1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIEU LUAN sử dụng phương pháp kiến tạo trong dạy học toán thcs

37 444 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 853 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sử dụng phương pháp kiến tạo trong dạy học toán thcs chuowng1: kiến thức chuẩn bị giới thiệu các tác giả nghiien cứu liw thuyết kiến tạo chương 2: nêu một vài nét chú ý về liws thuyết kiến tạo Lấy ví dụ minh họa

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả tiểu luận xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên TS LêXuân Trường Thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn để nhóm chúng tôi hoànthành tiểu luận này Không chỉ thế thầy còn luôn quan tâm, động viên chúng tôi

cố gắng trong học tập cũng như trong cuộc sống

Chúng tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trongkhoa Sư phạm Toán học Trường Đại học Đồng Tháp, các thầy cô trong tổphương pháp giảng dạy đã dạy bảo, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tậpcũng như làm tiểu luận

Xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, tạo mọi điềukiện để chúng tôi học tập và làm tiểu luận đạt kết quả tốt nhất

Đồng Tháp, tháng 6 năm 2019

Đồng tác giả

Trần Văn Minh

Võ Thành Nhân Thái Huy Quyền Đặng Hoàng Tân Nguyễn Thị Ngọc Dung

Trang 4

MỤC LỤC

Chương I: Kiến thức chuẩn bị

1 Sơ lược về lịch sử và sự phát triển của LTKT………

1.1 John Dewey và LTKT………

1.2 Jean Piaget và LTKT………

1.3 Lev Vygotssky và LTKT………

1.4 Jerome Bruner và LTKT………

1.5 Von Glasersfeld và LTKT………

1.6 Clementes và Battista và LTKT………

2 Dạy học kiến tạo………

2.1 Quan niệm dạy học kiến tạo………

2.2 Các loại kiến tạo trong dạy học………

2.3 Vai trò của GV và HS trong dạy học kiến tạo………

Chương II: Dạy học kiến tạo trong môn Toán THCS 1 Vận dụng LTKT trong dạy học toán THCS………

1.1 Sử dụng mô hình hóa toán học………

1.2 Các bước thiết kế và triển khai một pha dạy học theo thuyết kiến tạo… 2 Một số biện pháp rèn luyện năng lực kiến tạo………

3 Thiết kế chi tiết một số tình huống dạy toán THCS theo hướng giúp học sinh kiến tạo tri thức………

Kết luận………

Danh mục tài liệu tham khảo………

Trang 5

CHƯƠNG I: KIẾN THỨC CHUẨN BỊ

1 Sơ lược về lịch sử và sự phát triển của lý thuyết kiến tạo

Lý thuyết kiến tạo là một lý thuyết về nhận thức có nguồn gốc từ triết học,tâm lý học và điều khiển học Lý thuyết kiến tạo (LTKT) đã trở thành một lýthuyết chặt chẽ trong khoa học giáo dục, có một truyền thống lâu dài, được thừanhận và tôn trọng trong tâm lý học nhận thức, đặc biệt là các tác phẩm củaDewey, Vygotsky và Piaget Từ tưởng cơ bản của lý thuyết kiến tạo là: Quá trìnhnhận thức thực chất là quá trình kiến tạo của chủ thể Nó khẳng định hai nguyên

lý chính mà ứng dụng của nó đã đạt được những kết quả sâu rộng trong việcnghiên cứu sự phát triển của nhận thức, trong việc học, việc thực hành giảngdạy, trong tâm lý và trong mối quan hệ giữa các cá nhân nói chung Hai nguyên

“Tôi chỉ biết mỗi một điều duy nhất là tôi không biết gì cả” Tiếp đó là luậnđiểm cơ bản của triết học duy vật biện chứng: con người có thể nhận thức đượcthế giới; nhận thức là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo

Quá trình hình thành và phát triển của lý thuyết này được trình bày trongcác công trình của John Dewey (1859 – 1952), Jean Piaget (1896 – 1980),Vygotsky (1896 – 1934) và Von Glasersfeld (1917 – 2010) Sau đây chúng tôitrình bày vắn tắt về những công trình liên quan tới lý thuyết kiến tạo của cácông

1.1 John Dewey và lý thuyết kiến tạo

John Dewey, một nhà triết học, tâm lý học và nhà giáo dục người Mỹ, chorằng sự giáo dục tùy theo hoạt động Dewey nhấn mạnh tầm quan trọng của sựphát triển kiến thức học sinh từ kinh nghiệm hơn là từ những cái cố định và xácđịnh Kiến thức và ý tưởng chỉ xuất hiện từ một tình huống khi người học phải

cố gắng vượt ngoài kinh nghiệm có ý nghĩa và quan trọng đối với họ Nhữngtình huống này, phải xảy ra trong môi trường xã hội, nơi các học sinh có thểcùng nhau phân tích các tiêu chuẩn và tạo một cộng đồng người học nhữngngười xây dựng kiến thức cùng nhau

Dewey không chỉ tưởng tượng quá trình học tập diễn ra mà còn nhìn thấyđược vai trò của người giáo viên trong quá trình đó Theo ông, người giáo viên

Trang 6

không nên truyền thụ kiến thức thụ động cho học sinh mà thay vào đó họ phảitham gia vào quá trình học tập đó như là một người hỗ trợ và hướng dẫn Ônggiải thích rằng: Trong trường học, vai trò của giáo viên không phải để áp đặt ýtưởng hay để tạo thành một thói quen nhất định cho học sinh mà giáo viên nêncoi là một thành viên trong đó để chọn lọc các ảnh hưởng tốt đến học sinh và đểgiúp họ cách ứng phó trước những ảnh hưởng này Do đó, giáo viên sẽ trở thànhmột đối tác trong quá trình học tập, hướng dẫn học sinh độc lập khám phá ra ýnghĩa của từng lĩnh vực.

