1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ)

78 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

Tác giả xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo ở Học viện khoa học xã hội đã tận tình truyền đạt các kiến thức bổ ích trong suốt khóa học

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam đã quan tâm, giúp đỡ tạo thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Lê Thành Khang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

QUẢN LÝ THUẾ XUẤT, NHẬP KHẨU 8

1.1 Khái niệm, vai trò thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu 8

1.2 Nội dung và các bước thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu 14

1.3 Các yếu tố tác động và yêu cầu cơ bản trong việc thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu 20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ THUẾ XUẤT, NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NAM 25

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và mục tiêu chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại tỉnh Quảng Nam 25

2.2 Tình hình thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam 30

2.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện 33

2.3 Kết quả, hạn chế trong thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam 42

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ THUẾ XUẤT, NHẬP KHẨU TỪ THỰC TIỄN CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NAM 54

3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 54

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam 54

KẾT LUẬN 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

C/O Certificate of Origin

Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa

CN&TTCN Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

GTGT Giá trị gia tăng

H/S Harmonized Commodity Description and Coding System

Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa

KTSTQ Kiểm tra sau thông quan

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu 45

tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2010-2018 (triệu USD) 45

Bảng 2.2 Số thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu 45

tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2010-2018 45

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mỗi quốc gia muốn tồn tại và phát triển, ngoài những điều kiện cần thiết, cần có một bộ máy lãnh đạo, điều hành, quản lý mọi hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội - an ninh quốc phòng Để bộ máy đó hoạt động thường xuyên, liên tục và hiệu quả, Nhà nước cần có một quỹ tài chính bền vững Nguồn tài chính đó được tạo ra từ các khoản thu của Nhà nước và thuế luôn là nguồn thu quan trọng nhất Ở Việt Nam, nguồn động viên từ thuế luôn giữ một tỷ lệ khá lớn Thuế trở thành công cụ hiệu quả để điều tiết hoạt động kinh tế Đối với hoạt động kinh tế ngoại thương, một trong những sắc thuế quan trọng thường được nhắc đến là thuế xuất, nhập khẩu

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, chính vì vậy mà trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thuế để đáp ứng yêu cầu mới của sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước, ổn định tình hình kinh tế xã hội, phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một trong những sắc thuế có ý nghĩa quan trọng, vừa là nguồn động viên ngân sách quốc gia, vừa

là công cụ để điều tiết sản xuất trong nước, đồng thời cũng là đòn bẩy thúc đẩy kinh tế trong nước và thương mại quốc tế phát triển

Với quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới đã đưa đến cho Việt Nam những cơ hội mới Hoạt động xuất nhập khẩu trong những năm qua của Việt Nam cũng có nhiều biến chuyển Số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tăng lên nhanh chóng, nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa dưới nhiều hình thức đa dạng phong phú… nhưng

Trang 8

đồng thời cũng làm xuất hiện những khó khăn và thách thức Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự phát triển gia tăng của nạn buôn lậu, gian lận thương mại và những loại hình tội phạm mới cũng đang đặt ra cho Hải quan Việt Nam nói chung và Hải quan Quảng Nam nhiều nhiệm vụ mới, đòi hỏi các chính sách về quản lý thuế xuất, nhập khẩu phải được sửa đổi, bổ sung để phù hợp hơn với các chuẩn mực, thông lệ và cam kết quốc tế, góp phần tăng cường quản lý, giám sát thực thi công tác quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia về quyền thu thuế

Quảng Nam là tỉnh có địa hình tương đối phong phú và phức tạp, đường biên giới trên bộ và bờ biển dài Điều này mang lại nhiều khó khăn cho việc quản lý, kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu đường

bộ và cảng biển đối với các cơ quan chức năng, đặc biệt là Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam trong thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu Những hành vi trốn thuế, gian lận thương mại, nợ thuế không những chưa loại bỏ được mà còn phức tạp hơn Tình trạng thất thu thuế xuất, nhập khẩu vẫn tiếp diễn làm ảnh hưởng đến cân đối thu-chi ngân sách Nhà nước và tạo ra sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong việc thực hiện nghĩa

vụ về thuế

Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế nêu trên, tác giả chọn đề tài

“Thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải

quan tỉnh Quảng Nam” làm luận văn Thạc sĩ Chính sách công của mình, là có

cả tính cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đề tài về quản lý thuế xuất, nhập khẩu đã và đang được nhiều tổ chức, cá nhân nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như:

Công trình nghiên cứu “”Các giải pháp tăng cường quản lý thuế XNK

trong tiến trình gia nhập AFTA của Việt Nam" của Nguyễn Danh Hưng

Trang 9

(2002) Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về thuế, quản lý thuế XNK và khu vực mậu dịch tự do ASEAN/AFTA Trong khuôn khổ công trình nghiên cứu, tác giả đã đề cập thực trạng và các giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế xuất, nhập khẩu Trong đó công tác quản lý trị giá tính thuế là một phần của quản lý thuế xuất, nhập khẩu do vậy công trình chưa thực sự chuyên sâu chỉ mang tính tổng quan, chưa bao quát hết vấn đề về công tác quản lý trị giá

Luận văn thạc sỹ “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất, nhập khẩu” của tác giả Trần Thu Trang - Đại học Luật Hà Nội Tác giả đã đề cập một cách chi tiết, với nguồn trích dẫn đáng tin cậy các khái niệm, đặc điểm và phân loại thuế xuất, nhập khẩu Luận văn đã tổng kết và liệt kê những kinh nghiệm quản lý nhà nước về thuế xuất, nhập khẩu của một số nước tiêu biểu như Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Tác giả nhấn mạnh công tác quản lý thuế xuất, nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập phải dựa vào sức mạnh của công nghệ thông tin, cụ thể như xây dựng hải quan điện tử, áp dụng quản lý rủi ro Ngoài ra, tác giả đề cao việc xây dựng chính phủ điện tử và cơ chế một cửa kết nối giữa các cơ quan ban ngành với nhau Đây là những kinh nghiệm đúc kết phù hợp với định hướng phát triển của ngành Hải quan nói riêng và của Việt Nam nói chung

Đề tài: “Thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”,

Luận văn thạc sĩ Kinh tế của Hà Trung Thành, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2012

Ngoài ra, có một số bài viết nghiên cứu trên báo, tạp chí liên quan đến

quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như bài viết “Chống gian lận thương

mại, thất thu thuế xuất, nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế” được

đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Hải quan số 10 năm 2004 của Đoàn Hồng Lê Bài viết đã hệ thống hoá một cách tổng quát về công tác chống gian lận

