Hiện nay sốt xuất huyết Dengue được coi là một trong số các bệnhtruyền nhiễm quan trọng nhất trên thế giới với hơn 50% dân số thế giới sinhsống ở những nơi có nguy cơ mắc bệnh và khoảng
Trang 1CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực và chưatừng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng năm 2018
Phùng Ngọc Tám
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng và cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các Phòng, Bộ môn và các Thầy giáo, Cô giáo, cán bộ Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên đã trang bị cho tôi kiến thức, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Tuấn Hưng – Vụ Tổ Chức cán bộ - Bộ Y Tế; PGS.TS Đàm Thị Tuyết – Trưởng Khoa Y tế công cộng Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên, là những người Thầy, Cô đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và định hướng cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các cán bộ và nhân viên Khoa Y tế công cộng, Ban giám hiệu Trường Trung cấp Y tế Bến Tre đã giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng năm 2018
Trang 3Phùng Ngọc Tám
Trang 4BẢNG CÁC KÝ HIỆU, BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
ADN Acid deoxyribo Nucleic
Ae aegypti Aedes aegypti
Ae albopictus Aedes albopictus
BI Breteau Index (Chỉ số DCCN có bọ gậy/lăng quăng/100 nhà)
CI Container Index (Chỉ số DCCN có bọ gậy)
CSMĐM Chỉ số mật độ muỗi
CSMĐBG Chỉ số mật độ bọ gậy
COMBI Applying Commmunication-for-Behavioural-Impact
(Áp dụng truyền thông tác động về hành vi)
ELISA Enzyme Linked Immunorbent assay
(Thử nghiệm miễn dịch gắn men)
HI House Index (Chỉ số nhà có bọ gậy)
HQCT Hiệu quả can thiệp
Trang 5IFA: Phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp
IgG, IgM, Immunoglobulin ( Kháng thể)
KAP Knowledge- Attitude- Practice (Kiến thức- Thái độ- Thực hành)
PAHO Pan American Health Organization (Tổ chức y tế phụ trách châu
Mỹ) PCR Polymerase (định lượng trực tiếp)
PCSXHD Phòng, chống sốt xuất huyết Dengue
SXHD Sốt xuất huyết Dengue
SXHS Sốt xuất huyết Dengue sốc
TTYTDP Trung tâm Y tế dự phòng
TT-GDSK Truyền thông - giáo dục sức khoẻ
TCYTTG Tổ chức Y tế thế giới
WHO World Health Organization
(Tổ chức y tế thế giới)WPRO Western Pacific Region Office
(Văn phòng khu vực Tây Thái Bình Dương)
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU x
DANH MỤC HÌNH xi
DANH MỤC HỘP xii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết Dengue 3
1.1.1 Sốt xuất huyết Dengue trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam 8
1.1.3 Tình hình mắc bệnh và tử vong do sốt xuất huyết dengue tại Bến Tre .10
1.2 Các yếu tố liên quan đến bệnh sốt xuất huyết dengue 10
1.2.1 Căn nguyên, véc tơ gây bệnh SXHD trên thế giới và Việt Nam 10
1.2.2 Yếu tố thời tiết/mùa 14
1.2.3 Yếu tố di cư 15
1.2.4 Yếu tố theo tuổi, giới 15
1.2.5 Các yếu tố liên quan đến sự xuất hiện của muỗi, bọ gậy 16
1.2.6 Tác động truyền thông giáo dục sức khỏe đến kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng chống SXHD 17
1.3 Một số biện pháp can thiệp trong phòng chống bệnh SXHD 17
1.3.1 Biện pháp sinh thái học 18
1.3.2 Biện pháp sinh học 19
1.3.3 Biện pháp hóa học 22
Trang 71.3.4 Biện pháp dùng vắc xin 24
1.3.5 Biện pháp di truyền 25
1.3.6 Các giải pháp tổng hợp với sự tham gia của cộng đồng 26
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.1 Nghiên cứu mô tả 29
2.1.2 Nghiên cứu can thiệp 29
2.1.3 Nghiên cứu định tính 29
2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ 29
2.2 Địa điểm nghiên cứu 30
2.3 Thời gian nghiên cứu 31
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu 31
2.4.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 31
2.5 Các chỉ số nghiên cứu 36
2.5.1 Chỉ số cho mục tiêu 1 36
2.5.2 Chỉ số cho mục tiêu 2 38
2.6 Nội dung và phương pháp can thiệp 39
2.6.1 Thành lập ban chỉ đạo 39
2.6.2 Tập huấn chung về dự phòng sốt xuất huyết Dengue 41
2.6.3 Truyền thông phòng chống SXHD tại cộng đồng 42
2.6.4 Thả cá diệt bọ gậy 44
2.6.5 Tổ chức giám sát và báo cáo hoạt động 45
2.7 Sơ đồ tổng hợp quá trình nghiên cứu 46
2.8 Kỹ thuật thu thập số liệu 48
2.8.1 Đối với nghiên cứu định lượng 48
2.8.2 Đối với nghiên cứu định tính 49
2.9 Vật liệu nghiên cứu 49
2.10 Phương pháp khống chế sai số 50
Trang 82.11 Phương pháp xử lý số liệu 51
2.11.1 Số liệu định lượng 51
2.11.2 Số liệu định tính 52
2.12 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 52
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53
3.1 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue giai đoạn 2010 -2014 53
3.1.1 Thực trạng bệnh sốt xuất huyết Dengue giai đoạn năm 2010-2014 53
3.2 Hiệu quả một số giải pháp can thiệp cộng đồng phòng chống SXHD tại 2 huyện Châu Thành và huyện Mỏ Cày Nam tỉnh Bến Tre 68
3.2.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 68
3.2.2 Kết quả hoạt động nghiên cứu 69
3.2.3 Kết quả đầu ra 70
3.2.4 Kết quả tác động 79
Chương 4 BÀN LUẬN 82
4.1 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue giai đoạn 2010 -2014 82
4.2 Hiệu quả một số giải pháp can thiệp cộng đồng phòng chống SXHD tại 2 xã huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre 87
Chương 5 KẾT LUẬN 100
1 Một số đặc điểm dịch tễ sốt xuất huyết Dengue ở huyện Châu Thành và huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre giai đoạn năm 2010 – 2014 .100
2 Hiệu quả một số giải pháp can thiệp cộng đồng phòng chống SXHD tại 2 xã huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre 100
KHUYẾN NGHỊ 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC
Trang 10trung bình giai đoạn 2010 – 2014 59Bảng 3.7 Mối tương quan quan giữa lượng mưa trung bình với số ca mắc
SXHD trung bình giai đoạn 2010 – 2014 60Bảng 3.8 Mối tương quan giữa nhiệt độ trung bình với chỉ số côn trùng
giai đoạn 2010 - 2014 của huyện Châu Thành 61Bảng 3.9 Mối tương quan giữa nhiệt độ trung bình với chỉ số côn trùng
giai đoạn 2010 - 2014 của huyện Mỏ Cày Nam 62Bảng 3.10 Mối tương quan giữa lượng mưa trung bình với chỉ số côn
trùng giai đoạn 2010 - 2014 của huyện Châu Thành 63Bảng 3.11 Mối tương quan giữa lượng mưa trung bình với chỉ số côn
trùng giai đoạn 2010 - 2014 của huyện Mỏ Cày Nam 64Bảng 3.12 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 68Bảng 3.13 Phân bố lực lượng tập huấn chương trình phòng chống sốt xuất huyết 69Bảng 3.14 Kết quả về hoạt động của 2 xã can thiệp 69Bảng 3.15 Hiệu quả can thiệp kiến thức hiểu biết về muỗi truyền bệnh của
người dân 70Bảng 3.16 Hiệu quả can thiệp kiến thức về các biện pháp phòng chống
bệnh sốt xuất huyết dengue 72Bảng 3.17 Hiệu quả can thiệp thực hành các biện pháp dự phòng bệnh SXHD 73