Theo sự tổng kết của Warde (1960), lý thuyết của Dewey về giáo dục đãđưa ra quan niệm về đối tượng học sinh, có thể tóm tắt như sau:

+ Đứa trẻ sẽ học tốt nhất thông qua kinh nghiệm cá nhân trực tiếp, bằngnhững hoạt động của bản than

+ Trường học không chỉ cung cấp cho học sinh cái nhìn sâu sắc về tầmquan trọng xã hội của các hoạt động như vậy, mà trên tất cả là các cơ hội để thựchành chúng

+ Học sinh hấp thụ kiến thức và giữ nó để sử dụng khi chúng có được mộtcách tự nhiên và thấy kiến thức đó có ích cho chúng

+ Học sinh không chỉ học trên lớp với thầy giáo mà cả khi không có thầygiáo, mỗi em, hoặc nhóm bạn học khi tham gia các trò chơi, những hoạt động từnhu cầu thực tế cuộc sống Tức là: học tập trở thành một nhu cầu và thói quenthường xuyên và suốt đời của con người

Trên tinh thần đó, Dewey đã đưa ra một số kết luận như sau:

(1) Năng lực của các học sinh sẽ được điều chỉnh bởi chính chúng, theonhu cầu của xã hội của cộng đồng

(2) Quyền lợi, lợi ich sẽ là động lực cho tất cả các công việc

(3) Giáo viên sẽ là người truyền cảm hứng để học sinh tiếp nhận tri thức,trở thành một đối tác phục vụ cho việc tìm ra tri thức, hướng dẫn kiểm tra việcthực hiện, chứ không phải là nhiệm vụ làm chủ

(4) Phát triển khả năng nghiên cứu khoa học, thể chất, tâm lý, xã hội, tâmlinh của mỗi học sinh là cực kì cần thiết để phát triển trí thông minh của chúng

(5) Quan tâm, chú ý đến trẻ hơn là việc đáp ứng tới các nhu cầu vật chấtcủa đứa trẻ

(6) Sự phối hợp giữa trường học và gia đình sẽ lấp đầy vào tất cả các nhucầu phát triển của trẻ, chẳng hạn như hiểu biết về âm nhạc, múa hát, hội họa, cácmôn thể thao và các hoạt động ngoại khóa khác

Từ mục đích nghiên cứu, chúng ta thấy: Từ tưởng quan điểm về dạy họccủa Dewey đã bám sát và thể hiện đúng hai nguyên lý kiến tạo nói trên, nhấnmạnh đến nhu cầu hoạt động và nhận thức tự thân của người học Vì vậy, những

tư tưởng này khá phù hợp với mục đích thực hiện dạy học kiến tạo trong mônToán trung học cơ sở

Trang 7

1.2 Jean Piaget và lý thuyết kiến tạo

Trong số các cách diễn giải khác nhau về kiến tạo, Piaget và Vygotskyquan tâm đến bản chất, gốc dễ của kiến thức có nhiều ảnh hưởng đối với giáodục Cách tiếp cận kiến tạo của Piaget và Vygotsky được đối chiếu với hai vấn

Lược đồ nhận thức là một lớp các thao tác giống nhau theo một trật tựnhất định; một thể thống nhất, bền vững và các yếu tố cấu thành các thao tác cóquan hệ với nhau Piaget cho rằng, trí tuệ có bản chất thao tác và được trẻ emxây dựng bằng chính hành động của mình Sự phát triển trí tuệ được hiểu là sựphát triển của hệ thống thao tác Thao tác nảy sinh từ hành động bắt nguồn từđối tượng bên ngoài nhưng đối tượng của nó không phải là những sự vật thực,

mà là những hình ảnh, biểu tượng, kí hiệu Thao tác có tính thuận nghịch, bảotồn và liên kết

Các thao tác được cấu trúc thành hệ thống nhất định gọi là cấu trúc thaotác Cấu trúc thao tác nhận thức không có sẵn trong đầu trẻ, cũng không nằmtrong đối tượng khách quan mà nằm ngay trong mối tác động qua lại giữa cácchủ thể với đối tượng thông qua hoạt động

Dưới dạng chung nhất, cấu trúc thao tác nhận thức có chức năng tạo ra sựthích ứng của cá thể đối với các kích thích của môi trường Cấu trúc nhận thứcđược hình thành theo cơ chế đồng hóa và điều ứng

Có thể minh họa cho hai quá trình trên bằng ví dụ sau đây:

Để đo chu vi một hình tam giác, tứ giác học sinh có thể đo được bằngthước kẻ có chia milimet Nhưng khi được yêu cầu đo chu vi của một đường

Trang 8

tròn, các em sẽ làm thế nào? Có em loay hoay xoay thước kẻ theo chu vi đườngtròn để đo (đồng hóa) Tất nhiên cũng được, nhưng thiếu sự chính xác Nếu các

em nghĩ ra cách “duỗi” đường tròn đó ra trên một đường thẳng để đo (điều ứng)thì quả là một sự sáng tạo tuyệt vời

Theo Piaget, sự thích nghi trí tuệ là sự thích nghi tiêu biểu nhất, sự cânđối giữa đồng hóa liên tục các sự vật, hiện tượng Sự thích nghi trí tuệ được tạo

từ quá trình điều chỉnh sự mất thăng bằng nhận thức để thích nghi với những đòihỏi và những thách thức của môi trường Sự điều chỉnh đó không dẫn tới việclặp lại trạng thái cân bằng động, thường trực, kết thúc một quá trình tiến hóa Đó

là “cân bằng tăng trưởng”

Như vậy có thể nhận thấy lý thuyết của Piaget về nhận thức phù hợp vớiquá trình nhận thức theo quan điểm duy vật biện chứng Đồng thời, quan niệm

“học tập là quá trình cá nhân hình thành các tri thức cho mình” thể hiện rõ ràngnguyên lý 1 về kiến tạo ở trên

