người nghiên cứu cũng phân tích, so sánh mức độ gặp khó khăn của học sinh trường THCS Lê Quý Đôn cũng như sự khác biệt dưới góc độ giới tính và độ tuổi Trước khi đi vào phân tích cụ thể từng nhóm khó khăn, kết quả nghiên cứu ở Bảng 1 sẽ cho chúng ta thấy các nhóm khó khăn mà học sinh trường THCS Lê Quý Đôn thường gặp phải:
1 Nhóm khó khăn từ phía bản thân học sinh 2,12
2 Nhóm khó khăn trong học tập, định hướng tương lai 3,51
3 Nhóm khó khăn trong các mối quan hệ nhà trường và xã hội 1,68
Bảng 1: Nhóm khó khăn mà học sinh trường Lê Quý Đôn gặp phải
Trang 25Nhìn vào bảng 1 chúng ta thấy nhóm khó khăn học tập, định hướng tương lai là nhóm học sinh chiếm số điểm TB cao nhất Trong môi trường, các em phải rất cố gắng hoàn thành tốt các môn học theo hệ chương trình nâng cao và hơn cả
số buổi học Tiếng Anh cũng được tăng cường hơn so với các trường khác Nhóm khó khăn trong học tập và định hướng tương lai cao vì các bạn lớp 9 đang trong quá trình chuyển cấp, các bạn đang suy nghĩ về con đường tương lai của mình theo nhiều hướng khác nhau, vừa phù hợp với mong muốn và định hướng của gia đình Bên cạnh đó, các em học sinh gặp khó khăn nhiều nhất từ phía học tập, hướng nghiệp bởi vì hoạt động chủ đạo của học sinh THCS là học tập và định hướng con đường tương lai, đặc biệt ở cấp học THPT Các em học sinh dành nhiều thời gian và công sức cho hoạt động học tập, chính vì thế hai hoạt động này
sẽ chi phối những hoạt động khác cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này.Mặt khác, từ chính bản thân các em cũng có sự thay đổi rất nhanh về sinh lí gây ra mệt mỏi, khó chịu và đôi lúc cùng áp lực học tập, gia đình, sự kì vọng quá nhiều của bố mẹ khiến các em cảm thấy chông chênh và áp lực trong tâm lí.Ngoài môi trường học tập, hoàn cảnh gia đình sự tương quan giữa khối học, giới tính và học lực cũng có phần tác động đến các khó khăn của học sinh.
2.1.1 Khó khăn trong học tập, định hướng tương lai
Dựa vào bảng trên, có thể thấy khó khăn lớn nhất của các em là ghi nhớ,
áp dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống Nghiên cứu cho thấy, học
sinh lớp 9 nhận ra những áp lực rất rõ trong học tập, “ Bài tập trên lớp khá khó, đặc biệt Tiếng Anh luôn là môn học thầy cô kì vọng rất nhiều vào học sinh Có những bạn xác định sẽ học trường công lập ở Hà Nội lại càng cần chú trọng học
để ôn thi vào lớp 10” (phỏng vấn sâu P.H.P - học sinh lớp 9 ).
“ Cứ nghĩ rằng học trường tư điểm sẽ cao hơn trường công nhưng thức chất không phải vậy, chương trình học nâng cao và có nhiều mặt sáng tạo, nếu chúng em không cố gắng, chắc chắn chúng em sẽ không thể đạt điểm cho danh hiệu học sinh giỏi.”(PVS : NHA, học sinh lớp 7)
Kiến thức học khó, đôi khi học sinh rất e ngại trong việc trực tiếp hỏi và mong thầy cô giảng lại bài cho mình Các em ngại nếu hỏi sẽ thể hiện mình học
dốt, mình bị các bạn chê cười và không ai muốn chơi “ Hồi học cấp 1, con luôn
Trang 26đạt danh hiệu học sinh giỏi nhưng khi lên cấp 2, học kì vừa qua con không đủ điểm, dù bị bố mẹ mắng mỏ, nhưng thực tế nhiều kiến thức thầy cô giảng quá nhanh không thể tiếp thu kịp Hơn cả nhiều bài làm không hiểu muốn hỏi cô nhưng các bạn vẫn làm được nên sợ thầy cô và các bạn chê cười, chính vì vậy chỉ muốn làm đối phó cho xong” (PVS N.G.L lớp 6)
Khi xã hội ngày càng phát triển, ngoài việc học, các em còn dễ dàng bị lôi kéo vào các mối quan tâm như: các trò chơi, các kênh truyển hình giải trí… bên cạnh đó mối quan hệ xã hội tình cảm khác giới, bạn bè cũng làm giảm khả năng học tập của các em Tuy trong môi trường mới, thầy cô rất thoải mái và có sự phát triển vượt bậc trong phương pháp giảng dạy, tuy vậy học sinh vẫn cảm thấy nhàm chán, không thấy được sư cuốn hút, thú vị khi vấn đề điểm, thành tích vẫn đặt nặng từ phía gia đình và nhà trường Hầu hết, các em vẫn luôn mong muốn phát triển theo khả năng của mình thay vì bất cứ môn nào cũng bị đòi hỏi và yêu cầu rất cao “ Con rất thích các môn yêu cầu học sinh phải có sự trao dồi trong tâm hồn và cảm xúc như: Văn, kĩ năng sống, giáo dục công dân… hay các môn yêu cầu sự khéo léo như STEM, còn các môn Toán , Lý với những công thức nhàm chán rất khó và không phù hợp Hơn cả mỗi lần làm bài kiểm tra, điểm trả
về rất kém gây ra cảm giác chán nản với môn này Sắp tới kiểm tra em rất lo lắng không biết cuộc sống mình trôi về đâu.” (pvs : N.V.T lớp 7)
Cùng với những suy nghĩ, trăn trở, các em còn có sự lo lắng khi tìm ra điểm mạnh của mình để trao dồi và phát triển điểm mạnh đó Có bạn rất thích hội họa, bạn lại có thiên bẩm về thể dục thể thao, bạn lai rất hứng thú vận dụng các môn học tư duy sáng tạo, điều đó càng thấy vai trò tư vấn tâm lý cho học sinh trở nên hết sức cần thiết Khi các em nhận ra được điểm mạnh của mình, các em sẽ thấy có động lực và hứng thú hơn với việc học Công tác định hướng cho học sinh tốt, các em cảm thấy thú vị và yêu thích việc học hơn và việc học tập hiệu quả hơn Nếu định hướng không tốt, việc học tập của các em sẽ giống như một cái máy, và cảm thấy mình như học để hài lòng mọi người chứ thực tế học không phải vì niềm đam mê và ước muốn của bản than Nêu việc phân tích
và định hướng tốt, các em sẽ ấp ủ và phát triển ước mơ của mình từ thơ bé và phát triển dần lên để càng ngày các em sẽ càng cố gắng và thực hiện thật tốt.