Trang 10

thương mại, từ việc làm rõ các khái niệm, các đặc điểm gian lận thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu, vai trò của công tác chống gian lận thương mại đối với việc chống thất thu thuế xuất, nhập khẩu Từ đó tác giả đã phân tích thực trạng gian lận thương mại qua những phân tích đánh giá về số lượng, tần suất, thủ đoạn vi phạm, mức độ vi phạm trong hoạt động xuất nhập khẩu Đồng thời đã đề xuất một số giải pháp tăng cường chống gian lận thương mại Tuy nhiên, bài viết trong bối cảnh ngành hải quan đang bước đầu thực hiện áp dụng hiệp định trị giá GATT nên công tác chống gian lận thương mại qua trị giá được tác giả đề cập chưa thực sự bao quát với các hình thức thủ đoạn ngày càng tinh vi như hiện nay

Bài viết “Nâng cao năng lực quản lý hải quan đối với thuế xuất, nhập

khẩu ở Việt Nam” của Bùi Thái Quang (2014) đăng trên Tạp chí tài chính

Tác giả là Phó cục trưởng Cục quản lý rủi ro - Tổng cục Hải quan nên bài viết chủ yếu đề cập nội dung quản lý hải quan đối với thuế xuất, nhập khẩu trong việc áp dụng quản lý rủi ro Đứng trên phương diện áp dụng quản lý rủi ro nên bài viết đề cập đến cách thức, phương pháp thu thập thông tin, xử lý thông tin để nâng cao năng lực quản lý hải quan

Nhìn chung, các đề tài và công trình nghiên cứu nêu trên đã tiếp cận và

đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thuế, thuế xuất, nhập khẩu, hoạt động quản lý thuế xuất, nhập khẩu của ngành Hải quan Việt Nam nói chung

và một số cơ quan hải quan khu vực cụ thể Các công trình, đề tài này đã có những đóng góp nhất định cho các cơ quan quản lý nhà nước (trong đó có cơ quan Hải quan) trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, chống nợ đọng, chống thất thu thuế cho NSNN Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, chưa

có công trình khoa học nào dưới cấp độ luận văn thạc sỹ nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về đề tài thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam và đề xuất những giải pháp cần

Trang 11

thiết cho thời gian sắp tới

Kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây về cơ sở lý luận về thuế xuất, nhập khẩu, kết hợp với những nội dung được học về chính sách công, luận văn tập trung thu thập, tổng hợp, xử lý số liệu, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam để đưa ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp, là không trùng lặp với các công trình đã công bố, là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về thực hiện chính sách công, từ việc phân tích tình hình thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, luận văn sẽ đưa ra những ý kiến và giải pháp góp phần hoàn thiện việc thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về chính sách và thực hiện chính sách quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu

- Vận dụng lý thuyết thực hiện chính sách công để phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

- Đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện việc thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu về tình hình thực hiện chính

Trang 12

sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

- Thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2018

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Dựa trên cơ sở lý luận của của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, những quy định, khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới

và các cam kết của Việt Nam với các tổ chức quốc tế, các quốc gia liên quan

về thuế xuất khẩu , nhập khẩu và công tác quản lý thuế xuất, nhập khẩu theo chu trình chính sách

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng đồng bộ các phương pháp thu thập thông tin, tổng hợp, thống kê từ thực tế tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, kết hợp các tài liệu từ văn kiện, nghị quyết, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các bộ ngành và địa phương, đồng thời tham khảo có chọn lọc, kế thừa các công trình khoa học có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Trang 13

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm phần mở đầu, phần kết luận và nội dung chính được chia làm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

Chương 3 Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1

CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

QUẢN LÝ THUẾ XUẤT, NHẬP KHẨU

1.1 Khái niệm, vai trò thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập

khẩu

1.1.1 Khái niệm thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

Thuật ngữ ‘chính sách” ngày nay được sử dụng rất rộng rãi trong đời

sống xã hội Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “chính sách là những

chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện

trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất,

nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào đường lối, nhiệm vụ

chính trị, kinh tế, văn hóa…”[25, tr 475]

Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công

vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi Peter Aucoin

quan niệm đơn giản là chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do

Chính phủ tiến hành

Theo Nguyễn Hữu Hải (năm 2010) thì chính sách công là những hành

động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng

đồng, được thế hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội

phát triển

Chính sách công là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một

mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và thực tế mà đề ra

(Nguyễn Thị Như Mai, 2010)

PGS TS Đỗ Phú Hải thì cho rằng chính sách công “là tập hợp các quyết

định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ

thể và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo một

Trang 15

mục tiêu tổng thể đã xác định” [13]

Dù được hiểu theo cách nào thì chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước, phản ánh mối quan hệ nhà nước – xã hội - công dân Đây là chính sách của nhà nước và được hiểu là chính sách của cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước bao gồm Quốc hội, các Bộ, chính quyền địa phương các cấp Ở nước ta, Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội (Điều 4, Hiến pháp) Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội thông qua việc vạch ra các cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách Như vậy, chính sách công là chính sách của nhà nước và chính sách này cụ thể hóa đường lối, chiến lược của Đảng nhằm phục vụ lợi ích cho nhân dân

Để hiểu rõ về thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu, trước hết cần làm rõ một số khái niệm sau:

Thuế xuất, nhập khẩu luôn được nhắc đến như một sắc thuế quan trọng

cấu thành hệ thống thuế của mỗi quốc gia Vì vậy, trước khi tìm hiểu về thuế xuất, nhập khẩu, khái niệm về thuế cần được nhắc đến như một bức tranh tổng thể

Thuế, theo quy định của pháp luật, là khoản đóng góp mang tính bắt

buộc mà các tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước (NSNN) Theo Giáo trình thuế của Học viện Tài chính: “Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công

cộng” [31] Nhà nước đặt ra nhiều sắc thuế khác nhau áp dụng đối với từng

lĩnh vực, từng đối tượng khác nhau

Theo Giáo trình Luật Tài chính Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội thì “Thuế là khoản nộp bắt buộc mà các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nước trên cơ sở các văn bản pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành, không mang tính chất đổi giá và hoàn trả trực

Trang 16

tiếp cho đối tượng nộp” [31]

Thuế xuất, nhập khẩu là khoản thuế không thể thiếu, đặc biệt khi hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia ngày càng phát triển Nó tác động đến chính sách tài chính, chính sách đối ngoại, chính sách ngoại thương của mỗi quốc gia Thuế xuất, nhập khẩu có thể hiểu là khoản thu bắt buộc điều tiết vào giá hàng hóa, dịch vụ khi trao đổi với nước khác mà người

sở hữu nó phải nộp cho nhà nước Thuế xuất, nhập khẩu là sắc thuế được đặt tên theo nội dung đánh thuế và được định nghĩa như sau: “Thuế xuất, nhập khẩu là một loại thuế gián thu đánh vào các mặt hàng mậu dịch và phi mậu dịch được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam”

Thuế xuất, nhập khẩu bao gồm thuế xuất khẩu áp dụng đối với hàng hóa

di chuyển ra ngoài lãnh thổ hải quan quốc gia và thuế nhập khẩu áp dụng đối với hàng hóa di chuyển vào lãnh thổ hải quan quốc gia

