1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG rối LOẠN tâm THẦN ở NGƯỜI BỆNH sử DỤNG ATSVÀ một số yếu tố LIÊN QUAN đến CHĂM sóc tại BỆNH VIỆN tâm THẦN hà nội năm 2019

56 257 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 502,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Bệnh viện Tâm thần Hà nội, mỗi năm có hàng trăm người bệnh rối loạntâm thẩn RLTT do sử dụng ma túy phải nhập viện, trong đó phần lớn là nghiện matuy chất dạng Amphetamine “ma túy đá”

Trang 1

-LÊ QUỐC DÂN

THỰC TRẠNG RỐI LOẠN TÂM THẦN

Ở NGƯỜI BỆNH SỬ DỤNG ATS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHĂM SÓC TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN HÀ NỘI NĂM 2019

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

-LÊ QUỐC DÂN

THỰC TRẠNG RỐI LOẠN TÂM THẦN

Ở NGƯỜI BỆNH SỬ DỤNG ATS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHĂM SÓC TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN HÀ NỘI NĂM 2019

Chuyên ngành: Điều dưỡng

Mã số: 60720501

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.Lê Thị Bình

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

ATS: Amphetamine type Stimulants – Ma túy tổng hợpRLTT: Rối loạn tâm thẩn

Trang 4

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Khái niệm chất ma túy và nghiện ma túy 3

1.2 Cơ chế tác dụng 4

1.2.1 Dược động học 4

1.2.2 Dược lực học 5

1.2.3 Tác dụng dược lý 5

1.3 Một số ma túy thường gặp tại Việt Nam 6

1.3.1 Các chất dạng thuốc phiện 6

1.3.2 Cần sa 7

1.3.3 Amphetamine và các chế phẩm 7

1.3.4 Cocaine và Crack 7

1.3.5 Các thuốc giải lo âu, gây ngủ 7

1.3.6 Các dung môi hữu cơ 8

1.3.7 Các chất gây ảo giác 8

1.4 Ảnh hưởng và tác hại của nghiện ma túy ATS 8

1.5 Nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý 9

1.5.1 Nguyên nhân tâm lý 9

1.5.2 Nguyên nhân gia đình 10

1.5.3 Nguyên nhân xã hội 10

1.6 Các dấu hiệu của nghiện ma túy 10

1.7 Các rối loạn tâm thần do sử dụng ATS 11

1.7.1 Nhiễm độc cấp 11

1.7.2 Lạm dụng chất 12

1.7.3 Hội chứng nghiện ATS 12

1.7.4 Hội chứng cai ATS 13

1.7.5 Rối loạn loạn thần 14

1.7.6 Rối loạn cảm xúc 15

Trang 5

1.9 Một số quy trình hướng dẫn chăm sóc người bệnh nghiện ma túy 16

1.9.1 Quy trình hướng dẫn chăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy của Bộ y tế 16

1.10 Các nghiên cứu về đặc điểm ở bệnh nhân sử dụng ATS 17

1.10.1 Các nghiên cứu trên thế giới 17

1.10.2 Các nghiên cứu trong nước 19

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu 20

2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn 20

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 20

2.1.4 Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Tâm thần Hà Nội 20

2.2 Thiết kế và phương pháp thu thập thông tin 20

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 20

2.2.2 Cỡ mẫu 20

2.2.3 Trình bày phương pháp chọn mẫu 20

2.2.4 Trình bày phương pháp thu thập số liệu: 21

2.2.5 Quy trình nghiên cứu 21

2.3 Xử lý và phân tích số liệu 22

2.4 Sai số và khống chế sai số 22

2.5 Biến số, chỉ số nghiên cứu 22

CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 25

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 25

3.1.1 Tuổi của đối tượng nghiên cứu 25

3.1.2 Giới của đối tượng nghiên cứu 25

3.1.3 Trình độ học vấn người bệnh nghiên 25

3.1.4 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 26

3.1.5 Nơi sống của đối tượng nghiên cứu 26

Trang 6

3.3 Tuổi bắt đầu xử dụng ma túy 27

3.4 Thời gian sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu 27

3.5 Tần suất sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu 28

3.6 Loại ma túy trước sử dụng ATS của đối tượng nghiên cứu 28

3.7 Tiền sử gia đình có người nghiện 29

3.8 Tiền sử bản thân của đối tượng nghiên cứu 29

3.9 Hoàn cảnh sử của đối tượng nghiên cứu 29

3.10 Bệnh lý kèm theo khi bị nghiện 30

3.11 Phân bố người bệnh cai nghiện theo phân độ BMI 30

3.12 Nhận định các biểu hiện lâm sàng của NB cai nghiện 31

3.13 Nhận định các vấn đề không mong muốn trong quá trình CSNB cai nghiện 32

3.14 Nhận định các kết quả cận lâm sàng của NB cai nghiện 32

3.15 Các yếu tố liên quan đến công tác điều dưỡng 33

3.15.1 Liên quan giữa trình độ của NB nghiện với chăm sóc của Điều dưỡng 33 3.15.2 Liên quan giữa hôn nhân của NB với đặc điểm lâm sàng của NB nghiên 33

3.15.3 Liên quan giữa nghề nghệp của NB với đặc điểm lâm sàng của NB nghiện 33

3.15.4 Sự liên quan giữa thời gian bị sử dụng ma túy với đặc điểm lâm sàng của NB 34

3.15.5 Sự liên quan giữa sử dụng nhiều loại ma túy với hoạt động ĐD chăm sóc NB 34

3.15.6 Sự liên quan giữa bị bệnh lý kèm theo với thời gian nằm bệnh viện điều trị 34

3.15.7 Sự liên quan giữa giai đoạn lâm sàng của NB với hoạt động ĐD chăm sóc NB 35 3.15.8 Liên quan giữa chăm sóc tâm lý của Điều dưỡng với NB nghiện 35

3.15.9 Liên quan giữa BMI với các hoạt đọng CSNB của điều dưỡng 35

Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 36

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 3.1 Tuổi của đối tượng nghiên cứu 25

Bảng 3.2 Giới của đối tượng nghiên cứu 25

Bảng 3.3 Trình độ học vấn người bệnh nghiện 25

Bảng 3.4 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 3.5 Nơi sống của đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 3.6 Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 3.7 Lý do sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu 27

