Chất thảirắn y tế nguy hại tiềm ẩn khả năng lây nhiễm cao, gây tổn thương hơn bất kỳloại chất thải khác, nó có thể truyền các mầm bệnh nguy hiểm cho con ngườiphơi nhiễm như HIV, HBV, HCV
Trang 1ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Trang 3ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS NGUYỄN THANH HÀ
2 PGS – TS LÊ THỊ HOÀN
Trang 5BYT : Bộ Y tế
CBYT : Cán bộ y tế
CTRYT : Chất thải rắn y tế
CTYT : Chất thải y tế
HBV : Hepatitis B virus (Vi rút viêm gan B)
HCV : Hepatitis C virus (Vi rút viêm gan C)
HIV : Human Immunodeficiency Virus
(Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người)IPCS : Chương trình toàn cầu về an toàn hóa chất
IRTPC : Tổ chức đang ký toàn cầu về hóa chất độc tiềm tàngQLCT : Quản lý chất thải
WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế 4
1.1.1 Các khái niệm 4
1.1.2 Phân loại chất thải y tế 4
1.1.3 bao bì, dụng cụ, thiết bị, lưu chứa chất thải y tế 6
1.1.4 Những nguy cơ của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe 10
1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 13
1.3 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 16
1.3.1 Các nghiên cứu quản lý chung về chất thải rắn y tế 16
1.3.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành quản lý CTRYT 20
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng quản lý chất thải y tế 21
1.5 Hiện trạng quản lý chất thải rắn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 23
1.5.1 Thông tin chung về bệnh viện 23
1.5.2 Quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 26
1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu 29
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30
2.3 Thiết kế nghiên cứu 30
2.4 Cỡ mẫu 31
2.5 Phương pháp thu thập số liệu: 31
2.6 Xử lý và phân tích số liệu 33
2.7 Các biến số nghiên cứu và các khái niệm, thước đo 34
2.7.1 Các biến số nghiên cứu 34
Trang 7Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 41
3.1 Thực trạng về công tác quản lý chất thải rắn y tế 41
3.1.1 Thực trạng về công tác tổ chức quản lý CTRYT 41
3.1.2 Thực trạng về cơ sở vất chất, trang thiết bị quản lý CTRYT 41
3.2 Kiến thức về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ 41
3.2.1 Thông tin về cuộc phỏng vấn 41
3.2.2 Kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế 42
3.2.3 Kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế 43
3.2.4 Kiến thức về vận chuyển chất thải rắn y tế 43
3.2.5 Kiến thức về lưu giữ chất thải rắn y tế 44
3.3 Thực hành phân loại chất thải rắn y tế 44
3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế 44
3.4.1 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức quản lý chất thải 44
3.4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến trang thiết bị quản lý chất thải 44
3.4.3 Ảnh hưởng của kiến thức, thực hành của nhân viên y tế đến quản lý CTYT 44
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 45
4.1 Thực trạng công tác quản lý thải rắn tại viện chấn thương chỉnh hình Bệnh viện HN Việt Đức 45
4.1.1 Thực trạng về công tác tổ chức quản lý chất thải rắn y tế 45
4.1.2 Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý chất thải rắn y tế 45
4.2 Kiến thức của nhân viên y tế về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế 45
4.3 Thực hành của nhân viên y tế về phân loại chất thải rắn y tế 45
Trang 84.5.1 Ưu điểm của nghiên cứu 45
4.5.2 Hạn chế của nghiên cứu 45
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 46
KHUYẾN NGHỊ 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Bảng 1.1: Những nguy cơ do tiếp súc với các loại chất thải y tế 11
Bảng 1.2: Nguy cơ các vật sắc nhọn 12
Bảng 1.3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới 15
Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện trên thế giới 16
Bảng 1.5: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện Việt Nam 19
Bảng 1.6: Một số hoạt động về chuyên môn 26
Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng phỏng vấn 41
Bảng 3.2: Kiến thức về phân loại CTRYT của đối tượng phỏng vấn 42
Bảng 3.3: Kiến thức về thu gom CTRYT của đối tượng phỏng vấn 43
Bảng 3.4: Kiến thức về vận chuyển CTRYT của đối tượng phỏng vấn 43
Bảng 3.5: Kiến thức về lưu giữ CTRYT của đối tượng phỏng vấn 44
Bảng 3.6: Phân loại CTRYT của đối tượng phỏng vấn 44
Trang 10Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức 25
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện HN Việt Đức 27
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, sự phát triển của các bệnh viện đã làm gia tăng lượng chất thải
ra môi trường, đặc biệt là chất thải rắn y tế Chất thải rắn y tế đã và đang làvấn đề quan tâm của toàn xã hội nói chung và nghành y tế nói riêng Chất thảirắn y tế nguy hại tiềm ẩn khả năng lây nhiễm cao, gây tổn thương hơn bất kỳloại chất thải khác, nó có thể truyền các mầm bệnh nguy hiểm cho con ngườiphơi nhiễm như (HIV, HBV, HCV…)
Các bệnh viện khi đi vào hoạt động đều tạo ra chất thải, ngoài chất thảidạng lỏng, chất thải dạng khí thì còn chất thải rắn, một loại chất thải đặc thùkhác với các xí nghiệp hay nhà máy mà chỉ trong bệnh viện mới có, như làbơm kim tiêm, bông, băng, gạc, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyềnmáu…các vật tư qua sử dụng nhưng dính dịch tiết, dính máu của người bệnh.Các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đã chứng minh, quản lý chất thải rắn
y tế không đúng cách sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe conngười, cộng đồng dân cư và gây ô nhiễm môi trường [1],[2]
Trong chất thải rắn y tế thường chứa một lượng lớn các vi sinh vật gâybệnh truyền nhiễm, các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thểcon người thông qua các con đường lây nhiễm như qua da, qua niêm mạc, quađường hô hấp hoặc qua đường tiêu hoá…[3] Các chất thải là vật sắc nhọncòn có khả năng vừa gây tổn thương do đâm xuyên, vừa có khả năng lâytruyền các bệnh truyền nhiễm cho các đối tượng phơi nhiễm Các nghiên cứu
đã cho thấy tỷ lệ nguy cơ lây nhiễm HBV khi bị tổn thương do kim tiêm là30%, HCV là 1,8% và HIV là 0,3% Hiện nay việc xử lý chất thải rắn y tếchưa được quan tâm đúng mức
