1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HÌNH DẠNG và KÍCH THƯỚC CUNG RĂNG của NGƯỜI KINH và NGƯỜI tày 18 25 TUỔI tại hà nội và LẠNG sơn năm 2017

67 187 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 2,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu này ngoàiviệc nghiên cứu khớp cắn, kẽ hở giữa các răng của bộ răng sữa và bộ răng hỗn hợpcòn đánh giá về sự thay đổi kích thước cung răng theo chiều rộng và chiều

Trang 1

PHẠM THỊ THANH THỦY

HÌNH DẠNG VÀ KÍCH THƯỚC CUNG RĂNG CỦA NGƯỜI KINH VÀ NGƯỜI TÀY 18-25 TUỔI TẠI HÀ NỘI

VÀ LẠNG SƠN NĂM 2017

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

PHẠM THỊ THANH THỦY

HÌNH DẠNG VÀ KÍCH THƯỚC CUNG RĂNG CỦA NGƯỜI KINH VÀ NGƯỜI TÀY 18-25 TUỔI TẠI HÀ NỘI

VÀ LẠNG SƠN NĂM 2017

Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt

Mã số: CK 62.72.28.01

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Võ Trương Như Ngọc

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

DGD : Dài giữa dưới

DGT : Dài giữa trên

DSD : Dài sau dưới

DST : Dài sau trên

DTD : Dài trên dưới

DTT : Dài trên trên

Trang 4

Tiếng Việt Tiếng anh

Máy chụp cắt lớp điện toán CT scanner

Thước điện kĩ thuật số Electronic digital calipers

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Đặc điểm hình thái phát triển cung răng 3

1.2 Hình dạng và kích thước cung răng 8

1.2.1 Hình dạng cung răng 8

1.2.2 Kích thước cung răng 9

1.3 Các phương pháp đo đạc cung răng 11

1.3.1 Đo trên mẫu hàm số hóa 11

1.3.2 Đo bằng máy chụp cắt lớp điện toán 12

1.3.3 Đo bằng thước trượt trên mẫu hàm thạch cao 13

1.4 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 14

1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới 14

1.4.2 Nghiên cứu trong nước 16

1.5 Người dân tộc Kinh và Tày 18

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.2.1 Thời gian 20

2.2.2 Địa điểm 20

2.3 Phương pháp nghiên cứu 20

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 20

2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 20

2.3.3 Vật liệu và dụng cụ thu thập dữ liệu 22

2.4 Các bước nghiên cứu 23

2.4.1 Lập danh sách người dân tham gia khám sàng lọc cho nghiên cứu 23

2.4.2 Khám sàng lọc và lập danh sách đối tượng nghiên cứu 23

2.4.3 Các bước tiến hành lấy dấu, đổ mẫu 23

2.4.4 Đo đạc và ghi nhận các chỉ số 24

Trang 6

2.5 Kế hoạch nghiên cứu 32

2.6 Sai số và biện pháp khống chế sai số 32

2.7 Đạo đức nghiên cứu 33

Chương 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ 34

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 34

3.2 Hình dạng cung răng của người Kinh và người Tày lứa tuổi 18-25 ở Hà Nội, Lạng Sơn 34

3.2.1 Hình dạng cung răng hàm trên của người Kinh và Tày 34

3.2.2 Hình dạng cung răng hàm dưới của người Kinh và Tày 36

3.2.3 Nhận xét sự tương đồng hình dạng cung răng giữa hai hàm 37

3.3 Kích thước cung răng ở người dân tộc Kinh và Tày 18-25 tuổi 38

3.3.1 Chiều rộng cung răng của người Kinh và người Tày 18-25 38

3.3.2 Chiều dài cung răng 40

3.3.3 Chu vi cung răng 42

3.3.4 Kích thước cung răng theo các dạng cung răng và so sánh giữa hai dân tộc 43

Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 50

4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 50

4.2 Hình dạng cung răng của người Kinh và người Tày lứa tuổi 18-25 ở Hà Nội, Lạng Sơn 50

4.3 Kích thước cung răng của người Kinh với người Tày lứa tuổi 18-25 .50

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 3.1 Sự phân bố hình dạng cung răng hàm trên ở người Kinh và người Tày 34

Bảng 3.2 Sự phân bố hình dạng cung răng hàm trên ở người Kinh và người Tày theo giới nam .35

Bảng 3.3 Sự phân bố hình dạng cung răng hàm trên ở người Kinh và người Tày theo giới nữ 35

Bảng 3.4 Sự phân bố hình dạng cung răng hàm trên ở người Kinh và người Tày theo giới nam và nữ .35

Bảng 3.5 Sự phân bố hình dạng cung răng hàm dưới ở người Kinh và người Tày 36

Bảng 3.6 Sự phân bố hình dạng cung răng hàm dưới ở người Kinh và người Tày theo giới nam 36

Bảng 3.7 Sự phân bố hình dạng cung răng hàm dưới ở người Kinh và người Tày theo giới nữ 36

Bảng 3.8 Sự phân bố hình dạng cung răng hàm dưới ở người Kinh và người Tày theo giới nam và nữ 37

Bảng 3.9 Nhận xét sự trùng hợp hình dạng cung răng hàm dưới với hàm trên theo từng hình dạng cung răng 37

Bảng 3.10 Nhận xét sự trùng hợp hình dạng cung răng hàm dưới với hàm trên theo từng hình dạng cung răng ở giới nam .37

Bảng 3.11 Nhận xét sự trùng hợp hình dạng cung răng hàm dưới với hàm trên theo từng hình dạng cung răng ở giới nữ 38

Bảng 3.12 Chiều rộng cung răng hàm trên người Kinh và người Tày 38

Bảng 3.13 Chiều rộng cung răng hàm dưới người Kinh và người Tày 39

Bảng 3.14 Chiều dài cung răng hàm trên người Kinh và người Tày 40

Bảng 3.15 Chiều dài cung răng hàm dưới người Kinh và người Tày 41

Bảng 3.16 Chu vi cung răng người Kinh và người Tày 42

Bảng 3.17 Kích thước cung răng hàm trên của các dạng cung răng người Kinh 43

Bảng 3.18 Kích thước cung răng hàm trên của các dạng cung răng người Tày .44

Bảng 3.19 Kích thước cung răng hàm dưới của các dạng cung răng người Kinh 45

Bảng 3.20 Kích thước cung răng hàm dưới của các dạng cung răng người Tày .46 Bảng 3.21 So sánh kích thước cung răng hàm dưới có hình vuông của người Kinh và Tày 47

Trang 8

và Tày 48Bảng 3.24 So sánh kích thước cung răng hàm trên có hình vuông của người Kinh

và Tày 48Bảng 3.25 So sánh kích thước cung răng hàm trên có hình oval của người Kinh

và Tày 49Bảng 3.26 So sánh kích thước cung răng hàm trên có hình thuôn của người Kinh

và Tày .49

Trang 9

Hình 1.1 Đo kích thước gần xa bằng phần mềm OrthoCad- ảnh 3D 12

Hình 1.2 Đo kích thước chiều rộng qua hai răng nanh và hai răng hàm lớn thứ nhất bằng phần mềm OrthoCad 12

Hình 1.3 Hệ thống Scanned 3D và hình dạng cung răng hàm trên 13

Hình 1.4 Thước trượt thông thường 13

Hình 1.5 Thước trượt điện tử Mitutoyo CD-6 của Nhật Bản 14

Hình 2.1 Bộ khay khám răng 22

Hình 2.2 Bộ dụng cụ lấy dấu, đổ mẫu 22

Hình 2.3 Mẫu hàm tiêu chuẩn 24

Hình 2.4 Thước OrthoForm 25

Hình 2.5 Xác định hình dáng cung răng 25

Hình 2.6 Xác định độ cắm chìa 25

Hình 2.7 Đo chiều rộng phía trước cung răng 27

Hình 2.8 Đo chiều rộng phía sau cung răng 27

Hình 2.9 Đo chiều dài phía trước cung răng 27

Hình 2.10 Đo chiều dài phía sau cung răng 28

Hình 2.11 Các chiều rộng cung răng 28

Hình 2.12 Các chiều dài cung răng 28

Hình 2.13 Đo chiều rộng cung răng 29

Hình 2.14 Đo chiều dài cung răng 29

Hình 2.15 Chu vi cung răng trên 30

Hình 2.16 Chu vi cung răng dưới 30

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vấn đề tiếp xúc giữa các răng của hai cung hàm, hay nói khác đi là chức năngcủa cung hàm là chìa khóa đảm bảo cho sự lành mạnh và thoải mái của hệ thốngnhai [1] Ngoài ra cung răng còn góp phần tạo nên thẩm mỹ cho khuôn mặt của conngười Một cung răng đẹp kết hợp hài hòa với các yếu tố phần mềm góp phần manglại nụ cười đẹp và tự tin của con người