Từ khái niệm trên cho thấy, thuế xuất, nhập khẩu có những đặc điểm như thuế, nói chung như sau:

- Đều là loại thuế mang tính quyền lực Nhà nước Bởi chỉ có Nhà nước quy định, ban hành, sửa đổi bổ sung thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, tổ chức thực hiện nhằm quản lý hoạt dộng thương mại quốc tế, bảo hộ sản xuất nội địa và thu NSNN

- Đều mang tính pháp lý cao Bởi thuế được thể chế bằng pháp luật để Nhà nước đảm bảo thực hiện chức năng thu thuế, mọi tổ chức, cá nhân phải thực hiện

- Đều chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội Bởi tùy theo mức tăng trưởng

và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, mức độ NSNN mà Nhà nước quy định mức thuế xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp mục tiêu, yêu cầu

Ngoài những đặc điểm chung, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn có đặc điểm riêng là:

Trang 17

- Thứ nhất, thuế xuất, nhập khẩu chỉ đánh vào hàng hoá được phép xuất nhập khẩu qua biên giới của một nước Ngoài ra còn có trường hợp đặc biệt hàng hóa là hàng xuất nhập khẩu tại chỗ không xuất nhập khẩu qua biên giới nhưng vẫn phải chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như hàng hoá giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu phi thuế quan

- Thứ hai, khác với thuế trực thu, thuế xuất, nhập khẩu là một loại thuế gián thu Người tiêu dùng khi sử dụng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải chịu thuế (nộp thuế) cho Nhà nước thông qua cơ cấu giá cả của hàng hóa đó, hay nói cách khác, Nhà nước gián tiếp thu thuế xuất, nhập khẩu của người tiêu dùng thông qua người xuất khẩu, nhập khẩu

- Thứ ba, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chỉ đánh vào hàng hóa, không đánh vào dịch vụ

- Thứ tư, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để thực hiện cam kết quốc tế

mà Việt Nam đã tham gia

- Thứ năm, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế ít ổn định Thu ngân sách từ loại thuế này phụ thuộc nhiều vào cung cầu hàng hóa trên thị trường, vào giá cả hàng hóa quốc tế, vào khả năng kiểm soát nạn buôn lậu

và nhất là phụ thuộc và sự giao lưu liên minh, liên kết và hội nhập kinh tế thế giới

- Thứ sáu, đối tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân trực tiếp có hành vi xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới hoặc các hình thức khác được coi là xuất nhập khẩu (xuất nhập khẩu tại chỗ)

Nhà nước thực hiện quyền lực của mình trong quản lý xã hội nói chung

và quản lý thuế nói riêng Do vậy có thể hiểu, quản lý thuế là quản lý Nhà

nước trong lĩnh vực thuế

Có rất nhiều khái niệm quản lý thuế Khái niệm quản lý thuế được tiếp

Trang 18

cận theo hai phạm vi:

Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là tất cả các hoạt động của nhà nước liên

quan đến thuế Bao gồm từ ban hành pháp luật về thuế, tổ chức thực hiện thu nộp và sử dụng tiền thuế

Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế,

các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quản lý thuế thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý thu, nộp thuế của các đối tượng nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế, bảo đảm thu đùng, thu đủ, nộp kịp thời vào NSNN

Để phù hợp với thực tế pháp luật Việt Nam, tác giả luận văn sử dụng khái niệm quản lý thuế xuất, nhập khẩu theo nghĩa hẹp trong luận văn này

Theo đó: Quản lý thuế xuất, nhập khẩu là quản lý hành chính nhà nước về

thuế xuất, nhập khẩu; là hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Hải quan trong quản lý thu, nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu của các tổ chức,

cá nhân có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu thực chất là một chính sách

công Như vậy, thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách, được tiến hành ngay sau khi chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu được ban hành Theo PGS TS Nguyễn Hữu Hải, việc tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách công một cách có hiệu quả Thực hiện chính sách là trung

tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống

1.1.2 Vai trò của thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

Trước hết, cần hiểu về vai trò của thuế xuất, nhập khẩu Giống như các sắc thuế khác, thuế xuất, nhập khẩu có vai trò: (i) tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp phần ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho

Trang 19

việc phát triển lâu dài; (ii) điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu và hướng dẫn tiêu dùng; và (iii) góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong quan hệ quốc tế khi tham gia ký kết các điều ước, hiệp định song phương, đa phương, góp phần đảm bảo bình đẳng và công bằng xã hội

Việc thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu có vai trò hết sức quan trọng, đó là:

- Biến ý đồ chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu thành hiện thực:

Chính sách là công cụ để thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng Thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu chính là việc chuyển thể từ ý tưởng của Đảng, Nhà nước thành những việc làm, hành động, những biện pháp cụ thể đối với các đối tượng thực thi chính sách thuế xuất, nhập khẩu

Từ đó tìm ra những giải pháp phù hợp để quản lý chính sách thuế xuất, nhập khẩu

- Việc tổ chức thực hiện tốt chính sách quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu sẽ giải quyết các vấn đề liên quan, mối quan hệ giữa mục tiêu chính sách

và mục tiêu chung là thu đúng, thu đủ, nộp kịp thời vào NSNN Không thể giải quyết được hết các vấn đề có liên quan của mục tiêu chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu bởi nó liên quan đến nhiều hoạt động của kinh tế, xã hội… Do vậy, chỉ có thực hiện đồng thời các mục tiêu chính sách trong mối quan hệ biện chứng với mục tiêu cơ bản, mục tiêu chung thì mục tiêu chính sách quản lý thuế mới đạt được

- Thông qua các quyết sách, quyết định, pháp luật của nhà nước đã thể hiện được ý chí chính trị của đảng cầm quyền, chính sách quản lý thuế có hiệu lực, hiệu quả trên thực tế sẽ khẳng định được tính đúng đắn khi được toàn xã hội thừa nhận và thực hiện

- Giúp cho chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu ngày càng hoàn chỉnh: Thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu là căn cứ xác thực nhất để

Trang 20

có thể đánh giá tính hiệu quả, phù hợp và các tác động của chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội; Từ đó thấy được những ưu điểm, hạn chế của chính sách hiện hành để có những điều chỉnh để hoàn thiện chính sách nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong việc quản lý và phát triển đất nước

1.2 Nội dung và các bước thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

1.2.1 Nội dung thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 và Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản

lý thuế, với chức năng, nhiệm vụ của Cục Hải quan địa phương, chính sách

quản lý thuế xuất, nhập khẩu gồm quản lý các nội dung sau: [16]

- Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế: Quản lý đăng ký thuế,

khai thuế là khâu đầu tiên và là khâu đặc biệt quan trọng trong quá trình quản

lý thuế xuất, nhập khẩu Quản lý khai thuế tại cơ quan hải quan là quá trình công chức hải quan tiếp nhận hồ sơ khai báo của người khai hải quan trên hệ thống thông quan điện tử VNASS hoặc hồ sơ giấy trong trường hợp đắc biệt; công chức hải quan kiểm tra các tiêu chí khai báo về số thuế phải nộp; kiểm tra sự phù hợp giữa các chứng từ trong trong bộ hồ sơ hải quan với nội dung khai báo thuế của doanh nghiệp