Trang 11Bảng 3.18 Giám sát khả năng sống của cá trong các DCCN tại các điểm
nuôi 74Bảng 3.19 Giám sát các chỉ số côn trùng trước và sau khi thả cá .75Bảng 3.20 Hiệu quả can thiệp cải thiện kiến thức - thực hành dự phòng
bệnh SXHD của người dân 76Bảng 3.21 So sánh tỷ lệ HGĐ đậy kín dụng cụ chứa nước ở xã can thiệp 76Bảng 3.22 So sánh tỷ lệ dụng cụ chứa nước tại các hộ gia đình có thả cá
trước và sau can thiệp 77Bảng 3.23 So sánh tỉ lệ mắc/ chết do sốt xuất huyết Dengue tại xã can
thiệp và xã chứng sau 2 năm can thiệp 79
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tình hình mắc, chết do SXHD giai đoạn 2010 – 2014 53Biểu đồ 3.2 Phân bố mắc bệnh SXHD giai đoạn 2010 - 2014 theo giới tính 56Biểu đồ 3.3 Các chỉ số giám sát côn trùng DI, HI-BG, BI, CI giai đoạn 2010 - 2014 58Biểu đồ 3.4 Chỉ số mật độ muỗi Aedes aegypti (DI) tại xã can thiệp (A) 77và
xã đối chứng (B) sau 2 năm can thiệp 77
Biểu đồ 3.5 Chỉ số nhà có bọ gậy (HI - BG) tại xã can thiệp và xã đối chứng 78 Biểu đồ 3.6 Chỉ số DCCN có bọ gậy (CI) tại xã can thiệp (A) và xã đối
chứng (B) 78
Biểu đồ 3.7 Chỉ số Breteau (BI) tại xã can thiệp và xã đối chứng 79
Trang 13DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ phân bố bệnh sốt xuất huyết trên thế giới của WHO 5
Hình 1.3 Vòng đời và trứng của muỗi Aedes aegypti .13
Hình 1.4 Khả năng lan truyền vi rút Dengue của muỗi Aedes aegypti 14
Hình 1.5 Giáp xác Mesocyclops đang ăn bọ gậy muỗi truyền bệnh 21
Hình 1.6 Muỗi mang vi khuẩn Wolbachia 25
Hình 2.1 Bản đồ tỉnh Bến Tre 30
Trang 14DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1 Kết quả thảo luận nhóm của người dân và các cộng tác viên 65
Hộp 3.2 Kết quả phỏng vấn sâu lãnh đạo Trung tâm y tế huyện 65
Hộp 3.3 Kết quả phỏng vấn sâu Phó chủ tịch xã 66
Hộp 3.4 Kết quả phỏng vấn sâu các Trưởng trạm Y tế xã 67
Hộp 3.5 Kết quả thảo luận nhóm của người dân và các cộng tác viên sau can thiệp 80
Hộp 3.6 Kết quả phỏng vấn sâu giám đốc Trung tâm y tế huyện 80
Hộp 3.7 Kết quả phỏng vấn sâu Phó chủ tịch xã sau can thiệp 81
Hộp 3.8 Kết quả phỏng vấn sâu các Trưởng trạm y tế xã can thiệp 81
Trang 15Hiện nay sốt xuất huyết Dengue được coi là một trong số các bệnh
truyền nhiễm quan trọng nhất trên thế giới với hơn 50% dân số thế giới sinhsống ở những nơi có nguy cơ mắc bệnh và khoảng 50% sống ở các quốc gia
có lưu hành bệnh sốt xuất huyết , Theo Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm cókhoảng 100 triệu trường hợp mắc, phần lớn là trẻ em dưới 15 tuổi, tỷ lệ tửvong trung bình khoảng 2,5 - 5%
Tại Việt Nam, sốt xuất huyết Dengue tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền
Nam và miền Trung Trung bình mỗi năm cả nước ghi nhận khoảng 100.000trường hợp mắc và gần 100 trường hợp tử vong Năm 2014, được ghi nhận có32.049 số ca mắc sốt xuất huyết và 20 trường hợp tử vong Trước đây dịchchỉ xuất hiện ở thành phố, thị xã, nay lan rộng đến nông thôn Mặc dù ViệtNam đã nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp nhưng SXHD vẫn còn là một vấn
đề y tế công cộng to lớn Số tử vong do SXHD ở khu vực phía Nam chiếm tỉ
lệ trên 80% tổng số tử vong của cả nước
Bến Tre là tỉnh thuộc Đồng Bằng sông Cửu Long với hệ thống sôngngòi, kênh mương nhiều Khí hậu tỉnh Bến Tre nằm trong vùng khí hậu nhiệtđới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàngnăm từ 2.000 đến 2.300 mm, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 260C - 270C.Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho muỗi, lăng quăng phát triển cũng như là
Trang 16điều kiện thuận lợi để bệnh sốt xuất huyết xuất hiện Năm 2004, theo số liệutại Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bến Tre ghi nhận có 4.483 ca sốt xuất huyếtDengue, trong đó có 10 ca tử vong Năm 2010 số mắc sốt xuất huyết Denguecủa toàn tỉnh là 6.680 ca và 06 người tử vong Tuy số ca mắc và tử vong tạitỉnh Bến Tre không phải cao nhất trong khu vực nhưng diễn biến bệnh sốtxuất huyết vẫn còn phức tạp
Vậy vấn đề đặt ra là thực trạng Sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Bến Tre
ra sao? Các yếu tố nào liên quan đến Sốt xuất huyết Dengue ? Giải pháp nàophù hợp với cộng đồng để giảm thiểu vấn đề đó? Để trả lời cho những vấn đề
đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số đặc điểm dịch tễ và hiệu quả can thiệp cộng đồng phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue tại hai huyện tỉnh Bến Tre”, nhằm thực hiện 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả một số đặc điểm dịch tễ sốt xuất huyết Dengue ở huyện Châu Thành và huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre giai đoạn năm 2010 – 2014.
2 Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp cộng đồng phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue tại 02 xã của huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Trang 17Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết Dengue
1.1.1 Sốt xuất huyết Dengue trên thế giới
1.1.1.1 Lịch sử dịch bệnh sốt xuất huyết Dengue
Sốt xuất huyết Dengue hiện được coi là một trong số các bệnh truyền
nhiễm quan trọng nhất trên thế giới Từ những năm 265 - 420 sau Côngnguyên, ở triều đại nhà Tần - Trung Quốc đã ghi nhận trong sử sách nhữngtriệu chứng của loại bệnh tương thích với bệnh sốt xuất huyết hiện nay , Tạithời điểm đó, người ta cho rằng bệnh SXH có nguồn gốc từ một loại chất độctrong nước và liên quan đến côn trùng bay Sau đó vào vào khoảng các năm
1635 và 1699 ở Tây Ấn và Trung Mỹ các bệnh dịch giống với bệnh sốt xuấthuyết, với các bệnh tương tự đã xảy ra và lây lan khắp khu vực Năm 1780một vụ dịch lớn xảy ra ở Philadelphia, Pennsylvania Sau đó các trận dịch lớn
đã xảy ra trong thế kỷ 18 đến thế kỷ 20 ở bờ biển Đại Tây Dương của Mỹ vàNam Mỹ, đảo Caribe và lưu vực sông Mississippi, vụ bùng phát cuối cùngxảy ra vào năm 1945 ở New Orleans Sự gia tăng dịch bệnh tăng lên trongThế chiến thứ II, khi quân đội bắt đầu phân tán trên đất liền và sử dụngphương tiện giao thông hiện đại trong và giữa các quốc gia, do đó dịch bệnhsốt xuất huyết trở nên bùng phát mạnh hơn Vào cuối chiến tranh, do sự pháttriển của vấn đề giao thông, vận chuyển và đô thị hóa đã dẫn đến sự gia tăngtruyền bệnh sốt xuất huyết ở nhiều nước Đông Nam Á và sau đó là sự xuấthiện các dạng bệnh sốt xuất huyết , Cuối cùng, căn nguyên vi rút và sự lâylan của muỗi cũng đã được xác định trong thế kỷ 20
Trang 181.1.1.2 Thực trạng sốt xuất huyết Dengue trên thế giới
Trong nửa thế kỷ qua, tỷ lệ mắc sốt xuất huyết trên toàn thế giới đã tăng
30 lần, với ước tính xấp xỉ 390 triệu ca nhiễm / năm Những năm 2014 và