Cung răng cùng với những cấu trúc thần kinh-cơ xung quanh là thành phần cơbản của bộ máy nhai trong đó cung răng đóng vai trò quan trọng nhất Trên nền tảngcủa hệ thống nhai, các chức năng nhai, nuốt, nói và thẩm mỹ của vùng này luôn lànhững vấn đề phức tạp, tế nhị và đặt ra cho người thầy thuốc Răng Hàm Mặt nhữngthách thức không nhỏ trong việc “góp phần mang lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân vàcộng đồng xã hội” Để có thể có được những quyết định đúng đắn cho các can thiệp

về hình thái và chức năng ở vùng đầu, mặt và cung răng

Từ năm 1920 Williams, J.L và Chuck đã nghiên cứu đặc điểm hình thái vàphân loại cung răng thành 3 loại hình dạng khác nhau bao gồm cung răng hình vuông,cung răng ovan và cung răng thuôn dài [2],[3] Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng tỷ lệcác loại cung răng ở nam và nữ có sự khác nhau Ở mỗi chủng tộc, dân tộc khác nhaucũng có sự khác nhau về tỷ lệ, đặc điểm của mỗi dạng cung răng Việc nghiên cứuđặc điểm khớp cắn có một vai trò rất quan trọng trong thực hành chỉnh nha lâm sàng.Với mỗi loại hình dạng cung răng khác nhau sẽ tương ứng với hình dạng dây cungđiều trị tương ứng mới đem lại sự ổn định cho kết quả điều trị chỉnh nha

Hàm răng con người trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau bao gồmgiai đoạn hàm răng sữa, giai đoạn hàm răng hỗn hợp và giai đoạn hàm răng vĩnhviễn Mỗi giai đoạn ứng với một lứa tuổi khác nhau và mang những đặc thù về hìnhthái và kích thước Từ 18 tuổi trở đi gần như cung răng đã phát triển hoàn toàn và

ổn định về mặt kích thước cũng như đặc điểm hình thái Do vậy có thể coi lứa tuổinày là một lứa tuổi đặc trưng và đại diện cho người trưởng thành Đã có rất nhiềucác nghiên cứu ở lứa tuổi này trên thế giới để từ đó đưa ra được các chỉ số về hình

Trang 11

thái và kích thước cung răng… [4],[5],[6] Ở Việt Nam cũng đã có nhiều tác giả làm

về đề tài này, song nhìn chung đó là những nghiên cứu nhỏ lẻ, cỡ mẫu chưa lớn,chưa thể mang tính khái quát đặc trưng cho người Việt Nam Chính vì thế việc cómột bộ số liệu đầy đủ và chính xác, phù hợp với đặc điểm của từng dân tộc là mộtyêu cầu bức thiết được đặt ra

Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên quy mô lớn, là một phần trong đề tài nghiên cứu cấp nhà nước về các chỉ số nhân trắc học ở người Việt, để có thể đưa ra được một bộ số liệu chính xác, hoàn thiện và mang tính đặc trưng cao cho người Việt Nam Và chúng tôi lựa chọn đề tài: “Hình dạng và kích thước cung răng của người Kinh và người Tày 18-25 tuổi tại Hà Nội và Lạng Sơn năm 2017” với hai mục tiêu:

1 Mô tả hình dạng cung răng của người Kinh và người Tày lứa tuổi 18-25 ở

Hà Nội, Lạng Sơn năm 2017.

2 Xác định kích thước cung răng của người Kinh và người Tày lứa tuổi 18-25 ở Hà Nội, Lạng Sơn năm 2017.

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm hình thái phát triển cung răng

Những thay đổi theo tuổi của cung răng được nghiên cứu rộng rãi, vì nhữnghiểu biết về sự tăng trưởng của cung răng rõ ràng có vai trò quan trọng trong lập kếhoạch điều trị chỉnh nha và tạo hình Trong những nghiên cứu đầu tiên các tác giảchủ yếu quan sát tương quan giữa các điểm mốc trên miệng và đánh giá những thayđổi của vị trí của các điểm mốc đó (Lewis, 1929) [6] Tiếp theo, cung răng được đođạc và đánh giá những thay đổi trên mẫu hàm thông qua quy trình lấy dấu, đổ mẫu.Theo dõi những thay đổi về chiều dài, chiều rộng và chu vi cung răng giúp đánh giáđược sự tăng trưởng và phát triển của cung răng trong quá trình phát triển của hệthống sọ - mặt - răng Từ khi sinh ra cho tới khi trưởng thành, bộ răng người trảiqua bốn giai đoạn hình thành, phát triển và biến đổi như sau:

- Giai đoạn 1 (giai đoạn thành lập bộ răng sữa): Từ khi sinh ra cho đến khimọc đầy đủ các răng sữa, thường diễn ra từ lúc sinh đến 2,5 tuổi

- Giai đoạn 2 (giai đoạn cung răng sữa ổn định): Từ khi mọc đầy đủ hàm

răng sữa đến khi mọc RHL vĩnh viễn thứ nhất, thường từ 2,5 tuổi đến 6 tuổi

- Giai đoạn 3 (giai đoạn bộ răng hỗn hợp): từ khi mọc RHL vĩnh viễn thứnhất đến khi thay chiếc răng sữa cuối cùng, thường từ 6 tuổi đến 12 tuổi

Giai đoạn này có thể chia ra chia ra làm hai giai đoạn: 6 – 10 tuổi là giai đoạnhàm răng hỗn hợp sớm; 10 – 12 tuổi là giai đoạn hàm răng hỗn hợp muộn dựa theo sựmọc của nhóm răng cửa và nhóm răng sau Trong giai đoạn này, một yếu tố rất đángđược lưu tâm là tổng kích thước theo chiều gần xa của các răng nanh sữa, RHS thứnhất, RHS thứ hai lớn hơn tổng kích thước gần xa của răng nanh vĩnh viễn, RHN thứnhất, thứ hai khoảng 1,7 mm ở HD, 0,9 mm ở HT mỗi bên Khoảng chênh lệch nàyđược Nance gọi là khoảng “leeway” [7],[8] Khi răng sữa phía sau được thay thế bởicác răng nanh và RHN, khoảng leeway được khép lại Sự khép lại của khoảng leewayphụ thuộc vào khớp cắn RHL thứ nhất và thứ tự mọc răng HT và HD Thay đổi thứ tựmọc răng bình thường có thể làm cản trở các răng mọc đúng vị trí

Trang 13

- Giai đoạn 4 (giai đoạn bộ răng vĩnh viễn): từ khi mọc răng hàm lớn vĩnh viễnthứ hai và sau đó, thường diễn ra sau 12 tuổi.

Năm 1929, Lewis đã nghiên cứu về những thay đổi tăng trưởng của răng vàcung răng, và những thay đổi khớp cắn ở bộ răng sữa sang răng hỗn hợp với mẫugồm 170 trẻ từ 1,5 đến 9,5 tuổi Ngoài những phát hiện về khớp cắn, Lewis quantâm đến sự thay đổi kích thước, chiều rộng cung răng (vùng răng nanh và vùng rănghàm sữa 1 (RHS1) và răng hàm sữa 2 (RHS2) [6]

Kết quả nghiên cứu được trình bày với số trung bình, độ lệch chuẩn và số đốitượng chung cho nam và nữ từ 2,5 đến 8 tuổi Tác giả kết luận khớp cắn chịu ảnhhưởng của những thay đổi do tăng trưởng, cung răng sữa rộng ra để phù hợp vớikích thước lớn hơn của các răng cửa vĩnh viễn [6]

Sillman (1935) thực hiện nghiên cứu dọc về sự thay đổi kích thước cung răng

từ lúc mới sinh đến 25 tuổi trên 113 trẻ em sinh ở bệnh viện Bellevue tại NewYork,

750 mẫu thạch cao được sử dụng cho nghiên cứu này Đến năm 1964 ông công bốkết quả và nhận xét [9]:

- Về chiều rộng cung răng hàm trên và dưới vùng răng nanh tăng nhanh lúcmới sinh đến 2 tuổi, khoảng 5 mm/năm ở hàm trên và 3,5 mm/năm ở hàm dưới, tiếptục tăng đến 13 tuổi ở hàm trên, 12 tuổi ở hàm dưới Sau đó không có sự tăngtrưởng đáng kể từ 16 tuổi đến 25 tuổi

- Chiều rộng vùng răng hàm lớn thứ nhất có sự giảm kích thước cả hai hàm từ

16 tuổi, nhưng đặc biệt chiều rộng và chiều dài toàn bộ chỉ gia tăng và ổn định màkhông giảm là do sự phát triển sau sinh xảy ra ở phía sau của cung hàm

- Về chiều dài của cung răng như sau: Chiều dài cung răng hàm trên và dướivùng răng nanh có sự gia tăng nhanh từ khi mới sinh đến 2 tuổi khoảng 2mm mỗinăm Từ 3 tới 6 tuổi thay đổi ít Tới 9 tuổi sự thay đổi không có ý nghĩa Hàm trên

ổn định vào khoảng 9 tuổi, hàm dưới ổn định sau 10 tuổi Sau tuổi dậy thì, kíchthước này tăng khoảng 0,4 mm/năm ở hàm trên và 0,3 mm/ năm ở hàm dưới và đếntuổi 20-22 thì không tăng

Barrow (1952) với mẫu nghiên cứu gồm 528 bộ mẫu hàm của 51 trẻ emtrường tiểu học Michigan và trường trung học Ann Ambor [4] Đối tượng nghiên

Trang 14

cứu được khám và lấy dấu mỗi năm một lần Mục tiêu của nghiên cứu này ngoàiviệc nghiên cứu khớp cắn, kẽ hở giữa các răng của bộ răng sữa và bộ răng hỗn hợpcòn đánh giá về sự thay đổi kích thước cung răng theo chiều rộng và chiều dài của

bộ răng vĩnh viễn

* Về chiều rộng cung răng ông đưa ra kết luận:

- Chiều rộng cung răng ở vị trí đỉnh múi giữa hai răng nanh trên cung hàm ít thayđổi từ 3 tới 5 tuổi, tăng nhanh từ 5 tới 8 tuổi và giảm dần từ 0,5 tới 1,5mm sau 14 tuổi

- Chiều rộng cung răng ở vị trí đỉnh múi ngoài gần giữa hai răng hàm lớn thứnhất có mức độ tăng nhanh từ 7 đến 11 tuổi (tăng 1,8 mm ở hàm trên; 1,2 mm ởhàm dưới) Từ 11 đến 15 tuổi có sự giảm chiều rộng cung răng (0,4 mm ở hàm trên;0,9 mm ở hàm dưới)

Theo ông, sở dĩ có sự giảm chiều rộng cung răng vùng răng hàm lớn thứ nhấtsau 11 tuổi là do sự di gần của răng hàm lớn thứ nhất và hướng hội tụ của hàm dướinhiều hơn Chiều rộng cung răng hàm dưới giảm nhiều hơn hàm trên có thể do sự digần răng 6 và hướng hội tụ của hàm dưới nhiều hơn Từ 15 tới 17 tuổi còn khoảng50% trường hợp có sự giảm tiếp tục chiều rộng cung răng vùng răng cối

* Về chiều dài cung răng là khoảng cách từ điểm giữa của hai răng cửa giữa vuông góc với đường nối đỉnh múi ngoài gần răng 6 Ông đưa ra một số kết luận:

- Từ 6 tới 12 tuổi: Chiều dài cung răng hàm trên tăng 1,0mm Nhưng chiều dàicung răng dưới giảm 1,12 mm

- Tù 12 đến 13,5 tuổi: Chiều dài cung răng trên tăng nhẹ khoảng 0,2mm sau đóchiều dài giảm đến 17-18 tuổi

Ông cho rằng có 3 nguyên nhân chính làm giảm chiều dài cung răng: Việcđóng kín các khe hở tiếp cận của các răng sau, khuynh hướng nghiêng sau của cácrăng, đặc biệt ở hàm trên; và sự mòn sinh lý theo tuổi ở mặt nhai của tất cả các răng.Năm 1942, Brodie A.G và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu dọc trên trẻ em từ 3đến 18 tuổi ở Mỹ; đây là một công trình nghiên cứu có qui mô lớn Từ nghiên cứu này,tác giả đã cho ra đời một cuốn sách dày 245 trang gồm các phần chính sau đây: Kíchthước chiều rộng, chiều dài của cung răng, đánh giá mức thay đổi tăng trưởng của cungrăng và nêu lên một số ứng dụng lâm sàng, tiên lượng và lập kế hoạch điều trị [10]

Trang 15

- Về chiều rộng cung răng (mốc đo nằm trên đỉnh răng nanh, đỉnh núm gầnngoài răng cối lớn thứ nhất): Các kích thước này gia tăng từ 3 đến 18 tuổi, đỉnh caotăng trưởng vào giai đoạn đầu dậy thì, đến 17-18 tuổi có sự giảm nhẹ rồi đi đến ổnđịnh ở người trưởng thành Ở hàm trên, chiều rộng vùng răng nanh của nam lúc 3tuổi là 28,6 mm, đến 18 tuổi là 33,7 mm; của nữ lúc 3 tuổi là 27,7mm, lúc 18 tuổi là32,0 mm Chiều rộng vùng răng hàm lớn I của nam lúc 6 tuổi là 36,7 mm, lúc 18tuổi là 41,7mm Ở hàm dưới của nam, chiều rộng vùng răng nanh lúc 3 tuổi là 22,2

mm, lúc 18 tuổi là 25,6 mm; vùng răng hàm lớn I lúc 6 tuổi là 33,06 mm, lúc 18tuổi là 35,4 mm Như vậy có sự gia tăng kích thước chiều rộng cung răng cho đến17-18 tuổi

Hàm trên của nữ cũng có sự gia tăng về kích thước tương tự như trên Đặc biệt

có sự liên quan giữa gia tăng về kích thước với sự mọc răng vĩnh viễn ở lứa tuổitrước và trong giai đoạn đầu dậy thì

- Về chiều dài (chiều trước sau) cung răng (mốc đo từ điểm giữa hai răng cửagiữa đến đường nối các mốc đo ở răng nanh, răng hàm lớn I): Chiều dài cung rănghàm trên và hàm dưới chủ yếu giảm vào hai đợt, đợt 1 từ 4 đến 6 tuổi, đợt 2 từ 10đến 14 tuổi

Năm 1988, Bishara thực hiên nghiên cứu trên nhóm đối tượng thuộc đại họcIowa để đánh giá những thay đổi của chiều dài cung răng từ tuần 6 đến 45 tuổi [5].một nghiên cứu gồm 2 nhóm, nhóm thứ nhất gồm 15 nữ và 15 nam đã được lấy dấuvào lúc 3 tuổi, 8 tuổi, 13 tuổi, 25 tuổi, 45 tuổi; nhóm thứ 2 gồm 33 nam và 28 nữ sơsinh được lấy dấu lúc 6 tuần tuổi, 1 tuổi và 2 tuổi Tác giả kết luận mức độ tăngchiều dài cung hàm trên và dưới mạnh nhất vào hai năm đầu tiên, chiều dài cungrăng tiếp tục tang cho đến khoảng 8 dến 13 tuổi, sau đó giảm dần và tương đối ổnđịnh sau tuổi dậy thì

Brader nghiên cứu dọc về sự thay đổi về sự thay đổi chiều dài và chiều rộngcung răng ở người trưởng thành Trong nhóm chuẩn (không điều trị chỉnh hình)gồm 27 nam và 26 nữ lứa tuổi 14, 16 và 47 ở Michigan Nhóm 14 tuổi gồm có 22

nữ, 24 nam; Nhóm 16 tuổi và nhóm 47 tuổi có cùng số đối tượng, gồm có 26 nữ,

Trang 16

27 nam cho mỗi nhóm Những đối tượng này đều chưa được can thiệp về điều trịchỉnh hình Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tính ổn định của kích thước cungrăng ở bệnh nhân có điều trị chỉnh hình, ông đã kết luận việc chỉnh nha phải đượcđiều trị duy trì sau tuổi thanh niên (18 tuổi) vì sau thời gian này kích thước cungrăng ổn định trong suốt thời gian trưởng thành (kết luận này rút ra từ so sánh kếtquả với nghiên cứu trên mẫu không chỉnh hình) Sự bất thường của răng và cungrăng xảy ra ở hàm dưới nhiều hơn hàm trên, có sự thay đổi kích thước sau tuổitrưởng thành của hàm dưới nhiều hơn hàm trên, khác nhau giữa nam và nữ Ông