Tại Việt Nam hiện nay, cả nước có hơn 13.511 cơ sở y tế bao gồm các cơ
sở khám chữa bệnh và dự phòng từ cấp trung ương đến địa phương Theo số
Trang 12liệu thống kê của Cục quản lý môi trường y tế - Bộ y tế năm 2011 với lượngchất thải rắn phát sinh vào khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có 47 - 50 tấn/ngày làchất thải rắn y tế nguy hại, dự kiến đến năm 2020 là khoảng 800 tấn/ngày [4].Tuy vậy, hiện mới có khoảng 44% các bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y
tế trong số đó nhiều hệ thống xử lý đã xuống cấp nghiêm trọng Tỷ lệ các bệnhviện tuyến Trung ương chưa có hệ thống xử lý chất thải y tế là 25%, tuyến tỉnh làgần 50% và ở bệnh viện tuyến huyện là trên 60% [5]
Để khắc phục thực trạng trên và để đảm bảo thực hiện đúng luật bảo vệmôi trường, ngày 31 tháng 12 năm 2015, Bộ Y tế và Bộ Tài Nguyên và Môitrường đã ban hành Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT vềquản lý CTYT Thông tư này được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhântrong và nước ngoài có hoạt động liên quan đến chất thải y tế trên lãnh thổViệt Nam [6]
Bệnh viện HN Việt Đức là bệnh viện ngoại khoa hạng đặc biệt, trựcthuộc BYT Bệnh viện có quy mô 1.500 giường kế hoạch nhưng số giườngthực kê là 1750 giường, với 2075 nhân viên y tế, mỗi năm bệnh viện điều trịcho khoảng 70.000 người bệnh nội trú, khám cho khoảng 80.000 người bệnhngoại trú [7] Trong quá trình hoạt động số lượng chất thải rắn y tế trung bìnhhàng tháng của bệnh viện là 162.127 kg / tháng chất thải, trong đó số lượngchất thải lây nhiễm và độc hại là 25.033 kg/tháng, chất thải thông thường vàchất thải tái chế khoảng 137.094 kg/tháng, con số này tăng lên hàng nămcùng với sự phát triển và hoạt động tăng dần về chuyên môn của bệnh viện
Cơ sở vật chất của bệnh viện còn nhiều hạn chế đó là: Cơ sở hạ tầng của cáctòa nhà cũ, hiện đang tu sửa và xây mới, các nhà chứa chất thải trật, hẹpkhông đảm bảo, các thùng đựng chất thải còn thiếu thốn cả về số lượng, màusắc, kinh phí hoạt động nói chung và kinh phí cho quản lý chất thải nói riêngcòn thiếu Trong quá trình kiểm tra giám sát thấy nhiều nhân viên vẫn làm
Trang 13không đúng quy định về quản lý chất thải: như phân loại sai, lưu trữ khôngđúng, vận chuyển chưa đảm bảo Để đánh giá đúng thực trạng quản lý chấtthải rắn y tế của bệnh viện HN Việt Đức như thế nào? Có đáp ứng được cácyêu cầu quy định tại Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT vềquản lý CTYT được ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2015 không? Yếu tố nàoảnh hưởng đến hoạt động quản lý chất thải của bệnh viện nên chúng tôi thực
hiện đề tài đánh giá: “Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố ảnh hưởng của viện chấn thương chỉnh hình tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, năm 2019” Với hai mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện
Hữu nghị Việt Đức, năm 2019.
2 Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn
y tế ở viện Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, năm 2019.
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế
1.1.1 Các khái niệm.
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong quá trìnhhoạt động của cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y
tế thông thường và nước thải y tế [6]
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoạc cóđặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lâynhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm [6]
Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thugom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trìnhthực hiện [6]
Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phátsinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên
cở sở y tế [6]
Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơilưu giữ chất thải trong cở sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải thải y tế chocụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lýchất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế [6]
1.1.2 Phân loại chất thải y tế
Phân loại chất thải y tế tại Việt Nam
Theoquy chế quản lý chất thải y tế được Bộ Y tế quy định tại thông tư liêntịch số 58/2015 TTLT-BYT-BTNMT ban hành ngày 31/12/2015, thì
Trang 15chất thải trong các cỏ sở y tế được chia thành 3 loại như sau:
Chất thải lây nhiễm bao gồm:
+ Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra cácvết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắcnhọn của dây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưadùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác;
+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính,chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồngbệnh cách ly;
+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng
cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ cácphòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định
số 92/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chitiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinhhọc tại phòng xét nghiệm;
+ Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xácđộng vật thí nghiệm
Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:
+ Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;
+ Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguyhại từ nhà sản xuất;
+ Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân vàcác kim loại nặng;
+ Chất hàn răng amalgam thải bỏ;
+ Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môitrường về quản lý chất thải nguy hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số
Trang 16 Chất thải y tế thông thường bao gồm:
+ Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày củacon người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;
+ Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộcDanh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hạiquy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 4 này nhưng có yếu tố nguy hại dướingưỡng chất thải nguy hại;
+ Sản phẩm thải lỏng không nguy hại
1.1.3 bao bì, dụng cụ, thiết bị, lưu chứa chất thải y tế.