2015 được mô tả bởi sự bùng phát bệnh sốt xuất huyết trên toàn thế giới, làmối đe dọa đối với sức khoẻ cộng đồng, đặc biệt là ở các nước châu Á Sựlây lan về mặt địa lý của cả vectơ muỗi và vi rút đã dẫn đến sự gia tăng toàncầu của dịch bệnh sốt xuất huyết và xuất hiện những hình thái nghiêm trọngtrong 25 năm qua Từ những năm 1950, chỉ có 9 quốc gia báo cáo có dịch sốtxuất huyết thì cho đến nay sốt dengue hiện đang là mối quan ngại về sức khoẻcộng đồng ở hơn 100 quốc gia Số lượng trung bình các trường hợp mắc bệnhsốt xuất huyết được báo cáo cho WHO đã tăng từ 908 trường hợp trong giaiđoạn 1950 - 1999 lên 514.139 trường hợp trong giai đoạn 1990 - 1999 Theoước tính hiện nay có khoảng 3,6 tỷ người hiện đang sinh sống ở các vùngnhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi lưu hành các loại vi rút sốt xuất huyết , , Theonhiều nghiên cứu khác nhau, ước tính khoảng từ 50 đến 200 triệu người mắcbệnh sốt xuất huyết, 500.000 trường hợp mắc SXH nặng và hơn 20.000trường hợp tử vong vì bệnh sốt xuất huyết xảy ra hàng năm Tỉ lệ hiện nhiễmtoàn cầu đã tăng lên đáng kể trong những thập kỷ gần đây đặc biệt là ở ĐôngNam Á và đang có dấu hiệu tiếp tục gia tăng
Trang 19Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới
Hình 1.1 Bản đồ phân bố bệnh sốt xuất huyết trên thế giới của WHO
Năm 2012, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã xếp loại Dengue là căn
bệnh do vi rút gây ra quan trọng nhất trên thế giới do sự xuất hiện và lây lanrộng của vi rút và véc tơ ở các khu vực trước đây không bị ảnh hưởng cũngnhư gánh nặng bệnh tật và sự ảnh hưởng về kinh tế xã hội do nó mang lại , ,
Ở hầu hết các quốc gia, gánh nặng chính của tỷ lệ bệnh tật và tử vong này chủyếu là ở trẻ em ,
Ở Châu Mỹ, ước tính tổng chi phí cho SXH hàng năm là 2,1 tỷ đô la
Mỹ Một nghiên cứu của 12 nước ở Đông Nam Á cho thấy tổng gánh nặngkinh tế hàng năm do SXH mang lại là 950 triệu USD Thực tế con số có thể
sẽ lớn hơn rất nhiều do sự giám sát bệnh vẫn còn hạn chế, báo cáo chưa đầy
đủ cũng như việc chẩn đoán bệnh còn bị bỏ sót , ,
Mặc dù con số thống kê về số người mắc cũng như sự ảnh hưởng về kinh
tế xã hội còn khác nhau giữa các nghiên cứu, nhưng không thể phủ nhận sự cómặt, lây lan của SXH tại tất cả các khu vực trên thế giới
Trang 20Nghiên cứu của Raghwani J cho thấy phần lớn gánh nặng bệnh tật chỉhạn chế ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới cũng như gần 75% dân số toàn cầutiếp xúc với bệnh sốt xuất huyết sống ở châu Á Thái Bình Dương , Tuynhiên vào năm 2014, lần đầu tiên trong hơn 70 năm một đợt dịch sốt xuấthuyết đã xảy ra ở Nhật Bản mặc dù đây là đất nước có khí hậu ôn đới Quaphân tích, các nhà khoa học cho thấy dịch SXH xảy ra ở Nhật Bản là kết quảcủa việc đi du lịch quốc tế từ các nước Đông Nam Á Năm 2014, dịch sốt xuấthuyết cũng đã ảnh hưởng đến một số quốc gia Châu Á, bao gồm Trung Quốc,Thái Lan, Việt Nam và Nhật Bản , Một số nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ các
ca sốt xuất huyết nặng ở khu vực Đông Nam Á cao gấp 18 lần khu vực Châu
Mỹ , Trong năm 2011, khu vực Đông Nam Á có tổng số 244.855 trường hợpmắc bệnh, trong đó 839 trường hợp tử vong, chiếm 0,34% Trong đóPhilippines là nước có tỷ lệ mắc SXHD cao nhất trong khu vực với 125.975trường hợp, 675 người tử vong Việt Nam đứng hàng thứ 2 với 69.680 ca mắcmới, 61 người tử vong Tại Úc, SXHD không phải là bệnh phổ biến, tuynhiên ở phía Bắc Queensland đã ghi nhận các trường hợp mắc SXH từ khuvực Đông Nam Á đem lại
Khu vực Châu Mỹ, mặc dù không có sự xuất hiện của SXHD cho đếngiữa thế kỷ 20, nhưng đến năm 2010 hầu hết các nước ở Châu Mỹ đều xảy radịch với chu kỳ xuất hiện từ 3 - 5 năm , với quy mô ngày càng tăng đặc biệt
là ở Mỹ Latinh với hơn 1,6 triệu ca sốt xuất huyết, trong số đó 49.000 ca làSXHD thể nặng Vào năm 2013, ở Châu Mỹ có hơn 2 triệu trường hợp mắcSXH (trong đó 32.270 trường hợp nặng), tỷ lệ mắc là 404,35 / 100.000 dân và
1175 trường hợp tử vong (trường hợp tử vong = 0,05%) Chỉ có hai nước ởchâu Mỹ La tinh không có sự xuất hiện của SXHD là Uruguay và Chile Do
sự hồi sinh của bệnh sốt xuất huyết và các véc tơ ở châu Mỹ trong những thập
kỷ gần đây, PAHO đã một lần nữa đưa ra “Chiến lược Quản lý tổng hợp để
Trang 21phòng chống sốt xuất huyết " và phấn đấu để giảm bệnh tật và giảm gánhnặng kinh tế do SXHD mang lại
Kể từ năm 1960 đến 2010 có 22 nước Châu Phi đã báo cáo xuất hiện cáctrường hợp SXHD hoặc bùng phát thành dịch , , và cho đến nay có 32 quốc
gia ở Châu Phi đã ghi nhận sự xuất hiện của vi rút Dengue Trong số 96 triệu
ca nhiễm trên toàn thế giới thì châu Phi chiếm 16% tương tự như ở Mỹ Latinh(≈14%) Do đặc điểm riêng của sốt rét trên toàn khu vực châu Phi, phần lớn(> 70%) các trường hợp sốt, bao gồm cả xuất huyết, có khả năng được chẩn
đoán nhầm và điều trị như bệnh sốt rét Plasmodium malaria Điều này tác
động tiêu cực đến bức tranh toàn diện của dịch tễ học bệnh sốt xuất huyếttrong khu vực và cho thấy sư cần thiết của việc giám sát thường xuyên dịchbệnh cũng như các hoạt động dự phòng có liên quan
Khu vực Đông Địa Trung Hải trong 2 thập kỷ qua đã có nhiều đợt bùngphát SXHD ở 3 quốc gia - Ả Rập Saudi, Pakistan và Yemen Năm 2011,thành phố Lahore ở Pakistan đã trải qua một dịch sốt xuất huyết lớn với21.685 trường hợp mắc và 350 trường hợp tử vong ,
Tại Châu Âu dịch bệnh sốt xuất huyết dengue cuối cùng ở châu Âu xảy
ra vào khoảng năm 1926 đến năm 1928 ở Hy Lạp Dịch này có liên quan đến
Aedes aegypti và có tỷ lệ tử vong cao Cho đến những năm 1990 khi Aedes albopictus có mặt tại Châu Âu thì bệnh dịch đã quay trở lại Ngày nay, dịch
SXHD đã được phát hiện tại Pháp, Croatia và một số quốc gia khác ở châu
Âu Như vậy, mặc dù Châu Âu không bị sốt xuất huyết trong phần lớn thế kỷ
20, tuy nhiên do sự phát triển toàn cầu của bệnh sốt xuất huyết đã ảnh hưởngđến khu vực vào thời điểm hiện tại
Như vậy SXHD đã xuất hiện ở hầu hết các nước, ở các khu vực trên thếgiới với các tần suất khác nhau Hiện nay SXH cũng được coi là bệnh truyềnnhiễm quan trọng nhất trên thế giới khi hơn 50% dân số thế giới sinh sống ở
Trang 22những nơi có nguy cơ mắc bệnh, và khoảng 50% sống ở các quốc gia lưuhành bệnh sốt xuất huyết, trong đó có khu vực Châu Á Thái Bình Dương, cụthể Việt Nam là một điểm nóng của bệnh SXHD
1.1.2 Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam
Tại Việt Nam, từ năm 1913, Gaide đã thông báo về bệnh Dengue cổ điển
tại miền Bắc và miền Trung Năm 1929, Boyé có viết về một vụ dịch dengue
cổ điển (1927) ở miền Nam Năm 1958, lần đầu tiên Chu Văn Tường và cộng