Bảng 3.8 Tuổi bắt đầu sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu 27

Bảng 3.9 Thời gian sử dùng ma túy của đối tượng nghiên cứu 27

Bảng 3.10 Tần suất sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu 28

Bảng 3.11 Loại ma túy trước sử dụng ATS của đối tượng nghiên cứu 28

Bảng 3.12 Tiền sử gia đình có người nghiện 29

Bảng 3.13 Tiền sử bản thân của đối tượng nghiên cứu 29

Bảng 3.14 Hoàn cảnh sử của người nghiện 29

Bảng 3.15 Bệnh lý bị mắc thêm khi bị nghiện 30

Bảng 3.16 Phân bố người bệnh cai nghiện theo phân độ BMI 30

Bảng 3.17 Các bểu hiện lâm sang của NB cai nghiện 31

Bảng 3.18 Các vấn đề không mong muốn trong quá trình CSNB cai nghiện 32

Bảng 3.19 Các kết quả lâm sàng của đối tượng nghiên cứu 32

Bảng 3.20 Sự liên quan giữa trình độ của NB nghiện với chăm sóc của Điều dưỡng 33

Bảng 3.21 Sự liên quan giữa hôn nhân của NB với đặc điểm lâm sàng của NB nghiện 33

Trang 8

Bảng 3.23 Sự liên quan giữa thời gian bị sử dụng ma túy với đặc điểm lâm

sàng của NB 34 Bảng 3.24 Sự liên quan giữa sử dụng nhiều loại ma túy với hoạt động ĐD

chăm sóc NB 34 Bảng 3.25 Bệnh lý bị mắc thêm khi bị nghiện 34 Bảng 3.26 Sự liên quan giữa giai đoạn lâm sàng của NB với hoạt động ĐD

chăm sóc NB 35 Bảng 3.27 Sự liên quan giữa chăm sóc tâm lý của Điều dưỡng với NB

nghiện 35 Bảng 3.28 Sự liên quan giữa các hoạt động CSNB của điều dưỡng với dinh

dưỡng NB 35

Trang 9

Hình 1.1: Amphetamine ma túy đá 3

Hình 1.2: Tim bình thường và tim NB nghiện ma túy đá 5 Hình 1.3: Não bộ của người bình thường và của NB nghiện ma túy đá 8

Trang 10

số người sử dụng chất ma túy khoảng 275 triệu người chiếm 5,6% dân số toàn cầu ở

độ tuổi từ 15 đến 64

Ở Việt Nam theo báo cáo của Thứ trưởng Bộ Lao Động Thương Binh XãHội năm 2017 cả nước có trên 222.000 nghìn người nghiện có hồ sơ quản lý, trong

đó gần 50% sử dụng ma túy tổng hợp (ATS) và chất hướng thần

Tại Bệnh viện Tâm thần Hà nội, mỗi năm có hàng trăm người bệnh rối loạntâm thẩn (RLTT) do sử dụng ma túy phải nhập viện, trong đó phần lớn là nghiện matuy chất dạng Amphetamine “ma túy đá”

Việc sử dụng rộng rãi và ngày càng nhiều các chất ma túy như: Cocain, Cần

sa, “Cỏ Mỹ”, nhóm ATS (Amphetamine type Stimulants) là những chất ma túy cótác dụng kích thích mạnh, nhất thời lên hệ thống thần kinh trung ương gây cảm giáchưng phấn, rối loạn tri giác (ảo thanh, ảo thị ), mất kiểm soát được hành vi, pháhoại tâm sinh lý con người Nó còn làm suy sụp tinh thần và đạo đức ngườinghiện.Các tệ nạn xã hội, tội ác luôn đi kèm với tình trạng nghiện ma túy Chính vìvậy điều trị cai nghiện ma túy là một vấn đề bức thiết hiện nay của toàn xã hội,trong đó ngành y tế đóng vai trò hết sức quan trọng Để điều trị và chăm sóc chongười bệnh đạt được kết quả cao đòi hỏi người điều dưỡng đóng vai trò quan trongviệc chăm sóc hàng ngày, tuy nhiên đến nay chưa có nghiên cứu nào đưa ra vềchăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy có rối loạn tâm thần, đó là lý do đề tài

Trang 11

“Thực trạng rối loạn tâm thần ở người bệnh sử dụng ATS (Amphetamine type Stimulants) và một số yếu tố liên quan đến chăm sóc tại Bệnh viện Tâm thần

Hà Nội, năm 2019” được thực hiện nhằm mục tiêu sau:

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Khái niệm chất ma túy và nghiện ma túy [8, 9]

- Chất ma túy là những chất tự nhiên (như nhựa thuốc phiện, lá Coca …) bán

tổng hợp (như heroin) hay tổng hợp như ATS (amphetamin, và các chất đồngdạng)tác động đặc biệt vào hệ thần kinh trung ương và nếu dùng lặp lại nhiều lần xẽgây ra trạng thái gọi là nghiện ma túy

- Nghiện ma túy là một trạng thái nhiễm độc chất ma túy, nhiễm độc mãn tính

hay chu kỳ với những đặc điểm:

+ Có nhu cầu không cưỡng được phải tiếp tục dùng chất ma túy

+ Liều lượng chất ma túy có khuynh hướng tăng dần lên mới thỏa mãn đượcnhu cầu về chất ma túy của cơ thể (hiện tượng dung nạp)

+ Người nghiện biết tác hại của chất ma túy đến cá nhân và xã hội mà vẫntiếp tục dùng

- Ba trạng thái cơ bản trong nghiện ma túy là trạng thái dung nạp, trạng thái lệthuộc về mặt cơ thể và trạng thái lệ thuộc về mặt tâm thần

+ Trạng thái dung nạp: Tác dụng của chất ma túy sẽ giảm bớt nếu dung nạplặp lại, muốn đạt được tác dụng của những lần trước phải tăng liều và cứ thế cơ thểdần dần dung nạp được một liều chất ma túy rất cao Liều này nếu dùng cho mộtngười không nghiện thì không thể dung nạp được và có thể gây tử vong

Trang 13

+ Hội chứng cai hay trạng thái lệ thuộc về mặt cơ thể: Bao gồm nhiều triệuchứng cơ thể và tâm thần xuất hiện khi người nghiện ngừng sử dụng chất ma túyhoặc dùng liều thấp không đáp ứng được nhu cầu chất ma túy của cơ thể.