đã thống kê những nhận xét của các bác sỹ chỉnh hình răng mặt: Đa số bệnh nhânthan phiền các răng không đều ở hàm dưới nhiều hơn hàm trên, nhưng tác giảkhông nêu nguyên nhân gây ra tình trạng đó mà chỉ giải thích là bất kỳ sự giảmkích thước nào của hàm cũng nhỏ hơn 3 mm, và đó là một trong những nguyênnhân làm gia tăng tình trạng không đều của cung răng Qua phân tích so sánh bằngt-test và Anova, ông đã kết luận kích thước chiều rộng, chiều dài và chu vi cungrăng đều giảm ít hơn 3 mm từ 14 đến 47 tuổi Giai đoạn từ 18 đến 50 tuổi các kíchthước cung răng giảm nhiều hơn và giảm có ý nghĩa thống kê so với giai đoạn từ

14 đến 18 tuổi Tác giả đưa ra lý do giảm kích thước cung răng là do răng xoay,răng di gần và mòn răng [11]

Như vậy, nhiều nghiên cứu dọc và cắt ngang của các tác giả Brader, Sillman,Barrow, Bishara… đều có nhận xét:

- Kích thước chiều rộng cung răng đo trên mốc răng nanh, răng hàm nhỏ thứhai, răng hàm lớn thứ nhất có sự tăng trưởng nhiều trước tuổi dậy thì; tăng trưởngchậm ở tuổi dậy thì và ổn định ở 16 - 18 tuổi đối với nữ, 18 - 20 tuổi đối với nam Kích thước chiều dài cung răng theo chiều trước sau được đo theo mốc cácrăng trên cho thấy có sự giảm dần từ khi xuất hiện răng vĩnh viễn trên cung hàm và

ổn định ở tuổi 17 đến 18 đối với nữ và 19 đến 20 đối với nam Giảm chiều dài cungrăng chủ yếu là do răng có xu hướng di gần, xoay răng, răng bị mòn… Hàm trêngiảm khoảng 1,3 mm và hàm dưới khoảng 1,6 mm

Trang 17

1.2 Hình dạng và kích thước cung răng

có mầm răng), khái niệm về bộ răng gồm 28 chiếc được sử dụng trên lâm sàng

Năm 1920, Williams đã nêu lên sự đồng dạng giữa hình dạng của răng cửa

và hình dạng của cung răng Nếu răng có hình dạng hình vuông sẽ kèm theo mặthình vuông và cung răng cũng có dạng hình vuông Các tác giả đã phân biệt ba dạngcung răng là hình vuông, hình ô van và hình tam giác [2]

Năm 1972, Brader đưa ra một mẫu cung răng Mẫu này dựa trên một ê líp 3 tiêuđiểm và đã làm thay đổi quan niệm về hình dạng cung răng Đường cong cung răngrất giống với đường cong của ê líp, các răng sắp xếp chỉ một phần ở cực nhỏ của toàn

bộ đường cong Ông cho rằng cấu trúc của cung răng có 4 đặc trưng chủ yếu [11]:

- Hình dạng của cung răng

- Kích thước của cung răng

- Sự đối xứng hai bên

- Sự thay đổi của các cấu trúc xung quanh dẫn đến sự biến đổi hình thể củacung răng

Năm 1981 Rickett đã tiến hành một loạt nghiên cứu về hình dạng cung răng và

đã đưa ra kết luận:

- Hình dạng cung răng hàm trên đồng dạng với hình dạng cung răng hàm dưới

- Cung răng hàm trên ở phía trước hơn so với cung răng hàm dưới

- Có 5 dạng cung răng: Dạng hình thuôn dài, dạng hình thuôn dài hẹp, dạnghình trứng, dạng hình trứng hẹp, dạng hình vuông [12]

Nhưng trên thực tế, hiện nay sự phân loại hình dạng cung răng chủ yếu đượcsử dụng trong chẩn đoán và điều trị chỉnh hình răng mặt là phương pháp phân loạicủa Chuck và Williams là: Dạng hình vuông, dạng hình tam giác (hình thuôn dài),hình ô van (hình trứng) [2]

Trang 18

1.2.2 Kích thước cung răng

Các phương pháp đo đạc được đưa ra phụ thuộc chủ yếu vào mục tiêu nghiêncứu, mục đích điều trị

Năm 1979, Engle đã tiến hành đo hàng loạt mẫu để xác định các yếu tố củahình dạng và kích thước cung răng [13] Ông cùng với Lestrel đã rút ra 4 kích thướcchủ yếu của cung răng là [13],[14]:

- Chiều dài trước (chiều dài vùng răng nanh): là khoảng cách từ điểm giữa hairăng cửa giữa tới đường nối đỉnh của hai răng nanh

- Chiều rộng trước (chiều rộng vùng răng nanh): là khoảng cách giữa hai đỉnhcủa hai răng nanh

- Chiều dài sau (chiều dài vùng răng hàm): là khoảng cách từ điểm giữa hai răngcửa giữa tới đường nối hai đỉnh của hai núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất

- Chiều rộng sau (chiều rộng vùng răng hàm): là khoảng cách giữa hai đỉnhcủa hai núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất

Kích thước của cung răng có sự khác biệt theo giới tính và các dạng cung rănghình vuông, hình ô van, hình tam giác

+ Kích thước cung răng ở nam lớn hơn nữ

+ Chiều rộng cung răng ở vùng răng nanh và vùng răng hàm ở cung rănghình vuông là lớn nhất, rồi đến dạng cung răng hình ô van, hẹp nhất là cung răngdạng hình tam giác

+ Ngược lại chiều dài cung răng ở dạng cung răng hình tam giác là lớn nhất, rồiđến cung răng dạng ô van, ngắn nhất là cung răng dạng hình vuông [13], [14]

Năm 1992, Hoàng Tử Hùng và Huỳnh Thị Kim Khang nghiên cứu kích thướcchiều dài và chiều rộng cung răng hàm trên ở người Việt trưởng thành Kết quả chothấy cung răng hàm trên người Việt trưởng thành có dạng ê líp, kích thước cungrăng ở nam lớn hơn ở nữ [Error: Reference source not found]

Năm 1993, Raberin M., Laumon B., Martin J L khoa chỉnh nha của trườngnha Lyon ở Pháp đã nghiên cứu phân tích trên 278 mẫu thạch cao của người Pháptrưởng thành chưa được can thiệp chỉnh nha Các tác giả đã rút ra kết luận rằngkhông có sự khác biệt về tỷ lệ các dạng cung răng ở nam cũng như ở nữ và cungrăng ở nam lớn hơn cung răng ở nữ cả về chiều rộng và chiều dài [16]

Trang 19

Năm 1999, Phạm Thị Hương Loan và Hoàng Tử Hùng nghiên cứu so sánh đặcđiểm cung răng người Việt với người Ấn Độ và Trung Quốc đưa ra nhận xét: Cungrăng người Việt rộng hơn đáng kể so với cung răng người Ấn Độ, nhưng lại gần vớikích thước cung răng người Trung Quốc [17].