sự căn cứ trên một số bệnh nhi ở bệnh viện Bạch Mai, các tác giả đã đưa rathông báo về một vụ dịch nhỏ sốt xuất huyết ở Hà Nội Tới tháng 8 năm 1963,dịch SXH xảy ra ở đồng bằng sông Cửu Long với tổng số bệnh nhân đươcthông báo là 331, trong đó có 116 trẻ em tử vong Trong vụ dịch này Halstead
và cộng sự đã phân lập được vi rút D2 Tiếp sau đó, vụ dịch sốt dengue lớn đãxảy ra ở 19 tinh, thành phố ở miền Bắc năm 1969 Từ năm 1970 đến năm
1974, dịch xảy ra lẻ tẻ ở một số địa điểm trong nội thành Hà Nội với số bệnhnhân từ vài chục tới hàng trăm trường hợp phải vào viện điều trị tại các bệnhviện Trong thời gian đó, dịch cũng lan ra các thành phố, thị xã, thị trấn và cảcác vùng nông thôn Cho đến nay, SXH tăng dần và lan rộng ra cả nước, từcác thành phố đông dân lan về các thị trấn nông thôn, khoảng cách thời giangiữa các vụ dịch cũng gần nhau hơn ,
Mặc dù chương trình kiểm soát sốt xuất huyết quốc gia đã có từ năm
1998, sốt dengue vẫn là một vấn đề sức khoẻ ở Việt Nam Sốt xuất huyết và
sốt xuất huyết dengue là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng nhập viện,
chiếm tới 1.000.866 trường hợp được báo cáo tại Việt Nam trong giai đoạn1991-2004, con số cao nhất ở Tây Thái Bình Dương
Dịch SD/SXHD bùng nổ theo chu kỳ với khoảng cách trung bình từ 4 - 5năm , năm 1998 cả nước ghi nhận số trường hợp mắc là 234.920 và 377trường hợp tử vong, năm 2010 với 128.710 ca mắc, 109 ca tử vong Giai đoạn
Trang 232011 - 2013, số ca mắc và tử vong giảm xuống theo qui luật chung do miễndịch cộng đồng sau vụ dịch năm 2010
Bệnh SD/SXHD lưu hành rộng rãi ở vùng châu thổ sông Hồng (miềnBắc), sông Cửu Long (miền Nam) và dọc theo bờ biển miền Trung Bệnhkhông chỉ xuất hiện ở đô thị mà cả vùng nông thôn, nơi có muỗi véc tơ sinhsống Ở những nơi khác, nếu có, bệnh được coi như là kết quả của sự xâm
nhập vi rút Dengue từ vùng có bệnh dịch lưu hành tới Mức độ lan rộng của
SD/SXHD tùy thuộc vào sự phát triển giao thông và sự giao lưu của dân cưgiữa các vùng Ở những vùng núi, cao nguyên biên giới phía Bắc, không thấyxuất hiện bệnh, kể cả những năm có dịch lớn
Do đặc điểm địa lý và khí hậu nên khu vực miền Nam Việt Nam là khuvực có tỷ lệ mắc SXHD cao nhất cả nước , với trên 85% ca mắc và 90% ca tửvong và tiếp tục có xu hướng gia tăng Trong giai đoạn từ 2001 - 2011 có76,9% ca mắc SXHD và 83,3% ca tử vong do SXHD là ở 20 tỉnh phía Nam Nguyên nhân có thể do đặc điểm khí hậu, địa lý nhiều kênh ngòi, sông nước
và tập quán của người dân tích trữ nước trong lu, vại, chum đã tạo điều kiệncho dịch bệnh gia tăng ,
Mặc dù vậy, những năm trở lại đây số ca mắc tại các tỉnh Bắc bộ cũnggia tăng nhất là Hà Nội có xu hướng tăng nhanh và là điểm nóng của sốt xuấthuyết của toàn miền Bắc , , Năm 2013, khu vực Miền Bắc chỉ ghi nhận một
số ổ dịch có tính tản phát, phân bố rải rác tại Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Ninh, các ổ dịch ở quy mô nhỏ
Do vấn đề bệnh dịch xuất hiện phức tạp và rộng khắp các tỉnh thành trên
cả nước nên việc kiểm soát và có những biện pháp ứng phó kịp thời với sốtxuất huyết là vấn đề vô cùng có ý nghĩa Nghiên cứu được quy luật, dự đoánđược mô hình bệnh tật sẽ làm giảm gánh nặng bệnh tật và kinh tế
Trang 241.1.3 Tình hình mắc bệnh và tử vong do sốt xuất huyết dengue tại Bến Tre
Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh dịch lưu hành trên 08 huyện 01 thành
phố của tỉnh Bến Tre, nhưng tập trung chủ yếu là các huyện vùng hạ của tỉnhnhư Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại…là những huyện vùng biển người dân cótập quán chứa nước mưa để uống và sinh hoạt
Tuy tỉnh Bến Tre không nằm trong số 10 tỉnh có số mắc (54/100.000 dân)cao nhất cả nước nhưng đứng hàng thứ 7 các tỉnh có tỷ lệ chết/ mắc SXHD caonhất cả nước với 0,14% Hàng năm ngành y tế tỉnh Bến Tre đều xây dựng kếhoạch hoạt động phòng chống sốt xuất huyết đưa ra các chỉ tiêu cụ thể về giảm
tỷ lệ mắc, giảm tỷ lệ chết khống chế không để dịch lớn xảy ra Kế hoạch tậptrung chủ yếu vào việc làm thay đổi hành vi kiểm soát lăng quăng của các hộ giađình Chương trình phòng chống dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu(CSSKBĐ) đã được lồng ghép vào xây dựng nông thôn mới tại các địa phương.Tuy vậy, từ năm 2010 đến nay, năm nào cũng có ca tử vong về sốt xuất huyết và
3 năm trở lại đây thì tỷ lệ mắc và chết vẫn còn
Theo các chuyên gia, giai đoạn 2014 - 2016 là giai đoạn hiện tượng ElNino hoạt động mạnh, gây nên thời tiết khô hạn khiến việc tích trữ nước giatăng, gia tăng nhiệt độ trung bình cũng như thời gian phát triển chu kỳ trứngthành muỗi rút ngắn, kéo dài thời gian sống của muỗi và làm gia tăng mật độmuỗi khiến cho dịch sốt xuất huyết bùng phát trở lại Do đó việc xác địnhđược tình hình dịch tễ học của bệnh để từ đó áp dụng các giải pháp can thiệptrong nghiên cứu của chúng tôi là điều hết sức cần thiết nhằm góp phần hạnchế sự gia tăng của bệnh SXH hiện nay
1.2 Các yếu tố liên quan đến bệnh sốt xuất huyết dengue
1.2.1 Căn nguyên, véc tơ gây bệnh SXHD trên thế giới và Việt Nam
Năm 1943 các nhà khoa học đã xác định được căn nguyên gây bệnh
SXHD là do vi rút Dengue gây nên với 4 týp huyết thanh DEN - 1, DEN - 2,
Trang 25DEN - 3, DEN - 4 Nhiễm vi rút Dengue lần đầu tạo ra miễn dịch bền suốt
đời với týp đã nhiễm Ngoài ra, miễn dịch chéo một phần với 3 týp còn lại có
tính bảo vệ rất ngắn Như vậy, nếu nhiễm lần 2 với một týp vi rút Dengue
khác (nhiễm thứ phát) bệnh sẽ nặng hơn
Hiện nay, tất cả bốn týp vi rút Dengue đều được tìm thấy trong hầu hết
các môi trường nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi Aedes aegypti có mặt Các hiện
tượng toàn cầu như đô thị hoá và du lịch quốc tế là những yếu tố chủ chốttrong việc tạo điều kiện cho sự lây lan của bệnh sốt xuất huyết cũng như sựxuất hiện của các týp huyết thanh
Có nghiên cứu cho rằng bệnh nhân nhiễm týp vi rút DEN - 2 sẽ dẫn đếnbệnh nặng hơn, trong khi nhiễm DENV - 1 thì bệnh sẽ nhẹ hơn Ngoài ra
nghiên cứu cho thấy DEN 2 có liên quan tới sốt Dengue xuất huyết Dengue xuất huyết có sốc, gần đây thì liên quan tới DEN - 3
-Theo tác giả Phạm Thị Nhã Trúc sự phân bố của các týp vi rút Dengue
qua các vụ dịch SXHD đã cho thấy có sự thay đổi vai trò gây bệnh của cáctýp vi rút Tại Việt Nam trước năm 1990, chủng virus thường gây thành dịch
là týp DEN - 2 Tuy nhiên trong những năm gần đây các tác giả nhận thấy týpDEN - 4 mới là týp chiếm ưu thế trong các vụ dịch
Khi các týp huyết thanh Dengue lưu hành đa dạng và hay thay đổi sẽ dẫn
đến bệnh cảnh lâm sàng sốt xuất huyết ngày càng đa dạng và phức tạp
Bệnh SXHD không truyền trực tiếp từ người sang người mà do muỗi đốt
bệnh nhân rồi truyền vi rút sang người lành qua vết đốt của muỗi Aedes cái.