Quản lý nộp thuế là việc cơ quan hải quan tổ chức thực hiện thu thuế theo số tiền thuế đã tiếp nhận khai báo của doanh nghiệp hoặc số tiền thuế, tiền phạt đã ấn định; theo dõi, đôn đốc các khoản thuế đến hạn phải thu đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời tiền thuế vào NSNN

Ấn định thuế là việc cơ quan Hải quan ban hành quyết định buộc người nộp thuế nộp số thuế còn thiếu vào ngân sách Nhà nước

- Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt: là việc cơ quan Hải quan thực hiện xóa tiền

Trang 21

thuế, tiền phạt cho đối tượng nộp thuế trong những trường hợp theo quy định

của pháp luật

- Hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế là việc cơ quan Hải quan hoàn trả lại

số tiền thuế đã nộp thừa hoặc đã nộp nhưng được miễn, giảm, không thu thuế, giảm bớt số tiền thuế phải nộp theo quy định cho đối tượng nộp thuế

- Quản lý thông tin về người nộp thuế: Thông tin về người nộp thuế phải

được thu thập, cập nhật thành hệ thống dữ liệu của cơ quan hải quan Để làm

cơ sở cho đánh giá việc tuân thủ pháp luật Hải quan, pháp luật thuế để có các biện pháp phù hợp áp dụng các chế độ, chính sách quản lý, chính sách thuế

đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu của người khai hải quan

- Kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế xuất, nhập khẩu: được thực hiện

sau khi hàng hóa đã được thông quan trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người xuất nhập khẩu, nhằm xác định mức độ chính xác, trung thực của việc kê khai về hàng hóa, tự tính và nộp thuế; mức độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc truy thu, truy hoàn tiền thuế; xác định mức độ ưu tiên trong quản lý của hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp và xử lý vi phạm pháp luật về thuế, về hải quan

- Cưỡng chế thi hành Quyết định hành chính về thuế và xử lý vi phạm pháp luật về thuế nhập khẩu: Khi đã hết thời hạn nộp thuế, nộp tiền phạt vi

phạm hành chính về thuế trong lĩnh vực hải quan, thời hạn gia hạn nộp thuế

mà người nộp thuế không nộp thuế, nộp tiền phạt vi phạm hành chính thì

cơ quan Hải quan sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế để buộc người nộp thuế phải nộp đủ tiền thuế, tiền phạt vào NSNN

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế: là việc cơ quan quản lý nhà nước

có thẩm quyền thực hiện các quy định về khiếu nại, tố cáo của đối tượng nộp thuế liên quan đến quyết định của cơ quan, công chức thực hiện quản lý thuế

Trang 22

1.2.2 Các bước thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

Việc thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh tỉnh Quảng Nam gồm các bước sau:

- Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

Để chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu đi vào đời sống xã hội một cách thiết thực, hiệu quả thì việc lập kế hoạch triển khai thực hiện là bước quan trọng và cần thiết đầu tiên Nội dung kế hoạch triển khai thực hiện chính sách cần dự kiến về chủ thể tham gia, cơ quan chủ trì và phối hợp; số lượng

và chất lượng nguồn nhân lực; xác định các nguồn lực, dự kiến cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật; thời gian triển khai thực hiện; kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách; xây dựng nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành của Cục, các chi cục thực hiện; dự kiến về trách nhiệm, nhiệm vụ, thẩm quyền của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; dự kiến về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật trong thực thi chính sách

Kế hoạch thực hiện chính sách khi đã được quyết định, được các đối tượng liên quan nghiêm túc triển khai thực hiện

- Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách để các đối tượng thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước CBCC thực thi nhận thức được trách nhiệm của mình, tầm quan trọng của chính sách đối với đời sống xã hội để tổ chức thực thi có hiệu quả Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách phải đảm bảo yêu cầu chính xác, hiểu đúng và

dễ thực hiện

- Chủ thể phổ biến, tuyên truyền chính sách: phải có thái độ công tâm,

Trang 23

khách quan; được đào tạo, có đủ trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách và chuyên môn nghiệp vụ

- Phương tiện và cách thức tuyên truyền: mở các lớp tập huấn để nghiên cứu các nội dung chính sách, bàn các giải pháp và phân công thực hiện chính sách; tổ chức giới thiệu chính sách cho các cơ quan thông tấn, báo chí để họ hiểu, tuyên truyền đầy đủ nội dung, yêu cầu của chính sách Xây dựng văn bản, đề cương phổ biến việc thực hiện chính sách gửi cho các tổ chức, cá nhân có liên quan; chủ động đưa tin, bài có liên quan trên các báo, tạp chí của ngành, của cơ quan hoặc các trang thông tin điện tử một cách rộng rãi…

- Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

Các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp; việc thực hiện chính sách có thể tác động đến nhiều

bộ phận theo chiều hướng khác nhau Hưởng lợi nhiều, ít, không được lợi hay

bị tác động tiêu cực Bởi vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách công có hiệu quả, đúng mục tiêu quản lý cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các

cơ quan quản lý ngành, địa phương theo kế hoạch và sự phối hợp giữa các yếu tố, bộ phận, đối tượng tác động và liên quan

- Bước 4: Duy trì chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

Duy trì chính sách là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách phát huy tác dụng lâu dài trong đời sống xã hội Để đảm bảo việc duy trì chính sách cần phải thực hiện các nội dung sau:

+ Cụ thể hóa nội dung triển khai bằng các văn bản mang tính pháp lý, quy định rõ ràng, hợp lý trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể thực hiện + Tổ chức phối hợp thống nhất giữa cơ quan chủ trì với các cơ quan liên quan, giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân đảm bảo hiệu quả, đồng bộ + Đảm bảo các điều kiện về nguồn lực (con người, cơ sở vật chất, tài

Trang 24

chính) và các điều kiện hỗ trợ khác, đảm bảo về thời gian và quy trình thủ tục, đảm bảo thông tin trong suốt quá trình thực hiện, triển khai, duy trì chính sách; đảm bảo sự thống nhất giữa mục tiêu chính sách với việc sáng tạo trong

sử dụng các biện pháp, hình thức thực hiện cụ thể phù hợp

- Bước 5: Điều chỉnh chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

Trong quá trình thực hiện chính sách nếu gặp khó khăn do môi trường thực tế thay đổi, do chính sách còn những bất cập, hạn chế, chính sách không sát và không phù hợp với thực tiễn cần có những điều chỉnh nhất định để đáp ứng yêu cầu, mục tiêu và phù hợp với tình hình thực tế Việc điều chỉnh này