Hội chứng cai làm cho người nghiện lệ thuộc vào chất ma túy về mặt cơ thể,người nghiện không chịu đựng được phải tim mọi cách để có được chất ma túy dẫnđến các hành vi phạm pháp

Hội chứng cai là một tiêu chuẩn quan trọng để chẩn đoán xác định trạng tháinghiện ma túy, nếu đột ngột cắt chất ma túy mà không thấy xuất hiện hội chứng caithì có thể xem như người ấy chưa nghiện

Hội chứng cai sẽ tự mất đi sau từ 1 đến 2 tuần không cần dùng đến một loạithuốc nào Bằng chứng cho thấy ở những phạm nhân nghiện ma túy khi vào trạigiam, hội chứng cai nhanh chóng tự mất đi không cần đến thuốc điều trị

+ Trạng thái lệ thuộc về mặt tâm thần (hay thèm ma túy):thì tồn tại rất dai dẳng, ởmột số người xem như tồn tại suốt đời Đó là trạng thái thèm chất ma túy trườngdiễn, thèm mãnh liệt như người đói lâu ngày thèm ăn

1.2 Cơ chế tác dụng

1.2.1 Dược động học

ATS thường được sử dụng qua đường hít, hút, uống hoặc tiêm (có tác dụngtức thì), ngoài ra có thể được sử dụng qua đường đặt hậu môn, âm đạo

ATS tan trong mỡ, hấp thu nhanh qua ống tiêu hóa vào máu rồi phân bố khắp

cơ thể, qua hàng rào máu não và có tác dụng một giờ sau khi uống Chất được tíchlũy trong mô mỡ, tập trung nhiều ở não, qua màng rau thai dễ dàng

ATS được chuyển hóa chủ yếu ở gan, nhưng phần lớn thuốc được dùng quađường uống thì được đào thải nguyên chất qua nước tiểu, bằng phương pháp miễndịch huỳnh quang, xác định được ATS trong nước tiểu

Thời gian bán hủy được rút ngắn đáng kể khi nước tiểu có tính axit và phụthuộc vào dạng thuốc, liều lượng, đường dùng và cách dùng Thời gian bán hủycủa ATS là 8 - 10 giờ [13],[14]

Trang 14

1.2.2 Dược lực học

ATS gây ra cảm giác hưng phấn, giúp cải thiện sự tập trung, giảm thèm ăn vàgiảm nhu cầu ngủ Chất này có thể gây ra ảo tưởng, ảo giác, hoang tưởng và cáctriệu chứng loạn thần khác rất khó phân biệt với các triệu chứng dương tính của tâmthần phân liệt [2]

ATS giúp tự tin và dễ hòa đồng, giúp tăng cường khả năng tình dục, nhữngngười sử dụng chất này cho biết có tăng tần xuất hoạt động tình dục và thích quan

hệ tình dục với nhiều bạn tình hơn những người sử dụng heroin

Phần lớn những người sử dụng ATS điều trị cho biết nhu cầu ngày càng tănglên để đạt được hiệu quả điều trị như trước Sự dung nạp ATS tăng có thể gây nêncác ảnh hưởng về tim mạch

Hình 1.2: Tim bình thường và tim NB nghiện ma túy đá

Thử nghiệm trên động vật cho thấy: sử dụng ATS kéo dài cũng gây nhu cầutăng liều để đạt được hiệu quả như giai đoạn đầu Giả thuyết cho sự tăng dung nạpcủa thuốc là do sự kích thích các thụ thể khác nhau trong hệ thần kinh trung ương.Trong các nghiên cứu, lúc đầu dùng với liều thấp và sau vẫn dùng với liều thấp thìphải nhắc lại nhiều lần mới đạt tác dụng mong muốn [11]

1.2.3 Tác dụng dược lý

1.2.3.1 Cơ chế tác dụng

ATS làm tăng cả hoạt tính catecholamin và serotonin Serotonin được coi làchất dẫn truyền thần kinh đóng vai trò chủ yếu gây ra ảo giác, gây ra cảm giác phiêudiêu, huyền ảo, say đắm

Trang 15

Các cơ chế tác động:

 Tăng giải phóng các monoamin vào khe synap

 Ức chế tái hấp thu các monoamin

 Ức chế phá hủy monoamin bởi MAO

1.2.3.2 Biểu hiện lâm sàng

Một người chưa từng dùng amphetamin bao giờ thì chỉ cần liều 5mg cũng

có thể gây ra cảm giác “phê”, khoái cảm, tăng khí sắc, thân thiện với mọi người Liềunhỏ hơn thường có tác dụng làm tăng cường sự chú ý, tăng cường hiệu suất công việc(trong nói, viết và một số nhiệm vụ khác) Thuốc còn có thể làm giảm mệt mỏi, gâychán ăn, làm tăng ngưỡng kích thích đau, tăng hoạt động tình dục, tăng năng lượng…

ATS còn có tác dụng làm cho người nghiện xuất hiện các ảo giác, có thể gâyrối loạn định hướng và các lệch lạc, méo mó về tri giác, cảm giác say đắm, thấynhững ánh hào quang rực rỡ… Do vậy còn được gọi là các chất gây ảo giác và cácchất ma túy thực sự

1.2.3.3 Các tác dụng phụ

Với liều cao kéo dài: các triệu chứng của rối loạn lo âu lan toả, rối loạnhoảng sợ, rối loạn giấc ngủ, giảm tình dục Có thể xuất hiện hội chứng paranoid vớicác ý tưởng liên hệ, hoang tưởng bị theo dõi, ảo giác (thị giác, thính giác…) cũngthường xuất hiện trên lâm sàng Ngoài ra còn có các tác dụng phụ khác như cứnghàm, nghiến răng, khô miệng, tăng sự cảnh tỉnh, thấy các đồ vật có ánh hào quangrực rỡ, toát mồ hôi, mất ngủ, chóng mặt, tăng cảm giác lạnh, những cơn bốc nóng…Muộn hơn là các triệu chứng ngủ gà ngủ gật, đau cơ, mệt mỏi, trầm cảm, đau đầu,khô miệng, lo âu, sợ hãi…