Có hai loài muỗi truyền bệnh SXHD là muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó quan trọng nhất là Aedes aegypti - véc tơ giữ vai trò trung gian chính truyền bệnh, còn Aedes albopictus giữ vai trò trung gian
truyền bệnh thứ cấp của bệnh SXHD
Trang 26Muỗi Aedes aegypti và Aedes alpopictus trưởng thành có màu đen xen
lẫn trắng trên khắp cơ thể muỗi tạo nên vằn trắng đen nên thường được gọi làmuỗi vằn
Muỗi vằn thường sống trong nhà, gần người, trú đậu nơi có ánh sángyếu, thường là các góc hoặc xó tối trong nhà, trên quần áo, chăn màn, dâyphơi và các đồ dùng trong nhà, đẻ trứng nơi nước sạch, ở những vật chứanước tự nhiên hay nhân tạo như chum, vại, phuy, hồ, bể chứa nước không đậynắp, lọ hoa chậu cây cảnh, chậu nước chống kiến dưới chân tủ thức ăn, lon đồhộp, ve chai, gáo dừa, vỏ xe hoặc bất kì một vật dụng chứa nước nào khác cóthể tích trữ nước đến 7 ngày
Muỗi vằn cái thường đốt người vào ban ngày, mạnh nhất là vào sángsớm và chiều tối Đặc biêt, chúng bay rất nhanh, nếu tìm thấy mồi là lao vàođốt và hút máu ngay; đồng thời bám theo mồi rất dai và chỉ bay đi khi đã hút
no máu Hoạt động tìm mồi hút máu của loài muỗi này phụ thuộc vào nhiệt độmôi trường, nếu nhiệt độ môi trường dưới 230C thì muỗi hầu như không cókhả năng hoạt động hút máu Vì thế muỗi vằn thường phát triển mạnh nhấtvào mùa mưa, thời tiết nóng ẩm, khi nhiệt độ trung bình hàng tháng vượt trên
200C
Chu kỳ phát triển của muỗi vằn Aedes từ lúc đẻ trứng đến phát triển
thành bọ gậy trung bình là 7 ngày, thời gian phát triển từ bọ gậy thành muỗitrưởng thành chỉ mất khoảng 2 đến 3 ngày Muỗi cái chuyên đi hút máu người
Trang 27có thể sống từ 20 - 40 ngày Điều này có nghĩa rằng con người, chứ khôngphải là muỗi, nhanh chóng di chuyển các vi rút ở trong và giữa các cộng đồng
và địa điểm Tỷ lệ nhiễm sốt xuất huyết cao hơn ở ngoài trời và vào ban ngày,
khi những con muỗi này đốt thường xuyên nhất Tuy nhiên, Aedes aegypti đẻ
ở trong nhà có khả năng đốt bất cứ ai trong suốt cả ngày, môi trường sống ởtrong nhà ít nhạy cảm với sự thay đổi khí hậu và làm gia tăng tuổi thọ của
muỗi Theo các nhà nghiên cứu hầu hết muỗi Aedes aegypti cái có thể dành cả cuộc đời trong hoặc xung quanh nhà, nơi đó chúng trở thành muỗi trưởng thành với khoảng cách bay trung bình là 400 mét
Hình 1.3 Vòng đời và trứng của muỗi Aedes aegypti.
Ngay khi bị nhiễm, con người trở thành vật chủ mang và nhân lên củacác vi rút, như là một nguồn của vi rút cho những con muỗi không bị nhiễmbệnh Vi rút lưu thông trong máu trong người bị nhiễm bệnh từ 2 - 7 ngày,xấp xỉ với thời gian mà người phát triển thành sốt Bệnh nhân đã bị nhiễm vi
rút sốt xuất huyết có thể truyền sự lây nhiễm qua muỗi Aedes sau khi các triệu chứng đầu tiên xuất hiện (trong vòng 4 - 5 ngày, tối đa là 12 ngày)
Trang 28Hình 1.4 Khả năng lan truyền vi rút Dengue của muỗi Aedes aegypti
1.2.2 Yếu tố thời tiết/mùa
Đặc trưng của yếu tố thời tiết/mùa liên quan đến SXH chính là lượngmưa và nhiệt độ
- Lượng mưa : Bằng sự phân tích khí tượng và các dữ liệu giám sát dịch
tễ và côn trùng, tác giả Elodie Descloux đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của khíhậu đối với bệnh SXHD ở Noumea, thủ đô của New Caledonia, trong giaiđoạn 1971 - 2010 Kết quả cho thấy đỉnh dịch ở vào tháng có nhiệt độ nóngnhất trong 1 đến 2 tháng với lượng mưa và độ ẩm tương đối ở mức tối đa Sựphát triển theo mùa của các chỉ số côn trùng phù hợp với mùa vụ của dịch sốtxuất huyết Có mối tương quan thuận giữa nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa với
tỷ lệ mắc SXHD Theo kết quả nghiên cứu của Díaz Quijano và Waldmancho thấy lượng mưa có liên quan chặt chẽ với tỉ lệ tử vong do sốt xuất huyết ở
Mỹ Latinh và các nước khu vực Caribbean Theo nghiên cứu của Nguyễn ThiVăn Văn (Đồng Nai) có mối tương quan mạnh giữa lượng mưa và số ca mắc(r = 0,897), giữa nhiệt độ với chỉ số nhà có bọ gậy và dụng cụ chứa nước có
bọ gậy (0,7 < r < 0,9) Điều này thể hiện tính phân bố theo mùa của SXHDtrên thế giới cũng như tại Việt Nam
- Nhiệt độ: Nghiên cứu của tác giả Tsuzuki và cộng sự năm 2009 tại
thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn từ năm 2004 - 2006 đãchỉ ra rằng sau khoảng 2 tháng khi nhiệt độ tăng cao thì số ca bệnh bắt đầu
Trang 29tăng và khi nhiệt độ giảm thì số ca mắc vẫn còn duy trì ở mức cao sau 1 đến 2tháng nữa rồi mới giảm
Như vậy khi lượng mưa và nhiệt độ môi trường gia tăng là điều kiện hếtsức lý tưởng, phù hợp cho sự sinh sôi và phát triển của véc tơ truyền bệnhSXH Các thống kê khoa học cho thấy, sự xuất hiện dịch sốt xuất huyết cótính chất chu kỳ cứ 3 đến 5 năm lại xảy ra một trận dịch Tại Việt Nam, caođiểm của dịch sốt xuất huyết là vào mùa mưa, bởi đây là thời điểm độ ẩm tăngcao, và dịch cũng liên quan từng thời điểm và từng vùng miền, thông thường
có 2 đỉnh dịch đáng lưu ý là tháng 4 - 5 và tháng 9 - 10 ở cả 3 miền Bắc,Trung, Nam ,
1.2.3 Yếu tố di cư
Sự di cư đóng vai trò quan trọng trong sự xuất hiện của bệnh dịchSXHD Phần lớn thế kỷ 20, mặc dù châu Âu không có sự xuất hiện của bệnhsốt xuất huyết nhưng việc xuất hiện của dịch bệnh SXHD trên toàn cầu đãkhiến cho Châu Âu không tránh khỏi sự tác động ,
Tại Việt Nam, trước đây SXHD chủ yếu tập trung trong quần thể dân cư
đô thị và ven đô thị, nơi có mật độ dân số cao tạo điều kiện thuận lợi cho việclưu hành véc tơ Tuy nhiên một nghiên cứu tại Bạc Liêu cho thấy SXHDkhông chỉ lưu hành ở thành thị và ven thành thị mà còn xuất hiện nhiều ở cáckhu vực nông thôn và có xu hướng tăng cao trong khu vực này Ở BìnhPhước, Thành phố Hồ Chí Minh…các cộng đồng dân cư biến động, ngườidân từ các địa phương khác đến làm công nhân ở các khu công nghiệp, ở cácnhà trọ ẩm thấp có nhiều dụng cụ chứa nước sinh hoạt, vệ sinh môi trườngnhà ở kém…khiến cho nguy cơ dịch SXH bùng phát
1.2.4 Yếu tố theo tuổi, giới