Không những thế, từ chỗ coi học tập là “quá trình cá nhân tổ chức hànhđộng tìm tòi, khám phá thế giới bên ngoài và tổ chức lại chúng dưới dạng cáclược đồ nhận thức”, ông đi sâu vào cơ chế nhận thức gồm hai quá trình đồng hóa

và điều ứng của học sinh

Với mục đích dạy học kiến tạo đối với môn Toán trung học cơ sở, chúngtôi thấy quan niệm của Piaget khá phù hợp ở chỗ: trong nhận thức đòi hỏi củachủ thể phải tích cực, chủ động và sáng tạo tìm tòi khám phá kiến thức để xâydựng tri thức cho mình (thể hiện nguyên lý 1) Mặt khác, khi học Toán trung học

cơ sở học sinh cũng thường xuyên phải tiến hành đồng hóa và điều ứng để thíchnghi với môi trường học tập mà giáo viên tổ chức (thể hiện nguyên lý 2) Nhưvậy người giáo viên cần chú ý tới hai quá trình này trong quá trình nhận thứccủa học sinh

1.3 Lev Vygotsky và lý thuyết kiến tạo

Lev Vygotsky là một nhà tâm lý học người Nga, được xem là cha đẻ của

lý thuyết kiến tạo xã hội Vygotsky đã đưa ra những kết luận sau đây:

(1) Quá trình học tập của trẻ thực chất là quá trình trẻ lĩnh hội kinhnghiệm xã hội – lịch sử, không tách rời hoàn cảnh văn hóa xã hội, được kết tinhtrong các công cụ kí hiệu do con người sáng tạo ra

Ngôn ngữ đóng vai trò trung tâm trong phát triển tư duy Tư duy nảy sinh

từ hoạt động thực tiễn, được diễn đạt thông qua lời nói, ngôn ngữ Tư duy khôngphát triển song song cũng như độc lập với ngôn ngữ, tại thời điểm chúng giaonhau thì tư duy trở thành tư duy ngôn ngữ và ngôn ngữ trở thành ngôn ngữ trítuệ

(2) Nội dung học tập trong nhà trường là các khái niệm khoa học Ôngchia tri thức thành hai loại: Tiền khoa học và khoa học trong đó khái niệm tiềnkhoa học được hình thành theo con đường tự nhiên, tự do, ngẫu hứng, đi từ cụthể đến trừu tượng Khái niệm khoa học được hình thành theo con đường nhậnthức, trong quá trình học tập của trẻ

Trang 9

(3) Quá trình phát triển nhận thức là quá trình vận động liên tục từ “vùngphát triển gần nhất” sang “trình độ hiện tại” Theo định nghĩa của Vygotsky,

“vùng phát triển gần nhất” là sự khác biệt giữa mức độ phát triển thực tế (xácđịnh bởi khả năng gải quyết vấn đề một mình) và mức độ phát triển có thể đạtđược (xác định thông qua khả năng giải quyết vấn đề khi có sự giúp đỡ, hướngdẫn hoặc hợp tác)

(4) Sự hợp tác giữa người dạy và người học, giữa người lớn và trẻ em,giữa học sinh với học sinh trong quá trình dạy học sẽ mang lại hiệu quả cao sovới việc trẻ tự mò mẫm tìm ra tri thức

Những điều trình bày ở trên cho thấy:

Trong khi Piaget tập trung tạo dựng lại quá trình nhận thức của trẻ em và

ít quan tâm tới ảnh hưởng xã hội tới quá trình phát triển nhận thức, thì Vygotskylại đi sâu nghiên cứu những tác động nhiều mặt của lịch sử văn hóa và tương tác

xã hội vào quá trình hình thành và phát triển nhận thức của trẻ em Hai ông đềugợi ý rằng giáo viên nên khuyến khích học sinh tự nghiên cứu, giải quyết vấn đề

và có những quyết định của cá nhân

1.4 Jerome Bruner và lý thuyết kiến tạo

Jerome Bruner (sinh năm 1915) đề xuất mô hình dạy học mang tính khámphá phù hợp với quan điểm của J Piaget Mô hình này được đặc trưng bởi bốnyếu tố chủ yếu: Cấu trúc tối ưu của nhận thức; cấu trúc của chương trình dạyhọc; học tập khám phá và bản chất của sự thưởng – phạt Trong đó cấu trúc tối

ưu của nhận thức là yếu tố then chốt Ông đưa ra những điểm nổi bật của môhình học tập khám phá:

(1) Học sinh phải là người tự lực, tích cực hoạt động tìm tòi, khám pháđối tượng học tập để hình thành cho mình các nguyên tắc, các ý tưởng cơ bản từtình huống học tập cụ thể Trong học tập môn vật lý, học toán hay các khoa học

xã hội, học sinh phải có thái độ khám phá các định luật, các định lý, các quyluật… giống như các nhà vật lý học, toán học hay xã hội học thực thụ Tronghọc tập khám phá cho phép học sinh đi qua ba giai đoạn, ba hình thức hành độnghọc tập: đầu tiên cần phải thao tác và hành động trên các tài liệu đã có (hànhđộng phân tích), sau đó hành động trên các hình ảnh về chúng (hành động môhình hóa) và cuối cùng rút ra được các khái niệm, các quy tắc chung từ những

mô hình đó (hành động kí hiệu hóa) Điều này phù hợp với quan điểm của J.Piaget về các giai đoạn phát triển cấu trúc nhận thức của trẻ em (hành động vậtchất – hình ảnh – thao tác)

(2) Có hai loại học tập khám phá: tự khám phá (học sinh tự học tập đểkhám phá) và khám phá có hướng dẫn (là quá trình học tập, khám phá của họcsinh có sự hướng dẫn của giáo viên) Trong một số trường hợp, tự khám phá cóthể mang lại hiệu quả cao, nhưng về cơ bản, quá trình học tập của học sinh làkhám phá có hướng dẫn

(3) Trong học tập khám phá, giáo viên cần cung cấp nhiều ví dụ, nhiềutình huống, đặt ra nhiều câu hỏi để học sinh quan sát, đặt câu hỏi, khám phá vàthực nghiệm cho đến khi tìm ra được các nguyên tắc, các ý tưởng, mối liên hệ cơbản trong cấu trúc môn học Giáo viên không giảng giải, không đưa ra các kết