1.3 Một số ma túy thường gặp tại Việt Nam.

1.3.1 Các chất dạng thuốc phiện (Les opiaces) [23, 24].

Gây dung nạp, phụ thuộc về mặt cơ thể và tâm thần mạnh Là loại ma túymạnh và bị cấm sử dụng

- Thuốc phiện (opium) là nhựa của quả cây thuốc phiện được cô lại, thườnghút với bàn đèn và sái thuốc phiện được đun lên với nước để trích (ở Việt Nam)hoặc uống để chữa trị đi rửa

Trang 16

- Codeine: Alcaloide của thuốc phiện được bào chế dưới dạng viên uốngdùng chữa ho.

- Morphine là Alcaloide của thuốc phiện được bào chế dưới dạng tiêm bắp,tĩnh mạch

- Heroin: Chế phẩm của morphine tồn tại dưới dạng bột hoặc hạt màu trắng,màu be hoặc màu hồng mùi rất chua, thường được sử dụng dưới dạng hít, hút, tiêmtĩnh mạch

1.3.2 Cần sa (canabis).

+ Là loại ma túy nhẹ, bị cấm sử dụng

+ Hoạt tính chính THC (Tetrahydrocanabinol)

+ Không gây dung nạp và không gây phụ thuộc về mặt cơ thể

+ Gây phụ thuộc về mặt tâm thần và gây độc tâm thần

+ Được sử dụng như hút thuốc lá hoặc thuốc lào, cũng có thể ăn hoặc uống(trộn lẫn)

- Được chia làm 3 loại

+ Marijuana: là sản phẩm lá và hoa khô

+ Le Hascchich: triết xuất từ dễ cây cái mạnh gấp 10 lần marijuna

+ Dầu: sền sệt, nhựa đen, lồng độ THC rất cao

1.3.3 Amphetamine và các chế phẩm.

+ Amphetamine là một sản phẩm tổng hợp được tìm ra vào năm 1927 đểchữa một số bệnh tâm thần Được đóng viên hoặc bột trắng, dễ hòa tan trong nướcnên dễ bị lạm dụng đường tiêm trích

+ Gây dung nạp, phụ thuộc tâm thần, nhiễm độc tâm thần mạnh

1.3.4 Cocaine và Crack.

+ Sản phẩm từ hoa và lá khô của cây coca

+ Crack là chế phẩm của cocaine nhưng hiệu quả mạnh hơn

+ Không gây dung nạp và không gây phụ thuộc về mặt cơ thể

1.3.5 Các thuốc giải lo âu, gây ngủ.

+ Các thuốc Benzodiazepinc và Barbiturique: Là thuốc hướng thần để điềutrị chứng mất ngủ và lo âu nhưng bị nhiều người lạm dụng

Trang 17

+ Thường sử dụng dưới dạng uống hoặc tiêm tĩnh mạch với liều cao hơn rấtnhiều liều điều trị.

+ Gây dung nạp, gây phụ thuộc cơ thể và tâm thần

1.3.6 Các dung môi hữu cơ.

+ Đó là hồ keo, essence, gaz bật lửa, ethez, benzen, dung môi hòa tan, cácchất tẩy

+ Thường bị trẻ em lạm dụng Hít trực tiếp hoặc đổ vào túi nilon áp vào mặt hít.+ Dung nạp chậm, phụ thuộc cơ thể nhẹ, phụ thuộc tâm thần và gây độc tâm thần

1.3.7 Các chất gây ảo giác.

+ Mescaline, psilocybine, LSD 25 gây dung nạp, phụ thuộc tâm thần, gâyđộc tâm thần Không phụ thuộc cơ thể, sử dụng uống hoặc tiêm

1.4 Ảnh hưởng và tác hại của nghiện ma túy ATS [25 38.39, 40].

Khi NB sử dụng ATS đem lại cảm giác ngay lập tức - chỉ sau từ 3-5 phútnhưng công dụng kéo dài tới 6 - 8 tiếng [94]

Ma túy khi vào cơ thể sẽ trực tiếp tới hệ thần kinh trung ương của con người,giải phóng lượng dopamine cao gấp 15 lần so với bình thường Hệ quả là trong thờigian ngắn, người dùng trở nên rất tỉnh táo, tự tin, thông minh hơn hay thậm chílàkích động hoặc có ý tưởng và hành vi tự hủy hoại thân thể

Chất này còn khiến não tiết ra nhiều adrenaline - hormone tạo ra sự phấnkhích, dẫn tới ảo giác, khiến NB không cảm thấy đói và cực kì hứng thú

Hình 1.3: Não bộ của người bình thường và của NB nghiện ma túy đá

Trang 18

Nếu dùng trong thời gian dài, các tế bào não sẽ tổn thương và dần dần chết Khác với cocaine, ATS khiến não tiết ra enzyme phá hủy cấu trúc dopaminesau khi được sử dụng Do đó, dùng ATS quá nhiều sẽ hủy hoại hoàn toàn cơ chế tiếtdopaminecủa não bộ Việc sử dụng ATS không đưa đến cái chết tức khắc nhưngdần dẫn đến các bệnh tâm thần, từ lo sợ vô cớ, trầm cảm đến rối loạn thần kinh thật

sự Methamphetamine sẽ làm tăng nhịp tim một cách bất thường cũng như nhiệt độ

cơ thể Nếu nhiệt độ vượt quá mức cho phép, NB có nguy cơ bị đột quỵ, tổn thươngnão bất thường và dẫn tới cái chết ngay lập tức

- Người bệnh có thời kỳ đứng ngồi không yên kích thích vận động, có ngườibệnh thay đổi hẳn nhân cách

- Người nghiên ma túy có su hướng ngày càng tăng liều, dễ bị ngộ độc cấp khi

dùng liều cao có thể dẫn đến tử vong

- Sức khỏe ăn uống kém, gây sút, nhiễm khuẩn do tiêm trích mất vệ sinh, lâylây truyền các bệnh viêm gan B, C, HIV/AIDS, bộ nhiễm lao, sốc…