để chính sách được thực hiện có hiệu quả hơn nhưng tuyệt đối không làm thay đổi mục tiêu chính sách, bới mục tiêu thay đổi thì chính sách này sẽ không thành công Việc điều chỉnh các giải pháp, cơ chế thực hiện chính sách chủ động, linh hoạt và theo đúng thẩm quyền

CBCC thực hiện chính sách cần phải có năng lực, kỹ năng đề xuất các giải pháp, biện pháp, cơ chế chính sách để chính sách được điều chỉnh thực hiện có hiệu quả, mục tiêu chính sách đề ra được đảm bảo Chủ thể thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu phải am hiểu, nắm chắc các quy định, các công cụ, phát hiện phân tích được các hạn chế, bất cập của chính sách, đề xuất điều chỉnh các giải pháp, biện pháp và cơ chế chính sách dựa trên cơ sở khoa học Đề cao trách nhiệm trong tham mưu điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách và tôn trọng nguyên tắc khi điều chỉnh chính sách

- Bước 6: Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu giúp kịp thời bổ sung hoàn thiện chính sách đồng thời chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện

Trang 25

mục tiêu chính sách Để theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu, đòi hỏi CBCC phải nắm chắc mục tiêu của chính sách, đối tượng thụ hưởng và các quy định, công cụ, giải pháp thực hiện chính sách Phải thu thập các nguồn thông tin, cập nhật đầy đủ cơ sở dữ liệu

về quá trình triển khai và kết quả thực hiện chính sách Từ đó đối chiếu, phân tích so sánh với các quy định trong chính sách, các quy định trong kế hoạch, trong quy chế, nội quy nhằm phát hiện phòng ngừa, xử lý vi phạm hoặc sơ

hở trong quản lý, tổ chức thực hiện để đề xuất các giải pháp chấn chỉnh việc thực hiện hoặc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách để nâng cao hiệu quả chính sách

- Bước 7: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách quản

lý thuế xuất, nhập khẩu

Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu là việc làm cần thiết và là một khâu, một nhiệm vụ rất quan trọng không thể thiếu được trong quá trình thực hiện chính sách này Đây là quá trình xem xét kết luận về sự chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện của chủ thể thực hiện chính sách với các nguyên tắc nhất định Kế hoạch thực hiện và các quy định kèm theo là cơ sở để xây dựng tiêu chí đánh giá công tác chỉ đạo thực hiện chính sách Bên cạnh đó, còn phải sử dụng các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản phối hợp liên quan, các thông tin, báo cáo kết quả thực hiện chính sách của các chủ thể

Cùng với việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành thực hiện cần phải đánh giá kết quả thực hiện của đối tượng thụ hưởng gián tiếp của chính sách

Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu là công việc khó, phức tạp trong quá trình thực hiện chính sách Nó đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong và ngoài ngành và chủ

Trang 26

thể đánh giá phải có trình độ, năng lực để tìm ra được những mặt tích cực để phát huy, những tồn tại của việc thực hiện để có những chấn chỉnh phù hợp

1.3 Các yếu tố tác động và yêu cầu cơ bản trong việc thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

1.3.1 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

- Thứ nhất, tính chất của vấn đề chính sách: Đây là yếu tố gắn liền với

mỗi vấn đề chính sách, tác động trực tiếp đến cách giải quyết và tổ chức thực thi chính sách Công tác tổ chức thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu sẽ thuận lợi hơn nhiều nếu vấn đề của chính sách đơn giản, liên quan đến ít đối tượng Nếu hoạt động sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng bởi chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu, gây cản trở cho hoạt động ngoại thương theo mục tiêu phát triển khinh tế đối ngoại trong hội nhập quốc tế sẽ được Nhà nước ưu tien các nguồn lực cho thực hiện

- Thứ hai, môi trường thực thi chính sách: Chính sách sẽ dễ dàng được

thực hiện nếu có môi trương thực thi tốt và ngược lại Với chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu thì môi trường ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách chính là các hoạt động kinh tế sôi động hay ảm đạm, chính trị ổn định hay bất

ổn, tình hình phát triển của xã hội trật tự hay mất trật tự, an ninh quốc phòng đảm bảo hay thường xảy ra chiến tranh, bạo động, quan hệ quốc tế rộng mở hay đóng cửa Với nền kinh tế phát triển có độ mở lớn như Việt Nam, kim ngạch xuất nhập khẩu của các thành phần kinh tế ngày cành tăng trong mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế thì Nhà nước luôn quan tâm đến đến cải cách, phát triển và hiện đại hóa hải quan Vì vậy mà sự ủng hộ, quan tâm cao, tạo nguồn lực để thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu trong thông quan

- Thứ ba, mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách: Mối

Trang 27

quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách thể hiện sự thống nhất hay không về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách Chính sách được triển khai thực hiện thuận lợi, dễ dàng nếu các đối tượng tham gia thực hiện chính sách không mâu thuẫn với nhau về lợi ích và ngược lại, sẽ khó khăn hoặc không thành công nếu có mâu thuẫn Hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu mà cơ quan Hải quan quản lý đang chịu sự điều tiết của hệ thống chính sách từ Luật đến các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ, các Chỉ thị, Quyết định, Quy trình hướng dẫn

Trong tình hình hiện nay, diễn biến trong trong quan hệ chính trị, quan

hệ kinh tế quốc tế có nhiều biến động, do vậy các cơ quan chức năng của các

Bộ, ngành theo thẩm quyền quy định về quản lý nhà nước thường xuyên điều chỉnh chính sách để phù hợp với thực tế tình hình, chính sách đối ngoại của Việt Nam Do vậy, sự thay đổi những chính sách này sẽ ảnh hưởng đến chính sách quản lý xuất khẩu, nhập khẩu, và cũng sẽ tác động đến chính sách quản

lý thuế xuất, nhập khẩu, nếu không muốn nói đến bị thay đổi

- Thứ tư, tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách: Thực lực và tiềm

năng trong quan hệ so sánh của mỗi nhóm đối tượng chính sách khác nhau cả

về quy mô, trình độ được thể hiện trên các mặt kinh tế, chính trị và xã hội

- Thứ năm, đặc tính của đối tượng thực hiện chính sách: Đặc tính hay

nói cách khác là đặc điểm và tính chất riêng có của mỗi đối tượng chính sách

có được như tính kỷ luật, chấp hành tự giác, kế thừa truyền thống, tinh thần quyết tâm… Do vậy, chủ thể tổ chức thực hiện chính sách cần nắm bắt để có giải pháp thích hợp như động viên phát huy hoặc hạn chế để thực hiện chính sách đạt hiệu quả nhất