Trang 10

luận mà cần tổ chức cho học sinh tiến hành các hành động học tập tương ứngvới các hình thức biểu hiện của cấu trúc (hành động thực tiễn, hành động môhình hóa, hành động kí hiệu hóa), theo phương pháp chung là từ các hành độngtrên các vật liệu cụ thể để rút ra các nguyên tắc chung Trong quá trình học sinhkhám phá và rút ra các nhận định, giáo viên không nên phê phán, cần có nhữnggợi ý, khích lệ để học sinh hứng khởi đưa ra các nhận định, các dự đoán củamình

Chúng tôi đồng ý với ý kiến cho rằng quá trình học tập là quá trình “khámphá lại” Trong quá trình đó, học sinh cần phải “thích nghi” để tìm tòi, phát hiện,khám phá ra những tri thức mới

1.5 Von Glasersfeld và lý thuyết kiến tạo

Von Glasersfeld là một nhà triết học người Đức đã xây dựng, đóng góp vàảnh hưởng rất lớn cho lý thuyết kiến tạo Dựa trên các tư tưởng của Piaget vàVygotsky, Von Glasersfeld đã đưa ra năm luận điểm sau:

(1) Tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức khôngphải tiếp thu một cách thụ động từ môi trường bên ngoài

Luận điểm này khẳng định vai trò quyết định của chủ thể trong quá trìnhhọc tập, nó hoàn toàn phù hợp với thực tiễn nhận thức Chẳng hạn, trẻ em tập

“đi” bằng cách “đi”, việc “đi” của nó lúc đầu có thể rất khó khăn và luôn vấpngã, nhưng qua thực tiễn chúng sẽ đi được đồng thời rút ra các kiến thức là kinhnghiệm để đi sao cho không ngã Như vậy trẻ em “tập đi” bằng cách “đi” chứkhông phải bằng cách được dạy các quy tắc để đi và thực hành chúng

(2) Nhận thức là một quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan củachính mỗi người Nhận thức không phải là khám phá một thế giới quan mà chủthể nhận thức chưa hề biết tới

Theo luận điểm này, quá trình nhận thức của người học là quá trình tíchcực, chủ động, sáng tạo vận dụng những tri thức, kĩ năng đã có để tác động lênmôi trường, đồng thời điều chỉnh để thích nghi với môi trường, từ đó mà xâydựng lên kiến thức, kĩ năng cho bản thân Khác với quá trình nhận thức của cácnhà khoa học là khám phá cái mới về tự nhiên và xã hội, quá trình nhận thức củahọc sinh là quá trình tái tạo lại các kinh nghiệm mà loài người đã biết nhưng làmới đối với họ và quá trình ấy được diễn ra trong môi trường dạy học Chẳnghạn, trong chương trình hình học lớp 8, học sinh học khái niệm hình vuông saukhi học sinh đã nắm được khái niệm một số hình như: hình thang, chữ nhật, hìnhthoi và hình bình hành,… Mặt khác, trong kinh nghiệm của các em đã có hìnhảnh và các vật trong đời sống hàng ngày về hình vuông Vì vậy, người giáo viêntạo ra các tình huống học tập để học sinh thích nghi và tổ chức lại thế giới quancủa chính họ, từ đó học sinh hình thành khái niệm hình vuông

(3) Học tập là quá trình mang tính xã hội, trong đó trẻ em dần tự hòa mìnhvào các hoạt động trí tuệ của những người xung quanh Trong lớp học mang tínhkiến tạo, học sinh không chỉ tham gia vào việc khám phá, phát minh mà còntham gia vào cả quá trình xã hội, bao gồm việc giải thích, trao đổi, đàm phán vàđánh giá

Trang 11

Luận điểm này khẳng định vai trò của sự tương tác giữa các cá nhân trongquá trình học tập Quá trình học tập không chỉ là quá trình diễn ra trong đầu óccủa mỗi cá nhân mà nó còn luôn có xu hướng vượt ra ngoài tạo nên sự xung độtgiữa các cá nhân trong quá trình nhận thức Đó là động lực quan trọng thúc đẩyquá trình học tập của học sinh Chẳng hạn, sau khi học xong phép đồng dạnggiáo viên yêu cầu học sinh hãy tìm cách đo chiều cao của một cây trong trường

mà học sinh không thể trèo lên cây đó được mà dụng cụ chỉ là thước đo Khi đó,học sinh sẽ có nhu cầu cần phải hoạt động tập thể như: thảo luận đưa ra phương

án giải quyết và giải thích Giả sử sau khi thảo

luận, học sinh đã hình thành được phương án

như hình vẽ Khi ấy, trong mỗi phép đo, cần

có ít nhất ba người bạn tham gia vào hoạt

động: một bạn đứng tạo bóng, hai bạn khác

đo bóng của bạn đứng mẫu và đo bóng của

cây Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi

Luận điểm này định hướng cho việc dạy học theo quan điểm kiến tạokhông chệch khỏi mục tiêu giáo dục phổ thông, tránh tình trạng học sinh pháttriển một cách quá tự do để dẫn đến hoặc là tri thức học sinh thu được trong quátrình học tập là quá lạc hậu, hoặc là quá xa vời với tri thức khoa học phổ thông,không phù hợp với lứa tuổi, không phù hợp với những đòi hỏi của thực tiễn Ví

dụ học sinh THCS cần thiết phải học về Hình học không gian dù đây là một kiếnthức khó, trừu tượng nhưng nó có ứng dụng rộng rãi trong kĩ thuật, sản xuất vàđời sống