Theo nghiên cứu của Siti Adibah Othman và cộng sự (2012) khi nghiên cứutrên 252 mẫu hàm của người Malay có độ tuổi từ 13-30 cũng đã kết luận kích thướcngang cung hàm ở nam lớn hơn nữ [18]

Năm 2012, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương, Võ Trương NhưNgọc, Đồng Mai Hương (2012) khi nghiên cứu ở nhóm sinh viên đại học Y HảiPhòng đã kết luận kích thước trung bình của cung răng trên ở các dạng cung răngkhác nhau là rất khác nhau, chiều rộng cung răng phía trước (R33) và phía sau(R66) lớn nhất ở dạng cung răng hình vuông, nhỏ nhất ở dạng cung răng hình tamgiác Với chiều dài thì ngược lại, chiều dài phía trước cung răng (D13) của dạngcung răng hình tam giác là lớn nhất còn dạng cung răng hình vuông là ngắn nhất[19],[19], [21]

Năm 2013, theo nghiên cứu của Lê Hồ Phương Trang, Trần Ngọc Khánh Vân,

Lê Võ Yến Nhi trên 117 mẫu hàm thạch cao cũng kết luận kích thước ngang cunghàm ở nam lớn hơn ở nữ [22]

Theo nghiên cứu của Proffit W.R và cộng sự năm 2013 khi so sánh chiều rộngcung răng giữa nhóm CI và nhóm CII tiểu loại 1: mặc dù đã có một xu hướng chonhóm Class II có một cung răng hàm trên hẹp, song sự khác biệt không có ý nghĩathống kê ở nhóm răng hàm lớn, nhóm răng hàm nhỏ, cả hàm trên và hàm dưới giữahai nhóm [23]

Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Dolly Patel, Falguni Mehta, Nimesh Patel,Nishit Mehta, Ipist Trivedi, Jone A.P (2015) trên dân chúng Ấn Độ cho kết quả sau.Khi so sánh độ rộng cung hàm ở hàm trên cả hai giới, nhóm CIII và nhóm CI chothấy độ rộng liên 2 răng nanh hàm trên lớn hơn đáng kể so với nhóm CIId1 và độrộng liên 2 răng hàm nhỏ hàm trên lớn hơn nhóm CIId2 và CIId1 Đối với hàm dướinhóm CIII cho thấy độ rông liên răng nanh, liên răng hàm nhỏ lớn hơn đáng kể sovới nhóm CI, CIId2, và nhóm CIId1 [24], [25]

Trang 20

1.3 Các phương pháp đo đạc cung răng

Đánh giá răng, cung răng là một công việc cần thiết trong thực hành lâmsàng và nghiên cứu Đánh giá những thay đổi về cung răng và khớp cắn để phântích những bất thường của bộ răng Việc đánh giá không chỉ dựa vào quan sát cảmquan mà phải dựa vào đo đạc và phân tích trên cơ sở khoa học: trên phim, mẫu hàmhoặc trực tiếp trên miệng

Việc đo đạc phân tích trực tiếp trên miệng cho ta biết chính xác hơn kích

thước thật của răng, cung răng, tình trạng khớp cắn tuy nhiên có hạn chế là việc xácđịnh các điểm mốc trên miệng đôi lúc gặp nhiều khó khăn đặc biệt là với nhữngrăng xoay hay răng ở phía sau, thời gian làm việc không cho phép kéo dài, khônglưu trữ được mẫu cho lần sau Chính vì vậy, phương pháp này thường dùng kết hợpvới các phương pháp khác để phân tích đánh giá về răng, cung răng, khớp cắn chứkhông thể dùng riêng rẽ

Việc đo đạc trên ảnh chụp và phim X-quang mặc dù nhanh chóng, hiện

đại nhưng có nhiều sai số phụ thuộc vào tỷ lệ giữa phim và kích thước thật, bị hạnchế về tính phổ biến của kỹ thuật và phụ thuộc nhiều vào thiết bị

Mẫu hàm thạch cao được xem là một công cụ quan trọng trong điều trị chỉnhnha cũng như trong nghiên cứu; chúng giúp cho việc phân tích kích thước và hìnhdạng răng, mức độ thẳng hàng và xoay của răng, chiều rộng, chiều dài, hình dạng vàmức độ đối xứng của cung răng cũng như quan hệ khớp cắn [26] Mẫu thạch cao làmột thành phần tiêu chuẩn trong nghiên cứu chỉnh nha cũng như chẩn đoán, lên kếhoạch điều trị, đánh giá tiến triển trong quá trình điều trị và khi kết thúc điều trịcũng như lưu trữ kết quả điều trị và nghiên cứu [27] Có các loại phương tiện chủyếu sau để nghiên cứu trên mẫu hàm

1.3.1 Đo trên mẫu hàm số hóa

Từ năm 1970, đã có nhiều phát triển về mặt kỹ thuật trong việc phân tíchmẫu hàm như việc áp dụng các kỹ thuật tái tạo hình ảnh bằng vi tính (Biggerstaff,1972) và thu thập trực tiếp dữ liệu hai chiều (Savara và Sanin, 1972) Van DerLinden (1972), một bác sĩ chỉnh hình răng mặt thuộc trường Đại học Nymegen - Hà

Trang 21

Lan, đã xây dựng một phương pháp cho phép thu thập các dữ liệu trong không gian

ba chiều và khảo sát mẫu hàm trên và dưới như một khối thống nhất [28]

Vào khoảng đầu những năm 2000 phần mềm OrthoCad ra đời Phần mềm này

có thể thu và trình bày mẫu hàm nghiên cứu trên máy tính dưới dạng ảnh không gian

ba chiều Về mặt lâm sàng, mẫu hàm kỹ thuật số là một giải pháp hấp dẫn vì thuận lợitrong việc lưu trữ, do vậy giúp cho bác sỹ chỉnh nha cả ở góc độ quản lý hồ sơ lẫngóc độ tiếp thị dịch vụ Độ chính xác của mẫu hàm kỹ thuật số là chấp nhận được vềmặt lâm sàng và nếu tính tới các ưu điểm cũng như khả năng cải tiến của công cụOrthoCad cũng như các công cụ tương tự trong tương lai (ví dụ như khả năng tự độngxác định điểm đo, tự động xác định các kích thước hay đánh giá hiệu quả điều trị) thìmẫu hàm kỹ thuật số có thể trở thành công cụ sử dụng hàng ngày

Hình 1.1 Đo kích thước gần xa bằng phần mềm OrthoCad- ảnh 3D

(a) răng cửa, (b) răng nanh, (c) răng hàm nhỏ, (d) răng hàm lớn (Nguồn: Oded et al)[29].

Hình 1.2 Đo kích thước chiều rộng qua hai răng nanh và hai răng hàm lớn

thứ nhất bằng phần mềm OrthoCad [29].

Tuy nhiên như có thể thấy ở các hình trên, đối với mẫu hàm kỹ thuật số cómột điểm cần chú ý là mặc dù đây là ảnh ba chiều nhưng thực ra vẫn chỉ nhìn đượchai chiều trên màn hình, do vậy việc xác định các điểm, các trục và các mặt đo sẽgặp khó khăn [30]

1.3.2 Đo bằng máy chụp cắt lớp điện toán

Yan B và cộng sự đã sử dụng máy chụp cắt lớp điện toán (CT scanner) sốhóa 20 mẫu răng thành ảnh ba chiều và dùng phần mềm máy tính đo các tọa độ củamẫu răng để kiểm tra độ tin cậy của hệ thống và so sánh với việc đo thủ công [30]

Trang 22

Hình 1.3 Hệ thống Scanned 3D và hình dạng cung răng hàm trên [28].

Mặc dù kết quả cho thấy hệ thống có thể sử dụng trong việc chẩn đoán lâmsàng và điều trị sai khớp cắn nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa kết quả

đo bằng máy chụp cắt lớp điện toán ba chiều và kết quả đo tay (p > 0.05)

Những nghiên cứu trên cho thấy không thực sự cần thiết sử dụng máy chụpcắt lớp điện toán nếu so sánh giữa chi phí cần có và lợi ích mang lại

1.3.3 Đo bằng thước trượt trên mẫu hàm thạch cao

Thước trượt thông thường có độ chính xác tới 1/10mm, được sử dụng trongnhiều nghiên cứu về kích thước răng và cung răng Trần Thúy Nga (2001) kết luậnkhông có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa việc đo đạc các kích thước theo chiềugần xa của các răng hàm sữa thứ nhất và thứ hai, răng nanh sữa, răng cửa giữa, răngcửa bên ở cả hai hàm bằng phương pháp vi tính so với phương pháp cổ điển [31]

Hình 1.4 Thước trượt thông thường [31]

Thước trượt điện tử có tính năng tương tự như thước trượt thông thườngnhưng độ chính xác cao hơn, tới cỡ 1/100 mm Về mặt sử dụng, thước trượt điện tửcũng dễ sử dụng hơn do có màn hình hiển thị số, rất thuận tiện cho người đo Thướctrượt điện tử được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu gần đây về đo kích thước

Trang 23

răng, cung răng Chúng tôi sử dụng loại thước trượt điện tử Mitutoyo CD-6 củaNhật Bản để tiến hành nghiên cứu đo đạc [32].