- Thứ sáu, thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách: Các bước trong quy trình thực hiện chính sách có mối quan

hệ chặt chẽ, có vị trí và ý nghĩa nhất định Do vậy, muốn tổ chức thực hiện

Trang 28

chính sách có hiệu quả cần tuân thủ các bước trong quy trình

- Thứ bảy, năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ CBCC: Thái độ

chuyên nghiệp và sự thành thạo về kỹ năng, nghiệp vụ của công chức hải quan là yếu tố quyết định mức độ thành công của việc thực hiện chính sách

quản lý thuế xuất, nhập khẩu

- Thứ tám, các điều kiện vật chất để thực hiện chính sách: Điều kiện vật

chất có vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến thực thi chính sách Các điều kiện đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện đạt kết quả trên thực tế, giúp cho việc nghiên cứu sáng tạo, triển khai tổ chức đạt mục tiêu của chính sách đề ra

- Thứ chín, sự đồng tình ủng hộ của người dân và cộng đồng doanh

nghiệp: Trong thực tế, các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp vừa

là người tham gia hiện thực hóa mục tiêu chính sách, vừa thụ hưởng những lợi ích do chính sách mang lại Cho nên, người dân và doanh nghiệp sẽ ủng

hộ thực hiện có hiệu quả nếu chính sách đó đáp ứng được nhu cầu về biện pháp và mục tiêu thực hiện

1.3.2 Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách quản

lý thuế xuất, nhập khẩu

- Thực hiện đúng mục tiêu chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu: Mỗi

chính sách công đều có mục đích, mục tiêu và việc tổ chức thực hiện với các giải pháp cụ thể để nhằm đạt được mục đích, mục tiêu đó Do vậy, tổ chức thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu yêu cầu phải thực hiện đúng mục tiêu chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu Để thực hiện được mục tiêu chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu thì mục tiêu phải rõ ràng, cụ

thể, chính xác

- Đảm bảo tính hệ thống trong thực hiện chính sách: Tính hệ thống

trong thực hiện chính sách thể hiện sự phân cấp, phân quyền, thẩm quyền bởi các văn bản quy phạm pháp luật, mọi công chức hải quan, cơ quan hải

Trang 29

quan các cấp đều phải tuân thủ, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ các bước, các cấp Tính hệ thống thể hiện mục tiêu, giải pháp, tổ chức bộ máy, điều hành phối hợp, sử dụng và kết hợp các công cụ chính sách và công cụ quản lý để thực hiện chính sách

- Đảm bảo tính pháp lý, khoa học và hợp lý trong tổ chức thực hiện

chính sách: Trong thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu, việc đầu

tiên cần phải đảm bảo đó là tính pháp lý của chính sách Đảm bảo tuân theo đúng các quy định của pháp luật, có căn cứ cụ thể Đồng thời, phải tổ chức thực hiện một cách khoa học và hợp lý để giúp nâng cao hiệu lực thực hiện Việc đảm bảo tính pháp lý, khoa học và hợp lý trong tổ chức thực hiện hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu sẽ đảm bảo tính chính xác, minh bạch, dễ kiểm tra, kiểm soát, giám sát của các chủ thể, tạo niềm tin cho các đối tượng chính sách

- Đảm bảo lợi ích thực sự cho đối tượng thụ hưởng chính sách: Trong xã

hội thường tồn tại nhiều nhóm lợi ích và nhà nước là người bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức Đảm bảo lợi ích thực sự cho các đối tượng thụ hưởng chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu là yêu cầu quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách Chỉ những đối tượng nào trực tiếp được thụ hưởng chính sách quản lý thuế xuất, nhập mới được thụ hưởng, kiên quyết không để lợi dụng, tiêu cực đối với đối tượng không thuộc diện điều chỉnh

Trang 30

Tiểu kết Chương 1

Trên cơ sở lý thuyết về chính sách công đã được nghiên cứu, tác giả luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận chung về thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu như khái niệm, nội dung, các bước tổ chức thực hiện chính sách, các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách, những yêu cầu

cơ bản, các phương pháp trong thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu Kết quả nghiên cứu ở Chương 1 sẽ là cơ sở để tác giả đánh giá thực trạng thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại tỉnh Quảng Nam ở Chương 2

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ THUẾ XUẤT, NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN

TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và mục tiêu chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại tỉnh Quảng Nam

2.1.1 Những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam

có liên quan đến thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu

Từ ngày 01/01/1997, tỉnh Quảng Nam được tái lập, chính thức được tách

ra từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, thành một đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương gồm 02 thành phố, 01 thị xã và 15 huyện với 244 đơn vị hành chính cấp xã với diện tích tự nhiên là 10.438 km2 Đến cuối năm 2016, dân số toàn tỉnh có gần 1,5 triệu người trong đó có gần 116 ngàn đồng bào dân tộc

thiểu số, nguồn nhân lực lao động trong độ tuổi chiếm 62% dân số [11]

Về địa lý, tỉnh Quảng Nam giáp thành phố Đà Nẵng về phía Bắc, giáp biển Đông về phía Đông với bờ biển dài 125 km, giáp tỉnh Kon Tum và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về phía Tây, giáp tỉnh Quảng Ngãi về phía Nam Về tự nhiên, Quảng Nam có các vùng sinh thái: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển và biển – đảo Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và hành lang kinh tế Đông – Tây, Quảng Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển công nghiệp, du lịch Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt xuyên Việt đi qua; có cảng biển và sân bay kết nối với đường cao tốc Đà Nẵng- Quảng Ngãi Là địa phương được Trung ương chọn xây dựng thí điểm Khu Kinh tế mở Chu Lai

Điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng, Quảng Nam có nhiều tiềm năng

Trang 32

và lợi thế để thu hút đầu tư trong và ngoài nước

Về đường biển, tỉnh Quảng Nam có cảng Kỳ Hà, cảng Chu Lai, phục vụ chủ yếu cho Công ty cổ phần ô tô Trường Hải với các mặt hàng chủ yếu là như bộ linh kiện ô tô, linh kiện ô tô, máy móc thiết bị tạo tài sản cố định của các dự án đầu tư, nguyên vật liệu sản xuất giày, hàng may mặc, chíp điện tử… Các mặt hàng nhập khẩu trên có thuế suất cao nên được Nhà nước quản lý chặt chẽ Do vậy trong thời gian qua, tỉnh Quảng Nam đã có nhiều biện pháp

để kiểm tra, giám sát đối với các mặt hàng này khi làm thủ tục tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà nhằm tránh thất thu thuế của Nhà nước

Về biên giới đường bộ, tỉnh Quảng Nam giáp với tỉnh Sê Kông - CHDCND Lào Do Sê Kông là tỉnh có điều kiện kinh tế kém phát triển, giao thông đi lại khó khăn nên hoạt động nhập khẩu qua các cửa khẩu đường bộ không được tấp nập Các mặt hàng xuất nhập khẩu qua cửa khẩu chính Nam Giang chủ yếu là gỗ, máy móc thiết bị phục vụ thi công công trình, điện năng, vật liệu xây dựng, bia lon và hàng bách hóa tổng hợp