Theo WHO, tất cả mọi người, mọi lứa tuổi nếu chưa có miễn dịch với vi
rút Dengue đều có thể bị nhiễm vi rút Dengue và mắc bệnh, cả nam và nữ đều
Trang 30có nguy cơ mắc bệnh như nhau Tuy nhiên, ở vùng bệnh lưu hành nặng nhưmiền Nam và Nam Trung Bộ nước ta tỷ lệ mắc bệnh của trẻ em dưới 15 tuổithường cao hơn, còn ở các vùng khác khả năng mắc bệnh của trẻ em và ngườilớn là như nhau Khoảng 90% số ca tử vong do sốt xuất huyết ở Việt Nam là
ở nhóm tuổi dưới 15 Trong nghiên cứu của Đặng Kim Hạnh cả người lớn vàtrẻ em đều mắc SD/SXHD nhưng chủ yếu là độ tuổi > 15 chiếm 86,7% Tuynhiên trong một số nghiên cứu khác có đến 67,8% ca bệnh SXHD ≤ 15 tuổiđược ghi nhận Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ mắc bệnh và tửvong do SXHD chủ yếu ở lứa tuổi < 15, và tỷ lệ tử vong gặp chủ yếu ở trẻnhỏ
Như vậy với các kết quả nghiên cứu khác nhau cho thấy không có giớihạn cho độ tuổi mắc bệnh SXH với nguy cơ mắc bệnh cho các độ tuổi là nhưnhau
1.2.5 Các yếu tố liên quan đến sự xuất hiện của muỗi, bọ gậy
Muỗi trưởng thành thường đẻ trứng ở bất kỳ dụng cụ chứa nước nào cóthể tích trữ nước đến 7 ngày đều có thể là nơi sinh sản của muỗi truyền bệnhsốt xuất huyết Những dụng cụ chứa nước như: chum vại, bể, chai lọ, vỏ dừa,lốp ô tô cũ, phuy chứa nước, dụng cụ chứa nước bằng nhựa, bát kê chân tủđựng thức ăn trong bếp, bể chứa nước trong nhà tắm, bể chứa nước không cónắp đậy, giếng nước cạn, khay nước của tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ, lọ hoa ởtrong nhà, dụng cụ chứa nước quanh nhà những nơi râm mát Các nghiên cứuđều chỉ ra rằng có mối liên quan giữa mật độ muỗi, bọ gậy với tỷ lệ SXHD.Trong nghiên cứu của Lê Đăng Ngạn, có tương quan thuận và chặt giữa các
chỉ số mật độ muỗi (DI), chỉ số nhà có muỗi (HI), chỉ số Breteau (BI), chỉ số
nhà có bọ gậy (HILQ) và số mắc SXHD (hệ số tương quan r từ 0,76 - 0,89) Như vậy nếu môi trường sống nhiều kênh rạch, ao tù, sông ngòi sẽ làđiều kiện rất thuận lợi cho sự xuất hiện của muỗi và bọ gậy Ngoài ra vấn đề
Trang 31vệ sinh môi trường quanh khu vực nhà ở, thói quen tích trữ nước trong cácdụng cụ chứa nước của người dân cũng sẽ tạo điều kiện cho sự xuất hiện vàgia tăng của bệnh dịch SXH
1.2.6 Tác động truyền thông giáo dục sức khỏe đến kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng chống SXHD
Truyền thông giáo dục sức khỏe là yếu tố quan trọng nhằm cải thiện kiếnthức, thái độ, thực hành của người dân về phòng chống SXH Tại Việt Nam,vấn đề TTGDSK tới người dân được thực hiện thông qua hệ thống cộng tácviên tới thăm hỏi định kỳ từng hộ gia đình, qua loa đài, ti vi và hệ thống báochí, áp phích, băng rôn, khẩu hiệu, tờ rơi Qua đánh giá tác động can thiệpbằng TTGDSK, tác giả Nguyễn Văn Tới đưa ra kết luận người dân đã có sựthay đổi đáng kể về kiến thức, thực hành trong công tác phòng chống SXH.Điều đó góp phần làm giảm số ca mắc SXH Tuy nhiên hiệu quả của công tácTTGDSK làm thay đổi hành vi, ý thức người dân tự phòng chống bệnh SXHcho gia đình cho trong cộng đồng họ sinh sống chưa đạt được kết quả kỳ vọngnhư tác giả Đỗ Kiến Quốc và cộng sự đã khẳng định
1.3 Một số biện pháp can thiệp trong phòng chống bệnh SXHD
Các biện pháp can thiệp trong phòng chống bệnh SXHD bao gồm cácbiện pháp khi chưa có dịch, bệnh và khi có dịch, bệnh Khi chưa có dịch bệnhthì việc kiểm soát véc tơ truyền bệnh vẫn là biện pháp dự phòng chính Theo
Lê Đăng Ngạn cần thiết phải duy trì hoạt động giám sát vectơ Aedes định kỳ
tại các điểm cố định để theo dõi và dự báo dịch SXHD Nghiên cứu củaNguyễn Lâm cũng cho thấy kiểm soát vectơ phòng chống SXHD trong trườnghọc đã cho thấy hiệu quả trong việc làm giảm chỉ số nhà có muỗi và chỉ sốnhà có bọ gậy dưới mức dự báo nguy cơ xảy ra dịch
1.3.1 Biện pháp sinh thái học
Trang 32Biện pháp này làm thay đổi môi trường, tập tính của muỗi truyền bệnh,làm giảm tiếp xúc người - muỗi truyền bệnh Biện pháp sinh thái học đượcbiết đến từ lâu dựa trên cơ sở tồn tại các tác nhân thiên địch như: sinh vật ănmồi, côn trùng sống cạnh tranh, hoặc những tác nhân gây bệnh tham gia vàoviệc điều tiết quần thể.
Đây là biện pháp giúp phòng ngừa sự hình thành của véc tơ gây bệnhbằng cách thay đổi môi trường sống bằng cách loại bỏ các nơi sinh sản củamuỗi, thu gom đồ vật phế thải loại bỏ ổ lăng quăng như: lốp xe, vỏ dừa, cáchộp, chai lọ, mẻ sành, bình hoa, chân chén tủ nạo vét cống rãnh, vũng nước,phát quang bụi rậm xung quanh nhà ở, sử dụng bồn chứa nước sinh hoạt kín.Các DCCN được coi là vô dụng hoặc không cần thiết (các lốp phế thải, các đồphế thải gia đình…), cần thiết phải thải hoặc loại bỏ các DCCN này Nhữngnơi tự nhiên tích tụ nước (hốc cây, bẹ lá, hốc tre…) có thể loại bỏ hoặc biếnđổi hình thái để loại bỏ nơi sinh sản của muỗi Súc rửa thường xuyên DCCN,đậy nắp kín các DCCN khi không sử dụng, dùng vải hoặc lưới để phủ cácDCCN mưa Dùng lưới chắn muỗi ở cửa ra vào và cửa sổ, ngủ màn, mặc áodài tay, dùng vỉ diệt muỗi, dùng đèn bẫy muỗi, vợt điện
Để thực hiện được biện pháp này cần phải dựa vào cộng đồng Tại TháiLan nghiên cứu “Sinh thái sức khỏe và phòng chống SXHD” được thực hiệntrong năm 2010, nhằm mục đích để chứng minh một ứng dụng của chiến lượcdựa vào cộng đồng, tích hợp sinh thái sinh học xã hội học kết hợp với cáccông cụ kiểm soát véc tơ sinh thái thân thiện môi trường, sản xuất trong nướcnhằm kiểm soát bệnh sốt xuất huyết, đặc biệt tại các vùng đô thị và ven đô ởmiền đông Thái Lan Kết quả cho thấy chương trình kiểm soát véc tơ sốt xuấthuyết dựa vào cộng đồng đã làm giảm đáng kể chỉ số vectơ/người qua cáccuộc điều tra côn trùng đã được tiến hành trong khoảng thời gian nghiên cứutại các cụm can thiệp và cũng nâng cao nhận thức sự tham gia liên ngành và
Trang 33hộ gia đình trong hoạt động phòng chống bệnh sốt xuất huyết Ngoài ra một