(5) Học sinh đạt được tri thức mới theo chu trình sau: Tri thức đã có 

Dự đoán  Kiểm nghiệm  (Thất bại)  Thích nghi  Tri thức mới

Đây có thể coi là chu trình học tập mang tính đặc thù của lý thuyết kiếntạo, nó hoàn toàn khác với chu trình học tập mang tính thụ động, đó là tri thứcđược truyền thụ một chiều từ giáo viên đến học sinh Chu trình trên phản ánh sựsáng tạo không ngừng và vai trò chủ động và tích cực của học sinh trong quátrình học tập; coi trọng quy trình kiến tạo tri thức đồng mức độ quan trọng nhưchính trong tri thức đó Việc học một tri thức mới trước hết phải quan tâm đếncác hoạt động của học sinh, trên cơ sở đó thiết kế các hoạt động tổ chức, chỉ đạocủa giáo viên để giúp cho chu trình kiến tạo tri thức của học sinh được diễn ramột cách thuận lợi hơn

Những luận điểm của Von Glasersfeld chỉ ra rằng cách học của học sinhphải khoa học Mô hình truyền đạt kiến thức cần phải được thay thế vì nó khôngtạo ra khả năng sáng tạo, khả năng đưa ra các dự đoán, các quyết định và khảnăng giải quyết vấn đề Cách học có khoa học là cách học khám phá và tìm hiểu,người học phải tích cực, chủ động khám phá và tìm hiểu kiến thức, kinh nghiệm

Trang 12

Tuy nhiên: “không nên mong đợi học sinh khám phá ra quy luật của tự nhiên bởi

vì quy luật đó là những quy ước xã hội được truyền đạt thông qua xã hội và thểchế văn hóa của khoa học”

Như vậy, có thể nói: chính Von Glasersfeld đã thể hiện tư tưởng thực hiệnhai nguyên lý kiến tạo trong 5 luận điểm quan trọng về thuyết kiến tạo cơ bảntrong nhận thức

1.6 Clementes và Battista và lý thuyết kiến tạo

Cùng với Von Glaserfeld, khi bàn đến các vấn đề của giáo dục toán học,Clementes và Battista đã đưa ra một số luận điểm về dạy học theo quan điểmkiến tạo như sau:

(1) Kiến thức được trẻ em chủ động sáng tạo và phát hiện chứ không phảitiếp nhận thụ động từ môi trường

(2) Trẻ em tạo dựng lên những kiến thức toán học mới bằng việc phản ánhthông qua các hoạt động trí tuệ và thể chất Các ý tưởng toán học được kiến tạohoặc làm cho có ý nghĩa khi trẻ em tự gắn mình vào các cấu trúc tri thức hiện

(3) Sự biểu đạt về thế giới mang tính cá nhân Những cách lý giải nàyđược hình thành thông qua những kinh nghiệm và tương tác xã hội Như vậyviệc học toán có thể coi là quá trình thích nghi và tổ chức lại các cấu trúc tri thứctoán học đã có của học sinh, không phải là ghi nhớ các tri thức do người khác ápđặt

(4) Học là một quá trình xã hội trong đó trẻ em dần tự hòa mình vào cáchoạt động trí tuệ của những người xung quanh Các khái niệm và chân lý toánhọc, ở các phương diện ý nghĩa hay ứng dụng đều được các thành viên trong

“một nền văn hóa” hợp tác tạo thành Như vậy, lớp học mang tính kiến tạo đượcxem như một môi trường văn hóa mà ở đó học sinh không chỉ tham gia vào việckhám phá, phát minh mà còn tham gia vào cả quá trình xã hội bao gồm giảithích, trao đổi, đàm phán và đánh giá

(5) Khi giáo viên chỉ biết yêu cầu học sinh sử dụng các phương pháp toánhọc “đẹp đẽ” thì hoạt động hiểu nghĩa bị cắt xén một cách quá mức, học sinh có

xu hướng bắt chước các phương pháp đó một cách máy móc để tỏ ra mình đã đạtđược các mục đích mà giáo viên đề ra Niềm tin của họ về bản chất tự nhiên củatoán học sẽ thay đổi, xem việc học toán như là việc học các “thủ thuật” ít có ýnghĩa

Nếu như các quan điểm ở trên nghiên cứu về kiến tạo trong nhận thức nóichung thì ở đây Clementes và Battista đã vận dụng lý thuyết kiến tạo về nhậnthức vào lĩnh vực dạy học Toán Điều này có ý nghĩa quan trọng giúp chúng takhi tiếp cận vận dụng lý thuyết vào môn Toán ở trường phổ thông Đặc biệt làphù hợp với yêu cầu phát triển tư duy sáng tạo với đối tượng học sinh giỏi (thểhiện qua luận điểm (1) và (5)), chứ không phải “luyện” các em trở thành “thợ”giải toán một cách máy móc

Trang 13

Qua những điều trình bày ở trên, ta thấy phát biểu các luận điểm của cáctác giả là khác nhau nhưng đều nhấn mạnh các vấn đề sau:

+ Tri thức là sản phẩm của hoạt động phát hiện và sáng tạo của chínhngười học Học là quá trình phát hiện và sáng tạo một cách tích cực của chủ thểnhận thức, không phải là sự tiếp thu một cách thụ động từ giáo viên

+ Học là một quá trình mang tính xã hội, thể hiện ở hai khía cạnh: học làmột quá trình đáp ứng yêu cầu của xã hội và quá trình nhận thức của trẻ chịu sựảnh hưởng của tương tác xã hội

+ Nhận thức là quá trình tổ chức lại thế giới quan của chính học sinhthông qua hoạt động trí tuệ và thể chất

+ Vai trò chủ động, tích cực của cá nhân và sự tương tác giữa các cá nhân

là những điều kiện quan trọng trong quá trình kiến tạo tri thức

Từ những phân tích trên, chúng tôi xác định những luận điểm sau đây lànền tảng của lý thuyết kiến tạo trong dạy học:

* Tri thức được học sinh chủ động sáng tạo và phát hiện, chứ không phảithụ động tiếp nhận từ môi trường bên ngoài

* Nhận thức là một quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan củachính mỗi người Nhận thức không phải là khám phá một thế giới độc lập đangtồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể

* Học là một quá trình mang tính xã hội trong đó học sinh dần tự hòamình vào các hoạt động trí tuệ của những người xung quanh

* Những tri thức mới của mỗi cá nhân nhận được từ việc điều chỉnh lạithế giới quan của họ cần phải đáp ứng được những yêu cầu mà tự nhiên và thựctrạng xã hội đặt ra

* Học sinh đạt được tri thức mới do chu trình: Tri thức đã có  Dự đoán

 Kiểm nghiệm  (Thất bại)  Thích nghi  Tri thức mới

2 Dạy học kiến tạo

2.1 Quan niệm dạy học kiến tạo

Như đã trình bày ở trên, quá trình nhận thức của người học là quá trìnhngười học xây dựng nên những kiến thức cho bản thân thông qua hoạt độngđồng hóa và điều ứng các kiến thức, kĩ năng đã có để thích nghi với môi trường

Hoạt động học là hoạt động nhằm tạo ra cân bằng nhận thức, cân bằngtâm lý Quá trình cứ như thế lặp đi lặp lại Vì vậy hoạt động học là hoạt độngmang tính phát triển

Theo McBrien và Brandt (1997) thì “Kiến tạo là một cách tiếp cận “dạy”dựa trên nghiên cứu về việc “học” với niềm tin rằng: Tri thức được kiến tạo nênbởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nóđược nhận từ người khác”

Brooks (1993) thì cho rằng: “Quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng

Trang 14

định rằng học sinh phải tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tích hợpnhững kinh nghiệm mới vào trong những cái mà họ đã có từ trước đó Học sinhthiết lập nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tácvới những chủ thể và ý tưởng…”.

Theo McBrien (1999): “Người học tạo nên những kiến thức của bản thânbằng cách điều khiển những ý tưởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức

và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng vào những tình huống mới hợp thành tổngthể thống nhất giữa các kiến thức mới thu nhận được với những kiến thức đangtồn tại trong trí óc”

Từ những quan điểm trên, đặc biệt là dựa trên lý thuyết kiến tạo trongnhận thức của Von Glaserfeld (1989) và 5 luận điểm kiến tạo trong dạy học Toáncủa Clementes và Battista (1990), có thể hiểu dạy học kiến tạo được đặc trưngbởi các thành tố sau:

+ Trong quá trình học tập và lĩnh hội tri thức bằng kiến tạo, học sinh luônđóng vai trò chủ động tham gia xây dựng hình thành tri thức cho bản thân

+ Người học được giáo viên đặt trong môi trường tích cực, phát hiện ravấn đề, giải quyết vấn đề bằng cách đồng hóa hay điều ứng kiến thức và kĩ năng

đã có

+ Chính nhờ quá trình tham gia tự “tìm đường”, tự khám phá, học sinh cóthể khắc sâu kiến thức, rèn được tư duy độc lập, tự tìm được mối liên hệ giữakiến thức sẵn có và kiến thức mới, tạo được vốn kinh nghiệm và tri thức mớicho bản thân

2.2 Các loại kiến tạo trong dạy học

Xuất phát từ bản chất của LTKT trong dạy học, nhiều nhà nghiên cứutrong đó có Paul Emest đã phân chia kiến tạo trong dạy học thành hai loại: Kiếntạo căn bản và kiến tạo xã hội

2.2.1 Kiến tạo căn bản

Von Glaserfeld được xem là người đã xây dựng đóng góp và ảnh hưởngrất lớn vào lý thuyết kiến tạo căn bản Theo Glaserfeld, kiến tạo căn bản là lýthuyết về nhận thức đề cao vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình nhận thức vàxây dựng tri thức cho bản thân trong quá trình học tập Kiến tạo căn bản quantâm đến quá trình chuyển hóa bên trong của mỗi cá nhân trong quá trình nhậnthức, nó coi trọng kinh nghiệm của người học trong quá trình người học tiếpnhận tri thức mới

Dựa trên các tư tưởng của Piaget, Von Glaserfeld (1984, 1989) cho rằngkiến tạo căn bản dựa trên hai nguyên lý chính:

+ Kiến thức là kết quả hoạt động kiến tạo của chính chủ thể nhận thức + Nhận thức là quá trình người học thích nghi với môi trường thông quacác hoạt động đồng hóa và điều ứng các tri thức và kinh nghiệm sẵn có của mìnhsao cho thích ứng

Trang 15

Trong quá trình này chủ thể nhận thức suy nghĩ để loại bỏ các quan niệm

cũ không phù hợp, chọn lọc và hình thành các tri thức mới phù hợp với thế giớikhách quan Tri thức mới được hình thành bao gồm cả quá trình loại bỏ, kế thừa

và phát triển các quan niệm sẵn có của học sinh, hay nói cách khác, quá trìnhnhận thức của học sinh là quá trình thích nghi và tiến hóa Người học phải tíchcực, chủ động khám phá và tìm hiểu kiến thức, kinh nghiệm Tuy nhiên: “khôngnên mong đợi học sinh khám phá ra quy luật của tự nhiên bởi vì quy luật đó lànhững quy ước xã hội được truyền đạt thông qua xã hội và thể chế văn hóa củakhoa học”

Quan điểm này của kiến tạo căn bản này rất gần với quan điểm B P.Exipop rằng: “Trong dạy học sử dụng con đường trực tiếp lĩnh hội kiến thức bắtđầu từ việc trực quan sinh động đến những hiện tượng khảo sát tiếp thu kiếnthức thông qua lời nói của giáo viên, hay sách vở Nhưng tính cho đến cùng thì

cả kiến thức khái quát hóa cũng phải dựa trên chính những cảm giác, tri giác,biểu tượng mà học sinh tiếp thu được từ kinh nghiệm sống của họ”

Kiến tạo căn bản khẳng định vai trò chủ động, tự xây dựng nên tri thứcmới của người học trong quá trình nhận thức, do đó người học sẽ làm chủ kiếnthức của mình Tuy nhiên, kiến tạo căn bản đã quá coi trọng vai trò chủ động của

cá nhân nên người học bị đặt trong tình trạng cô lập và kiến thức xây dựng đượcthiếu tính xã hội