- Nhân cách thay đổi: Thiếu tình cảm với người thân, lối sống buông thả, tínhtình trở nên cáu gắt, dễ bị kích thích, hung hãn liều lĩnh, chểnh mảng, không tậptrung công việc, không tôn trọng giờ giấc, thức đêm ngủ ngày Thay đổi thái độ, ăntrộm, ăn cắp, nói dối, phần lớn thời gian dành cho việc tìm kiếm và sử dụng ma túy

- Rối loạn về mặt tâm thần: Rối loạn tri giác (trầm cảm, lo âu, hoang tưởng bịtheo dõi, bị hại, ảo thanh, ảo thị…) Rối loạn hành vi tác phong (leo trèo, nhảy múa,lột bỏ quần áo…)

- Mối quan hệ gia đình bị giảm sút nặng nề, thường xẩy ra xung đột do nghi kỵ

đổ lỗi trách nhiệm cho nhau Kinh tế gia đình giảm sút dẫn đến tình trạng ly hôn, lythân, con cái không nơi nương tựa…

1.5 Nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý [11, 12,13,14].

1.5.1 Nguyên nhân tâm lý

- Do tính tò mò và mạo hiểm của lứa tuổi thanh thiếu liên, muốn thử trảinghiệm những điều ngăn cấm, muốn tự khẳng định mình, tự cho mình đẵ trưởngthành, có thể có hành vi độc lập tùy thích

Trang 19

- Có những thanh thiếu niên có những vấn đề bất toại với gia đình và xã hộitìm đến ma túy hoặc muốn thoát ly khỏi các stress (như mâu thuẫn giữa các thế hệ,cha mẹ bất hòa, ly thân, ly hôn, cái chết của người gắn bó nhất…).

- Thường gặp nhất do ảnh hưởng và áp lực của bạn bè nghiện ma túy trongcùng băng nhóm

- Một số do các trạng thái bênh lý tâm thần nhất thời hay trường diễn như lo

âu, trầm cảm, hay nhân cách bệnh

1.5.2 Nguyên nhân gia đình.

- Gia đình lơ là giáo dục, chăm sóc, quản lý con cái

- Gia đình có người nghiện ma túy, hoặc giầu có cho con em mình tiền tựtiêu sài không kiểm soát hoặc gia đình thường xuyrên có xung đột nội bộ dễ đẩyđến con đường nghiện ma túy

1.5.3 Nguyên nhân xã hội.

- Côngtác quản lý ở các trường học không chặt chẽ, thiếu cảnh giác với sự

xâm nhập chất ma túy vào các trường từ tiểu học đến đại học

- Thái độ của cộng đồng chưa phát hiện, tố giác, lên án mạnh mẽ các hành vi

buôn lậu, chứa chấp và lạm dụng các chất ma túy

- Chính quyền và các cơ quan hữu quan thiếu các biện pháp hữu hiệu, cươngquyết và thường xuyên để phòng chống nghiện ma túy trong địa bàn phụ trách

1.6 Các dấu hiệu của nghiện ma túy.

- Dấu hiệu chung.

Trang 20

+ Không tôn trọng giờ giấc, về nhà muộn.

+ Thay đổi thái độ

1.7 Các rối loạn tâm thần do sử dụng ATS

Trong thực hành lâm sàng, chúng ta thường gặp các rối loạn về tâm thần do sửdụng ATS như sau [10]:

- Rối loạn chức năng tình dục

- Rối loạn giấc ngủ

1.7.1 Nhiễm độc cấp

Nhiễm độc ATS có thể xảy ra bằng một liều đơn độc ở người không dung nạpnhưng thường thấy hơn ở những người lạm dụng hoặc lệ thuộc Các triệu chứngnhiễm độc ATS hầu như thoái triển sau 24 giờ và thoái triển hoàn toàn sau 48 giờ.Chẩn đoán nhiễm độc ATS theo DSM IV [10]:

 Các triệu chứng này xuất hiện trong khi sử dụng hay một thời gian ngắnsau khi sử dụng ATS

Trang 21

 Có 2 hoặc nhiều các triệu chứng sau:

 Tăng hay giảm nhịp tim

 Kích động hay ức chế tâm thần vận động

 Giãn đồng tử

 Mệt mỏi, đau ngực, ức chế hô hấp

 Tăng hoặc giảm huyết áp

 Lú lẫn hay hôn mê

 Toát mồ hôi hay rét run

 Co giật, loạn trương lực cơ

 Sút cân

 Buồn nôn hay nôn

 Các triệu chứng này không phải là do một bệnh cơ thể nào khác gây ra vàkhông ghép được vào một rối loạn tâm thần nào khác

1.7.3 Hội chứng nghiện ATS

Là tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện ma túy chung theo tiêu chuẩn chẩn đoán củaICD-10 và DMS-IV Song đối với ATS người nghiện không có sự lệ thuộc nghiêm

Trang 22

trọng về mặt cơ thể, cho nên có thể có những giai đoạn vài ngày hay vài tuần giánđoạn không cần sử dụng.

Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng nghiện ATS theo ICD-10 [16],[15]:

1 Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải sử dụng ATS

2 Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng ATS (về thời gian, mức độ,cách sử dụng)

3 Có hội chứng cai khi ngừng uống hay giảm sử dụng ATS

4 Có bằng chứng về hiện tượng dung nạp chất ma túy đang sử dụng

5 Xao nhãng các thú vui, thích thú trước đây để dành thời gian tìm kiếm hay

sử dụng cũng như hồi phục sau tác động của ATS

6 Tiếp tục sử dụng mặc dù có các bằng chứng rõ ràng về hậu quả tai hại do

sử dụng ATS

Chẩn đoán nghiện khi có ít nhất 3 trong 6 tiêu chuẩn nghiện chất đã mô tảtrên xảy ra cùng nhau trong vòng ít nhất 1 tháng.Nếu 3 tiêu chuẩn đó tồn tại ít hơn 1tháng thì cần lặp đi lặp lại cùng nhau trong thời gian 12 tháng