số nghiên cứu khác tại Ấn Độ “kết hợp các yếu tố sinh thái sinh học - xã hội”của bệnh sốt xuất huyết cho thấy sự cần thiết, có sự tham gia cộng đồng vàcủa liên ngành với các hoạt động phòng chống bệnh sốt xuất huyết ở Chennaiđược thực hiện giai đoạn 2008 - 2011 Các yếu tố sinh thái bao gồm các yếu
tố khí hậu (lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, v.v…) và các cấu phần của hệ sinhthái tự nhiên và nhân tạo “Yếu tố Sinh học” liên quan đến tập tính của các
véc tơ Ae aegypti, và đặc tính của tác nhân gây bệnh Yếu tố xã hội liên quan
đến hệ thống y tế, bao gồm cả kiểm soát véc tơ và dịch vụ y tế và với các dịch
vụ công cộng và tư nhân như vệ sinh môi trường và xử lý nước thải, thu gomrác thải và cung cấp nước; và các sự kiện như nhân khẩu học cũng như đô thịhóa; kiến thức, thái độ và thực hành theo hộ gia đình
Tại Việt Nam mô hình sinh thái - xã hội phòng chống sốt xuất huyếtdengue được thực hiện thí điểm tại đảo Cát Bà, Hải Phòng với kỳ vọng là sửdụng chiến lược “Sinh thái y tế” để xây dựng và thực hiện mô hình giám sát
và phòng chống chủ động SXHD cũng đã cho kết quả khả quan
1.3.2 Biện pháp sinh học
Tác nhân gây bệnh cho côn trùng muỗi được chứng minh từ năm 1602bằng sự phát minh ra nội ký sinh ở Pieris rapae, đã được tìm thấy và chiathành các nhóm: nguyên sinh động vật, virut và vi khuẩn
- Nấm: ký sinh chủ yếu ở muỗi thuộc giống Coelomyces, các loài nấm
này có chu kỳ sinh học rất phức tạp, đòi hỏi phải có mặt một số loài giáp xác
Crustacae (Ostracode hoặc Copepode), hơn nữa dạng lan truyền ở muỗi,
cũng như việc nghiên cứu đánh giá hoạt động của chúng còn gặp nhiều khókhăn
- Giun tròn: Simuli đều thuộc họ Mermithidae, trong đó có 3 loài là đối
tượng hay được sử dụng, quen thuộc nhất là Romanomermis culieivorax
Trang 34- Nguyên sinh động vật: thuộc lớp Microsporidae, Ở Pháp L'ORSTOM
- Bondy, đã thí nghiệm trứng của An stephensi được rửa với dung dịch
formol 0,01 trước khi cho nở nhằm loại bỏ các tiểu bào tử có trong tự nhiên,
vì chúng sẽ làm gia tăng tỷ lệ chết của bọ gậy muỗi
- Vi rút: Sử dụng vi rút phòng trừ véc tơ Khoảng 600 vi rút đã đượcphân lập từ côn trùng gây hại cây trồng, nhưng chỉ có vài chục loại vi rút ởcác véc tơ truyền bệnh
- Vi khuẩn: Hai loài được sử dụng nhiều nhất trong phòng chống véc tơ
là Bacillus thuringiensis và Bacillus sphaericus Bacillus thuringiẹnsis có rất nhiều dạng, trong đó Bacillus thuringiensis và Bacillus israelensis tỏ ra có
hiệu quả nhất Độc tính của 2 loài này là do các bào từ vi khuẩn tạo ra 1 hoặcnhiều protêin độc phá hủy tế bào, thoái hóa mô biểu mô, sự biến đổi tính thấmcủa màng tế bào cũng như sự biến tính tế bào hệ thống thần kinh, cấu trúc, vàcuối cùng bọ gậy chết Mặc dù không được sử dụng nhiều ở khu vực Tây TháiBình Dương, tác nhân này đã được sử dụng trong nước uống và chưa xuấthiện một dấu hiệu có hại cho sức khỏe nào
Ngoài ra giải pháp diệt bọ gậy cũng là một giải pháp hạn chế sự hìnhthành của muỗi trưởng thành, từ đó giúp kiểm soát dịch bệnh sốt xuất huyết
có hiệu quả Việc bọ gậy của giống muỗi Toxorhynchites có khả năng ăn bọ gậy của các loài muỗi khác rất tốt, con trưởng thành của Toxorhynchites có kích thước lớn (gấp 5 lần muỗi Aedes aegypti) nhưng không hút máu người.
Hoặc loại cá ăn bọ gậy (đứng đầu là cá tuế thuộc họ cá chép, cá bảy màu, cália thia…) có thể được sử dụng như phương tiện bổ trợ phòng chống bọ gậy
của Aedes trong các DCCN lớn và thường xuyên tích trữ nước , Các tác giả
nhận thấy tất cả các loại cá địa phương như: cá vàng, hắc mô nì, cá chọi, săn
sắt, rô phi, cá sóc, chép lai đều có thể sử dụng diệt bọ gậy Aedes aegypti
Trang 35Ngoài ra Mesocyclops là loài loài tôm bậc thấp, chúng là một trong
những tác nhân sinh học ứng dụng có hiệu quả tốt trong quá trình tiêu diệttrung gian truyền bệnh SXH ở giai đoạn bọ gậy muỗi Lindberg, (1936) vàHurlbut (1938), Kay (1992) là những tác giả đầu tiên nhận thấy một số
cyclopoid copepods có khả năng ăn bọ gậy muỗi 20 năm sau, tại Hawaii, Bonnet và Mukaida Kay (1992) đã thả một cách ngẫu nhiên Mesocyclops obsoletus vào ổ Aedes albopictus và nhận thấy một copepod có thể ăn 15 - 20
bọ gậy tuổi 1 và 2 trong 1 ngày Đây là những ngòi nổ đầu tiên cho sự nghiên
cứu áp dụng các loài Mesocyclops phòng chống vectơ SXHD
Hình 1.5 Giáp xác Mesocyclops đang ăn bọ gậy muỗi truyền bệnh
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì khả năng ăn bọ gậy của các
loài Mesocyclops là rất tốt, phù hợp với điều kiện Việt Nam Tuy nhiên để
duy trì được thì cần có sự tham gia của cộng đồng với năng lực quản lý phảitốt thì mới duy trì được giải pháp này , ,
Việc sử dụng loài giáp xác Mesocyclops để diệt bọ gậy muỗi truyền bệnh
SXH đã được nghiên cứu và ứng dụng ở nước ta tại một số tỉnh thành miềnBắc từ năm 1993, sau đó triển khai thực hiện ở miền Trung và miền Nam Tại Việt Nam, các nhà khoa học qua điều tra khảo sát ở 26 tỉnh thành đã thu
thập được loài giáp xác Mesocyclops hiện diện trong những thủy vực; trong
đó xác định có 9 loài có khả năng ăn bọ gậy muỗi truyền bệnh SXH Aedes
aegypti gồm: Mesocyclops woutersi, Mesocyclops aspericornis, Mesocyclops
Trang 36affinis, Mesocyclops ogunnus, Mesocyclops ruttneri, Mesocyclops yenae, Mesocyclops thermocyclopoides, Mesocyclops disimilis và Mesocyclops pehpeiensis Một nghiên cứu ghi nhận trong điều kiện bình thường của phòng thí nghiệm, giáp xác Mesocyclops có thể ăn 9 con bọ gậy muỗi ở nhóm tuổi I
nhưng điều quan trọng ở đây là chúng có thể cắn chết thêm 23 con bọ gậymuỗi nữa sau khi đã ăn no nên đã có khả năng tiêu diệt bọ gậy muỗi truyềnbệnh SXH khá hiệu quả ,
Ngoài ra có thể nuôi chuồn chuồn ngoài đồng ruộng Các ấu trùng chuồnchuồn trong nước ăn bọ gậy, còn chuồn chuồn trưởng thành bắt muỗi trongkhông trung Nuôi bò sát nhỏ như thạch sùng, thằn lằn để ăn muỗi trong nhà
Bảo vệ dơi bắt muỗi Dùng các côn trùng thủy sinh thuộc họ Corixidae (Micronecta) để diệt bọ gậy.