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp như: KCN Điện Nam Điện Ngọc, KCN Tam Thăng, KCN Thuận Yên, KCN Đông Quế Sơn, KCN Đông Thăng Bình, KCN Bắc Chu Lai, KCN Tam Anh, KCN Tam Hiệp, KCN Trảng Nhật, KCN Đại Hiệp, KCN Nông Sơn, KCN Trường Xuân và các Cụm CN&TTCN

Với tốc độ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Nam ngày càng tăng, tình hình hoạt động xuất nhập khẩu cũng có sự chuyển biến đáng kể, số lượng doanh nghiệp đăng ký làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa tăng nhanh, từ

125 doanh nghiệp năm 2010 tăng lên 457 doanh nghiệp năm 2018 Song song

đó, kim ngạch xuất nhập khẩu cũng tăng nhanh về tốc độ, đa dạng về chủng loại Nếu như năm 2010, tổng kim ngạch của tỉnh chỉ đạt 668,91 triệu USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 219,46 triệu USD, kim ngạch nhập khẩu đạt

Trang 33

449,45 triệu USD thì đến năm 2018 đã tăng lên 2.450,33 triệu USD (tăng 3,6 lần so với năm 2010) trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 888,23 USD, kim ngạch nhập khẩu đạt 1.563,10 USD

2.1.2 Mục tiêu chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại tỉnh Quảng Nam

Những năm qua, Việt Nam đã tham gia vào nhiều tổ chức trên thế giới như Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM), Chương trình hợp tác tiểu vùng sông Mê kông mở rộng (GMS), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… Từ năm 1986 đến nay, thực hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước để hòa nhập vào xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh

tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại, Hải quan Việt Nam nói chung và Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam nói riêng đã góp phần trong công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại”

Để đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế, ngày 25/4/2017, Bộ trưởng Bộ tài chính đã ban hành Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020 trên cơ sở của Chiến lược phát triển ngành Hải quan đến năm 2020 tại Quyết định 448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch cải cách hành chính tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số 5139/QĐ-UBND ngày 30/12/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam

Theo đó, Kế hoạch hướng tới xây dựng Cục Hải quan Quảng Nam là đơn vị đi đầu trong công tác cải cách hành chính, hiện đại hóa trong tỉnh Quảng Nam; trở thành cơ quan hải quan hiện đại, hoạt động trên nền tảng ứng

Trang 34

dụng công nghệ thông tin và quản lý rủi ro; triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về hải quan

Tổ chức xây dựng lực lượng Hải quan Quảng Nam đạt trình độ chuyên nghiệp, liêm chính được trang bị và làm chủ thiết bị kỹ thuật hiện đại, hoạt động hiệu quả góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp, phát triển du lịch, thu hút đầu tư đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Kế hoạch đề ra 7 mục tiêu cụ thể như sau:

Thứ nhất, Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện quản

lý nhà nước về Hải quan theo đó toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ được thực hiện trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, giảm tỷ lệ can thiệp, giảm thủ tục, giấy tờ, thời gian xử lý và nhân lực hướng đến thủ tục hải quan điện

tử được thực hiện “mọi lúc – mọi nơi - mọi phương tiện”; đẩy mạnh ứng dụng

và sử dụng hiệu quả trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến trong kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan

Thứ hai, Tất cả các hoạt động nghiệp vụ hải quan được áp dụng quản lý

rủi ro toàn diện chuyên sâu tại các khâu trước, trong và sau thông quan nhằm đảm bảo hiệu lực hiệu quả trong quản lý nhà nước về hải quan đồng thời tạo thuận lợi và khuyến khích cho hoạt động xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

Thứ ba, Hoạt động kiểm tra sau thông quan đạt đến trình độ chuyên

nghiệp, chuyên sâu, hiệu quả dựa trên áp dụng sâu rộng quản lý rủi ro, ứng dụng công nghệ thông tin và nghiệp vụ kiểm toán sau thông quan (PCA)

Thứ tư, Áp dụng đầy đủ các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan

trong hoạt động kiểm soát hải quan; trang bị, sử dụng hiệu quả các trang thiết

bị hiện đại và ứng dụng công nghệ thông tin mạnh mẽ đảm bảo gắn kết chặt

Trang 35

chẽ kiểm soát hải quan với các hoạt động nghiệp vụ hải quan khác

Thứ năm, Đổi mới phương thức quản lý nguồn nhân lực, đào tạo và

nâng cao năng lực của cán bộ công chức theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp, thành thạo nghiệp vụ và có phẩm chất đạo đức trên cơ sở các quy định về quản lý nguồn nhân lực đã được chuẩn hóa của ngành Hải quan Tổ chức bộ máy được hoàn thiện theo hướng gọn nhẹ, đáp ứng yêu cầu sử dụng biên chế hiệu quả và phù hợp phương thức quản lý hải quan điện tử Đến năm

2020, áp dụng phương thức điện tử trong quản lý, điều hành, và quản trị nội

bộ trên cơ sở các quy trình công việc theo chuẩn ISO với định hướng cơ quan hải quan điện tử

Thứ sáu, Quan hệ đối tác Hải quan - Doanh nghiệp được quan tâm phát

triển và đi vào thực chất góp phần xây dựng sự hiểu biết, đồng thuận giữa doanh nghiệp và hải quan trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật hải quan Quan hệ hợp tác với các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn quản lý của Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam được thực hiện hiệu quả

Thứ bảy, Hiện đại hóa công sở, đẩy mạnh áp dụng và nâng cao hiệu quả

việc sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao trong kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan

Để đáp ứng các mục tiêu của cải cách, phát triển và hiện đại hóa Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, mục tiêu của chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại tỉnh Quảng Nam là nâng cao trình độ, năng lực quản lý thuế ngang tầm với các nước trong khu vực; đảm bảo tính khả thi, hiệu quả, công bằng, minh bạch

và theo chuẩn mực quốc tế; Hạn chế những bất lợi phát sinh trong quá trình hội nhập quốc tế; xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, đảm bảo lợi ích quốc gia và nguồn thu của Ngân sách Nhà nước

Đồng thời với việc triển khai các mục tiêu của chiến lược cải cách quản

Trang 36

lý thuế giai đoạn 2011-2020 theo Quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ số 732/QĐ-TTg ngày 17/5/2011 Tập trung hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính theo định hướng chuẩn mực quốc tế; Nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của các chi cục, Phòng Nghiệp vụ và công chức hải quan làm nhiệm vụ quản lý thuế; Hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị tại Cục và các chi cục trực thuộc; Phối hợp thực hiện tốt công tác hỗ trợ, tuyên truyền và cung cấp dịch vụ cho người nộp thuế; đưa hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật của người nộp thuế thực sự có hiệu quả; Áp dụng thuế điện tử với ứng dụng công nghệ thông tin để công tác quan lý thuế thực sự có hiệu lực, hiệu quả trong trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