Trang 27Với các em việc học tập vẫn là chủ đạo là nhiệm vụ chính của các em Theo nghiên cứu 2/3 thời gian trong ngày các em dành cho việc học Thời gian ban ngày là khoảng thời gian với các giờ học chính khóa, các giờ học thêm, các giờ ngoại khóa,…Buổi tối là thời gian các em làm bài tập về nhà trau dồi kiến thức Rõ ràng với các em áp lực học hành là vô cùng lớn nhất là với các em lớp 9 đối mặt với kỳ thi chuyển cấp Nếu như các anh chị THPT thi lên đại học có quyền lựa chọn các trường và có nhiều nguyện vọng nếu không đỗ đại học có thể học cao đẳng, trung cấp hoặc trường nghề thì các em THCS chỉ có một cơ hội lựa chọn trường phù hợp với khả năng của mình, các em không có quyền lựa chọn sai bởi nếu không các em sẽ không có được cơ hội học tập Cũng giống như các anh chị cấp học trên nếu thi trượt các em sẽ mang tâm lý vô cùng nặng nề Với những điều trên thì việc học của các em có những khó khăn gì? Để tìm hiểu điều này người nghiên cứu đã đưa ra câu hỏi để tìm hiểu trong vấn đề học tập các em đang gặp phải những khó khăn gì?
Bảng 2: Mức độ gặp khó khăn trong vấn đề học tập
Các vấn đề
Các mức độ ảnh hưởng (%) Thường
xuyên
Thỉnh thoảng Chưa bao
giờ
Không cải thiện được thành tíchhọc tập 18.3 37.5 44,2
(Nguồn: Kết quả khảo sát với các em học sinh THCS Lê Quý Đôn)
Số liệu trong bảng 6 cho thấy khó khăn lớn nhất mà các em học sinh gặp phải là việc bị học sinh khó tiếp thu bài giảng nên không thể vận dụng kiến thức
đã học theo số liệu cho thấy có đến 34.6% các em thường xuyên khó tiếp thu được bài giảng trên lớp Qua nghiên cứu cho thấy các em dành rất nhiều thời gian cho chuyện học tập tuy nhiên lại không có số thời gian để ôn bài kiến thức
nó chồng kiến thức kia các em khó tiếp thu những cái mới nếu không hiểu rõ bản chất những bài học cũ Bên cạnh đó còn có tâm lý e dè sợ sệt của các em với
Trang 28thầy cô nên có phần chưa hiểu các em không dám hỏi lại nên các em không thể vận dụng kiến thức học của mình vì không hiểu bản chất Với các em học sinh lớp 6, sự thay đổi cấp học tạo nên sự khó khăn trong cách tiếp thu bài giảng của các em Đối với các em cấp học cũ tạo cho các em không khí an toàn khi được thầy cô “cầm”, “nắn”,” uấn” còn ở môi trường THCS các em phải tự vận động tự học cách tư duy và cách sắp xếp thời gian biểu của mình Điều đó tạo nên khó khăn cho việc học của các em Các em không tìm ra được cho mình phương pháp học tập phù hợp mang lại hiệu quả cho bản thân nên việc tiếp thu bài còn nhiều hạn chế và kết quả học tập chưa cao Qua tìm hiểu bảng điểm thi cuối năm, người nghiên cứu nhận thấy các em lớp 6 có học lực trung bình khá từ cấp học cũ có kết quả thi cuối năm thấp hơn, học lực đa phần của các em có phần giảm sút so với nhận xét của các giáo viên cấp học cũ: “Như cấp 1 các em chỉ vừa học, vừa chơi, thoải mái, các môn học cũng đã theo những phân môn nhất định nên khi lên cấp 2 học sinh học các môn khó hơn đòi hỏi sự tư duy nhanh nhạy của học sinh” (Phỏng vấn sâu giáo viên Y) Bên cạnh việc khó khăn tiếp thu bài giảng thì việc bị áp lực học tập là một khó khăn lớn của các em có đến 31,7% các em thường xuyên gặp khó khăn này và rơi chủ yếu vào các em khối 9.