* Màu sắc của bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa
- Màu vàng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm
sắc nhọn và chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lâynhiễm cao;
- Màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải nguy hại
không lây nhiễm dạng rắn;
- Màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế
thôngthường không phục vụ mục đích tái chế;
- Màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải phục vụ
- Hộp đựng vất sắc nhọn phải có thành, đáy cứng không bị xuyên thủng.
- Thùng hộp đựng chất thải có thể tái sử dụng theo đúng mục đích lưu
chứa sau khi đã được làm sạch và để khô
Trang 17* Phân loại chất thải y tế
- Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại để
quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh;
- Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ,
thiết bị lưu chứa chất thải Trường hợp các chất thải y tế nguy hại không cókhả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử
lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưuchứa;
- Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn
hợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm
- Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụ
phân loại chất thải y tế và có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải
- Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế phải có hướng dẫn
cách phân loại và thu gom chất thải
- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp màu vàng;
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc thùng có lót
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: Đựng trong túi hoặc
trong thùng có lót túi và có màu đen;
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng cụ
có nắp đậy kín;
- Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi
Trang 18hoặc trong thùng có lót túi màu trắng.
* Thu gom chất thải y tế
- Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưu
giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế
- Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng
chất thải phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò rỉ chất thải trong quátrình thu gom
- Cơ sở y tế qui định tuyến đường và thời điểm thu gom chất thải lây
nhiễm phù hợp để hạn chế ảnh hưởng đến khu vực chăm sóc người bệnh vàkhu vực khác trong cơ sở y tế
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom
về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế
- Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ
chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 (một) lần/ngày
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu
lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế;
- Thu gom chất hàn răng amalgam thải và thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua
sử dụng có chứa thủy ngân Được thu gom lưu giữ riêng trong các hộp bằngnhựa hoặc các vật liệu phù hợp và đảm bảo không bị rò rỉ hay phát tán hơithủy ngân ra môi trường
- Thu gom chất thải y tế thông thường: Chất thải y tế thông thường phục
vụ mục đích tái chế và chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đíchtái chế được thu gom riêng
* Lưu giữ chất thải y tế
- Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế nguy hại tại khu lưu giữ phải
đáp ứng các yêu cầu sau đây:
+ Có thành cứng, không bị bục vỡ, rò rỉ dịch thải trong quá trình lưu giữ
Trang 19chất thải;
+ Có biểu tượng loại chất thải lưu giữ theo quy định;
+ Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm phải có nắp đậy kín vàchống được sự xâm nhập của các loài động vật;
+ Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất hóa chất phải được làm bằng vật liệukhông có phản ứng với chất thải lưu chứa và có khả năng chống được sự ăn mòn;
- CTYT nguy hại và CTYT thông thường phải lưu giữ riêng tại khu vực
lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế
- CT lây nhiễm và CT nguy hại không lây nhiễm phải lưu giữ riêng trừ
trường hợp các loại chất thải này áp dụng cùng một phương pháp xử lý
- CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế và CTYT thông thường
không phục vụ mục đích tái chế được lưu giữ riêng
- Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm: Đối với chất thải lây nhiễm phát
sinh tại cơ sở y tế, thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm tại cơ sở y tế không quá
02 ngày trong điều kiện bình thường Trường hợp lưu giữ chất thải lây nhiễmtrong thiết bị bảo quản lạnh dưới 8°C, thời gian lưu giữ tối đa là 07 ngày
*Giảm thiểu chất thải y tế
- Lắp đặt, sử dụng các thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các nguyên
vật liệu phù hợp, bảo đảm hạn chế phát sinh chất thải y tế
- Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động y tế nhằm giảm thiểu phát
sinh chất thải y tế
- Quản lý và sử dụng vật tư hợp lý và hiệu quả.
* Quản lý CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế
- Không được sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải y tế để sản xuất các đồ
dùng, bao gói sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm
- Chất thải lây nhiễm sau khi xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
môi trường được quản lý như chất thải y tế thông thường
- Bao bì lưu chứa chất thải phải được buộc kín và có biểu tượng chất thải
Trang 20tái chế theo quy định.
* Vận chuyển CTRYT.
- Phương tiện vận chuyển: Cơ sở y tế, đơn vị được thuê vân chuyển chất
thải sử dụng xe thùng kín hoặc xe bảo ôn chuyên dụng để vận chuyển
- Dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT nguy hại trên phương tiện vận chuyển
phải đáp ứng các yêu cầu sau:
+ Có thành, đáy, nắp kín, kết cấu cứng, chịu được va chạm, không bịrách vỡ bởi trọng lượng chất thải, bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển+ Có biểu tượng về loại chất thải lưu chứa theo quy định kích thước phùhợp, được in rõ ràng, dễ đọc, không bị mờ phai trên thiết bị lưu chứa chất thải+ Được lắp cố định hoặc có thể tháo rời trên phương tiện vận chuyển vàbảo đảm không bị rơi, đổ trong quá trình vận chuyển chất thải
+ Chất thải lây nhiễm trước khi vận chuyển phải được đóng gói trongcác thùng, hộp hoặc túi kín, bảo đảm không bị bục, vỡ hoặc phát tán chất thảitrên đường vận chuyển
1.1.4 Những nguy cơ của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe
1.1.4.1 Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn
Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có thể chứa đựngmột lượng lớn tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm [8]
Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thôngqua các cách thức sau: qua da, qua các niêm mạc, qua đường hô hấp, quađường tiêu hóa
Trang 21Bảng 1.1: Những nguy cơ do tiếp súc với các loại chất thải y tế [9]
Các dạng nhiễm khuẩn Một số tác nhân gây
bệnh
Chất truyền bệnh
Nhiễm khuẩn đường tiêu
hóa
Các vi khuẩn đường tiêu hóa: Samonella, Shigella, Vibrio cholera, trứnggiun
Phân và/hoặc chất nôn
Nhiễm khuẩn đường hô
hôi, chất nhờn)
sinh dục
Viêm gan B và C Virus viêm gan B và C Máu và dịch cơ thể
1.1.4.2 Nguy cơ của các vật sắc nhọn
Các vật sắc nhọn không những có nguy cơ gây thương tích cho nhữngngười phơi nhiễm mà qua đó còn có thể truyền bệnh nguy hiểm Theo số liệuthống kê tại Nhật Bản, nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn đâmxuyên qua da như sau: Nhiễm HIV là 0,3%, nhiễm viêm gan B là 3%, viêmgan C là 3 – 5%
Ở Hoa Kỳ, tháng 6/1994, Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) đã phát
Trang 22hiện được 39 trường hợp mắc HIV/AIDS nghề nghiệp trong đó có 32 trườnghợp do bị kim tiêm nhiễm khuẩn đâm qua da; 1 trường hợp do dao mổ cắt qua
da, 1 trường hợp bị tổn thương do vỏ của ống thủy tinh Cũng theo nguồn sốliệu của CDC tình trạng nhiễm virut viêm gan có liên quan đến tổn thương dovật sắc nhọn gây ra như sau:
Bảng 1.2: Nguy cơ các vật sắc nhọn[9]
Nghề nghiệp Số ca tổn thương do vật
sắc nhọn (người/năm)
Số ca bị viêm gan (người/năm)
Nhân viên vệ sinh bệnh
Nhân viên phụ giúp nha sĩ
Trang 231.1.4.3 Nguy cơ của các chất thải nguy hại không lây nhiễm
Các chất thải hóa học có thể gây hại cho sức khỏe con người do cáctính chất: ăn mòn, gây độc, dễ cháy, gây nổ, gây sốc hoặc ảnh hưởng đến ditruyền Các chất thải này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với
số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tácdụng cần vứt bỏ Các chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính vàmạn tính, gây ra các tổn thương như bỏng, ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể
là kết quả của quá trìnhhấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua da, niêm mạc,qua đường hô hấp, hoặc qua đương tiêu hóa Việc tiếp xúc với các chất dễcháy, dễ ăn mòn, các chất gây phản ứng có thể gây nên những tổn thương tới
da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương hay gặp và phổ biếnnhất là các vết bỏng
1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành ở nhiều nước trên thếgiới, đặc biệt là các nước phát triển như: Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Canada các công trình nghiên cứu quan tâm đến nhiều lĩnh vực như quản lý chất thải
y tế (biện pháp giảm thiểu chất thải, biện pháp tái sử dụng, các phương pháp
xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ), tác hạicủa chất thải y tế đối với môi trường, biện pháp giảm thiểu tác hại của chấtthải y tế và phòng chống tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe cộngđồng [9], [10], [11], [12]
Một nghiên cứu khác ở hai vùng phía Nam và phía Đông Ấn Độ năm
2014 cho thấy: Ở khu vực phía Nam và phía Đông CBYT có thực hành đạt vềthu gom CTYT lần lượt là 58,3% và 58,9% [13]
Nghiên cứu tại một bệnh viện đại học y tế Bangalore cho thấy: Kiến thứcchung đạt là 95,8%, trong đó kiến thức của bác sỹ 76,8% và y tá 81,9% [14]
Gần đây, nghiên cứu về chất thải y tế được quan tâm ở nhiều khía cạnh:
- Sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng
Trang 24Ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền bệnh dịch trong và ngoàibệnh viện.
- Những vấn đề liên quan của y tế công cộng với chất thải y tế.
- Chất thải y tế nhiễm xạ với sức khỏe.
- Tổn thương nhiễm khuẩn ở điều dưỡng, hộ lý và nhân viên thu gom
chất thải, nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với ngườithu gom chất thải, vệ sinh và cộng đồng
- Nguy cơ phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều cơ quan quốc tế như IRPTC (tổ chứcđăng ký toàn cầu về hoá chất độc tiềm tàng), IPCS (chương trình toàn cầu về
an toàn hoá chất), WHO (Tổ chức Y tế thế giới) đã xây dựng và quản lý các
dữ liệu thông tin về an toàn hoá chất
Tùy từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹthuật cùng với nhận thức về quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách xử
lý chất thải của riêng mình Cũng cần nhấn mạnh rằng các nước phát triểntrên thế giới thường áp dụng đồng thời nhiều phương pháp để xử lý chất thảirắn, trong đó có chất thải rắn nguy hại, tỷ lệ xử lý chất thải rắn bằng cácphương pháp như đốt, xử lý cơ học, hóa/lý, sinh học, chôn lấp rất khácnhau Qua số liệu thống kê về tình hình xử lý chất thải rắn của một số nướctrên thế giới cho thấy, Nhật Bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi chấtthải rắn với hiệu quả cao nhất (38%), sau đó đến Thụy Sỹ (33%), trong khi đóSingapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý
vi sinh nhiều nhất (30%) Các nước sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệsinh nhiều nhất trong xử lý chất thải rắn là Phần Lan (84%), Thái Lan (84%),Anh (83%), Liên Bang Nga (80%) và Tây Ban Nha (80%) [15],[16]
* Hoạt động quản lý:
Theo WHO [17], để đạt được những mục tiêu trong quản lý chất thải y
Trang 25tế các cơ sở y tế cần có những hoạt động cơ bản sau:
- Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải tại bệnh viện (khối lượng, thành
phần)
- Đánh giá khả năng kiểm soát và các biện pháp xử lý chất thải.
- Thực hiện phân loại chất thải theo các nhóm.
- Xây dựng các quy trình, quy định để quản lý chất thải (nơi lưu giữ, màu
sắc dụng cụ, đặc điểm các túi, thùng thu gom và nhãn quy định )
- Nhân viên phải được tập huấn có kiến thức về quản lý chất thải và có
các phương tiện bảo hộ đảm bảo an toàn khi làm việc
- Các cơ sở y tế phải chiụ trách nhiệm về các hoạt động quản lý chất thải.
- Lựa chọn các biện pháp xử lý thích hợp.
* Thực trạng phát sinh chất thải y tế
Khối lượng chất thải y tế thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa
và phụ thuộc các yếu tố khách quan khác như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy
mô bệnh viện, lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, điều kiện kinh tế, xã hộicủa khu vực, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám,điều trị, chăm sóc, số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân
Các số liệu thống kê cho thấy, khối lượng chất thải hàng năm thay đổi theo mức thu nhập như sau:
Bảng 1.3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới
Mức thu nhập của
từng nước
Tổng lượng CTYT bệnh viện (kg/đầu người)
Lượng CTYT nguy hại (kg/đầu người)
Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện Với sự dao động từ0,5 –8,7 kg/ngày đối với tổng lượng chất thải y tế và 0,1 – 1,6 kg/ngày đối với
Trang 26chất thải nguy hại (Bảng 4).
Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện trên thế giới.
Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTYT
1.3 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
1.3.1 Các nghiên cứu quản lý chung về chất thải rắn y tế
Đa số (81,25%) bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải ngay tạinguồn phát sinh nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả Hoạtđộng phân loại chất thải còn tồn tại một số vấn đề như: chưa tách vật sắc nhọn
ra khỏi chất thải y tế, còn để lẫn nhiều chất thải thông thường với chất thải y
tế và ngược lại Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi và thùng đựng chất thảichưa đầy đủ và thống nhất Tình trạng nhiều bệnh viện (45%) chưa tách riêngcác vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế đang làm tăng nguy cơ rủi ro chonhững người trực tiếp vận chuyển và tiêu hủy chất thải Trong số bệnh viện đãtách riêng vật sắc nhọn, vẫn còn một số bệnh viện (11,4%) thu gom vật sắcnhọn vào các hộp chưa an toàn (vẫn có khả năng đâm, xuyên), còn lại đa sốcác bệnh viện (88,6%) thường đựng chất thải sắc nhọn vào các vật tự tạo nhưchai truyền dịch, chai nhựa đựng nước khoáng [8]
Kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy: tỷ lệ cán bộ y tế hiểubiết đầy đủ về cách thức phân loại chất thải thành 5 nhóm chưa cao, hiểu biết
về mã màu sắc, dụng cụ đựng chất thải y tế chưa đầy đủ, bên cạnh đó công tácđào tạo, tập huấn của các bệnh viện chưa nhiều, do vậy hoạt động phân loại
Trang 27chất thải chưa đạt được kết quả như mong đợi [9],[18].
Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa Đồng Tháp năm 2015 cho:các chất thải được phân loại ngay tại nguồn phát sinh, tuy nhiên chất thải chưađược phân loại chính xác, chỉ có 65% khoa thực hiện phân loại đúng theo quyđịnh về quản lý CTYT[19]
Năm 2003, Đào Nguyên Minh nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lýchất thải y tế tại hai bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, kếtquả nghiên cứu cho thấy thấy hầu hết dụng cụ đựng chất thải tại 2 bệnh việnđều không có đủ các mã màu sắc theo quy định, công tác phân loại, thu gomchất thải của cả 2 bệnh viện còn nhiều vấn đề tồn tại, chưa thực hiện đúng vớicác quy định của Bộ y tế [10]
Năm 2004, Dương Thị Hương và cộng sự nghiên cứu tình hình vệ sinhmôitrường tại 11 cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng, kết quả nghiêncứu cho thấy: việc tổ chức phân loại, thu gom tập trung tại các bệnh viện đềuchưa thực hiện tốt Hệ thống trang thiết bị thu gom, vận chuyển chất thảikhông được cung cấp đầy đủ, khu vực lưu giữ chất thải chưa đáp ứng đượccác quy định của BYT ban hành [20]
Năm 2007, Đào Ngọc Phong nghiên cứu tình hình quản lý chất thải tạicác bệnh viện huyện thuộc 4 tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ngãi, Cần Thơ,kết quả nghiên cứu đã đưa ra nhiều kết luận về thực trạng quản lý chất thải y
tế, tình hình ô nhiễm môi trường của các bệnh viện gây ra và các kết quả ápdụng mô hình quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện tuyến huyện [21]
Năm 2008 – 2009, Nguyễn Duy Bảo và các cộng sự đã nghiên cứu thựctrạng môi trường và hoạt động quản lý chất thải y tế của 22 bệnh viện tuyếntrung ương và tuyến tỉnh thuộc khu vực phía Bắc, kết quả nghiên cứu đã chỉ
ra rằng: công tác quản lý, xử lý chất thải rắn y tế đã được các bệnh viện quantâm và thực hiện nghiêm túc theo Quy chế quản lý chất thải y tế tại Quyết
Trang 28định 43/2007/QĐ-BYT, tuy nhiên còn phổ biến tình trạng thực hiện khôngđúng về mặt kỹ thuật theo quy định của BYT, nguyên nhân chủ yếu được cho
là thiếu kinh phí thực hiện
Năm 2011, Hoàng Giang nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chấtthải rắn y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, kết quả chothấy vẫn còn 14,7% đến 64,7% các khoa phân loại chất thải sai, 3,1% nhânviên y tế phân loại chất thải sai với quy định [22]
Nghiên cứu của Hồ Thị Nga năm 2013 về Thực trạng quản lý chất thảirắn y tế và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa Gia Lộc, tỉnh HảiDương cho thấy công tác quản lý chất thải rắn y tế thực hiện khá tốt đáp ứnghầu hết các tiêu chí của Bộ y tế ban hành kèm theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT [23]
Nghiên cứu tại bệnh viện Đa khoa Khánh Hòa năm 2013 cho thấy:100% các khoa trong bệnh viện đã thực hiện việc phân loại CTRYT tại thờiđiểm phát sinh và phân loại CTRYT nguy hại riêng biệt với CTRYT thôngthường theo quy định của Bộ Y tế 100% các khoa có thùng thu gom CTRYTtại nơi làm thủ thuật, có bảng hướng dẫn quy định nơi đặt thùng thu gom vàtiến hành thu gom đúng quy định 70% các khoa phòng có xe vận chuyểnCTRYT [24]
Kết quả từ một nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải ở 80bệnh viện trong cả nước, kết quả cho thấy lượng chất thải rắn phát sinh tăngdần từ bệnh viện tuyến huyện, đến tuyến tỉnh và cao nhất ở tuyến trung ương(Bảng 1.5) [8]:
Bảng 1.5: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện Việt Nam
Tuyến bệnh viện
(Kg/giường bệnh)
Tổng lượng CTYT (Kg/giường bệnh)
CTYT nguy hại (Kg/giường bệnh)
Trang 29Bệnh viện tỉnh 0,88 0,14
Báo cáo thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện năm
2009 của Cục Quản lý Khám chữa bệnh cho thấy: Tổng lượng chất thải thôngthường phát sinh trong một ngày của các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế là104.227kg, trung bình là 0,76kg/giường bệnh/ngày, tổng lượng chất thải lâynhiễm cần được xử lý trong 1 ngày là 24.776kg, trung bình là 0,18kg/giườngbệnh/ngày Ngoài ra còn có các loại chất thải y tế nguy hại khác: Chất thảihóa học, phóng sạ, thuốc thải bỏ hết hạn, bình áp suất [25]
* Thu gom chất thải bệnh viện.
Hầu hết các chất thải y tế đều được các bệnh viện thu gom, vận chuyểnngay trong ngày (90,9%) Tuy nhiên tỷ lệ thu gom chất thải đúng theo quyđịnh chỉ đạt 50% trong tổng số các bệnh viện [4] Phương tiện thu gom chấtthải như túi, thùng, xe vận chuyển chất thải của các bệnh viện hầu hết cònthiếu và chưa đạt chuẩn Trong khi đó hiểu biết của nhân viên trong bệnh việnđặc biệt là của các nhân viên thu gom về hoạt động này chưa cao Các nghiêncứu đã chỉ ra rằng, tỷ lệ các cán bộ y tế hiểu biết đầy đủ về tác hại của chấtthải y tế đối với sức khỏe còn thấp (46,2%), kiến thức về các đối tượng dễ bịảnh hưởng của chất thải y tế không cao (24,6%), chính vì vậy hoạt động thugom, vận chuyển chất thải chưa đảm bảo an toàn và chưa đúng quy trình của
BYT vẫn còn ở mức phổ biến [11] Ngoài công tác đào tạo trang bị kiến thức,
hiểu biết cho cán bộ nhân viên còn ít, vấn đề trang bị các phương tiện bảo hộcho các nhân viên trực tiếp tham gia vào các hoạt động thu gom, vận chuyểnchất thải chưa được quan tâm
* Lưu giữ chất thải bệnh viện
Hầu hết các điểm tập trung chất thải đều nằm trong khu đất của bệnh
Trang 30viện, vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơivãi, nhiều côn trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Vị trí ởkhuất xa tầm kiểm soát của nhân viên nên các loại côn trùng, chuột, súc vật,người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập Chỉ có ít bệnh viện có nơi lưu giữchất thải đạt tiêu chuẩn quy định [8].
* Vận chuyển chất thải ra ngoài cơ sở y tế
Hầu hết các chất thải y tế đều được các bệnh viện thu gom, vậnchuyển ngay trong ngày (90,9%) Tuy nhiên tỷ lệ thu gom chất thảiđúng theo quy định chỉ đạt 50% trong tổng số các bệnh viện [8].Phương tiện thu gom chất thải như túi, thùng, xe vận chuyển chất thảicủa các bệnh viện hầu hết còn thiếu và chưa đạt chuẩn Trong khi đóhiểu biết của nhân viên trong bệnh viện đặc biệt là của các nhân viênthu gom về hoạt động này chưa cao Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng,
tỷ lệ các cán bộ y tế hiểu biết đầy đủ về tác hại của chất thải y tế đốivới sức khỏe còn thấp (46,2%), kiến thức về các đối tượng dễ bị ảnhhưởng của chất thải y tế không cao (24,6%), chính vì vậy hoạt độngthu gom, vận chuyển chất thải chưa đảm bảo an toàn và chưa đúng
quy trình của BYT vẫn còn ở mức phổ biến Ngoài công tác đào tạo
trang bị kiến thức, hiểu biết cho cán bộ nhân viên còn ít, vấn đề trang
bị các phương tiện bảo hộ cho các nhân viên trực tiếp tham gia vàocác hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải chưa được quan tâm
1.3.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành quản lý CTRYT
Năm 2003, Đào Nguyên Minh nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lýchất thải y tế tại hai bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, kếtquả nghiên cứu chothấy: chỉ có 9,4% cán bộ y tế ở bệnh viện đa khoa QuảngNam và 22,0% cán bộ y tế ở bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi có kiến thứcđúng về phân loại chất thải rắn y tế [10]
Trang 31Một đánh giá về tình hình quản lý CTYT trên địa bàn huyện LongThành năm 2010 cho thấy chỉ có 54,5% nhân viên có kiến thức chung đúng,51,6% nhân viên có thái độ chung đúng, 46% nhân viên có thái độ chungđúng về quản lý CTYT.
Trong kết quả nghiên cứu của Hoàng Giang tại Bệnh viện HN Việt Đứcnăm 2011, cho thấy kiến thức, thực hành của nhân viên y tế trong quản lýCTRYT là khá tốt, hầu hết nhân viên y tế nhận thức đúng và có thực hànhđúng về quản lý CTYT theo quy định của Bộ Y tế [22]
Cũng như trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Thúy ở viện đa khoaĐông Anh cho thấy kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về các khâu phânloại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải chưa cao, một số khâu tỷ lệnhân viên trả lời đúng còn thấp [26] cụ thể: Tỷ lệ nhân viên y tế đạt kiến thứcchung về quản lý chất thải là 86,8% trong đó hiểu biết của nhân viên y tế vềcác nhóm chất thải, các chất thải lây nhiễm còn thấp Kiến thức về vậnchuyển chất thải cao nhất đạt 96,3%, thấp nhất là kiến thức về thu gom chấtthải 48,5%
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng quản lý chất thải y tế.
Trên thế giới
Theo Tổ chức Y tế thế giới, để công tác quản lý chất thải hoạt động tốt
và có tính bền vững cần đảm bảo các yếu tố sau: Thứ nhất, kinh phí là mộttrong những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến hoạt động QLCT Việc tính toán mộtcách chính xác các chi phí trực tiếp và gián tiếp cho công tác quản lý chất thải
là một vấn đề khó, tuy nhiên để có nguồn ngân sách ổn định và phát triển (đâychính là chìa khóa thành công cho một kế hoạch quản lý chất thải lâu dài) cầntính toán và đảm bảo đủ nguồn ngân sách bằng cách huy động từ các tổ chức
đa phương hoặc cơ quan song phương Bên cạnh đó cần có sự cam kết thựchiện nghiêm túc của chính phủ và các bên liên quan
Trang 32Hệ thống các văn bản pháp luật quy định và hướng dẫn công tác QLCT
về cả quy trình lẫn cách thức thực hiện là một yếu tố quan trọng Các tiêuchuẩn thực hành quản lý chất thải phải được quy định rõ ràng trong các nghịđịnh hướng dẫn, cũng như trong các quy định về chăm sóc sức khỏe, đâychính là biện pháp quản lý để đảm bảo an toàn trong tất cả các khâu của chutrình Các quy trình thực hiện phải đảm bảo tuân thủ đúng theo các quy địnhchung mà chính phủ ban hành cũng như các quy định cụ thể của các bệnhviện đề ra
Trang thiết bị, dụng cụ đầy đủ, thống nhất là một yếu tố đảm bảo việcthực hiện quản lý một cách chuẩn hóa Bên cạnh đó, cần tăng cường năng lựcthể chế của các bên liên quan chính tham gia vào quy trình quản lý chất thảithông qua sự phát triển của chương trình đào tạo và giảng dạy Cuối cùng, xâydựng một kế hoạch giám sát bền vững, bao gồm kiểm tra và các thể chế sẽgiúp các cơ quan y tế tăng cường thực hiện quản lý chất thải an toàn [17]
Tại Việt Nam
Hiện nay, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề cấp bách về môitrường và xã hội ở nước ta Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề này không phảimột sớm một chiều vì thực trạng quản lý chất thải đang đối mặt với rất nhiềukhó khăn, thách thức Đến ngày 31 tháng 12 năm 2015 Thông tư liên tịch số58/2015/TTLT-BYT-BTNMT quy định về quản lý chất thải [6]
Nguồn kinh phí đầu tư cho công tác quản lý chất thải y tế là rất lớn.Theo ước tính sơ bộ, tổng kinh phí cho toàn bộ chương trình đầu tư xây dựng
hệ thống xử lý chất thải (gồm chất thải rắn, lỏng, khí) vào khoảng 1.160 tỷđồng chưa kể chi phí cho sử dụng đất, phương tiện thu gom, vận chuyển, kinhphí vận hành và bảo trì [8] Vốn đầu tư cần được huy động từ các nguồn ngânsách Nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, nguồn giúp đỡ của các chínhphủ và các tổ chức phi chính phủ Kinh phí đầu tư để thực hiện đúng quy chế
Trang 33quản lý chất thải là rất lớn, trong khi đó, các bệnh viện được giao quyền tựchủ về tài chính, giá dịch vụ không được tăng nên bệnh viện không thể bù vàochi phí quản lý chất thải của mình
Bên cạnh đó, kiến thức về quản lý chất thải trong cán bộ y tế, nhân viêntrực tiếp làm công tác xử lý chất thải và bệnh nhân còn chưa cao, ảnh hưởngkhông nhỏ đến chất lượng phân loại, thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chấtthải Một số lãnh đạo bệnh viện chưa thực sự quan tâm đến các hoạt động này.Việc tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng chưa sâu rộng, đôi khi dư luậnqua báo chí còn làm nhân dân hoang mang, gây tâm lý quá lo sợ đối với chấtthải bệnh viện từ đó gây sức ép không đáng có lên các cơ quan quản lý
chuyên ngành [8].
Môi trường thực hiện pháp chế chưa thuận lợi Mặc dù đã có luật Bảo
vệ Môi trường, Quy chế quản lý chất thải nguy hại do Thủ tướng Chính phủban hành và Quy chế chất thải y tế do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành nhưng cácvăn bản pháp quy này chưa thấm sâu vào đời sống Việc thực hiện tốt Quychế quản lý chất thải y tế mới chỉ có ở một số ít bệnh viện, còn phần lớn cácbệnh viện chưa được quan tâm đầu tư kinh phí và phương tiện để thực hiệnQuy chế quản lý chất thải y tế
1.5 Hiện trạng quản lý chất thải rắn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
1.5.1 Thông tin chung về bệnh viện
Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức được thành lập năm 1906, lúc đóvới tên gọi là Nhà thương Bảo hộ, theo quá trình và thời gian, bệnh việnmang tên gọi khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử của đất nước; Bệnhviện Yersin (1943), Bệnh viện Phủ Doãn (1954), Bệnh viện Hữu nghịViệt Nam – Cộng hòa Dân chủ Đức (1958 – 1990) và bệnh viện Hữunghị Việt Đức (từ năm 1991 đến nay
Theo chỉ tiêu Bộ Y tế giao năm 2015 bệnh viện có 1300giường bệnh kế hoạch (Theo quyết định số 119/QĐ-BYT ngày
Trang 3415/01/1915 của Bộ trưởng Bộ Y tế) Tính đến 30/6/2016, bệnh viện
có 1906 công chức, viên chức, hợp đồng lao động và cán bộ nhàtrường (chưa kể gần 300 nhân viên bảo vệ, nhân viên vệ sinh môitrường được bệnh viện ký hợp đồng với công ty bên ngoài thườngxuyên làm việc tại bệnh viện) Năm 2015, bệnh viện được sếp hạngBệnh viện đặc biệt theo Quyết định số 1446/QĐ-BNV ngày21/9/2015 của Bộ trưởng Bộ nội vụ Với vinh dự này, Bệnh viện Hữunghị Việt Đức là bệnh viện chuyên khoa hạng đặc biệt đầu tiên của cảnước Cũng trong năm này, bệnh viện được Bộ Y tế giao quyền tựchủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính theo Quyết định số 1424/QĐ-BYT ngày 17/4/1015 của Bộ trưởng Bộ Y tế
Hiện nay, cơ cấu tổ chức của bệnh viện bao gồm 3 khối chính:Khối hành chính, hậu cần: Gồm 01 Ban giám đốc bệnh viện, 01Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến, 11 khoa/phòng chức năng Khốilâm sàng: Gồm 01 viện Chấn thương chỉnh hình, 07 Trung tâm và 20khoa/phòng lâm sàng Khối cận lâm sàng: Gồm 08 khoa, 1 Trung tâmTruyền máu và 01 nhà thuốc
Bệnh viện Hữu nghị Viết Đức là bệnh viện chuyên khoa hạngđặc biệt về ngoại khoa được Bộ Y tế giao thực hiện 9 nhiệm vụ chính(Theo Quyết định số 5518/QĐ-BYT ngày 25/12/2015 của Bộ trưởng
Bộ Y tế ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Bệnh viện Hữunghị Việt Đức):
1 Khám bệnh, chữa bệnh
2 Nghiên cứu khoa học
3 Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực y tế
4 Chỉ đạo tuyến
5 Hợp tác quốc tế
6 Phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, thảm họa
7 Quản lý chất lượng bệnh viện
Trang 358 Quản lý bệnh viện
9 Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Bộ Y tế
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
Thông tin về hoạt động chuyên môn
Trang 36Bảng 1.6: Một số hoạt động về chuyên môn
1.671
1.717
Số NB điều trị nội trú 50.6
73
59.873
63.692
67.016
879
580
965
623
930
624.670
4 Công suất sử dụng giường bệnh 86.4
246
178
273
964
266.131
21
55.063
56.190
57.601
17
52.699
65.059
66.355
741
446
916
404
625
567.100
38
931
3.670.616
3
766.355
3.945.952
98
30.736
27.996
31.432
064
128
431
126
345
162.121
Trang 3712 Số lượng máu truyền (ml) 8.8
51
150
9.096.800
9.664
000
10.833.050
14 Công suất sử dụng giường bệnh
(so với giường thực kê)
86,4
%
102,2
1.5.2 Quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Kết quả báo cáo và tổng hợp hàng tháng của phòng Hành chính quản trị
và khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện HN Việt Đức, số lượng chất thảirắn y tế phát sinh tăng dần những năm gần đây, trung bình một tháng của bệnhviện như sau: Chất thải lây nhiễm 25.034 kg/tháng, chất thải tái chế và chấtthải thông thường là 113.237 kg/tháng Thành phần và khối lượng các loạichất thải có sự khác nhau giữa các khoa phòng
Quy trình quản lý chất thải của bệnh viện được thực hiện qua 5 giai đoạnchính: Phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải Nhưng chủyếu là 4 giai đoạn đầu, còn giai đoạn xử lý thì bệnh viện hợp đồng công tyURENCO 13, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng quận Hoàn Kiếm, công tyTNHH&DVTM Việt Cường đến vận chuyển đi và xử lý theo quy định
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện HN Việt Đức
Nhóm 1
thườngChất thải nguy hại
không lây nhiễm
Trang 38GĐ: Thu gom CT
GĐ: Vận chuyển CT
GĐ: Lưu trữ CT
GĐ: Xử lý CT
Phân loại chất thải: Tất cả các nhân viên trong bệnh viện đều thực hiện
phân loại các chất thải ngay sau khi chất thải phát sinh, các chất thải này đượcđựng trong các dụng cụ, bao bì thu gom thích hợp Vật sắc nhọn được đựng vàohộp cứng, chuyên dụng Công việc này phần lớn là do điều dưỡng thực hiện
Thu gom chất thải: Hiện nay thu gom chất thải của các khoa lâm sàng
trong bệnh viện được tiến hành bởi các nhân viên hộ lý và nhân viên của công
ty vệ sinh công nghiệp Hoàn Mỹ Để đảm bảo thu gom hết lượng chất thải, tất
cả các khoa trong bệnh viện đều được trang bị hệ thống các thùng thu gom códung tích đủ lớn đảm bảo thu gom hết các loại chất thải trong ngày
Vận chuyển chất thải: Sau khi thu gom chất thải, tại mỗi khoa lâm sàng
có nơi để tập trung và lưu giữ tạm thời, nhân viên của công ty vệ sinh côngnghiệp Hoàn Mỹ thực hiện vận chuyển chất thải về nhà lưu giữ của bệnh viện.Thời gian vận chuyển chất thải được tiến hành vào 2 thời điểm: Sáng từ 8h00đến 10h30, chiều từ 14h00 đến 17h00 Chất thải rắn y tế tại các khoa lâm sàng
Nơi lưu trữ CTYT tạmthời tại khoa - phòng
Kho lưu trữ tạm thờiCTYT của cả bệnh viện
CTCP Môi trường và Đô thị URENCO 13
Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Quận
Hoàn KiếmCông ty TNHH&DVTM Việt Cường