1.7.4 Hội chứng cai ATS

 Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai theo ICD- 10 nghiên cứu[15]

A Các tiêu chuẩn chung đối với trạng thái cai phải được đáp ứng:

 Phải có bằng chứng rõ ràng về việc mới ngừng hoặc giảm sử dụng ATS,sau khi đã sử dụng chất đó lặp đi lặp lại, thường với liều cao và thời giankéo dài

 Các triệu chứng và dấu hiệu tương ứng với các đặc điểm đã biết của trạngthái cai ATS

 Các triệu chứng và dấu hiệu không thể quy cho một bệnh nội khoa khôngliên quan đến việc sử dụng ATS, và không thể quy cho một rối loạn tâmthần hoặc một rối loạn hành vi khác

B Có rối loạn khí sắc (buồn hoặc mất khoái cảm)

C Hai trong số các dấu hiệu sau phải có mặt:

 Mệt mỏi

Trang 23

 Chậm chạp hoặc kích động tâm thần vận động.

 Cảm giác thèm khát đối với một thuốc kích thích

 Tăng khẩu vị

 Mất ngủ hoặc ngủ nhiều

 Có các giấc mơ khó chịu hoặc kỳ quặc

 Tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM- IV[10]:

A Hội chứng xảy ra do ngừng hay giảm sử dụng ATS ở người nghiện (đãdùng liều cao và kéo dài )

B Có rối loạn khí sắc và có 2 hoặc nhiều hơn các rối loạn sau đây (xuất hiệnsau khi ngừng sử dụng ATS một vài giờ hay một vài ngày)

C Các triệu chứng này thể hiện rõ rệt và gây rối loạn các hoạt động xã hội, lao động

D Các triệu chứng này không phải do một bệnh lý cơ thể hay rối loạn thầnkhác gây ra

1.7.5 Rối loạn loạn thần

Nhiều ảo thị (sinh động, nhiều màu sắc, cấp diễn) và ảo thanh

Ảo thanh gồm có loại ảo thanh như nghe tiếng chuông, tiếng còi, tiếng máy nổ,tiếng súng và ảo thanh điển hình: nghe tiếng nói, tiếng chuyện trò, tiếng nói có thể

to hay nhỏ hoặc bình thường Nội dung của ảo thanh có thể là chế nhạo, cảnh cáo,

đe doạ, báo trước một điềm chẳng lành hay là phê bình, chửi rủa Ảo thanh có thểxảy ra liên tục hoặc từng lúc Ảo thanh ảnh hưởng đến cảm xúc làm người bệnh lolắng, buồn rầu, giận dữ, vui vẻ phấn khởi Tuỳ nội dung ảo thanh mà người bệnh

có thể phản ứng bằng cách bịt tai, khóc, cười, có hành vi chạy trốn, tự sát hay tấncông người khác[15]

Trang 24

Ảo thị cũng thường gặp và thường kết hợp với ảo thanh Nội dung ảo thị rất

đa dạng như thấy một ngọn lửa, thấy đom đóm, thấy khói, sương mù, thấy hình ảnhcảnh vật mờ mờ hay rõ rệt Ảo thị có thể sinh động, một đám đông, một bầy sâu bọ,một đàn thú dữ

Các hoang tưởng thường gặp là: hoang tưởng liên hệ, bị truy hại, đôi khi có

cả hoang tưởng bị kiểm tra

Các hoang tưởng, ảo giác sinh động làm người bệnh tăng hoạt động hoặc rốiloạn hành vi theo ảo giác, hoang tưởng chi phối

Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn loạn thần[2]:

 Khởi phát của các triệu chứng loạn thần xảy ra trong khi sử dụng hoặctrong vòng 2 tuần cósử dụng chất

 Các triệu chứng phải tồn tại hơn 48 giờ

 Các triệu chứng này kéo dài không quá 6 tháng

1.7.6 Rối loạn cảm xúc

Khởi đầu của rối loạn cảm xúc có thể xảy ra trong quá trình nhiễm độc hoặchội chứng cai Nói chung, nhiễm độc đi kèm với tính chất cảm xúc thất thường,trong khi hội chứng cai thường gây ra trầm cảm Các triệu chứng cảm xúc thấtthường hoặc hưng phấn nhẹ thường thấy trong dùngATS Trong những tình huốngnày nên xem xét đến chẩn đoán rối loạn cảm xúc do ATS Tuy nhiên, thường thìkhó phân biệt rối loạn cảm xúc do các chất này với rối loạn cảm xúc nguyên phátđặc biệt ở những bệnh nhân có tiền sử trầm cảm trước khi sử dụng ATS Việc sửdụng chất này có thể làm trầm trọng hơn những rối loại trầm cảm nguyên phát[2],[17]

Khởi đầu của rối loạn lo âu do ATS có thể xảy ra trong nhiễm độc hoặc saucai Giống như cocain, có thể gây ra các triệu chứng giống như thấy trong rối loạn

ám ảnh nghi thức với các hành vi nhắc lại, rập khuôn Tuy nhiên, những triệu chứngnày không kéo dài sau giai đoạn ngộ độc ATS cũng có thể gây ra các cơn hoảng sợ

ở những cá nhân chưa có tiền sử hoảng sợ [18].

1.7.7 Rối loạn nhân cách

Trang 25

Thường là nhân cách chống đối xã hội: Chống lại những chuẩn mực xã hội,những nội quy, phản ứng mang tính bùng nổ dữ dội.

1.8 Điều trị

Rối loạn tâm thần có thể có nhiều nguyên nhân gây bệnh khác nhau Điều trịnhiềuphương pháp khác nhau như hóa dược, liệu pháp sốc điện, kích thích từ xuyên

sọ, liệu pháp tâm lý Tuy nhiên tùy vào nguyên nhân gây bệnh mà chúng ta ưu tiên

và sử dụng phương pháp điều trị và phối kết hợp điều trị hợp lý

Điều trị rối loạn tâm thần trong sử dụng ATS và lệ thuộc ATS là một vấn đề[31] Điều trị hành vi cần được chú ý trong điều trị lệ thuộc ATSvàđiều trị hóa dượcdường như hiệu quả trong nghiện ATS Trong thực tế, bệnh nhân sử dụng ATS vàoviện phần lớn là do rối loạn loạn thần (hoang tưởng, ảo giác, kích động) ảnh hưởngtối cảm xúc và hành vi của bệnh nhân

Hướng điều trị:

+ Thuốc giải lo âu (Diazepam, Seduxen) uống, tiêm

+ Thuốc an thần kinh (Haloperidol, Tisercin) uống, tiêm

+ Thuốc giảm đau (paracetamol)

+ Thuốc chống tiêu chảy và mất nước (uống dung dịch ORS, truyền dung dịch) + Các thuốc an thần kinh thế hệ mới (Seroquel, Omed )

1.9 Một số quy trình hướng dẫn chăm sóc người bệnh nghiện ma túy.

1.9.1 Quy trình hướng dẫn chăm sóc người bệnh cai nghiện

ma túy của Bộ y tế [2].

1.9.1.1 Mục đích

- Giúp người bệnh vượt qua giai đoạn cai đỡ đau đớn vật vã, khó chịu

- Nâng đỡ thể trạng trong quá trình cai

- Tạo cho người bệnh ý chí để khi ra viện có phương pháp, nghị lực chống tái nghiện

1.9.1.2 Các bước chăm sóc

+ Phải có phòng tiếp đón riêng biệt, kiểm tra kỹ tư trang, thay toàn bộ quần áo,dép guốc, đồ dùng cá nhân để loại trừ ma túy

+ Hướng dẫn nội quy của khoa phòng, Bệnh viện

+ Ký vào đơn xin cai nghiện ma túy tự nguyện trong Hồ sơ bệnh án

Trang 26

+ Giúp người bệnh lấy nước tiểu tìm chất gây nghiện.

+ Đưa người bệnh đi làm các xét nghiệm cận lâm sàng: Xét nghiệm máu, HIV,

X quang, điện não đồ, test tâm lý

+ Quản lý không để người bệnh tiếp xúc với bên ngoài đề phòng tiếp tế chấtgây nghiện

Hầu hết người bệnh khi thiếu thuốc (ma túy) đều chống đối điều trị: Bỏ chạy,lẩn trốn, phá phách, đánh lại nhân viên, gây hấn

+ Kiên trì giải thích động viên, thông cảm với cơn đau đớn của người bệnh,không xa lánh NB, luôn phải tiếp cận người bệnh, xoa bóp cho NB

+ Nếu có tình trạng nguy kịch phải báo cáo bác sĩ kịp thời xử trí

+ Đảm bảo chế độ dinh dưỡng cho người bệnh, tăng cường hoa quả, chấtdinh dưỡng

+ Nhân viên trực theo dõi sát người bệnh uống thuốc, các hội chứng cai, theodõi chức năng sống theo chỉ định

+ Phát hiện những hành vi của người bệnh, quan hệ xung quanh, người thânđến thăm có những khả nghi mang ma túy vào cho người bệnh

+ Trường hợp người bệnh chống đối không chấp nhận cai báo bác sĩ giải quyếtkịp thời

+ Ghi nhận xét diễn biến bất thường, hội chứng cai vào phiếu theo dõi, phiếuchăm sóc điều dưỡng

1.10 Các nghiên cứu về đặc điểm ở bệnh nhân sử dụng ATS

1.10.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về các rối loạn tâm thần do sử dụng ATS,trong đó rối loạn trầm cảm là một trong các rối loạn tâm thần được các tác giả đềcập đến nhiều

Tại Mỹ

Angrist (1978) phỏng vấn 74 người nghiện ATS, nhận thấy các triệu chứngtâm thần hay gặp là căng thẳng, kích động và lo âu thường hay gặp và đã nhấnmạnh tới sự xuất hiện của trầm cảm, tăng cảm giác thèm ăn, ngủ nhiều, chậm chạp

Trang 27

tâm thần vận động khi bệnh nhân ngùng sử dụng ATS [35].

Nghiên cứu của Zweben và cộng sự (năm 2004) đã tiến hành điều tra tìnhtrạng tâm thần trong số 1016 người sử dụng methamphetamin tại Mỹ, mức độ caocủa triệu chứng tâm thần đặc biệt là trầm cảm (34% nữ và 24% nam) và tự tử (28%

nữ và 13% nam), lo lắng và các triệu chứng loạn thần [4]

Đơn vị dịch tễ học quốc gia nghiên cứu về rượu và các tình trạng liên quantại Mỹ (2008) cho thấy tỷ lệ mắc cả đời trầm cảm ở những người sử dụngmethamphetamin là 42%, so với cocain là 36%[36]

Tại Úc

Hando và Hall (1992) nghiên cứu trên 231 người sử dụng amphetamin tạiSydney, Australia thấy những vấn đề tâm thần thường gặp nhất là thay đổi tâmtrạng (80%), lo âu (72%), trầm cảm (71%) và hoang tưởng (71%) Và năm 1997,hai tác giả này cũng đã tiến hành một cuộc khảo sát 200 người dùng amphetamin ởNew South Wales thấy rằng sự lo lắng chiếm 63%, biểu hiện trầm cảm (64%),hoang tưởng (47%), ảo giác (28%), cơn hoảng sợ (21%) và ý tưởng tự sát (19%)[3]

Tại Nam Úc, một nghiên cứu năm1998 nhận thấy trong những người sử dụngmethamphetamin không điều trị thì 2/3 báo cáo có các triệu chứng lo âu và trầmcảm, hơn một nửa báo cáo có cảm xúc dao động và kích thích, hơn 1/3 có cơnhoảng sợ, paranoia[37]

Drevets W.C, Gautier C., Price J.C (2001) đưa ra nhận xét: rối loạn khí sắc làtiêu chuẩn cần thiết cho chẩn đoán cai ATS Khí sắc trầm thường xuất hiện trênnhững bệnh nhân điều trị nghiện, đặc biệt là nghiện ATS Hơn thế nữa, một số bệnhnhân nghiện ATS có rối loạn khí sắc kéo dài nhiều năm sau điều trị ngay cả khi đãngừng hoặc giảm sử dụng chất[38]

Trong nghiên cứu của Dyer và cộng sự (năm 2005) tại Úc thấy sau khingừng sử dụng amphetamin các đối tượng có biểu hiện lo âu chiếm tỷ lệ 63%, triệuchứng trầm cảm trong cai chiếm 64%, ý tưởng tự sát chiếm 19% [17]

Nghiên cứu của McKetin và cộng sự (2011) tại Úc thấy những người sử

Trang 28

dụng methamphetamin vào viện có 44% là trầm cảm do chất[5].

Tại một số quốc gia khác

Kết quả nghiên cứu hồi cứu ở 50 bệnh nhân nghiện ATS tại Anh, Cantwell B

và McBride A.J (năm 1998) đã chỉ ra phần lớn (86%) bệnh nhân trải qua triệu chứngcai khi ngừng sử dụng, chủ yếu với các biểu hiện như: cảm giác khó chịu, đau nhức

và triệu chứng trầm cảm[18]

Các triệu chứng của lo âu và trầm cảm đều có mối liên quan đến sử dụngATS Theo Morgan 2000, sử dụng thường xuyên ATS liên quan đến rối loạn giấcngủ, giảm khí sắc, lo âu dai dẳng và những người sử dụng ATS có thang điểm đánhgiá trầm cảm, lo âu cao hơn so với người không sử dụng Theo Nutting và cộng sự

có 85% người sử dụng ATS có triệu chứng trầm cảm và lo âu so với 7% có tìnhtrạng loạn thần [27]

1.10.2 Các nghiên cứu trong nước.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trong lĩnh vực y học về các rối loạn tâm thần do

sử dụng ATS còn hạn chế Tuy nhiên có một vài nghiên cứu có đề cập tới tỷ lệ rốiloạn tâm thần ở bệnh nhân sử dụng ATS

Trong nghiên cứu của Nguyễn Kim Việt, Trần Hữu Bình, ThS Lê Thị Thu Hà và

cs trên 42 bệnh nhân điều trị nội trú cho thấy rối loạn khí sắc chiểm 35,8% [39]

Kết quả nghiên cứu của Trịnh Tất Thắng và cộng sự (2012) trên 36 trường hợprối loạn tâm thần do sử dụng ATS: 100% có rối loạn cảm xúc bao gồm cảm xúc gâyhấn (55,6%); lo âu (36,1%); thờ ơ (8,3%) [40]

Lê Minh Ngọc và cộng sự (2013) nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn loạnthần do sử dụng ATS điều trị nội trú tại Viện sức khỏe tâm thần, mô tả tiến cứu 52bệnh nhân thấy cảm xúc căng thẳng, hằn học (64%); tiếp đến là sợ hãi, lo lắng(44,2%); bi quan, buồn chán [41]

Bùi Nguyễn Hồng Bảo Ngọc và cộng sự (2013) nghiên cứu đặc điểm lâm sànghội chứng cai ATS trên 33bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện sức khỏe tâm thần chokết quả 60,6% bệnh nhân có cảm giác buồn chán; 78,8% giảm quan tâm thích thúhay giảm năng lượng; 75,8% khí sắc trầm; 69,7% giảm tập trung chú ý; 36,4% có ýtưởng tự sát [42]

Ngày đăng: 10/07/2019, 21:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Trần Thị Hoa (2016). Nghiên cứu đặc điểm lâm sang trầm cảm ở bệnh nhân sử dụng các chất dạng Amphetamine điều trị nội trú tại Viện Sức Khỏe Tâm thần, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sang trầm cảm ở bệnh nhânsử dụng các chất dạng Amphetamine điều trị nội trú tại Viện Sức Khỏe Tâmthần
Tác giả: Trần Thị Hoa
Năm: 2016
12. Tổ chức Y tế Thế giới (1992). Phân loại các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần. Tiêu chuẩn chẩn đoán dành cho nghiên cứu, Bộ môn Tâm thần, Trường Đại học Y Hà Nội, 76-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn chẩn đoán dành cho nghiên cứu
Tác giả: Tổ chức Y tế Thế giới
Năm: 1992
13. Tổ chức Y tế Thế giới (1992). ICD-10 Giai đoạn trầm cảm.Mô tả lâm sàng và nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán, Bộ môn Tâm thần, Trường Đại học Y Hà Nội, 91-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả lâm sàng và nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Tác giả: Tổ chức Y tế Thế giới
Năm: 1992
14. Kaplan H.I and Sadock B.J (2009). Lạm dụng chất ở trẻ vị thành niên.Tóm lược Tâm thần học trẻ em và thanh thiếu niên, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 311-320 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm lược Tâm thần học trẻ em và thanh thiếu niên
Tác giả: Kaplan H.I and Sadock B.J
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2009
15. Ngô Tích Linh (2005). Rối loạn trầm cảm nặng.Tâm thần học, Đại học Y - Dược thành phố Hồ Chí Minh, NXB Y học, 116-124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm thần học
Tác giả: Ngô Tích Linh
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2005
16. Bùi Nguyễn Hồng Bảo Ngọc (2013).Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng hội chứng cai các chất dạng Amphetamin trên bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện sức khỏe tâm thần, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng hội chứng cai các chất dạng Amphetamin trên bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện sức khỏe tâm thần
Tác giả: Bùi Nguyễn Hồng Bảo Ngọc
Năm: 2013
17. Lê Minh Ngọc (2013).Nghiên cứu đặc điểm rối loạn loạn thần ở bệnh nhân sử dụng các chất dạng Amphetamine điều trị nội trú tại Viện sức khỏe tâm thần, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm rối loạn loạn thần ở bệnh nhân sử dụng các chất dạng Amphetamine điều trị nội trú tại Viện sức khỏe tâm thần
Tác giả: Lê Minh Ngọc
Năm: 2013
18. Bùi Văn San (2013). Nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng Amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng Amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Bùi Văn San
Năm: 2013
19. Nguyễn Viết Thiêm và Nguyễn Kim Việt (2003).Sinh hóa các chất dẫn truyền thần kinh. Điều trị học trong tâm thần, Bộ môn Tâm thần, Trường Đại học Y Hà Nội, 61-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị học trong tâm thần
Tác giả: Nguyễn Viết Thiêm và Nguyễn Kim Việt
Năm: 2003

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w