Hình 1.5 Thước trượt điện tử Mitutoyo CD-6 của Nhật Bản

Nhiều tác giả đã nghiên cứu so sánh giữa việc phân tích và sử dụng các phép

đo trên mẫu hàm thường với thước trượt điện tử và sử dụng hàm số hoá với ảnhkhông gian 3 chiều đã rút ra kết luận sau:

Việc đo bằng thước trượt điện tử trên mẫu hàm thạch cao cho kết quả chínhxác nhất và có thể lặp lại

Việc dùng phần mềm số hoá để đo đạc cho kết quả có thể lặp lại, độ chínhxác cao nhưng thấp hơn so với đo trên mẫu hàm với thước trượt điện tử

Thước trượt điện tử là phương tiện phù hợp với công việc nghiên cứu Tuynhiên, độ chính xác của phân tích bằng số hoá được lâm sàng chấp nhận và có ưuđiểm trong hiện tại và tương lai Mẫu hàm số hoá có thể dần dần được tiêu chuẩnhoá ứng dụng trong chỉnh nha nhờ đặc tính lưu trữ tốt và tiết kiệm thời gian của nó

Tóm lại: Mặc dù có nhiều cách đánh giá cung răng và khớp cắn nhưngphương pháp sử dụng thước trượt điện tử trên mẫu hàm thạch cao vẫn là phươngpháp hiệu quả thích hợp cho việc thực hiện các nghiên cứu đánh giá sự thay đổi củarăng, cung răng với độ chính xác cao, phương pháp sử dụng mẫu thạch cao đượcnhiều các nhà nghiên cứu hình thái cung răng trên thế giới sử dụng

1.4 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam

1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới

Những thay đổi theo tuổi của cung răng, sự khác biệt về kích thước cũng nhưhình dạng cung răng theo giới tính, dân tộc đã và đang được nghiên cứu rộng rãinhờ tính chất quan trọng của nó trong việc lập kế hoạch điều trị chỉnh nha và tạohình Các tài liệu nghiên cứu được thực hiện theo nhiều cách, chủ yếu là quan sát sự

Trang 24

tương quan giữa các điểm mốc trên miệng, đo đạc kích thước cung răng trên mẫuhàm Dưới đây là một số tài liệu nghiên cứu về sự khác biệt về kích thước cung răngqua nhiều yếu tố:

Năm 1998, Chang H P và cộng sự đã nghiên cứu trên mẫu hàm của ngườiTrung Quốc và đã rút ra rằng kích thước cung răng ở nam lớn hơn nữ, và sự khácbiệt có ý nghĩa thống kê [33]

Năm 1993, Raberin M., Laumon B., Martin J L khoa chỉnh nha của trườngnha Lyon ở Pháp đã nghiên cứu phân tích trên 278 mẫu thạch cao của người Pháptrưởng thành chưa được can thiệp chỉnh nha Các tác giả đã rút ra kết luận rằngkhông có sự khác biệt về tỷ lệ các dạng cung răng ở nam cũng như ở nữ và cungrăng ở nam lớn hơn cung răng ở nữ cả về chiều rộng và chiều dài [16]

Năm 1991 Huang S.T và cộng sự [34] đã nghiên cứu trên mẫu hàm của ngườiTrung Quốc và đã rút ra kết luận kích thước cung răng ở nam lớn hơn ở nữ và sựukhác biệt có ý nghĩa thống kê Các tác giả cũng nhận thấy rằng người Trung Quốc

có kích thước cung răng gần với người Nhật hơn là người Nam Trung Mỹ

Năm 1993, Raberin M., Laumon B [35], khoa chỉnh nha của trường NhaLyon ở Pháp đã nghiên cứu phân tích trên 278 mẫu thạch cao của người Pháptrưởng thành chưa được can thiệp chỉnh nha Các kích thước cung răng đã được tínhtoán Các tác giả cũng đã rút ra kết luận rằng không có sự khác biệt về tỷ lệ cácdạng cung răng ở nam cũng như ở nữ và cung răng ở nam lớn hơn ở nữ cả về chiềurộng lẫn chiều dài

Kích thước cung răng còn khác nhau rõ rệt giữa các dạng cung răng hìnhvuông, hình ô van và hình thuôn dài Kunihiko Nojima, Richard P [36] với nghiên

cứu so sánh mẫu hàm dưới của người Nhật và người Caucasian đã rút ra tỉ lệ các

dạng cung răng và so sánh kích thước từng dạng cung răng giữa 2 nhóm Các tácgiả đã rút ra kết luận từ các số liệu thu được là chiều rộng ở vùng răng nanh và vungrăng hàm ở cung răng dạng hình vuông là lớn nhất rồi đến dạng cung răng hình ôvan, hẹp nhất là cung răng dạng thuôn dài Ngược lại chiều dài của cung răng dạngthuôn dài là lớn nhất, rồi đến dạng cung răng hình ô van, ngắn nhất là dạng cungrăng hình vuông

Trang 25

Theo nghiên cứu của Al-Khatib A.R., Rajion Z.A, Masudi S.M và cộng sự(2011) [37] khi nghiên cứu trên 252 mẫu hàm của người Malaysia có độ tuổi từ 13-

30 cũng đã kết luận kích thước ngang cung hàm ở nam lớn hơn nữ

Theo nghiên cứu của Alam M K và cộng sự (2014) [38] khi nghiên cứu 996người từ 2000 người được lấy ngẫu nhiên và đo đạc kiểm tra tại Bệnh viện đại họckhoa học Malaysia 996 người này được chia làm 2 nhóm theo 2 dân tộc là ngườiMalaysia gốc Trung Quốc và Malaysia bản địa Sau đó tác giả tiến hành đo đạc cáckích thước của từng răng vĩnh viễn ở hàm trên và hàm dưới, độ rộng liên răng nanh

và liên răng hàm lớn thứ nhất, chiều dài sau ở hàm trên Kết quả thu được thì ngườiMalaysia gốc Trung Quốc có kích thước các răng rộng hơn người Malaysia bản địa

và không có sự khác nhau về kích thước cung răng giữa 2 dân tộc

Năm 2001, Ibrahimagie và V Jerolimov đã tiến hành nghiên cứu trên ngườiZenica, Bosnia và Herzegovina với mục đích là đánh giá lại thuyết về hình thái họccủa Leon Williams và tìm ra mức độ tương quan giữa hình dạng khuôn mặt và hìnhthể răng cửa [34] Hơn 1000 đối tượng nghiên cứu ở độ tuổi 17-24, được đo cáckích thước theo chiều ngang của mặt để phân loại hình dạng mặt, đó là chiều rộnggiữa 2 xương thái dương (ft- ft), chiều rộng giữa 2 xương gò má (zy- zy), và chiềurộng hàm dưới (go- go) Các kích thước theo chiều ngang của 2 răng cửa giữa hàmtrên cũng được đo là chiều rộng vùng cổ răng (CW), chiều rộng thân răng giữa 2điểm tiếp xúc với răng bên cạnh (CPW), và chiều rộng ở vùng rìa cắn (IW), kết quảthu được như sau: 83% khuôn mặt có hình ô van, 10% khuôn mặt có hình vuông, và7% khuôn mặt có hình tam giác Về hình dạng răng cửa: 53% dạng hình vuông,30% dạng hình ô van, 16% dạng hình tam giác Mức độ tương quan giữa hình dạngkhuôn mặt và hình thể răng cửa giữa hàm trên chỉ là 30% Kết quả này không ủng

hộ cho thuyết hình thái của Williams

1.4.2 Nghiên cứu trong nước

Năm 1993 trong luận án tiến sĩ y khoa [1] Hoàng Tử Hùng đã đo kích thướcchiều dài, chiều rộng cung răng trên mẫu hàm người Việt trưởng thành và đã tínhđược phương trình hồi quy có dạng ê líp cho cung hàm trên; cung răng hàm dưới có

Trang 26

thể là ê líp với các phương trình hồi quy tương ứng Tác giả cũng là người có nhiềucông trình nghiên cứu về đầu mặt và cung răng ở người Việt trong nhiều năm qua,ngoài những đóng góp về giải phẫu học còn phải kể đến vấn đề nhân chủng răng.Hoàng Tử Hùng và Huỳnh Thị Kim Khang [15] nghiên cứu kích thước chiềudài và chiều rộng cung răng hàm trên ở người Việt trưởng thành Kết quả cho thấycung răng hàm trên người Việt có dạng ê líp, cung răng ở nam lớn hơn ở nữ có ýnghĩa thống kê.

