1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MÔ HÌNH BỆNH tật tại KHOA THẬN lọc máu BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG TRONG 5 năm (2011 2015)

40 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 761,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xác định mô hình bệnh tật giúp cho ngành y tếxây dựng kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho nhân dân một cách toàn diện, đầu tư cho công tác phòng chống bệnh có chiều sâu và trọng điểm, từ

Trang 1

NGUYỄN THỊ THÙY LIÊN

MÔ HÌNH BỆNH TẬT TẠI KHOA THẬN LỌC MÁU BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG TRONG 5 NĂM

(2011-2015)

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ THÙY LIÊN

MÔ HÌNH BỆNH TẬT TẠI KHOA THẬN LỌC MÁU BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG TRONG 5 NĂM

(2011-2015)

Chuyên ngành: Nhi khoa

Mã số: 60720135

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1.PGS.TS Nguyễn Thị Quỳnh Hương

2 TS Nguyễn Thu Hương

Trang 3

ACR American College of Rheumatology

Hiệp hội thấp học Hoa KỳANA Antinuclear antibodies

Kháng thể kháng nhânAKI Acute Kidney Injury

Tổn thương thận cấpAnti dsDNA Anti double stranded DNA

Kháng thể kháng chuỗi képASLO Antistreptolysin O

CKD Chronic Kidney Disease

Bệnh thận mạnGFR Glomerular Filtration Rate

Mức lọc cầu thậnKDIGO Kidney Disease Improving Global Outcomes

Cải thiện kết quả điều trị bệnh thận toàn cầuISKDC International Study of Kidney Disease in Children

Tổ chức quốc tế nghiên cứu bệnh thận trẻ emICD International Classification of Diseases,

Phân loại quốc tế về bệnh tậtHCTH Hội chứng thận hư

HCTHTP Hội chứng thận hư tiên phát

HSP Henoch Scholein purpura

Bệnh viêm mao mạch dị ứng

SLE Systemic lupus erythematosus

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống

SLICC Systemic Lupus International Collaborating ClinicsWHO World Health Organization

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số phương pháp về mô hình bệnh tật 3

1.1.1 Nghiên cứu mô hình bệnh tật tại cộng đồng 3

1.1.2 Nghiên cứu mô hình bệnh tật trong bệnh viện 4

1.1.3 Nghiên cứu mô hình bệnh tật theo gánh nặng bệnh tật tại cộng đồng 4

1.2 Phân loại bệnh tật 5

1.3 Lịch sử phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề liên quan đến sức khỏe 6

1.4 Giới thiệu sơ lược về ICD 10 8

1.5 Tình hình bệnh thận trên thế giới và Việt Nam 10

1.5.1 Tình hình bệnh thận trên thế giới 10

1.5.2 Tình hình bệnh thận tại Việt Nam 12

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14 2.1 Đối tượng nghiên cứu 14

2.2 Phương pháp nghiên cứu 14

2.2.1 Thu thập số liệu 14

2.2.2 Các thông số nghiên cứu 14

2.2.3 Chẩn đoán bệnh 16

2.2.4 Các kỹ thuật sử dụng 22

2.3 Xử lí và trình bày số liệu 22

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23 3.1 Thông tin chung bệnh nhân 23

3.1.1 Số lượt bệnh nhân nhập viện trong 5 năm 23

3.1.2 Tuổi trung bình của bệnh nhân nhập viện 23

3.1.3 Phân bố tỷ lệ bệnh nhân nhập viện theo địa dư 24

3.1.4 Thời gian điều trị bệnh trung bình theo từng năm 24

Trang 6

3.2.1 Tuổi trung bình của các nhóm bệnh 25

3.2.2 Phân bố bệnh nhân theo nhóm bệnh 25

3.2.3 Cơ cấu bệnh nhân nhập viện theo giới 25

3.2.4 Tỷ lệ phần trăm của các nhóm bệnh 25

3.3 Đặc điểm của từng nhóm bệnh trong 5 năm 25

3.3.1 Nhóm hội chứng thận hư 25

3.3.2 Viêm thận/ Lupus 26

3.3.3 Suy thận mạn 26

3.3.4 Nhiễm khuẩn tiết niệu 26 Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 2.1 Phân chia giai đoạn suy thận theo mức lọc cầu thận 21