Đối với biện pháp sinh học, hạn chế của việc ứng dụng giải pháp nàytrong can thiệp chính là năng lực quản lý, tổ chức khi triển khai, ngoài ra cầnphải dựa vào cộng đồng thì mới có thể thực hiện được Vấn đề kinh phí cũng
là một trong những yếu tố cần phải xem xét
1.3.3 Biện pháp hóa học
Nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, người ta biết được cơ chế tác động củacác chất hóa học, phân tích được các thành phần và tổng hợp được các phân
tử tương tự Hóa chất diệt muỗi, lăng quăng bao gồm các chất diệt côn trung
như: temephos (Abate) và tác động lên sự tăng trưởng của côn trùng (IGRs)
như methoprene (Altosid, tạo chất tương tự hormon juvenile) đã cho thấy hiệu
quả chống muỗi Aedes sinh sản trong DCCN sạch
Đối với muỗi trưởng thành có thể sử dụng hóa chất diệt côn trùng phundưới dạng thể tích hạt cực nhỏ, tẩm rèm, tẩm màn; phun khói nóng; dùnghương trừ muỗi, bình xịt muỗi, các thuốc xua muỗi Ảnh hưởng môi trườngcủa các hóa chất diệt bọ gậy là rất nhỏ nếu nó được sử dụng đúng cách
Trang 37Hiện nay, trên thế giới có một chiến lược mới phòng trừ côn trùng truyềnbệnh bằng các chất điều hòa sinh trường (IGR: lnsect Growth Regulators) cóthể coi như một dạng hóa chất diệt côn trùng dựa trên cơ sở tác động của cáchormone tham gia điều hòa sự phát triển của côn trùng Chúng ít độc đối vớiđộng vật có vú nhưng rất độc đối với côn trùng, vì thế liều sử dụng rất thấpnhưng hiệu quả cao Chế phẩm được sự dụng rộng rãi hiện nay là
Diflubenzuron, Triflumuron, Teflubenzuron, Lufenuron, Cyromazin
Việc sử dụng hóa chất thường xuyên đòi hỏi phải theo dõi và đánh giátính nhạy cảm của côn trùng đối với các loại hóa chất đang sử dụng nhằmđảm bảo việc diệt côn trùng có hiệu quả, tránh hiện tượng đề kháng với thuốc
Nguyễn Thị Mỹ Tiên và cộng sự đã đánh giá tính nhạy cảm của muỗi Aedes aegypti đối với các hóa chất diệt côn trùng tại 19 tỉnh thành phía Nam Việt
Nam năm 2009 - 2010 với 7 loại hóa chất Kết quả cho thấy sự đề kháng củaloài muỗi này thể hiện khác nhau ở từng địa phương Mặc dù kết quả cho thấymuỗi Aedes aegypti đã kháng với nhóm pyrethroid nhưng nồng độ giấy thửrất thấp so với nồng độ đang được sử dụng phun không gian Do đó tác giảkhuyến nghị cần thực hiện thêm các thử nghiệm hiệu lực diệt sinh học tại thựcđịa để xác định hóa chất nào còn sử dụng được và sử dụng ở nồng độ baonhiêu thì hiệu quả mà không ảnh hưởng tới con người và môi trường
Như vậy ở những địa phương thường xuyên bùng phát sốt xuất huyết vớikhả năng phát triển thành dịch bệnh, đặc biệt ở các tỉnh phía Nam, ngoàinhững biện pháp diệt ấu trùng gồm bọ gậy và loăng quăng muỗi truyền bệnhthường được sử dụng, nếu có điều kiện có thể xem xét áp dụng biện pháp xử
lý các điểm sinh sản của muỗi trong khu vực bằng bánh hóa chất hoặc hạt hóachất methoprene vì chúng có tác dụng hiệu quả, an toàn và khả năng tồn lưudiệt ấu trùng muỗi lâu dài trong những tháng mùa bệnh Tuy nhiên hạn chếcủa biện pháp này chính là việc sử dụng phải đúng cách để tránh sự kháng
Trang 38thuốc của côn trùng cũng như gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môitrường sống Ngoài ra chi phí cho việc sử dụng hóa chất là khá tốn kém
1.3.4 Biện pháp dùng vắc xin
Vắc xin phòng ngừa bệnh sốt xuất huyết Dengue đầu tiên có tên là Dengvaxia (CYD - TDV) do hãng dược phẩm Sanofi Pasteur nghiên cứu ở
các quốc gia có lưu hành dịch bệnh, chủ yếu ở hai khu vực châu Mỹ La-tinh
và là Đông Nam Á Việc sử dụng vắc xin được chứng minh là giúp làm giảm
số ca mắc, số trường hợp vào viện cũng như làm giảm tỷ lệ bệnh SXH thểnặng
Tang Yun Xia và cộng sự từ Trung Quốc đã nghiên cứu mô hình thử
nghiệm vắc xin để chống lại sự nhiễm 4 típ huyết thanh của vi rút dengue Bằng cách dùng P pastoris để tạo nên các tiểu thể giống vi rút dengue (VLPs)
mang lại một chiến lược hứa hẹn và kinh tế đối với việc phát triển phòngchống bệnh SXH
Tại Việt Nam, nghiên cứu do Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh triển khai từnăm 2011 tại Long Xuyên và Mỹ Tho với 2336 trẻ đã tham gia nghiên cứu.Sau khi được tiêm 3 mũi vắc-xin, các đối tượng tham gia thử nghiệm đượctheo dõi thêm 13 tháng để đánh giá hiệu quả Kết quả cho thấy vắc-xin sốtxuất huyết dengue đã giúp ngừa được 56,5% ca sốt xuất huyết có triệu chứng(gây ra do bất kỳ týp virus dengue nào) Không chỉ thế, vắc-xin còn làm giảmđược 88,5% ca sốt xuất huyết thể nặng và làm giảm 67% nguy cơ nhập viện
do sốt xuất huyết Với kết quả này, khả năng vắc xin phòng dịch sốt xuấthuyết ra đời đã ở trong tầm tay
1.3.5 Biện pháp di truyền
Trang 39Chiến lược dựa vào biến đổi gen tạo ra những dòng muỗi kháng hoặc
không có khả năng truyền Dengue và thay thế quần thể tự nhiên bằng những dòng này (không là véc tơ truyền bệnh) Wolbachia sống nội cộng sinh (endosymbiotic) trong quần thể véc tơ hoang dại, những vi khuẩn này có khả
năng làm ngắn tuổi thọ của muỗt trưởng thành một cách đáng kể Vi rút
Dengue cần giai đoạn ủ bên ngoài khoảng 12-14 ngày trong cơ thể véc tơ trước khi truyền cho người Chủng Wolbachia có thể làm ngắn đời sống của
côn trùng kí chủ khoảng ½ giai đoạn này ,
Hình 1.6 Muỗi mang vi khuẩn Wolbachia
Chương trình hiện đã có sự hợp tác của giới khoa học từ các nước ViệtNam, Australia, Indonesia, Brazil, Colombia, Trung Quốc, Anh, Singapore và
Mỹ Dự án ở Việt Nam mang tên "Hướng tới loại trừ sốt xuất huyết".ViệtNam là quốc gia thứ hai trên thế giới, sau Australia, triển khai thử nghiệm
muỗi Aedes aegypti mang Wolbachia tại đảo Trí Nguyên, TP Nha Trang, tỉnh
Khánh Hòa để chúng mang vi khuẩn Wolbachia rồi thả vào môi trường.Phương pháp này có triển vọng mang lại lợi ích to lớn, giúp khống chế mộtcách chủ động, lâu dài bệnh SXH và Zika Kết quả đạt được ở các nước đều
cho thấy đây là một phương pháp an toàn, muỗi mang Wolbachia không gây
ra bất cứ vấn đề gì về sức khoẻ con người hay môi trường sinh thái Hiệu quả
Trang 40khống chế sự lan truyền của bệnh sốt xuất huyết trên thực địa hẹp đã thấy rõtrong nhiều năm qua
Ngoài ra các nhà khoa học cung nghiên cứu phương pháp phòng chống
véc tơ dựa vào các kỹ thuật biến đổi gen để bất thụ muỗi như dòng Aedes aegypti OX 512 của OXITEC để làm giảm nguy cơ truyền bệnh SXHD cũng
đang được thử nghiệm bước đầu giúp ngăn chặn số lượng muỗi mang virussốt xuất huyết Phương pháp phòng chống này được coi là hiệu quả, chi phíhợp lý và không độc hại Hơn nữa nó có thể phối hợp với các biện pháp
phòng chống khác như sử dụng tác nhân sinh học Mesocyclops để diệt bọ gậy
với sự tham gia của cộng đồng
1.3.6 Các giải pháp tổng hợp với sự tham gia của cộng đồng
Đối với công tác phòng chống SXHD, muốn có hiệu quả thì sự tham giacủa cộng đồng là quan trọng Ngoài ra cần phải áp dụng nhiều giải pháp canthiệp đồng thời thì mới đem lại hiệu quả thiết thực
Tại Việt Nam, các nhà khoa học đã phát triển một chiến lược kiểm soátmuỗi, kết hợp bốn yếu tố: (1) sự hiểu biết của cộng đồng; (2) kiểm soát véc tơ
chính (3) sử dụng tác nhân sinh học Mesocyclops; (4) hoạt động cộng đồng
của tình nguyện viên y tế, trường học và người dân Kết quả cho thấy không
có trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết ở các xã áp dụng Nghiên cứu nàycũng cho thấy tính bền vững Tuy nhiên nhược điểm là chỉ có hiệu quả caokhi người dân sử dụng các thùng chứa nước lớn và có bọ gậy sống ở đó Ngay cả mô hình sinh thái học - mô hình được thiết kế để phối hợp hệthống y tế dự phòng từ tuyến trung ương đến địa phương cũng cần phải có sựtham gia của cộng đồng - một mắt xích quan trọng trong thiết kế theo chiềudọc từ Bộ Y tế tới các Viện Vệ sinh Dịch tễ/Pasteur khu vực, Trung tâm y tế
dự phòng tỉnh, huyện và Trạm y tế xã/phường với các ban ngành đoàn thể vàcộng đồng Thành lập Ban chỉ đạo tại xã/phường gồm đại diện chính quyền, y