2.2.2 Kiến tạo xã hội

Lev Vygotsky (1896 – 1934) là một nhà tâm lý học người Nga, được xem

là cha đẻ của lý thuyết kiến tạo xã hội Vygotsky bác bỏ định hướng cá nhân củaPiaget và nhấn mạnh đến sự giáo dục trong sự biến đổi Ông xem xét sự pháttriển của con người trong một hoàn cảnh văn hóa, xã hội nhất định Những sựphát triển riêng lẻ bắt nguồn từ những sự tương tác xã hội bên trong đó ý nghíavăn hóa được chia sẻ bởi một nhóm người và dần dần được chủ quan hóa bởi cánhân Trường học là nơi những thiết chế văn hóa xã hội được dạy và học, là nơi

“những công cụ văn hóa” như đọc, viết, tính toán và những kiểu thảo luận nhấtđịnh được dùng Cá nhân xây dựng kiến thức trong sự tương tác với môi trường

và trong quá trình đó môi trường và cá nhân cũng được thay đổi

Đồng quan điểm với Vygotsky, Nor Joharuddeen, kiến tạo xã hội là quanđiểm nhấn mạnh đến vai trò của văn hóa, các điều kiện xã hội và tác động củachúng đến sự hình thành nên tri thức, kiến tạo xã hội xem xét cá nhân trong mốiquan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực xã hội

Kiến tạo xã hội được xây dựng trên các tư tưởng cơ bản:

+ Tri thức được cá nhân tạo nên phải phù hợp và tương ứng với các yêucầu của tự nhiên và thực trạng xã hội đặt ra

+ Người học đạt được những tri thức mới bởi quá trình nhận thức baogồm các yếu tố: Dự báo, kiểm nghiệm, thất bại, thích nghi, tri thức mới

Nhân cách của chủ thể được hình thành thông qua sự tương tác của họ với

Trang 16

những người khác và điều này cũng quan trọng như những quy trình nhận thứcmang tính cá nhân của chính họ Kiến tạo xã hội nhìn nhận chủ thể nhận thứctrong mối quan hệ sống động với môi trường, nó không nhấn mạnh một cách côlập tiềm năng tư duy mang tính cá nhân mà nhấn mạnh đến khả năng tiềm ẩn làcon người trong sự đối thoại Tư duy được xem như một phần của hoạt độngmang tính xã hội của các cá nhân

Các nhà kiến tạo xã hội xem việc học là một quá trình xã hội Học tậpkhông phải là quá trình chỉ diễn ra trong đầu óc con người, không phải là một sựphát triển thụ động về các hành vi của con người mà được hình thành bởi tácđộng bên ngoài

Việc học chỉ có ý nghĩa khi các cá nhân bị thu hút vào hoạt động mangtính xã hội

2.3 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học kiến tạo

2.3.1 Vai trò của giáo viên trong dạy học kiến tạo

Trong lớp học kiến tạo giáo viên phải tìm kiếm sự hiểu biết, những kiếnthức, những kĩ năng, những quan niệm (kinh nghiệm) của học sinh, tinh lọc vàsắp xếp lại những hiểu biết này theo trật tự của những mâu thuẫn Chú ý tới cái

mà học sinh nói, nghĩ và đánh giá các ý tưởng của họ Giáo viên đưa ra nhữngcâu hỏi động viên, nghiên cứu và tranh luận với học sinh, tìm ra những tháchthức đối với những khái niệm mới Giáo viên phải nhạy cảm, tìm hiểu nhữngcâu hỏi của học sinh, quan tâm tới những giải thích của họ và động viên họ vềnhững kết luận mà họ đưa ra

Giáo viên có vai trò là người hiểu biết, là người nghe tích cực, là ngườiphối hợp, điều hành làm cho hoạt động của lớp học trở nên nhịp nhàng Trongkhi nghe một học sinh trình bày, giáo viên phải phân tích để điều chỉnh chiếnlược tổ chức hoạt động của lớp học

Bruner cũng đưa ra ba định hướng của giáo viên trong dạy học kiến tạonhư sau:

+ Định hướng của giáo viên phải quan tâm tới sự từng trải của học sinh vànhững bối cảnh dạy học phải làm cho học sinh sẵn sàng học, mong muốn đượchọc

+ Định hướng của giáo viên phải có cấu trúc để học sinh có thể dễ dàngnắm bắt kiến thức (tổ chức kiểu xoắn ốc)

+ Định hướng của giáo viên cần phải làm cho phép suy luận được dễ dànghơn

Theo lý thuyết của Vygotsky về vùng phát triển gần nhất (ZPD), để ZPDthành công cần có hai đặc trưng Đặc trưng thứ nhất liên quan đến yếu tố chủquan của bản thân học sinh, còn được gọi là đặc trưng mang tính chủ thể Đặctrưng thứ hai là sự hỗ trợ mang tính khách quan tức là sự nâng đỡ vừa sức, “làquá trình trong đó giáo viên hoặc bạn học có khả năng tốt hơn hỗ trợ người họctrong ZPD khi cần và ngừng sự hỗ trợ khi không cần thiết, giống như một giàn

Trang 17

giáo được bỏ dần khỏi tòa nhà trong quá trình xây dựng” Như vậy, sự nâng đỡvừa sức tạo ra những bậc thang để học sinh leo lên dần tới đích, đây là yếu tốquan trọng trong việc giúp học sinh chuyển từ “trình độ hiện tại” sang “vùngphát triển gần nhất” Sự nâng đỡ vừa sức này có thể điều chỉnh phù hợp với khảnăng thực hiện nhiệm vụ của người học Nâng đỡ vừa sức có thể thực hiện dướinhiều cách thức, hoạt động khác nhau Căn cứ trên cơ sở kiến thức hiện có củahọc sinh, giáo viên có thể giúp đỡ, hỗ trợ khi cần thiết thông qua giải thích, minhhọa, đặt ra hệ thống câu hỏi, yêu cầu nhiệm vụ cần thực hiện Để đạt được mụcđích nâng đỡ vừa sức với học sinh, giáo viên cần đảm nhiệm các vai trò sau:Người làm mẫu, người hỗ trợ, người gợi ý, người tạo động lực, người nghe phêphán và cung cấp các thông tin phản hồi…