Bảng 2.2 Bảng đối chiếu huyết áp ở trẻ trên 4 tuồi theo chiều cao 21

Bảng 3.1 Số lượt bệnh nhân nhập viện theo từng năm 23

Bảng 3.2 Tuổi trung bình của bệnh nhân nhập viện 23

Bảng 3.3 Phân bố tỷ lệ bệnh nhân nhập viện theo địa dư 24

Bảng 3.4 Thời gian điều trị bệnh trung bình theo từng năm 24

Bảng 3.5 Thời gian điều trị trung bình theo từng nhóm bệnh 24

Bảng 3.6 Tuổi trung bình của các nhóm bệnh 25

Bảng 3.7 Phân bố bệnh nhân theo nhóm bệnh 25

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mô hình bệnh tật của một quốc gia, hay một địa phương, một cộngđồng là sự phản ánh tình hình sức khỏe, tình hình kinh tế-xã hội của quốcgia hay cộng đồng đó Việc xác định mô hình bệnh tật giúp cho ngành y tếxây dựng kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho nhân dân một cách toàn diện, đầu

tư cho công tác phòng chống bệnh có chiều sâu và trọng điểm, từng bước hạthấp tỷ lệ tử vong cho cộng đồng, nâng cao chăm sóc sức khỏe nhân dân.Nghiên cứu cơ cấu bệnh của một khoa, một bệnh viện trong từng giai đoạn

có ý nghĩa thiết thực trong công tác tổ chức y tế, điều trị dự phòng, chỉ đạotuyến và nghiên cứu khoa học [1]

Khi kinh tế phát triển, giao thông thuận tiện, nhận thức về sức khỏe củabệnh nhân được nâng cao, tâm lý bệnh nhân luôn muốn được khám và điềutrị ngay tại tuyến trung ương là điều dễ hiểu Vì vậy hàng năm bệnh việnNhi Trung ương tiếp nhận một lượng lớn bệnh nhân đến khám và điều trị.Bệnh viện Nhi Trung ương là tuyến cuối cùng của toàn miền bắc, cũng làbệnh viện đứng đầu trong cả nước trong điều trị bệnh lý nhi khoa Việcnghiên cứu mô hình bệnh tật tại viện Nhi Trung ương có thể cho cái nhìnchung về bệnh tật trong toàn miền Bắc [2]

Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của nhân dân được nâng cao, cácbệnh nhiễm trùng có xu hướng giảm, bệnh không nhiễm trùng có xu hướnggia tăng Tại hội nghị về công tác y tế dự phòng năm 2006, Bộ y tế cho biếtnếu trước kia chủ yếu là các bệnh nhiễm trùng thì nay mô hình bệnh tật đãhoàn toàn thay đổi: chỉ có 27% các bệnh do nhiễm trùng gây ra, có đến 62%các bệnh không phải do vi trùng [1] Vì thế, mô hình bệnh thận cũng có sựthay đổi so với trước đây một số bệnh thận như viêm cầu thận cấp do nhiễmtrùng có xu hướng giảm, bệnh Lupus có xu hướng gia tăng

Trang 9

Mô hình bệnh thận ở trẻ em ở các nước đang phát triển khác với cácnước phát triển và bệnh thận ở trẻ em khoảng 4.5 – 8.7% tổng số trẻ nhậpviện Theo nghiên cứu của tác giả Bhatta ở Nepal trong 6 năm (2002-2007)

tỷ lệ trẻ bị bệnh thận nhập viện chiếm tỷ lệ 6.3% số trẻ em nhập viện chung,trong đó bệnh hội chứng thận hư chiếm tỷ lệ cao nhất 34.1%, tiếp đó là viêmcầu thận cấp 28.7% [3] Một nghiên cứu khác tại Iraq trong 4 năm (2009-2012) tỷ lệ trẻ bị bệnh thận phải nhập viện là 5.8%, trong đó tỷ lệ trẻ bịnhiễm khuẩn tiết niệu đứng hàng đầu (18.4%), tiếp sau là hội chứng thận hư(15.9%) và sỏi thận (15%) [4]