Do việc bị khoác lên vai những gánh nặng vô địch rằng phải vào đội tuyển, phải vào cấp 3 trường chuyên, phải cố gang học Tiếng Anh để đi du học phải bằng bạn bằng bè từ phía gia đình đã khiến các em cảm thấy áp lực mệt mỏi “So với các bạn trường công, chúng em được chú trọng rất nhiều vào Tiếng Anh nên đôi khi đứng trước ngưỡng cửa cấp 3, em cảm thấy rất áp lực trong việc lựa chọn đi du học hoặc học một trường nào ở Việt Nam Đi du học lại khá bỡ ngỡ và học khoảng thời gian dài, xin học bổng lại khó nên vô hình chung tạo thành áp lực đối với em” (PVS Ng.K.A) Ngoài ra các em còn gặp khó khăn trong việc tập trung nghe giảng do tâm lý tuổi các em dễ bị lôi cuấn bởi nhiều trò chơi thú vị các em bị sao nhãng bởi các mối quan hệ bạn bè, tình bạn khác giới dẫn đến việc sao nhãng học tập làm giảm khả năng tập trung chú ý học tập, nghe giảng trên lớp của các
em Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy của thầy cô còn nặng về lý thuyết, đọc chép trên lớp chưa gây hứng thú lôi cuấn cho các em vào bài học.
Trang 29Điều này dẫn đến tâm lý chán chường không có hứng thú vào việc tham gia nghe giảng cũng như phát biểu xây dựng bài.
Ngoài những khó khăn trên cũng còn có những lý do khác như việc thua kém bạn bè làm các em tự ti hay thời gian học chưa sắp xếp hợp lý chưa có phương pháp học phù hợp… Công tác xã hội học đường lúc này đóng vai trò quan trọng nếu tìm hiểu nguyên nhân và can thiệp kịp thời sẽ trợ giúp cho các
em giải quyết được khó khăn trong vấn đề học tập Có thể can thiệp nhóm nhằm trợ giúp các em tìm ra phương pháp học tập, can thiệp cá nhân trợ giúp tâm lý giảm căng thẳng lo âu, kết nối nguồn lực với thầy cô gia đình nhằm giảm áp lực học hành, …….
2.1.2 Khó khăn trong mối quan hệ xã hội
Ở lứa tuổi này, các em cũng có những thay đổi về tâm lí, có nhiều chuyển biến suy nghĩ trong các mối quan hệ khiến học sinh cảm thấy mệt mỏi, bức bối
và đôi lúc không thoải mái trong các mối quan hệ.
Bảng 3: So sánh các khó khăn học sinh gặp phải ở từng khối lớp
Khó khăn
Lớp
Khó khăn trong mối quan hệ với bạn bè (%)
Khó khăn trong mối quan hệ với thầy
cô (%)
Khó khăn trong mối quan hệ vớicha mẹ(%)
(Nguồn : Khảo sát học sinh Lê Quý Đôn tháng 3/2019)
Trong các nhóm khối học sinh, lại có sự khác biệt giữa nhóm học sinh nữ và học sinh nam bởi các em có sự phát triển tâm sinh lý khác nhau, chi phối suy nghĩ, hành động của các em Lớp 8,9 mối quan hệ xã hội các em trở nên phức tạp hơn, các em có nhiều bạn hơn và các mối quan hệ khác, suy nghĩ cuộc sống trở nên
Trang 30già dặn Hơn cả các em luôn chi phối hai luồng suy nghĩ vừa trẻ con vừa người lớn.Xét bảng cho thấy, nhóm học sinh nữ gặp nhiều khó khăn hơn học sinh nam trong môi trường học tập Quan hệ gia đình, bạn bè, tình cảm cũng đã gây trở ngại cho các em Học sinh biết rung động đầu đời, yêu thương, nhớ nhung.
Người nghiên cứu sẽ phân tích thấy rõ khó khăn của các em trong các mối quan
hệ xã hội.
- Khó khăn trong mối quan hệ bạn bè
Ở lứa tuổi này tình cảm bạn bè, tình đống chí, tình tập thể phát triển mạnh Tình bạn của các em được hình thành trên cơ sở quý mến nhau cùng học tập, cùng sinh hoạt cùng có chung những hứng thú những sở thích Các em chơi với nhau chân thành vởi mở sẵn sàng giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, sẵn sàng cứu bạn trong lúc nguy hiểm các em tin tưởng kể cho nhau nghe những câu chuyện thầm kín mà đến những người thân như cha mẹ anh chị chưa chắc các
em đã có tin tưởng để kể Các em sống không thể xa bạn, thiếu bạn Vì thế khi bạn bè tẩy chay thì đó là một đòn tâm lý rất nặng nề, là một hình phạt đối với các
em Xuất phát từ việc coi trọng tình bạn muốn giao tiếp với bạn cùng trang lứa
mà ở các em có nguyện vọng tìm được vị trí của mình trong tập thể Nguyện vọng này thể hiện nhu cầu tự khẳng định và có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển tâm lý, nhân cách của thiếu niên Các em có khát vọng mạnh mẽ là muốn chiếm vị trí được tôn trọng trong nhóm bạn cùng tuổi, có được bạn thân Do mong muốn xác định được chỗ đứng trong tập thể nên các em thường coi trọng ý kiến đánh giá của bạn bè và sẵn sàng gạt đi ý kiến riêng của mình để thực hiện yêu cầu của tập thể.