Năm 1996 Hoàng Tử Hùng và Trần Mỹ Thúy [40] nghiên cứu cung xương ổrăng của người Việt, đo trên sọ, trên xương hàm khô với mục tiêu nghiên cứu xácđịnh các kích thước trung bình của cung xương ổ răng, trình bày các phương trìnhhồi quy lý thuyết và vẽ các đường hồi quy đó Tác giả đã kết luận: kích thước cungxương ổ răng ở nam lớn hơn ở nữ nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.Đoạn có răng cung xương ổ răng bẹt hơn, đoạn từ răng nanh đến răng cối nhỏ cócung xương ổ răng trên trùm cung xương ổ răng dưới, nhưng đoạn răng hàm lớn thứ

2 và thứ 3 thì cung xương ổ dưới trùm ra ngoài cung xương ổ răng trên Để đạtđược sự ăn khớp bình thường thì trục răng cối lớn dưới nghiêng trong nhiều hơn vàrăng hàm lớn trên nghiêng ngoài nhiều hơn

Phạm Thị Hương Loan và Hoàng Tử Hùng [41] nghiên cứu so sánh đặc điểmcung răng người Việt với người Ấn Độ và người Trung Quốc đã đưa ra nhận xét:cung răng người Việt rộng hơn đáng kể so với người Ấn Độ nhưng lai gần với kíchthước của người Trung Quốc Cung răng người Việt có loại hàm rộng chiếm đa số

và phần trước cung răng lớn hơn người Trung Quốc nên hàm người Việt hô nhẹ hơnhàm người Trung Quốc ở vùng răng trước

Năm 2004 Đặng Thị Vỹ [42] nghiên cứu trên 100 sinh viên Trường Đại Học

Y Khoa Hà Nội cũng đã đưa ra được các kết luận sau Về tỉ lệ các dạng cung răngthì cung răng hình vuông chiếm nhiều nhất (58%), cung răng hình ô van xếp thứ hai(34%) và ít nhất là cung răng hình thuôn dài (8%) Sự phân bố các dạng cung răng ở

cả hai giới là như nhau Về kích thước cung răng thì kích thước cung răng ở namlớn hơn ở nữ và có sự khác biệt về kích thước cung răng giữa các dạng cung răng

Trang 27

khác nhau Về chiều rộng thì lớn nhất ở dạng cung răng hình vuông và nhỏ nhất ởdạng cung răng hình tam giác Với chiều dài thì ngược lại, chiều dài của dạng cungrăng hình thuôn dài là lớn nhất, còn dạng cung răng hình vuông là ngắn nhất Tácgiả còn đưa ra sự phân bố các dạng cung răng theo phân loại của Angle Ở khớp cắnbình thường đa số cung răng có hình ô van Cung răng hình thuôn dài chiếm đa số ởkhớp cắn Angle II, còn ở dạng khớp cắn Angle III đa số các trường hợp cung răng

có dạng hình vuông

Năm 2012 nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương và Võ Trương Như Ngọc[19] trên một nhóm sinh viên đại học Y Hải Phòng đã kết luận kích thước trungbình của cung răng trên ở các dạng cung răng khác nhau là rất khác nhau, chiềurộng cung răng phía trước và chiều rộng cung răng phía sau lớn nhất ở dạng cungrăng hình vuông và nhỏ nhất ở dạng cung răng hình tam giác Với chiều dài thìngược lại, chiều dài phía trước cung răng của dạng cung răng hình thuôn dài làlớn nhất, còn dạng cung răng hình vuông là ngắn nhất

Năm 2013, theo nghiên cứu của Lê Hồ Phương Trang, Trần Ngọc Khánh Vân,

Lê Võ Yến Nhi đã kết luận rằng kích thước ngang cung hàm ở nam lớn hơn nữ [22]

1.5 Người dân tộc Kinh và Tày

Việt Nam hiện có 63 tỉnh và thành phố Dân tộc Tày là một trong 54 dân tộc

có mặt, sinh sống trên đất nước Việt Nam từ hơn 1000 năm trước trong các cuộcthiên di trong lịch sử Dân tộc Tày ở Việt Nam có số dân đứng thứ hai cả nước saungười Kinh Họ chủ yếu sống ở vùng núi phía Đông Bắc Trải qua hàng trăm nămsinh sống, lao động và sản xuất, người dân tộc Tày đã tạo nên những nét văn hóađặc sắc và độc đáo cho dân tộc và vùng miền []

Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Tày ở Việt Nam

có dân số là 1.550.423 người, có mặt trên tất cả 63 tỉnh thành phố, Lạng Sơn là tỉnh

có nhiều người dân tộc Tày đang sinh sống nhất []

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng là người Kinh và người Tày độ tuổi 18-25 tại Hà Nội, Lạng Sơn

* Tiêu chuẩn chọn: Có đầy đủ các tiêu chí sau:

+ Tuổi: từ 18 tuổi đến 25 tuổi

+ Với đối tượng là người dân tộc Kinh thì có bố mẹ, ông bà là người quốctịch Việt Nam, dân tộc Kinh Với đối tượng là người dân tộc Tày thì có bố mẹ, ông

bà là người quốc tịch Việt Nam, dân tộc Tày

+ Có đủ 28 răng vĩnh viễn (không kể răng hàm lớn thứ ba)

+ Không có các phục hình, tổn thương tổ chức cứng làm thay đổi chiều gần xacủa thân răng Nếu các phục hình như miếng trám hoặc inlay chỉ ở trên mặt nhaihoặc cổ răng thì vẫn được chấp nhận

+ Chưa điều trị nắn chỉnh răng và các phẫu thuật tạo hình khác

+ Không có dị dạng hàm mặt, không có tiền sử chấn thương hay phẫu thuậtvùng hàm mặt

+ Tự nguyện hợp tác tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ: Khi có một trong các tiêu chí sau

+ Có bố hoặc mẹ là người nước ngoài

+ Mất răng hàm lớn thứ nhất, răng hàm lớn thứ hai (một bên hoặc hai bên).+ Có phục hình, hoặc tổn thương tổ chức cứng làm thay đổi chiều gần xa củarăng Các miếng trám hoặc là các inlay, onlay có liên quan đến mặt gần hay xa đềuloại bỏ

+ Bị dị dạng hàm mặt

+ Đã điều trị nắn chỉnh răng, hoặc phẫu thuật vùng hàm mặt

+ Không hợp tác nghiên cứu

Trang 29

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng nghiên cứu mô tả cắt ngang

n: Cỡ mẫu nghiên cứu

(1) Sai số loại I (α): Chọn α = 0,05, tương ứng có ít hơn 5% cơ hội rút ra một): Chọn α): Chọn α = 0,05, tương ứng có ít hơn 5% cơ hội rút ra một = 0,05, tương ứng có ít hơn 5% cơ hội rút ra mộtkết luận dương tính giả

(2) Sai số loại II (β) hoặc lực mẫu (power là 1- β): Chọn β = 0,1 (hoặc lực) hoặc lực mẫu (power là 1- β) hoặc lực mẫu (power là 1- β): Chọn β = 0,1 (hoặc lực): Chọn β) hoặc lực mẫu (power là 1- β): Chọn β = 0,1 (hoặc lực = 0,1 (hoặc lựcmẫu=0,9), tương ứng có 90% cơ hội tránh được một kết luận âm tính giả

Trang 30

Do nghiên cứu là một nhánh nhỏ của đề tài cấp nhà nước, với cỡ mẫu lớn,nhằm tạo thuận lợi cho quá trình thu thập, phân tích, triển khai và tăng độ tin cậycủa nghiên cứu, chúng tôi chọn toàn bộ cỡ mẫu của đề tài cấp nhà nước vào chonghiên cứu này.