Tại Việt nam, theo Lê Nam Trà và cộng sự, trong 5 năm từ 1974 đến

1978, tại Bệnh viện Nhi Trung ương (trước đây là Viện bảo vệ sức khoẻ trẻem), số trẻ bị HCTH chiếm 2,84% tổng số bệnh nhân nội trú và chiếm gần50% bệnh nhân của khoa thận Một nghiên cứu khác của tác giả Lê Nam Tràtrong thời gian 10 năm từ 1981 đến 1990 thống kê thấy có 1414 bệnh nhânHCTH, chiếm 1,7% số bệnh nhân nội trú và chiếm 46,6% tổng số bệnh nhâncủa khoa Thận - tiết niệu, trong đó có 1358 bệnh nhân HCTHTP chiếm96,04% bệnh nhân bị HCTH [5] Từ đó đến nay trải qua gần 30 năm nhưngchưa có một công trình nghiên cứu nào về mô hình bệnh thận tại Việt Namcũng như tại khoa Thận - Lọc máu bệnh viện Nhi Trung ương Vì vậy để cậpnhật tình hình bệnh tật tại khoa giúp cho việc chỉ đạo nghành, công tácnghiên cứu khoa học và đào tạo chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nàynhằm mục tiêu:

Mô tả mô hình bệnh tật tại khoa Thận - Lọc máu bệnh viện Nhi Trung ương trong 5 năm từ 2011-2015

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số phương pháp về mô hình bệnh tật

1.1.1 Nghiên cứu mô hình bệnh tật tại cộng đồng

Đánh giá tình hình bệnh tật là việc khó Để đánh giá tình hình bệnh tậttại một cộng đồng, ta thường có hai nguồn số liệu chính, đó là các cuộc điềutra hộ gia đình và số liệu đánh giá định kỳ của các cơ sở y tế

1.1.1.1 Điều tra hộ gia đình

Đây là phương pháp áp dụng khá rộng rãi Người ta sử dụng bộ câu hỏi

để phỏng vấn toàn bộ các thành viên trong gia đình hoặc một người đại diệncho gia đình về tình hình bệnh tật của cả gia đình đó

Số liệu thu được chỉ là các triệu chứng hoặc “dấu hiệu” của bệnh (ví dụ:sốt, đau bụng, khó thở) chứ không có được “bệnh” do thầy thuốc chẩn đoán

Độ tin cậy của số liệu này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như người đượcphỏng vấn (hiểu biết và nhận thức về triệu chứng, kể ra các triệu chứng nhưthế nào) và người phỏng vấn (như loại câu hỏi, thiết kế bảng câu hỏi, kỹ năngphỏng vấn)

Kết quả phỏng vấn trực tiếp từng người trong hộ gia đình tốt hơn làphỏng vấn gián tiếp một người đại diện cho cả gia đình

1.1.1.2 Thu thập thông tin bằng khám lâm sàng

Điều tra viên tiến hành khám lâm sàng toàn diện hoặc khám sàng lọc đểphát hiện các bệnh hiện mắc Phương pháp này tương đối đắt và tốn thời gian.Kết quả phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của điều tra viên do không có cậnlâm sàng hỗ trợ Kết quả điều tra bằng khám lâm sàng thường cho tỷ lệ mắccao hơn phỏng vấn

Trang 11

1.1.1.3.Dựa trên số liệu có sẵn

Có thể thu thập thông tin dựa trên sổ lưu của trạm y tế xã, cộng tác viên y

tế Những số liệu này thường không đầy đủ và thiếu chính xác trong hoàn cảnhcác nước đang phát triển chưa có hệ thống lưu trữ và ghi chép chuẩn xác

1.1.2.Nghiên cứu mô hình bệnh tật trong bệnh viện

Nghiên cứu mô hình bệnh tật trong bệnh viện chủ yếu dựa vào hồ sơ lưutrữ tại các bệnh viện theo bệnh án thống nhất toàn nghành y tế

Các kết quả thống kê thường là hồi cứu, phụ thuộc vào bệnh sử của bệnhnhân khi ra viện, phụ thuộc vào người làm công tác thống kê ghi chép, sắpxếp mã số, do đó có thể có một số khac biệt về chất lượng giữa các bệnh án vàcách phân loại bệnh tật giữa các bệnh viện trung ương và địa phương