Tiến hành khảo sát các em trong trường người nghiên cứu thấy được khó khăn trong quan hệ bạn bè của các em là những giận dỗi mâu thuẫn, những nối buồn khi không thể giúp bạn khi bạn gặp khó khăn, bị bạn lừa dối, hay bạn quý mến người khác, những mâu thuẫn dẫn tới xung đột bạo lực hay những lời trêu chọc dèm pha đang khiến cho quan hệ bạn bè của các em gặp trục trặc.
Những giận dỗi mâu thuẫn những xích mích hàng ngày luôn là vấn đề trong quan hệ bạn bè của các em Đôi khi chỉ là những chuyện giận hờn vu vơ, những hiểu lầm không đáng có cũng làm mất đi một tình bạn đẹp, thậm chí nó còn ảnh hưởng đến tâm lý của các em “Em có thích một bạn ngồi cạnh khi mới
Trang 31vào lớp 6, em có tâm sự với bạn thân và từ đó bạn ấy kể với bạn kia rồi hầu như các bạn con trai trong lớp không chơi với em nữa” Các em có cảm xúc nặng nề nếu quan hệ với bạn bị tổn thương, mất bạn, sự tẩy chay của bạn bè….Điều đó
có thể thúc đẩy các em sữa chữa những nhược điểm của mình để được chấp nhận Ở lứa tuổi các em đã xuất hiện tình cảm khác giới nhưng ở mức rung động trong sáng, các em mong muốn được bạn khác giới quan tâm, yêu thích Nên khi bạn chơi cùng có tình cảm với bạn khác các em dễ nảy sinh buồn bực chán nản
Bị bạn bè trêu chọc chế giễu cũng là lý do khiến các em bị tổn thương Các em
nữ thường bị bạn bè trêu nhiều hơn các em nam Những lý do bị trêu chọc thường là chế giễu vẻ bề ngoài, ganh ghét đố kỵ chế giễu nhau Những lời nói đó làm tổn thương các em ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý Các em quan tâm đến việc các bạn bè trong lớp nghĩ gì về mình Các em cũng băn khoăn đặt ra các câu hỏi vì sao các bạn lại ghét mình những câu hỏi đó làm các em phân tâm mất tập trung trong vấn đề học tập Sự thi đua về thành tích học tập trong lớp cũng làm cho mối quan hệ bạn bè xấu đi bởi sự thi đua không lành mạnh Những mâu thuẫn này các em thường giữ trong lòng hoặc có chia sẻ thì cũng chia bạn bè nên những lời khuyên đưa ra chưa đc hợp lý và hiệu quả không cao Mối quan hệ bạn bè tốt mang lại cho các em nhiều động lực phấn đấu chính vì thế nhân viên CTXH học đường giúp cho các em hiểu được những khúc mắc của tình bạn làm các em có cái nhìn trong sáng về tình bạn đồng thời xóa bỏ những ký ức không tốt do bạo lực gây ra chữa trị những em tổn thương trong vấn đề bạn bè giữ cho mối quan hệ bạn bè trở nên tốt đẹp, hỗ trợ để các em dựa vào bạn bè phát triển mình làm tăng sự mạnh dạn tự tin để cácem có một tình bạn một tuổi thơ hồn nhiên và có thật nhiều kỷ niệm đẹp về bạn bè của mình.
- Khó khăn trong mối quan hệ thầy trò
Có thể nói học tập là hoạt động chủ đạo của các em dưới sự hướng dẫn của người thầy người cô, các em tiếp nhận tri thức và những giá trị sống Thầy
cô giáo được coi như người mẹ hiền của các em, xong hiện nay mối quan hệ này
có mâu thuẫn cũng là một trong những trở ngại lớn của các em học sinh Nhóm các nhóm vấn đề lại người nghiên cứu nhận ra rằng 32,1% các em cho rằng thầy cô không hiểu mình , 13,2 % các em cho rằng thầy cô đối xử không công bằng, 9,3% học sinh nói rằng các thầy cô hay mắng mỏ, 2% cho rằng các hình
Trang 32phạt các cô đưa ra không phù hợp và chỉ 0,5% các em cho rằng thầy cô không quan tâm đến mình.
Đây là một khó khăn trong những khó khăn được các em đề cập đến Bên cạnh những thầy cô giáo tâm huyết yêu thương học sinh cũng có một số ít các thầy cô chưa quan tâm đến các em khiến các em có cảm giác bị bỏ rơi 2% trong
số các em được hỏi cho rằng các thầy cô có sự đối xử không công bằng, có những hình phạt không phù hợp nhưng trở ngại lớn nhất trong mối quan hệ thầy cho được đưa ra là thầy cô không hiểu thường áp đặt suy nghĩ của mình vào các
em “ Em không có gì khó chịu với thấy cô nhưng nhiều khi thấy các thầy cô rất
vô lý các thầy cô cũng có lúc đi muộn nhưng chúng em đến muộn trình bày lý do xong các thầy cô lúc nào cũng bảo chúng em chỉ ngụy biện Có thầy cô bảo thủ rất khó tính đối xử không công bằng với những bạn học thêm nhà cô thì cô quý hơn nên vì thế chúng em cũng mất dần đi tình cảm với cô” Các em cho rằng thật khó để thầy cô có thể hiểu mình nhất là trong trường hợp các em vi phạm nội quy nhà trường Vì thế trong mối quan hệ thầy trò các em có tâm lý e rè thầy cô, điều này gây cản trở cho các em nhất là trong vấn đề học tập Chính điều này làm các em có lúc chưa hiểu bài cũng không dám hỏi lại Nhóm các vấn đề mà các em cảm thấy thầy cô không hiểu mình đó là việc liên quan đến cách ứng xử
xử sự của thầy cô, liên quan đến phương pháp giảng dạy của các thầy cô Về cách ứng xử thầy cô các em đều cho rằng các thầy cô quá bảo thủ hay để ý đến những việc nhỏ Trong những áp lực học tập các thầy cô không chia sẻ các thầy
cô luôn cho rằng đó là việc cá nhân là nhiệm vụ học sinh đi học cần phải thực hiện Mối quan hệ với thầy cô thực sự là những mối quan hệ vô cùng quan trọng đối với học sinh, mối quan hệ đó tác động đến niềm say mệ hứng thú học tập và
nó ảnh hưởng đến cách nhận thức của các em về môn học Khi học sinh cảm thấy yêu quý thầy cô, có thể trao đổi thoải mái với thầy cô không chỉ về chuyện học tập mà còn những câu chuyện về cuộc sống sẽ làm mối quan hệ giữa thầy cô trở nên vô cùng khăng khít gắn bó, học sinh sẽ phấn khởi học tập say mê và hơn thế các em biết mình còn có một người bạn- một người anh người chị là người quan tâm đến mình quan trọng là đủ tin tưởng để gửi gắm hết long mình những
Trang 33băn khoăn trăn trở Vì thế hơn lúc nào hết việc duy trì một mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy và trò để thầy thực sự trở thành người mẹ thứ hai là một điều vô cùng cần thiết Để làm được điều này cần có một chiếc cầu nối vững chắc xóa bỏ những nghi ngại băn khoăn cũng như kết nối được những tình cảm giữa cô và thầy Mà chiếc cầu đó không gì khác chính là công tác xã hội trong trường học.
- Khó khăn trong mối quan hệ gia đình
Gia đình là hai tiếng thiêng liêng là nơi bình yên cần thiết nhất gần gũi nhất mà bất kỳ ai cũng muốn hướng về Gia đình là điểm tựa của các em cung cấp vật chất cũng như những giá trị tinh thần là một phần không thể thiếu trong việc giáo dục hoàn thiện nhân cách của các em Nhất là với lứa tuổi THCS đây là lứa tuổi đang gặp “khủng hoảng” bởi sự phát triển đột biến về tâm sinh lý các em
đã ý thức được sự phát triển của cơ thể theo hướng một ngưới lớn do vậy các em cũng thấy được vị trí xã hội của mình có sự thay đổi, các em có vị trí không ổn định giữa người lớn và trẻ em cùng với việc các em được giao nhiệm vụ nhiều hơn được người lớn đòi hỏi sự cư xử nghiêm chỉnh hơn cũng chính là nguyên nhân gây ra sự khủng hoảng này Hơn lúc nào hết các em rất cần được cha mẹ quan tâm định hướng, cần cha mẹ hiểu những nhu cầu cần thay đổi của các em trong chính mối quan hệ giữa cha mẹ Nếu những nhu cầu này không được chấp nhận các em dễ bướng bỉnh, bất bình, không nghe lời Vì thế khi tiến hành nghiên cứu với các nhóm khó khăn trong mối quan hệ gia đình nghiên cứu đã cho kết quả rằng 118 em học sinh có mâu thuẫn với cha mẹ trên tổng số 200 phiếu phát ra, với các mâu thuẫn chủ yếu là cha mẹ quá kỳ vọng vào các em, cha
mẹ nhiếc móc, mắng chửi, cấm đoán, áp đặt suy nghĩ của mình vào các em Trong quá trình trò chuyện các em chia sẻ rằng các em rất ít khi nói chuyện thẳng thắn với bố mẹ, hoặc các em không muốn chia sẻ bất kỳ điều gì với cha
mẹ của mình hoặc cứ mỗi khi các em trình bày ý kiến gì là lại có mâu thuẫn xảy ra, nhiều em cho biết bố mẹ rất hay cáu gắt dù em cố gắng làm mọi cách hài lòng cha mẹ nhưng cha mẹ vẫn không hài lòng, luôn so sánh em với người khác khiến em cảm thấy chán nản và mệt mỏi Điều này cũng dễ hiểu khi cả hai phía
có những suy nghĩ chất chứa nhưng lại không bày tỏ quan điểm với nhau, đó
Trang 34cũng do một phần tính cách kín đáo của người Phương Đông nên sự cởi mở chia
sẻ giữa hai thế hệ bố mẹ và con cái là rất hiếm có Vì thế mà cha mẹ không hiểu con cái cũng như ngược lại con cái không hiểu cha mẹ nên mâu thuẫn càng dồn lên Cha mẹ không phải lúc nào cũng có những quyết định hay suy nghĩ sáng suốt nhưng không chịu nghe ý kiến của con, nhiều khi cũng chỉ vì câu nói :”Con biết gì mà nói”khiến cho đứa trẻ THCS cảm thấy bị tổn thương, cha mẹ không tôn trọng, bản thân bị coi trường gây ức chế cho đứa trẻ, làm cho đứa trẻ đó tự ti,và nó sẽ không bao giờ chia sẻ với cha mẹ điều gì nữa.
Việc áp đặt suy nghĩ của mình vào con cái cũng luôn khiến các em bức xúc và hợp tác một cách miễn cưỡng: “Đã cho đi học trường tư đỡ áp lực hơn các bạn mà học cũng không xong”.Bên cạnh đó có những em là học sinh cá biệt càng được thể hiện mình hơn khi bố mẹ không quan tâm nên các em sống bất cần hay việc cha mẹ luôn coi con cái mình đúng mặc định cho nhà trường sai cô giáo trù dập các bạn ganh ghét không thế mà có trường hợp phụ huynh học sinh chặn đánh giáo viên gây ra hình ảnh không đẹp về người nhà giáo làm mất đi quyền tôn trọng của học sinh với thầy cô của mình Có những cha mẹ quá quan tâm đến con, chăm chút cho con từng tí một đã không ngần ngại đọc trộm tin nhắn, sổ nhật ký của con, làm mất đi sự tổn trọng tình yêu thương với cô giáo Việc cha mẹ quá kỳ vọng mà không tính đến sức học của con khiến các em càng trở nên nặng nề áp lực “Học ở trường đã mệt về nhà lại dày đặc lịch học phục
vụ cho kì thi chuyển cấp.” Không chỉ những mâu thuẫn đến từ phía con Một gia đình có sự bất hòa mâu thuẫn không thể là một môi trường tốt để con cái trưởng thành tốt Tuy nhiên nhiều bậc phụ huynh lại chưa quan tâm chú ý đến những điều này Họ mặc định đứa trẻ còn nhỏ, không hiểu chuyện mà không biết rằng chúng đang bị tổn thương Ở lứa tuổi này việc các em đang gặp khủng hoảng tuổi mới lớn rất cần sự quan tâm của cha mẹ Các em có nhu cầu có khuynh hướng muốn làm người lớn từ đầu tóc trang phục…Việc cha mẹ ra sức cấm đoán không tạo hiệu ứng tốt mà gây ra sự ức chế miễn cưỡng, nhiều em nếu không kiềm chế sẽ dễ dẫn đến tình bất cần Tuy vậy ngoài những em có mâu thuẫn với cha mẹ thì những em học sinh còn lại có mối quan hệ với cha mẹ tốt đẹp,những học sinh này chủ yếu ở những gia đình bố mẹ là cán bộ công nhân viên chức.
Trang 35Các em thấy thoải mái dễ dàng chia sẻ khi nói chuyện với cha mẹ của mình Nhiều em chia sẻ rằng bố mẹ luôn quan tâm một cách chừng mực, bố mẹ cũng là nguồn động viên giúp em học hành tiến bộ.
người gỡ nút thắt mâu thuẫn làm mối quan hệ đó trở nên tốt đẹp hơn Tóm lại, học sinh THCS đang gặp phải nhiều khó khăn trên nhiều lĩnh vực khác nhau từ học tập đến mối quan hệ xã hội, sinh hoạt trong cuộc sống… Những điều đó tác động đến tâm đến những suy nghĩ và hành động Cần hơn nữa
sự quan tâm phối hợp của cả nhà trường gia đình và xã hội và chính công tác xã hội sẽ kết nối những nguồn lực đó để các em có thể giải tỏa hết những khúc mắc của bản thân mình.
2.1.3.Khó khăn từ phía bản thân học sinh
Bên cạnh những khó khăn trong học tập và trong các mối quan hệ
xã hội, cũng có không ít những khó khăn xuất phát từ phía bản thân học sinh.
Bảng 4: Nhóm khó khăn từ phía bản thân học sinh
Các mức độ ảnh hưởng (%)
ĐTB
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Chưa
b a o
g i ờ
3 Luôn cảm thấy mình kém cỏi 18,5 36,4 28,4 16,7 2,48
4 Bị nhiều thú vui (game,bạn
5 Ngại giao tiếp, tự ti, mặc cảm 16,4 32,5 27,6 23,6 2,39
Trang 37Bảng 4 cho ta thấy, có nhiều khó khăn xuất phát từ bản thân được để cập đến Do quyết tâm không thực hiện được nên các em có tâm lý cảm thấy mình
kém cỏi, thua kém bạn bè “Em cũng đi học thêm như các bạn nhưng sao kết quả học tập của em không thay đổi mấy Em đã rất cố gắng nhưng kết quả học tập của
em vẫn không cao Cảm giác bị thua kém bạn bè làm em cảm thấy chán nản ”
(PVS N.T.P, lớp 8) Yếu tố từ phía bản thân các em cũng là một trong những nguyên nhân tác động mạnh mẽ đến đời sống tâm lí của các em Các em vừa phải sống cho mình, vừa phải sống cho người khác (cha mẹ, anh chị em, họ hàng ) Các
em phải ý thức việc học của mình một cách nghiêm túc, các em già dặn hơn lứa tuổi Các em luôn cho rằng ba mẹ đặt kỳ vọng vào mình, đúng là cha mẹ nào cũng mong con mình học tập tốt, nhưng liệu có phải cha mẹ có thể chấp nhận được việc con mình uể oải, sức khỏe sút kém chỉ vì lo lắng là không đạt được kết quả như ba
mẹ mong muốn ? Các em nhận thức về vấn đề đó hơi thái quá, cho nên, chính các
em cũng làm cho các em bị bế tắc Một nguyên nhân khác nữa liên quan đến chính lòng tự trọng của các em, các em không chấp nhận cảm giác thua kém bạn bè cùng trang lứa, các em khó lòng chấp nhận một ai đó giỏi hơn mình thực chất, đấy là tính hiếu thắng, đấy là sự ích kỉ trong mỗi cá nhân; nhưng khi người ta chiến thắng được tính ích kỷ, người ta sẽ mạnh mẽ đươngđầu, còn đối với các em, có thể vì các em chưa sẵn sàng đối diện với việc một người khác được tôn vinh chứ không phải là mình Các em đã không làm chủ được cảm xúc của mình và các em cũng không nhận thức đúng về năng lực của mình.
Ngại giao tiếp, tự tin, mặc cảm về bản thân cũng là trong những khó khăn thường gặp ở các em học sinh Có 32,5% học sinh được hỏi thường xuyên hoặc thỉnh thoảng gặp những vấn đề này Như chúng ta đã biết, giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội Nhờ có giao tiếp mà con người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội các quy tắc đạo đức, các chuẩn mực xã hội đồng thời nhận thức được chính bản thân, tự đối chiếu, so sánh mình với người khác
và với chuẩn mực xã hội Nhờ có giao tiếp mà con người hình thành cho mình năng lực tự ý thức Đặc biệt ở lứa tuổi này, nhu cầu giao tiếp là rất lớn nhưng tại sao có nhiều em gặp phải khó khăn trong việc này? Có phải chăng các em chưa được trang bị các kỹ năng sống mà cụ thể ở đây là các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng
Trang 38làm chủ tình huống Do vậy, các em cảm thấy lúng túng khi giao tiếp với bạn bè, thầy cô, cảm thấy e dè khi phát biểu, trả lời trước đám đông Những khó khăn về thiếu định hướng sống lành mạnh, bị bạn bè lôi kéo, có suy nghĩ chán nản về cuộc cống, thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản cũng là những khó khăn được đề cập đến.
Như vậy, có thể thấy rằng những khó khăn xuất phát từ bản thân học sinh được biểu lộ khá đa dạng và phong phú Các em luôn mong muốn đạt điểm cao, muốn học giỏi để được thầy cô và bạn bè ngưỡng mộ nhưng năng lực của các em hạn chế, quyết tâm chưa cao điều đó dẫn đến có sự mâu thuẫn giữa mong muốn
và hành động Khi mong muốn không thực hiện được, bản thân các em luôn cảm thấy chán nản, thêm vào đó lại bị bố mẹ mắng mỏ, thầy cô phê bình, cảm giác xấu hổ với bạn bè khiến các em rơi vào trạng thái bi quan, chán nản, không còn quyết tâm thực hiện mong muốn nữa, các em dần thu mình lại, ngại giao tiếp hơn và ít chia sẻ với thầy cô, bạn bè cũng như bố mẹ Các em cần được lắng nghe và chia sẻ về vấn đề này để sớm vượt qua những rào cản bản thân và trở nên tự tin vào chính mình.
2.2 Cách ứng phó của học sinh khi gặp khó khăn
Trước những khó khăn tìm hiểu được từ phía các em người nghiên cứu
đi tìm hiều các cách đối phó của các em với những khó khăn hiện tại của bản thân mình Để tìm hiểu điều đó người nghiên cứu đã đặt ra câu hỏi rằng: Khi gặp khó khăn em tìm đến ai để chia sẻ và hiệu quả của việc chia sẻ đó như thế nào?
Bảng 5: Các phương thức giải quyết khi gặp khó khăn của học sinh
5 Chia sẻ với bố mẹ, người thân trong gia đình 24,3
6 Tìm đến các dịch vụ tư vấn qua điện thoại, báo chí, internet 7
(Nguồn : Khảo sát học sinh trường THCS Lê Quý Đôn tháng 3/2019)
Trang 39Kết quả cho thấy rằng phần lớn học sinh âm thầm chịu đựng và tự giải quyết Chính bởi các em sợ những uẩn khúc của mình sẽ trở thành câu chuyện
để mọi người trêu chọc rèm pha và hơn hết các em nghĩ rằng có chia sẻ ra cũng
không ai giúp được mình Cũng qua chia sẻ các em cho biết rằng:”Em rất hay chia sẻ, tâm sự các câu chyện cùng các bạn, nhưng khi em chia sẻ chuyện của
em thường bị bạn bè phản đối, trêu chọc, tâm sự thầy cô đôi khi rất khó vì khoảng cách giáo viên và học sinh khiến em không thể tâm sự hết bí mật của mình, kể với anh chị sợ mách bố mẹ nên thường tự vượt qua thì tốt hơn”.(Phỏng vấn sâu-TM lớp 9) Và có nhiều chuyện nếu không tự mình vượt qua các em phần
lớn chọn bạn bè để chia sẻ thay cho thầy cô, cha mẹ hay anh chị Điều đó cho thấy rằng các em rất coi trọng ý kiến bạn bè có đôi khi còn hơn cả lời khuyên của cha mẹ, thầy cô và anh chị Điều này cho thấy rằng các em rất quan trọng bạn bè, nhưng bạn bè lại là những người cùng trang lứa các em, các em cũng từng gặp những khó khăn mà bạn mình mắc phải bằng kinh nghiệm non nớt bằng những trực giác của mình để đưa ra cho bạn mình lời khuyên, lời khuyên
đó có thể đúng có thể sai chính bản thân các em cũng không nắm chắc Việc tin tưởng bạn bè quá mức dễ dẫn tới những cảm xúc rất nặng nề nếu người bạn đó mang câu chuyện của em đi kể thì quan hệ với bạn bè bị tổn thương và hơn ai hết các em sẽ cảm thấy mất niềm tin vào cuộc sống, chưa kể đến việc một người bạn tốt sẽ cùng nâng đỡ giúp đỡ đưa ra những lời khuyên tốt ngược lại nếu bạn
bè xấu sẽ dễ dẫn đến việc các em sa ngã Dựa vào bảng số liệu trên người nghiên cứu cũng nhận thấy các em học sinh chủ yếu tìm đến bạn bè khi gặp khó khăn nhưng các em đều cho rằng bạn bè chỉ giúp được một phần cho các em, có cũng
chỉ là sự chia sẻ lắng nghe : “Em thường tâm sự với bạn thân về việc mình không thích bạn nào đó, nhưng rồi sau đó bạn ấy đi nói điều đó với bạn em ghét
và chúng em không chơi với nhau”(.QA – lớp 7 chia sẻ.) Với những chuyện
mang tính chất quyết định phần nhiều các em mong đợi ý kiến của người lớn tuy nhiên các em lại tìm đến anh chị để chia sẻ nhiều hơn là tìm đến cha mẹ hay thầy cô, cũng bởi các em cho rằng anh chị gần gũi và không áp đặt nhiều suy nghĩ bắt các em phải thế nọ phải thế khác hay cấm đoán, các anh chị sẽ cho các
Trang 40em lời khuyên dựa trên kinh nghiệm của mình, những điều mà các anh chị đã trải qua nên những lời khuyên đó cảm tính và không giúp đỡ các em một cách hiệu quả Lý do tại sao các em lại ít trao đổi những vấn đề khó khăn của mình với cha
mẹ thì phần lớn các em đều sợ bố mẹ biết chuyện của mình nên giấu, phần khác lại vì cha mẹ áp đặt suy nghĩ ý kiến bố mẹ bắt phải làm thế này thế kia nên chỉ một lần chia sẻ với cha mẹ rồi thôi Số các em chia sẻ với cha mẹ và coi cha mẹ
là nơi chia sẻ giãi bày tốt nhất phần lớn là các học sinh có hoàn cảnh gia đình bố
mẹ là công nhân viên chức bố mẹ tâm lý hiểu biết nên coi các em là một người bạn chứ không áp đặt cho rằng các em còn trẻ con bồng bột, bố mẹ để các em tự
ra quyết định tuy nhiên một số vấn đề bố mẹ vẫn chưa thực sự thấu hiểu và con
số đó là vô cùng ít Hiện tại với sự phát triển chóng mặt của các phương tiện thông tin truyền thông thì các trang mạng xã hội lại trở thành nơi các em chọn để
gửi gắm những lo âu, những trăn trở của mình NVA học sinh lớp 9 chia sẻ: ”Lớp
em 2/3 các bạn có trang cá nhân trên facebook em thường lên đó để viết lên wall những status vui buồn của mình hoặc vào nhóm facebook chia sẻ ” Việc biết và
sử dụng mạng xã hội là nơi giải tỏa là một cách chia sẻ mới, nhưng nếu không
có sự định hướng giám sát đúng đắn của người lớn dễ xảy ra nhiều việc đáng tiếc Ví dụ như trường hợp của các em học sinh khi có chuyện buồn thường cứa những vết thương lên tay chân của mình rồi chụp ảnh đăng tải trên facebook dễ dẫn tới những hành động bắt chước cố xúy Có rất nhiều thứ xấu trên mạng mà các em không tính đến hậu quả ví dụ như việc lừa buôn bán đối với các em gái thông qua hình thức cứu nét Mặc dù khi được hỏi về các tổng đài tư vấn trẻ em, các chuyên mục tư vấn trên các báo, về các chương trình, các cuấn sách dạy các
em kỹ năng … các em đều trả lời biết thậm chí có những em còn đọc vanh vách
số điện thoại đường dây tư vấn trẻ em 18001567 nhưng khi hỏi các em đã tìm đến các trung tâm đó chưa? Đã gọi điện đến tổng đài tư vấn bao giờ chưa hay có hỏi về vấn đề mình gặp phải trên các phương tiện báo đài không thì có đến 91,5% các em trả lời chưa từng Bởi sự e dè nhút nhát, ngại ngùng xấu hổ sợ bạn
bè biết, sợ cha mẹ biết, sợ thầy cô biết bí mật của mình, sợ mọi người không chấp nhận không chịu lắng nghe áp đặt suy nghĩ.…