Từ các quan điểm trên, chúng tôi thấy rằng trong dạy học kiến tạo giáoviên cần phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

+ Dùng các dữ liệu thô và nguyên gốc cùng với các vật liệu có sự lôi cuốn

và tương tác

+ Sử dụng các thuật ngữ nhận thức như: Phân loại, phân tích, dự đoán vàsáng tạo trong xây dựng khung bài học

+ Khuyến khích và chấp nhận tính độc lập, sáng tạo của học sinh

+ Theo đuổi các câu trả lời của học sinh để dẫn dắt bài học, dịch chuyểnchiến lược giảng dạy và điều chỉnh nội dung

+ Điều tra, tìm hiểu những sự hiểu biết của học sinh về một vấn đề trướckhi chia sẻ sự hiểu biết của giáo viên về vấn đề đó

+ Khuyến khích học sinh đi tới những thỏa thuận trong trao đổi với giáoviên và bạn học

+ Đòi hỏi học sinh phát vấn, suy nghĩ sâu về bài học, sử dụng những câuhỏi mở và khuyến khích học sinh hỏi lẫn nhau

+ Tìm cho được một bộ khung được dựng lên từ những ý tưởng ban đầucủa học sinh

+ Kích hoạt, dàn xếp bằng các kinh nghiệm mà kinh nghiệm đó có thể gây

ra mâu thuẫn với giả thiết ban đầu của học sinh, sau đó khuyến khích học sinhthảo luận

+ Cung cấp thời gian chờ đợi hợp lý sau khi đặt câu hỏi cho học sinh.+ Cung cấp thời gian cho học sinh để họ liên kết các kiến thức, tạo trithức mới

2.3.2 Vai trò của học sinh trong dạy học kiến tạo

Trong lớp học kiến tạo người học có vai trò trung tâm Người học mangnhững ý tưởng, kiến thức, kĩ năng vốn có của họ tới lớp học Người học tíchcực, chủ động bộc lộ những ý tưởng, những quan niệm, thực hiện những thao tác

tư duy và thao tác vật chất để đồng hóa kiến thức, thảo luận với bạn học, thamkhảo ý kiến giáo viên, chấp nhận thay đổi (điều ứng), từ đó xây dựng kiến thức

Trang 18

mới cho bản thân Trong lớp học kiến tạo kinh nghiệm cá nhân của người họcthực sự có ý nghĩa và cần được tôn trọng Do vậy học sinh cần tuân theo cácnguyên tắc sau đây:

+ Học sinh cần có nhiều ý tưởng mà ý tưởng này có thể rất khác với trithức khoa học Chẳng hạn, trước khi học khái niệm số đo góc, học sinh có ýtưởng góc ứng với tam giác đều có cạnh lớn hơn thì góc đó lớn hơn; độ dài củacung chứa góc lớn hơn thì số đo của cung đó lớn hơn điều này chỉ đúng khi cáccung đó nằm trên một đường tròn

+ Người học có nhu cầu và khao khát muốn bộc lộ ý tưởng của mình.+ Người học cần được quan sát những gì họ đang tìm hiểu Chẳng hạn,khi học sinh học về khái niệm đối xứng tâm, giáo viên cho học sinh quan sát cáchình sau đây:

+ Người học cần sự trợ giúp từ phía bạn học hoặc giáo viên

+ Người học cần được biết họ học gì và vì sao phải học cái đó

+ Người học tự quyết định niềm tin của họ Chẳng hạn, sau khi biết cáchtính chu vi tam giác, tứ giác, học sinh có niềm tin về việc có thể đo được chu vicủa đường tròn hay không?

Sau đây chúng tôi tổng kết lại bằng một bảng so sánh giữa lớp học kiến tạo và lớp học truyền thống.

Lớp học truyền thống Lớp học kiến tạo

Học sinh chủ yếu làm việc một mình Học sinh thường làm việc theo nhómChương trình giảng dạy được trình

bày từ thành phần đến toàn bộ trong

đó nhấn mạnh đến kĩ năng cơ bản (từ

dưới lên)

Chương trình giảng dạy được trìnhbày từ toàn bộ đến thành phần với sựnhấn mạnh vào khái niệm lớn (từ trênxuống)

Tuân thủ nghiêm ngặt một chương

trình giảng dạy cố định đã được đánh

giá cao

Theo đuổi các câu hỏi được đánh giácao của học sinh

Hoạt động ngoại khóa chủ yếu dựa

vào dữ liệu sách giáo khoa

Hoạt động ngoại khóa dựa vào nguồn

dữ liệuHọc sinh được xem như “tờ giấy

trắng” để giáo viên vẽ lên đó

Học sinh được xem như là một “nhà

tư tưởng” có những nhận thức mới về

Ngày đăng: 10/07/2019, 09:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1]. Trần Kiều (chủ biên) (1997), Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS, Viện chiến lược khoa học Giáo dục Khác
2]. Nguyễn Bá Kim (chủ biên), Bùi Huy Ngọc (2007), Phương pháp dạy học đại cương môn Toán, NXB ĐHSP Hà Nội Khác
3]. Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy, Phạm Văn Kiều (1997), Phát triển lí luận dạy học môn toán, NXBGD Khác
4]. Đào Tam (chủ biên), Trần Trung (2010), Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học môn toán, NXB ĐHSP Khác
5]. Đỗ Đức Thái (chủ biên), Đôc Tiến Đạt, Phạm Xuân Chung (2018), Dạy học phát triển năng lực môn toán, NXB ĐHSP Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w