Do điều kiện hạn hẹp về cơ sở vật chất, các bệnh viện chỉ tiếp nhận mộtbệnh nhân giới hạn, nhiều bệnh nhân chỉ điều trị ngoại trú nên mô hình bệnhtật tại bệnh viện không phản ánh hết thực chất tình hình sức khỏe của nhândân Sự phát triển của xã hội và thay đổi trong cơ cấu quản lý của nhà nước

mà ngày càng có nhiều bệnh viện tư, phòng khám tư, ngoài ra còn có nhiềudược sỹ, y sỹ, y tá tham gia vào việc điều trị tại quầy thuốc của mình Vànhiều trường hợp ốm khác tự mua thuốc, tự điều trị tại nhà, tự mua thuốc vềđiều trị, các trường hợp này thường không được các cơ sở y tế nhà nước thống

kê Vì vậy các số liệu báo cáo của các cơ sở y tế nhà nước thống kê chỉ có thểphản ánh một phần tình hình bệnh tật thực tế

1.1.3 Nghiên cứu mô hình bệnh tật theo gánh nặng bệnh tật tại cộng đồng

Trong những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX, WHO và ngânhàng thế giới đã đề xuất các phép đo lường mới quan tâm tới đánh giá gánhnặng bệnh tật của cộng đồng Hiện nay đang còn trong quá trình hoàn thiện,nhưng đã áp dụng ở một số nước phát triển, có hệ thống quản lý sức khỏe vàbệnh tật tốt, gánh nặng bệnh tật

Trang 12

1.2 Phân loại bệnh tật

1.2.1 Phân loại bệnh tật theo xu hướng bệnh tật

Theo cách phân loại này bệnh tật được chia làm 3 nhóm chính:

- Bệnh lây, suy dinh dưỡng, thai sản

- Bệnh không lây

- Tai nạn, ngộ độc, chấn thương

Cách phân loại này cho cách nhìn bao quát, tổng thể về mô hình bệnh tậtcủa mỗi quốc gia, mỗi vùng miền địa lý, nó mang tính chất xác định xu hướngphát triển của bệnh tật Nhìn mô hình bệnh tật này chúng ta sơ bộ đánh giáđược sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng miền

Cách phân loại này số liệu đơn giản, tương đối chính xác do số liệu đủlớn, thích hợp cho sự so sánh giữa các quốc gia, các vùng miền cũng như cócái nhìn bao quát về mô hình bệnh tật của một đất nước, vùng miền đó.Cótính chất dự báo xu hướng thay đổi mô hình bệnh tật trong tương lai và giúpchúng ta có cái nhìn tổng thể để hoạch định chính sách tầm vĩ mô

- Phân loại bệnh tật theo tỷ lệ chết và mắc bệnh cao nhất

- Phân loại bệnh tật theo chuyên khoa sâu

- Phân loại theo ICD 10

Phân loại quốc tế bệnh tật ICD được đại hội đồng tổ chức y tế thế giớithông qua lần thứ nhất năm 1900, qua 9 lần sửa đổi đến nay hiệu đính lần thứ

X, ICD 10 đã được đưa ra ngày càng rộng rãi và ngày càng chứng minh đượctính ưu việt của nó

ICD cung cấp mã hóa các bệnh thành những mã ngắn gọn, làm chuẩncho công tác nghiên cứu và thực hành y học Không những giúp ích khi bệnhnhân được chuyển từ nước này sang nước khác (tránh lỗi dịch), ở trong cùngmột nước ICD cũng giúp tránh sự hiểu sai do cách dùng từ khác nhau giữanhân viên y tế do đào tạo bởi các trường khác nhau, hoặc được đào tạo trongcác thời kỳ khác nhau

Trang 13

Đặc điểm nổi bật của ICD là phân loại theo từng chương bệnh, trongmỗi chương lại chia ra từng nhóm bệnh, từng nhóm bệnh lại chia ra từng tênbệnh, cuối cùng là các bệnh chi tiết theo nguyên nhân hay theo tính chất đặcthù của bệnh.

Hệ thống phân loại này giúp chúng ta có một mô hình bệnh tật đầy đủ vàchi tiết Nó giúp cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lý

có cái nhìn bao quát toàn diện, cụ thể về mô hình bệnh tật để từ đó đưa rachiến lược chính sách, giải pháp thích hợp, đánh giá hiệu quả của các chươngtrình chăm sóc sức khỏe đã và đang triển khai, nó giúp cho các bác sỹ có cáinhìn tổng quát về mô hình bệnh tật tại địa phương mình đang công tác

Phân loại ICD 10 giúp các nhà quản lý sẵn sàng so sánh, đánh giá môhình bệnh tật giữa các quốc gia, các vùng miền, các bệnh viện từ đó đưa rađầu tư đúng đắn cũng như chương trình hành động thiết thực nhằm cải thiệntình trạng bệnh lý cụ thể khi kinh phí cho ngành y tế còn eo hẹp, chưa đápứng được nhu cầu thực tiễn

Đây là cách phân loại khá chi tiết đòi hỏi người làm công tác thống kêphải có trình độ nhất định để tránh nhầm lẫn, cũng như đòi hỏi các bác sỹ lâmsang cần phải có chẩn đoán chính xác và chi tiết Điều này có thể làm đượcbằng cách nâng cao trình độ chuyên môn cho bác sỹ lâm sàng và tập huấn tốtcho những người trực tiếp mã hóa bệnh

1.3 Lịch sử phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề liên quan đến sức khỏe

Thời lỳ cổ đại, Arétee đã đưa ra cách phân loại bệnh tật dựa vào thờigian kéo dài của bệnh (cấp tính hay mạn tính), dựa vào diện lan rộng (bệnhđịa phương hay toàn cầu), vị trí của bệnh (nội khoa hay ngoại khoa) Vào thế

kỷ X, Albert le Grond (Đức) đưa ra các phân loại theo độ tương hợp giốngnhau tương tự

Trang 14

Francois Bosier De Lacroi (1706-1777), người đầu tiên nỗ lực phân loạibệnh tật một cách có hệ thống thông qua một chuyên đề tên là Nosologia MeThodica, trong đó đưa ra cách phân loại thành 10 bệnh Charles Linné năm

139 đề mục và sau đó được nhiều lần xem xét lại Mặc dù bảng phân loại nàychưa bao giờ được chấp nhận trên thế giới, nó vẫn tồn tại như là cơ sở danhpháp quốc tế về nguyên nhân tử vong [6]

Bảng phân loại quốc tế đầu tiên được thông qua bởi ủy ban Viện thống

kê quốc tế do Jacque Bertillon (1851-1922) làm chủ trì, bao gồm 161 tiêu

đề Đó là sự tổng hợp của các bảng phân loại của Anh, Đức, Thụy sỹ trênnguyên tắc của Farr phân biệt bệnh nói chung và cơ quan hoặc vị trí đặc biệttrên cơ thể Phân loại này được gọi là phân loại Bertillon về tử vong, đưavào năm 1893 tại hội thảo do viện nghiên cứu tổ chức ở Chicago Phân loạiBertillon hiệu đính lần đầu tiên năm 1900 và sau đó được hiệu đính lạikhoảng 10 năm một lần (1900, 1920, 1929, 1938) Mục đích ban đầu củaphân loại Bertillon là đưa các nguyên nhân tử vong, được duy trì cho tới lầnsửa đổi thứ 5 (1938)

Trang 15

Song song với việc xây dựng, ngày càng hoàn thiện danh sách về nguyênnhân tử vong, danh sách quốc tế về bệnh tật cũng được coi trọng Phân loạibệnh tật đầu tiên được thông qua năm 1900 và liên tục được hiệu đính Tuynhiên, các cách phân loại vẫn chỉ hạn chế nguyên nhân tử vong cơ bản.

Từ lần hiệu đính thứ 6 trở đi (1946), WHO trực tiếp chỉ đạo và chínhthức thiết lập danh sách quốc tế về nguyên nhân gây bệnh, thông qua danhsách toàn bộ cho cả tử vong và bệnh liên quan Tiếp đó WHO cũng kiến nghịmột chương trình toàn diện về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê sứckhỏe chính thức được đưa ra sử dụng ở nhiều nước

Lần hiệu đính thứ 7 (1955) và thứ 8 (1965) về cơ bản không thay đổi cấutrúc cơ bản của bảng phân loại và nguyên lý chung về phân loại bệnh tật theonguyên nhân bệnh chứ không phải theo biểu hiện bệnh đặc biệt

Lần hiệu đính thứ 9 (1975) giữ lại cấu trúc cơ bản của ICD, có thêm chitiết ở cấp tiểu loại 4 chữ số Một cải tiến của ICD- 10 là dựa vào hệ thốngdấu chú thích (†) và dấu (*) và giữ cho tới ICD-10, lần hiệu đính gần đâynhất năm 1990

Trong quá trình phát triển, phân loại này được đổi tên vài lần và đến nayđược gọi tên chính thức là: Phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sứckhỏe liên quan (International Classification of Diseases) gọi tắt là ICD

1.4 Giới thiệu sơ lược về ICD 10 [7, 8]

Danh mục bảng phân loại thống kê quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sứckhỏe có liên quan phiên bản lần thứ10 là sự tiếp nối và hoàn thiện hơn vềcấutrúc, phân nhóm và mã hóa của các ICD trước đây ICD-10 đã được Tổ chức y

tế Thế giới (WHO) triển khai xây dựng từ tháng 9 năm 1983 Các tài liệu liênquan đến ICD-10 do WHO xuất bản lần đầu tiên năm 1992 bằng tiếng Anh,sau đó hàng năm đều có bổ sung, sửa đổi Phiên bản được ban hành lần này làđầy đủ, chính thức nhất kể từ năm 1992 và gồm 3 tập:

Trang 16

- Tập 1:Các danh mục bệnh: toàn bộ danh mục phân loại bệnh tật và

những vấn đề liên quan đến sức khỏe với hệ thống mã 3 và 4 kí tự một cáchchi tiết trong 21 chương, từ I-XXI theo các nhóm bệnh

- Tập 2: Hướng dẫn sử dụng: đề cập đến quá trình hình thành và phát

triển của hệ thống phân loại quốc tế về bệnh tật và hướng dẫn chi tiết cáchthức sử dụng ICD

- Tập 3: Danh mục bệnh tật theo chữ cái: gồm các bảng phân loại xếp

vần theo A,B,C… và các chỉ dẫn sử dụng đi kèm

- Với sự phân chia trên bộ mã ICD-10 gồm 04 ký tự:

+ Ký tự thứ nhất (Chữ cái): Mã hóa chương bệnh

+ Ký tự thứ hai (Số thứ nhất): Mã hóa nhóm bệnh

+ Ký tự thứ ba (Số thứ hai): Mã hóa tên bệnh

+ Ký tự thứ tư (Số thứ ba): Mã hóa một bệnh chi tiết theo nguyên nhângây bệnh hay tính chất đặc thù của nó

Trong đó chương bệnh thận tiết niệu được chia ra chi tiết bao gồm các

mã từ N00 đến N99, được phân ra thành các nhóm bệnh sau

N00-N08: Bệnh cầu thận

N10- N16: Bệnh kẽ ống thận

N17- N19: Suy thận

N20- N23: Sỏi tiết niệu

N25-N29: Các rối loạn khác của thận và niệu quản

N30-N39: Các bệnh khác của hệ tiết niệu

N40-N51: Bệnh cơ quan sinh dục nam

N60-N64: Rối loạncủa vú

N70- N77: Bệnh viêm các cơ quan vùng chậu nữ

N80-N98: Rối loạn không do viêm của đường sinh dục nữ

N99- N99: Các rối loạn khác của hệ sinh dục tiết niệu

Trang 17

1.5 Tình hình bệnh thận trên thế giới và Việt Nam

1.5.1 Tình hình bệnh thận trên thế giới

Những nghiên cứu trên thế giới trong nhiều năm đã chứng minh sứckhỏe và mô hình bệnh tật của mỗi quốc gia phản ánh tính trung thực điều kiệnsinh sống về kinh tế, văn hóa, tập quán và yếu tố môi trường

Từ năm 1974, Văn phòng tổ chức y tế (Who) khu vực Tây Thái BìnhDương đã đưa ra thống kê định kỳ về mô hình bệnh tật và tử vong cùng vớitổng thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, ngân sách đầu tư cho

y tế, chiến lược phát triểny tế cho từng quốc gia và vùng lãnh thổ trong khuvực, có 35 quốc gia và vùng lãnh thổ được đề cập đến Điều này giúp cho việcnghiên cứu mô hình bệnh tật có hệ thống, dễ dàng so sánh giữa các quốc gia

có thu nhập cũng như đầu tư cho y tế khác nhau [9]

Các nghiên cứu chỉ ra rằng mô hình bệnh tật ở các nước phát triển có sựkhác biệt rõ rệt với các nước đang phát triển Ở các nước đang phát triển,bệnh nhiễm khuẩn, dinh dưỡng còn phổ biến, cho dù bệnh này đang có xuhướng giảm Các bệnh không lây như bệnh tim mạch, bệnh ung thư, dị tậtbẩm sinh, di truyền, chuyển hóa, béo phì… ngày càng gia tăng và đặc biệtcùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, các tai nạn, ngộ độc, chấn thương

có xu hướng tăng nhanh rõ rệt [9]

Bệnh thận mạn đang là vấn đề sức khỏe lớn trên toàn thế giới Tỷ lệ trẻ

em CKD được báo cáo ở mức 15-74.7 mỗi triệu trẻ em Với tỷ lệ hiện mắcngày càng tăng và đe dọa nguy cơ thành dịch Bệnh thận mạn ở trẻ em nguyênnhân thường do bất thường bẩm sinh hoặc do rối loạn di truyền Tử vong dobệnh thận ở các nước đang phát triển cao hơn, và sự khác biệt giữa các quốcgia và khu vực trong chăm sóc và điều trị [10] Hơn nữa, tiếp cận chăm sóc rấtkhác nhau, phụ thuộc vào khu vực, quốc gia và cơ sở hạ tầng Bằng cách tậptrung chăm sóc bệnh thận ở thời thơ ấu, có thể đạt được các giải pháp tiết kiệmchi phí điều trị bệnh và có thể ngăn ngừa được CKD muộn hơn và tốt hơn [11]

Trang 18

Ở Châu Âu, tỷ lệ trẻ bị mắc bệnh thận mạn giai đoạn 3-5 mỗi năm là

10-12 trên 1 triệu dân số, trong khi tỷ lệ hiện mắc là 50-60 trên 1 triệu dân Tỷ lệtrẻ bị bệnh thận mạn tăng chậm trong những năm 1980, sau đó tăng nhẹ trongnhững thập niên đầu của thế kỷ 21, thời kỳ đó tỷ lệ hiện mắc tăng do tỷ lệsống và kết quả điều trị được cải thiện tăng lên Báo cáo về dịch tễ học CKD

ở trẻ em đã được tập trung, đặc biệt ở những bệnh nhân có ESRD cần điều trịthay thế bằng thận Tỷ lệ trung bình của trẻ <20 tuổi được thay thế thận là xấp

xỉ 9 trên 1 triệu dân trên toàn thế giới, trong khi tỷ lệ hiện nhiễm được báocáo là xấp xỉ 65 trên 1 triệu dân Tỷ lệ thay thế thận ở những trẻ bệnh thậnmạn giai đoạn cuối được bắt đầu sớm hơn, ở mức lọc cao hơn ở những nướcphát triển như Châu Âu, Nhật Bản và Bắc Mỹ [11]

Hội chứng thận hư là một bệnh cầu thận phổ biến ở trẻ, tỷ lệ trung bìnhcủa hội chứng thận hư là 2-16.9 trên 100000 trẻ em trên toàn thế giới[12].Trong các nghiên cứu từ 1986 đến 2014 ở nhiều quốc gia cho thấy tỷ lệ trungbình của hội chứng thận hư là 4.7 (khoảng 1.15-16.9) trên 100.000 người, và

tỷ lệ với kháng steroid là 12.4% (khoảng 2.1-27.3%).Trong các nghiên cứu ởAnh, Nam Á có tỷ lệ cao hơn các hội chứng thận hư từ 7.4 đến 16.9 trên100.000 người so với người châu Âu Các nghiên cứu từ Mỹ báo cáo tỷ lệmắc bệnh cao hơn ở trẻ em châu Phi so với gốc châu Âu Tỷ lệ kháng steroidcũng khác nhau theo dân tộc từ 20% ở châu Âu, 16-27% ở người châu Phi,27-54% ở người châu Á và 20-39% ở Nam Á Có thể những khác biệt này ítnhất phần nào liên quan đến các thay đổi trong quản lý lâm sàng, sự lựa chọnthiên vị, và định nghĩa về kết quả Trẻ em Mỹ gốc Phi có nhiều khả năng bịFSGS đã được kiểm tra sinh thiết (42-72%) với tiên lượng xấu hơn so với trẻ

em ở Châu Âu và thường tiến triển đến bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD) Tỷ

lệ FSGS ở Ấn Độ dao động từ 15.3-39.1% [12, 13]

Trang 19

Theo nghiên cứu của Banh và cộng sự trong 10 năm từ 2001-2011 trên

711 trẻ tại 3 vùng lãnh thổ là châu Âu, Nam Á, và Đông Nam Á thấy tỷ lệhiện mắc khoảng 16/100.000 trẻ, tỷ lệ mới mắc hàng năm chung tăng từ1,99/100.000 đến 4,71/100.000 trẻ từ 1-18 tuổi, tỷ lệ mới mắc hàng năm ởNam Á tăng nhanh hơn từ 1,48/100.000 trẻ năm 2001 tăng lên 15,83/100.000trẻ năm 2011 Mỗi năm ước tính có khoảng 6.000 trẻ tiến triển thành bệnhthận giai đoạn cuối do HCTHTP và cần ghép thận Tỷ lệ bệnh nhân là trẻ traidao động từ 51-73% [14]

Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE) có thể thay đổi theo địa dư và dân tộc Tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ dưới 15 tuổi được báo cáo là0,5-0,6 ca trên 100.000 người Tỷ lệ hiện mắc 4-250 trường hợp trên 100.000người đã được báo cáo, với tỷ lệ hiện mắc cao hơn ở người Mỹ bản địa, người

Mỹ gốc Á Châu, người Mỹ Latinh và người Mỹ gốc Phi Tỷ lệ hiện mắc cao ở

nữ giới so với nam giới Tỷ lệ nữ giữa nam khoảng 4: 1 xảy ra trước tuổi dậythì và sau mãn kinh, với tỷ lệ 8: 1 giữa khởi phát và mất chu kỳ estrogen.Khoảng 20% bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống ban đầu có mặt ở thập kỷ thứhai của cuộc đời Sự khởi phát bệnh đã được báo cáo sớm nhất là năm đầu tiêncủa cuộc đời Tuy nhiên, SLE vẫn không phổ biến ở trẻ em dưới 8 tuổi [15]

1.5.2 Tình hình bệnh thận tại Việt Nam

Tại bệnh viện Nhi Trung ương, Lê Nam Trà và cộng sự, trong 5 năm từ

1974 đến 1978, tại Bệnh viện Nhi Trung ương (trước đây là Viện bảo vệ sứckhoẻ trẻ em), số trẻ bị HCTH chiếm tỷ lệ cao nhất 2,84% tổng số bệnh nhânnội trú và chiếm gần 50% bệnh nhân của khoa thận [5] Một nghiên cứu kháccủa tác giả Lê Nam Trà trong thời gian 10 năm từ 1981 đến 1990 thống kê thấy

có 1414 bệnh nhân HCTH, chiếm 1,7% số bệnh nhân nội trú và chiếm 46,6%tổng số bệnh nhân của khoa Thận-tiết niệu, trong đó có 1358 bệnh nhânHCTHTP chiếm 96,04% bệnh nhân bị HCTH [5] Thống kê trong năm 2015

Trang 20

của Phạm Văn Đếm và cộng sự tại khoa Thận-Lọc máu bệnh viện Nhi Trungương cho thấy tỷ lệ trẻ mắc HCTHTP phải nằm viện chiếm 35,8% bệnh nhântrong khoa [16] Nghiên cứu trong 5 năm 2007-2011 tại khoa cấp cứu Bệnhviện Nhi Trung ương cho thấy tỷ lệ bệnh thận phải nhập viện trong tình trạngcấp cứu chiếm tỷ lệ 0.8-1.0% tổng số bệnh nhân nhập khoa cấp cứu [2].

Tại Bệnh viện Nhi Đồng I Thành phố Hồ Chí Minh, theo thống kê của

Lê Văn Khoa và Vũ Huy Trụ từ năm 1990 đến năm 1993, trung bình mỗi năm

có khoảng 300 bệnh nhân bị HCTH nhập viện [17]

Ngày đăng: 10/07/2019, 21:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w