Phương pháp chọn mẫu

Vì nghiên cứu của chúng tôi chỉ là một nhánh nhỏ trong đề tài nghiên cứucấp nhà nước, nên toàn bộ đối tượng nghiên cứu của chúng tôi cũng nằm trongphạm vi đối tượng nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước Mẫu nghiên cứu sẽ đượcchọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích của đề tài cấp nhà nước

Chọn địa điểm để điều tra thu thập số liệu: Được chọn có chủ đích theo

cách chọn của đề tài cấp Nhà nước

+ Điều tra dân tộc Kinh:

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước, Hà Nội là nơi có dân số chủyếu là dân tộc Kinh, đã lựa chọn có chủ đích vào nghiên cứu

+ Điều tra dân tộc Tày:

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước, tỉnh Lạng Sơn là tỉnh códân số chủ yếu là dân tộc Tày, đã lựa chọn có chủ đích vào nghiên cứu

Cách chọn mẫu:

Chọn mẫu có chủ đích theo tiêu chuẩn đặt ra Mẫu được chọn từ các Trường caođẳng, đại học, các công ty, doanh nghiệp, trung tâm, trường học nghề

Bước 1: Lựa chọn ngẫu nhiên các Trường cao đẳng, đại học, các công ty, doanh

nghiệp, trung tâm, trường học nghề vào nghiên cứu

Bước 2: Chọn đối tượng nghiên cứu Lên danh sách toàn bộ người Kinh ở

Hà Nội và người Tày ở Lạng Sơn trong độ tuổi 18-25 đủ tiêu chuẩn nghiêncứu trong mỗi các Trường cao đẳng, đại học, các công ty, doanh nghiệp,trung tâm, trường học nghề Lập khung mẫu Chọn cỡ mẫu trong mỗi cácTrường cao đẳng, đại học, các công ty, doanh nghiệp, trung tâm, trường họcnghề theo kích thước quần thể Trường cao đẳng, đại học, các công ty,doanh nghiệp, trung tâm, trường học nghề đông người thì chọn nhiều vàngược lại

Trang 31

2.3.3 Vật liệu và dụng cụ thu thập dữ liệu

Hình 2.1 Bộ khay khám răng

Hình 2.2 Bộ dụng cụ lấy dấu, đổ mẫu

- Bộ khay khám răng: gương, gắp, thám trâm

- Khay lấy dấu, bát và bay trộn chất lấy dấu, bát và bay trộn thạch cao, thìa lấy dấu

- Vật liệu lấy dấu: Alginate

- Dấu được đổ mẫu bằng thạch cao siêu cứng

- Thước trượt điện tử

- Thước OrthoForm

- Bút chì, thước dẹt

Trang 32

2.4 Các bước nghiên cứu

- Bước 1: Lập danh sách người dân tham gia khám sàng lọc cho nghiên cứu

- Bước 2: Khám sàng lọc và lập danh sách đối tượng nghiên cứu

- Bước 3: Tiến hành lấy mẫu hàm và đổ mẫu bằng thạch cao

- Bước 4: Đo đạc các chỉ số trên mẫu hàm thạch cao

- Bước 5: Nhập và xử lý số liệu

- Bước 6: Viết luận văn

2.4.1 Lập danh sách người dân tham gia khám sàng lọc cho nghiên cứu

2.4.2 Khám sàng lọc và lập danh sách đối tượng nghiên cứu

Khám sàng lọc, chọn những đối tượng đủ tiêu chuẩn, lên danh sách

+ Khám ngoài miệng: Sự cân đối, hài hoà của khuôn mặt

+ Đổ mẫu bằng thạch cao đá, đổ đế bằng thạch cao thường ngay sau khi lấy dấu.+ Gỡ mẫu khi đã đông cứng

+ Mài mẫu theo tiêu chuẩn của chỉnh hình răng mặt:

Đế dày từ 3-4 cm, mặt phẳng đế song song với mặt phẳng cắn.

Mặt sau vuông góc với đường giữa sống hàm.

Mặt bên tạo một góc 65º so với mặt sau và cách đường viền lợi 2-3mm Hàm trên mặt trước mài thành 2 mặt tạo với mặt bên một góc 30º.

Hàm dưới mặt trước mài tròn từ răng 3 bên này đến răng 3 bên kia.

Trang 33

Hình 2.3 Mẫu hàm tiêu chuẩn

* Yêu cầu mẫu:

+ Mẫu không bị co

+ Đủ đến răng hàm lớn thứ hai của mỗi hàm

+ Mẫu không bị bọng, không vỡ, không gãy răng

* Bảo quản mẫu:

+ Đánh số thứ tự các mẫu theo cặp, mỗi cặp mẫu được bảo quản trong mộthộp bìa cứng có ngăn để cho mẫu hàm trên và hàm dưới

+ Trên mẫu đặt miếng xốp để mẫu không bị hư hại trong quá trình vận chuyển

2.4.4 Đo đạc và ghi nhận các chỉ số

2.4.4.1 Xác định hình dạng cung răng

Chúng tôi dựa vào phương pháp của Felton và Nojima

Sử dụng 3 loại thước OrthoForm của 3M.

Trên mỗi thước có ghi tên hình dáng cung răng mà thước đó xác định Có bađường trên thước, đường thẳng chính giữa để xác định đường giữa cung răng, haiđường cong song song, đường phía ngoài để xác định hình dáng cung răng hàmtrên, đường phía trong dùng xác định hình dáng cung răng hàm dưới

Cách đo: Đặt mẫu hàm lên một mặt phẳng, đặt thước lên trên mẫu sao cho

thước nằm trên mặt phẳng cắn của răng, nếu hình dạng cung răng trùng hoặc songsong với hình dạng đường cong trên thước nào thì cung răng có dạng hình củađường cong vẽ trên thước đó

Ngày đăng: 10/07/2019, 21:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Raberin M., Laumon B., Martin J.L, Brunner F. (1993), “Dimensions and form of dental arches in subjects with normal occlusions”, 104(1), 67-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dimensions and form of dental arches in subjects with normal occlusions
Tác giả: Raberin M., Laumon B., Martin J.L, Brunner F
Năm: 1993
17. Phạm Thị Phương Loan, Hoàng Tử Hùng (1999), Nghiên cứu đặc điểm hình thái cung răng người Việt, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh, 95- 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học Răng Hàm Mặt
Tác giả: Phạm Thị Phương Loan, Hoàng Tử Hùng
Năm: 1999
18. Siti Adibah Othman (2012), “Comparison of arch form between ethnic Malays and Malaysian Aborigines in Peninsular Malaysia”, Korean J Orthod, 42(1), 47-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of arch form between ethnic Malays and Malaysian Aborigines in Peninsular Malaysia”, "Korean J Orthod
Tác giả: Siti Adibah Othman
Năm: 2012
19. Nguyễn Thị Thu Phương, Võ Trương Như Ngọc, Đồng Mai Hương (2012). Nhận xét hình dạng cung răng và một số kích thước cung răng ở một nhóm sinh viên đang học tại trường đại học Y Hải Phòng năm 2012. Y học thực hành (874) – số 6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Phương, Võ Trương Như Ngọc, Đồng Mai Hương
Năm: 2012
20. Nguyễn Thị Thu Phương và Võ Trương Như Ngọc (2013). Tăng trưởng đầu mặt, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng đầu mặt
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Phương và Võ Trương Như Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
21. Võ Trương Như Ngọc (2010). Nghiên cứu đặc điểm kết cấu sọ mặt và đánh giá khuôn mặt hài hòa ở một nhóm người Việt tuổi từ 18-25, Luận án tiến sĩ y học, Viện Đào tạo Răng - Hàm - Mặt, ĐH Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm kết cấu sọ mặt và đánh giá khuôn mặt hài hòa ở một nhóm người Việt tuổi từ 18-25
Tác giả: Võ Trương Như Ngọc
Năm: 2010
22. Lê Hồ Phương Trang, Trần Ngọc Khánh Vân, Lê Võ Yến Nhi (2013), Hình dạng cung răng hàm trên ở người trưởng thành từ 18 đến 24 tuổi, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 17, 214-222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Hồ Phương Trang, Trần Ngọc Khánh Vân, Lê Võ Yến Nhi
Năm: 2013
23. Proffit W.R et al (2013). Contemporary orthodontics, fifth edition, Elsevier Inc, Philadenphia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contemporary orthodontics
Tác giả: Proffit W.R et al
Năm: 2013
24. Patel VJ, Bhatia AF, Mahadevia SM, Italia S, Vaghamsi M. (2012),“Dental arch form analysis in Gujarati males and females having normal occlusion”, J Ind Orthod Soc, 46(4), 295-299 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dental arch form analysis in Gujarati males and females having normal occlusion”," J Ind Orthod Soc
Tác giả: Patel VJ, Bhatia AF, Mahadevia SM, Italia S, Vaghamsi M
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w