2.2 Tình hình thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

Việc thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu chủ yếu do cơ quan Hải quan thực hiện Hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam theo Quyết định số 65/2015/QĐ-TTg ngày 17/02/2015 của Thủ tướng Chính phủ gồm có: Cơ quan Tổng cục Hải quan ở Trung ương; các cơ quan Hải quan ở địa phương

Là một cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc Tổng cục Hải quan đóng

trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam được thành lập theo Quyết định số 87/2002/QĐ - TTg ngày 07/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 20/8/2002 Khi mới thành lập, Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam được giao quản lý địa bàn cửa khẩu cảng Kỳ

Hà và khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc Tháng 5 năm 2006, đơn vị được giao thêm nhiệm vụ quản lý nhà nước về Hải quan đối với cửa khẩu đường bộ Nam Giang, cửa khẩu này đi vào hoạt động đã góp phần mở rộng

Trang 37

giao lưu kinh tế quốc tế ở vùng biên giới Việt Lào, đặc biệt là đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam sang Lào

Địa bàn quản lý của Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam hiện nay gồm cửa khẩu cảng Kỳ Hà, cảng Chu Lai, cửa khẩu đường bộ Nam Giang, Tây Giang, Kho ngoại quan của Công ty TNHH Một thành viên cảng Chu Lai Trường Hải, các khu công nghiệp trong Khu kinh tế mở Chu Lai, KCN Điện Nam - Điện Ngọc và một số Khu, Cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh

Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam là đơn vị trực thuộc Tổng cục Hải quan, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan, tổ chức thực thi pháp luật

về hải quan, các quy định khác của pháp luật có liên quan trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Quyết định số 1919/QĐ-BTC ngày 06/9/2016 của Bộ trưởng Bộ

Tài chính) [1]

Hiện nay, Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam có 7 đơn vị thuộc và trực thuộc, với tổng số cán bộ công chức hiện có là 88 người, gồm 75 công chức

và 13 nhân viên hợp đồng lao động theo Nghị định 68

Công tác nghiệp vụ chủ yếu được thực hiện tại các chi cục hải quan và đội kiểm soát hải quan Các chi cục hải quan cửa khẩu thực hiện các hoạt động nghiệp vụ liên quan đến thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hàng hoá xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải và hành lý của người xuất nhập cảnh Ngoài 2 Chi cục Hải quan cửa khẩu, Cục Hải quan Quảng Nam còn có Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu là Chi cục Hải quan khu công nghiệp Điện Nam Điện Ngọc Do yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh và sự giao thương kinh tế với nước bạn Lào, mặc dù tại các cửa khẩu phụ và lối mở, bộ máy tổ chức chưa được thành lập, nhưng Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam vẫn bố trí cán bộ kiểm tra, giám sát các lô hàng xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu phụ Tây Giang

Cùng với một số Cục hải quan các tỉnh, thành phố khác trên cả nước,

Trang 38

Cục Hải quan Quảng Nam có Chi cục Kiểm tra sau thông quan với quân số hiện nay là 8 CBCC thực hiện nhiệm vụ kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế nhằm xác định mức độ chính xác, trung thực của việc tự kê khai về hàng hóa, tự tính và nộp thuế, mức độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp trong thông quan, làm cơ sở cho việc truy thu, truy hoàn tiền thuế, xác định mức độ

ưu tiên trong quản lý của hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp và xử lý vi phạm pháp luật về thuế, về hải quan Kiểm tra sau thông quan được coi là khâu hậu kiểm trong toàn bộ quá trình quản lý hải quan đối với doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu

Các hoạt động nghiệp vụ trong lĩnh vực kiểm soát chống buôn lậu được thực hiện bởi Đội Kiểm soát Hải quan Cụ thể: Đội Kiểm soát Hải quan có trách nhiệm kiểm soát chống buôn lậu trên các tuyến đường bộ, đường biển Lực lượng kiểm soát Hải quan của Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam được trang

bị trang thiết bị và vũ khí và hỗ trợ theo quy định của ngành…

Tất cả hoạt động nghiệp vụ của các Chi cục hải quan cũng như của Đội Kiểm soát đều được hỗ trợ bởi khối các phòng tham mưu thuộc Cục Trong

đó, Văn phòng Cục thực hiện tham mưu, hỗ trợ về quản lý, đào tạo nhân lực,

cơ cấu tổ chức; thanh tra, kiểm tra; công tác hậu cần phục vụ, đảm bảo kinh phí hoạt động Phòng Nghiệp vụ tham mưu, hỗ trợ về công tác nghiệp vụ hải quan như giám sát quản lý, xử lý vi phạm, công nghệ thông tin và thống kê hải quan, quản lý rủi ro, cải cách hiện đại hóa hải quan, quản lý thuế xuất, nhập khẩu

Sau 16 năm xây dựng và phát triển, Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Ghi nhận những thành tích mà tập thể Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam đạt được trong thời gian qua, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Tài chính, UBND tỉnh Quảng Nam và Tổng cục Hải quan đã khen thưởng đơn vị nhiều danh hiệu, hình thức như: Huân chương Lao động

Trang 39

hạng 3, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Cờ Thi đua của Bộ Tài chính và UBND tỉnh Quảng Nam…

2.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện

Từ nhận thức và trách nhiệm trong việc quản lý chính sách thuế xuất, nhập khẩu, trong thời gian qua, trên cơ sở của những văn bản pháp lý về thuế, Tổng cục Hải quan, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Quảng Nam đã có nhiều văn bản triển khai thực hiện Luật quản lý thuế và Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, có thể kể đến như:

- Quyết định số 2710/QĐ-BTC ngày 20/12/2016 của Bộ Tài chính phê duyệt kế hoạch cải cách quản lý thuế giai đoạn 2016-2020

- Quyết định số 2577/QĐ-BTC ngày 29/11/2016 của Bộ Tài chính về việc giao chỉ tiêu thu NSNN năm 2017

- Quyết định số 2465/QĐ-BTC ngày 29/11/2017 của Bộ Tài chính về việc giao chỉ tiêu thu NSNN năm 2018

- Hàng năm, Tổng cục Hải quan ban hành Chỉ thị về việc triển khai nhiệm vụ thu NSNN Như Chỉ thị số 1193/CT-TCHQ ngày 28/02/2017 của Tổng cục Hải quan về việc triển khai nhiệm vụ thu NSNN năm 2017 Chỉ thị

số 555/CT-TCHQ ngày 26/01/2018 của Tổng cục trưởng TCHQ về việc triển khai nhiệm vụ thu NSNN năm 2018

- Quyết định số 4345/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của UBND tỉnh Quảng Nam về giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán NSNN năm 2017

- Quyết định số 1919/QĐ-TCHQ ngày 28/6/2018 về việc ban hành Quy trình miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, xử lý tiền thuế nộp thừa đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

- Quyết định số 1503/QĐ-TCHQ ngày 18/5/2018 của Tổng cục Hải quan

về ban hành Quy trình quản lý nợ thuế và khoản thu khác đối với hàng hóa

Ngày đăng: 10/07/2019, 20:26

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm