1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ)

96 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng NamQuy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng NamQuy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng NamQuy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng NamQuy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng NamQuy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng NamQuy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng NamQuy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng NamQuy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng NamQuy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng NamQuy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng NamQuy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THANH BÌNH

QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THEO PHÁP LUẬT

VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THANH BÌNH

QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THEO PHÁP LUẬT

VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám đốc, các khoa, phòng và quý thầy, quý cô của Học viện Khoa học Xã hội, những người đã tận tình và tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến thầy PGS.TS Phạm Hữu Nghị, người

đã trực tiếp hướng dẫn luận văn cho tôi với tất cả lòng nhiệt tình và sự quan tâm Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức các phòng của Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam, Sở Tài nguyên

và Môi trường Quảng Nam, các bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ, tạo điều kiện, giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy,

cô và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Phạm Thanh Bình

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế về: “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam” là hoàn toàn trung thực và không trùng lắp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này!

Tác giả luận văn

Phạm Thanh Bình

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 7

1.1 Những vấn đề lý luận về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 7

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 16

1.3 Các yếu tố chi phối pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 22

1.4 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Việt Nam 23

1.5 Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và gợi mở cho Việt Nam 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH QUẢNG NAM 31

2.1 Thực trạng pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 31

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại tỉnh Quảng Nam 44

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM 63

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 63

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 66

3.3 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại tỉnh Quảng Nam 74

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HĐND : Hội đồng nhân dân

KH KHSDĐ

: Quy hoạch sử dụng đất : Kế hoạch sử dụng đất NSNN : Ngân sách nhà nước

QH QHSDĐ

: Quy hoạch : Kế hoạch

QH, KHSDĐ : Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất SDĐ : Sử dụng đất

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, tài sản thiêng liêng của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, có vai trò quan trọng góp phần vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Ngày nay, khi quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh chóng, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu; đồng thời, với áp lực tạo

ra nguồn thu cho NSNN, nhu cầu SDĐ để ở, xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng tăng làm cho đất đai dần suy thoái, khan hiếm, mất cân đối về cơ cấu các loại đất, ảnh hưởng đến an ninh lương thực, bất ổn về chính trị, xã hội Trước tình trạng đó, vấn

đề đặt ra là phải tạo sự hài hòa trong quan hệ đất đai, đây là giải pháp quan trọng góp phần bình ổn các mối quan hệ xã hội, muốn làm được như vậy thì cần đề ra các biện pháp quản lý, phân bổ, sử dụng tài nguyên đất một cách chặt chẽ, phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo đất đai được sử dụng tiết kiệm, hợp lý, vừa phục vụ lợi ích trước mắt, nhưng cũng đảm bảo hiệu quả sử dụng lâu dài; trong đó, biện pháp quan trọng nhất là quản lý, SDĐ một cách có QH, KH

Công tác QH, KHSDĐ được Nhà nước ta chính thức quy định trong Luật Đất đai 1987, đến nay qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm tạo hành lang pháp lý để điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến đất đai Bên cạnh kết quả đạt được, công tác QH, KHSDĐ vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định, như: QHSDĐ chồng chéo, chưa phù hợp với QH tổng thể, QH của các ngành khác; chất lượng

chưa đáp ứng yêu cầu, mang tính hình thức và chưa theo kịp so với tình hình SDĐ;

dự báo thiếu tầm nhìn chiến lược dài hạn, phải điều chỉnh nhiều lần, QH thường đi sau thực tiễn, tình trạng QH “treo” vẫn diễn ra phổ biến [22, tr.02]; tiến độ lập, phê duyệt và thực hiện KHSDĐ hằng năm của cấp huyện còn chậm, tính khả thi không cao Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do pháp luật QH, KHSDĐ chưa quy định cụ thể, thiếu nhất quán, chưa khoa học; kỷ cương, kỷ luật trong khâu lập, phê duyệt, tổ chức thực hiện và quản lý QH, KHSDĐ chưa nghiêm; sự buông lỏng quản lý, nôn nóng chạy theo lợi ích kinh tế ở một số địa phương làm rối loạn tình hình SDĐ để lại nhiều hệ lụy về môi trường, bất ổn xã hội

Trang 8

Để có được phương án QH, KHSDĐ phù hợp với tình hình thực tế, khả thi thì quá trình lập, phê duyệt, tổ chức thực hiện và quản lý QH, KHSDĐ phải được thực hiện chặt chẽ, khoa học, công khai, minh bạch, có như vậy Nhà nước mới đảm bảo vai trò quản lý thống nhất, lựa chọn được phương án SDĐ đạt hiệu quả tối ưu, tiếp tục khẳng định quyền định đoạt về đất đai, giải quyết hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, nhân dân và nhà đầu tư, đảm bảo các quan hệ đất đai vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước

Tỉnh Quảng Nam là địa phương nằm trong vùng trọng điểm về phát triển kinh

tế, văn hóa, du lịch của khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư thông thoáng nên những năm gần đây tình hình kinh tế - xã hội của Quảng Nam có những chuyển biến tích cực, đời sống của người dân ngày được nâng lên, cơ sở hạ tầng được đầu

tư đáng kể Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, như: nạn ô nhiễm môi trường, phá rừng, khai thác khoáng sản trái phép, đặc biệt nỗi cộm là những vấn đề tiêu cực liên quan đến quản lý, SDĐ

Việc nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống và toàn diện các quy định của pháp luật về QH, KHSDĐ trên phương diện cả về lý luận lẫn thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam tham chiếu với Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013, Luật Quy hoạch

2017, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch số 35/2018/QH14 (Luật Sửa đổi) và các quy định khác có liên quan là cần thiết, nhằm nêu lên những kết quả đạt được, những tồn tại, bất cập và nguyên nhân; đồng thời, đưa ra những giải pháp, kiến nghị để tháo gỡ, góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao nhận thức pháp luật về lĩnh vực đất đai nói chung và công tác

QH, KHSDĐ nói riêng Với những lý do cơ bản nêu trên, học viên lựa chọn đề tài:

“Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

QH, KHSDĐ có tầm ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng, do vậy, vấn đề này luôn được sự quan tâm của toàn xã hội, thu hút nhiều học giả, chuyên

Trang 9

gia nghiên cứu ở nhiều khía cạnh Thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, bài báo nghiên cứu về vấn đề này được công bố

mà tiêu biểu phải kể đến như là:

- PGS TS Phạm Hữu Nghị, “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10/2008

- TS Nguyễn Đình Bồng, “Công tác quy hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trong quản lý nhà nước về đất đai”, tham

luận hội thảo, Hà Nội, 2012

- Nguyễn Thảo, “Kinh nghiệm về quy hoạch sử dụng đất của một số nước trên thế giới”, 2013

- Lê Thị Phúc, “Pháp luật về quy hoạch kế hoạch sử dụng đất tại Việt Nam”,

Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008

- ThS Lê Thị Phúc, “Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất qua thực tiễn tại Thừa Thiên Huế”, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,

2014

- Nguyễn Thị Phương Thảo, “Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

từ thực tiễn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”, Luận văn thạc sĩ, Khoa luật, Học viện

khoa học xã hội, 2016

Mỗi công trình nghiên cứu nêu trên đã có sự nhìn nhận pháp luật về QH, KHSDĐ ở những góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung chủ yếu tập trung đánh giá khái quát về thực trạng, đề cập một số vấn đề khó khăn, bất cập dựa trên cơ sở Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai 2013, từ đó đề ra giải pháp khắc phục Trên cơ sở kế thừa các nội dung nghiên cứu của các công trình khoa học nói trên; đồng thời, qua kết quả giám sát chuyên đề của Thường trực HĐND tỉnh Quảng Nam về chấp hành pháp luật lập, tổ chức thực hiện và quản lý QH, KHSDĐ một số dự án quy mô lớn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2015 – 2017 và các báo cáo của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh, luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu thực trạng chấp hành pháp luật lập, phê duyệt, tổ chức thực hiện; công tác quản lý, giám sát

QH, KHSDĐ tại tỉnh Quảng Nam một cách có hệ thống, toàn diện và đề xuất giải

Trang 10

quyết những vấn đề đang tồn tại dưới khía cạnh lý luận và thực tiễn đặt trong sự tham chiếu với Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013, Luật Quy hoạch, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch số 35/2018/QH14

và các văn bản hướng dẫn liên quan

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật QH, KHSDĐ, từ đó, đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về QH, KHSDĐ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn được xác định cụ thể như sau:

Một là, nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận về QH, KHSDĐ;

Hai là, nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý luận pháp luật về QH, KHSDĐ;

Ba là, nghiên cứu, phân tích có hệ thống các quy định pháp luật hiện hành về

QH, KHSDĐ

Bốn là, nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về QH, KHSDĐ tại tỉnh

Quảng Nam Qua đó, đánh giá ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân

Năm là, đề xuất định hướng và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật

về QH, KHSDĐ và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật vê QH, KHSDĐ từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Hệ thống lý thuyết, trường phái học thuật về QH, KHSDĐ

- Các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về xây dựng, hoàn thiện pháp luật đất đai nói chung và công tác QH, KHSDĐ nói riêng

Trang 11

- Các quy định của Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013, Luật Quy hoạch, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch số 35/2018/QH14 và các văn bản hướng dẫn về QH, KHSDĐ

- Quy định của tỉnh Quảng Nam về tổ chức thực hiện pháp luật QH, KHSDĐ

- Thực tiễn thi hành pháp luật về QH, KHSDĐ tại tỉnh Quảng Nam

37 luật có liên quan đến quy hoạch số 35/2018/QH14, trong đó sửa đổi, bổ sung

một số điều phần QH, KHSDĐ trong Luật Đất đai năm 2013 (Luật Quy hoạch, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch số 35/2018/QH14 đều có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019) và các văn bản hướng

dẫn thi hành

- Nghiên cứu các quy định của UBND tỉnh Quảng Nam về tổ chức thực hiện

QH, KHSDĐ

- Tìm hiểu thực tiễn thực hiện pháp luật về QH, KHSDĐ tại tỉnh Quảng Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về QH, KHSDĐ 5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử tại Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về QH, KHSDĐ và pháp luật về QH, KHSDĐ

- Phương pháp phân tích, thống kê, điều tra, tổng hợp, so sánh, đánh giá tại Chương 2 khi nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật QH, KHSDĐ tại tỉnh Quảng Nam

Trang 12

- Phương pháp tổng hợp, đối chiếu, bình luận, quy nạp, diễn giải tại Chương 3 khi nghiên cứu, đề xuất định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật; bảo đảm thực hiện pháp luật về QH, KHSDĐ tại tỉnh Quảng Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về QH, KHSDĐ và nhận định về tình hình thực hiện pháp luật QH, KHSDĐ tại tỉnh Quảng Nam, tác giả hy vọng luận văn sẽ góp phần tạo nên một cách nhìn toàn diện, sâu rộng và khoa học về hệ thống lý luận của pháp luật và thực trạng thực hiện QH, KHSDĐ hiện nay tại tỉnh Quảng Nam, qua đó tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật

và đảm bảo thực hiện có hiệu quả công tác QH, KHSDĐ trong thực tiễn thời gian đến

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nội dung nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu cho các tổ chức, cá nhân, cán bộ, công chức và người dân tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy, học tập những vấn đề liên quan đến pháp luật QH, KHSDĐ; đặc biệt, làm cơ sở để các nhà lập pháp, các vị đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp xem xét kiến nghị với cơ quan quản

lý nhà nước sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế trong công tác

QH, KHSDĐ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, lời cam đoan, danh mục từ viết tắt, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:

- Chương 1 Những vấn đề lý luận về QH, KHSDĐ và pháp luật về QH, KHSDĐ

- Chương 2 Thực trạng pháp luật về QH, KHSDĐ và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Nam

- Chương 3 Định hướng, giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật

QH, KHSDĐ từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

1.1 Những vấn đề lý luận về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về quy hoạch sử dụng đất

Về thuật ngữ khoa học “Quy hoạch”, theo GS Nguyễn Lan QH là “sự trù tính một cách cụ thể công việc sẽ tiến hành để đạt kết quả tốt nhất” [18, tr.77] Theo

Nguyễn Đình Bồng (2006) QH là “việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như: phân bổ, bố trí, sắp xếp, tổ chức ” Ngoài ra, QH còn được hiểu

“sự bố trí sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian, làm cơ sở cho việc lập KH dài hạn” [25, tr.54].

Đất đai là “một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật ) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác” [43]

Khi nghiên cứu về QHSDĐ có khá nhiều cách nhìn nhận khác nhau:

Theo cách hiểu của Dent (1988; 1993) QHSDĐ là “phương tiện giúp cho lãnh đạo quyết định SDĐ đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn mẫu hình trong SDĐ đai, mà trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho SDĐ đai” [24, tr.37].

Định nghĩa của Fresco và ctv., (1992), QHSDĐ như là dạng hình của QH vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu, và những cơ hội về môi trường, xã hội và những vấn đề hạn chế khác [24, tr.39].

Trang 14

Trong phương pháp tổng hợp và người sử dụng đất đai là trung tâm (UNCED,

1992; trong FAO, 1993) định nghĩa: “QHSDĐ là một tiến trình xây dựng những quyết định để đưa đến những hành động trong việc phân chia đất đai cho sử dụng

để cung cấp những cái có lợi bền vững nhất (FAO, 1995)” [24].

Từ các nghiên cứu của (FAO, 1976), (Van Diepen và ctv., 1988), QHSDĐ là

“sự đánh giá tiềm năng đất nước có hệ thống, tính thay đổi trong SDĐ đai và những điều kiện kinh tế xã hội để chọn lọc và thực hiện các sự chọn lựa SDĐ đai tốt nhất Đồng thời QHSDĐ đai cũng là chọn lọc và đưa vào thực hành những SDĐ đai đó mà nó phải phù hợp với yêu cầu cần thiết của con người về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai” [44].

Luật Đất đai 2013 đưa ra khái niệm: “QH là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu SDĐ của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định”

QHSDĐ có thể hiểu dưới nhiều góc độ với quan điểm khác nhau, song gần như đều thống nhất QHSDĐ có ý nghĩa rất quan trọng, liên quan hầu hết đến các mặt đời sống, xã hội, là hệ thống các giải pháp vừa mang tính pháp lý - kinh tế - kỹ thuật nhằm quản lý, sử dụng tài nguyên đất đai bền vững, hợp lý, tiết kiệm, mang lại lợi ích cao nhất không chỉ cho hiện tại mà cả trong tương lai

Qua các khái niệm nêu trên có thể rút ra một số đặc điểm về QHSDĐ như sau:

Thứ nhất, QHSDĐ là một hiện tượng kinh tế - xã hội Mỗi hình thái kinh tế -

xã hội đều có một phương thức sản xuất thể hiện ở hai mặt là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong QHSDĐ luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai, giữa người với người, các giai đoạn phát triển của QHSDĐ phù hợp với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, nội dung của các phương pháp QHSDĐ vì thế cũng luôn phát triển, biến đổi và hoàn thiện để phù hợp với sự biến đổi của các nhiệm vụ kinh tế, chính trị trong từng giai đoạn [26, tr.41].

Trang 15

Thứ hai, QHSDĐ mang tính tổng thể được thể hiện ở sự tổng hòa của nhiều

ngành, nhiều lĩnh vực, đối tượng thực hiện là việc khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ tài nguyên, đồng thời còn đề cập đến nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp [23, tr.02] Ngoài ra, QHSDĐ còn xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân bổ SDĐ phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội, đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, ổn định Như vậy, QHSDĐ phải hội tụ được cả ba yếu tố: xác định triển vọng, mục tiêu và phương hướng phát triển cả trước mắt lẫn lâu dài; xác định không gian SDĐ; cân đối quỹ đất giữa nhu cầu sử dụng với mục tiêu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quốc phòng – an ninh [27, tr.26].

Thứ ba, QHSDĐ được xây dựng gắn liền với các chính sách phát triển vĩ mô

trong một thời kỳ nhất định như chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, vì vậy QHSDĐ phải hướng tới việc định hướng cho sự phát triển bền vững, ổn định, lâu dài, đảm bảo phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên cơ sở khoa học, phù hợp thực tiễn nhằm đáp ứng quản lý đất đai một cách có hệ thống, phục vụ nhu cầu SDĐ lâu dài

Thứ tư, với đặc tính trung và dài hạn, QHSDĐ chỉ dự kiến trước được các xu

thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bổ nhu cầu SDĐ mang tính tổng thể, không dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi [10, tr.21], vì vậy, QHSDĐ có tính chiến lược, chỉ đạo ở tầm vĩ mô QHSDĐ chỉ ra phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc SDĐ trong vùng, cân đối tổng quát nhu cầu SDĐ của các ngành, điều chỉnh cơ cấu SDĐ và phân bổ đất đai từng vùng, khu vực

1.1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của kế hoạch sử dụng đất

Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2009, Nxb Đà Nẵng thì KH là: “toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệ thống và cụ thể về cách thức, trình tự thời hạn tiến hành những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định, với mục tiêu nhất định” [32].

Trang 16

Khái quát hơn, có thể hiểu KH là toàn bộ những hoạt động, công việc được thể hiện cụ thể về nội dung, hình thức, cách thức, trình tự, nguồn lực, thời gian thực hiện những công việc dự định làm nhằm đạt được một mục tiêu, chỉ tiêu đề ra

Luật Đất đai 2013 định nghĩa như sau: “KHSDĐ là việc phân chia QHSDĐ theo thời gian để thực hiện trong kỳ QHSDĐ”

Như vậy, KHSDĐ là khâu thực hiện hóa chi tiết các nội dung của QHSDĐ, căn cứ vào nội dung tổng quát của QHSDĐ, KHSDĐ sẽ xác định các biện pháp, lộ trình, cách thức, thời gian tổ chức thực hiện SDĐ Như vậy, QHSDĐ bao giờ cũng gắn liền với KHSDĐ [33, tr.112]

Từ khái niệm này, KHSDĐ có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, KHSDĐ thể hiện rõ đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây

dựng phương án lập KHSDĐ phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai theo quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ốn định KH kinh tế - xã hội

Thứ hai, KHSDĐ là quá trình tổ chức thực hiện các biện pháp kinh tế, kỹ thuật

và pháp chế của QHSDĐ một cách chi tiết, cụ thể, nghĩa là căn cứ nội dung tổng thể của QHSDĐ, KHSDĐ sẽ triển khai, thực hiện trong từng vùng, ngành ở các cấp từ trung ương đến địa phương, vì lẽ đó nên KHSDĐ có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn, là cơ sở để thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất gắn với nhu cầu SDĐ của các ngành, lĩnh vực, của các cấp

Thứ ba, việc lập KHSDĐ được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định

nhằm đảm bảo tính chi tiết, thể hiện sự định hướng sử dụng đất để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và ổn định chính trị, đồng thời là công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý toàn bộ đất đai theo quy định của pháp luật

1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Thứ nhất, QH, KHSDĐ là công cụ pháp lý khẳng định đất đai thuộc sở hữu

toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý

Trang 17

Sau khi QH, KHSDĐ được cấp có thẩm quyền xét duyệt, quyết định và có hiệu lực thi hành thì mọi hoạt động của cơ quan thực hiện thủ tục đất đai và người SDĐ đều phải tuân thủ và không trái với QH, KHSDĐ được duyệt, đây là giải pháp

để đất đai được quản lý thống nhất, tránh tình trạng mỗi nơi làm mỗi kiểu, đi ngược lợi ích chung, phá vỡ QH chung của mỗi địa phương, quốc gia Quá trình xây dựng,

tổ chức thực hiện QH, KHSDĐ là quá trình huy động lực lượng xã hội vào sự nghiệp công cộng theo phương thức dân chủ nên đó cũng là quá trình xây dựng và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, vì vậy nó vừa là phương thức để phát triển, vừa là công cụ để xây dựng và củng cố bộ máy Nhà nước

Thứ hai, Nhà nước cơ cấu lại quỹ đất thông qua QH, KHSDĐ

Thông qua quyền định đoạt đối với đất đai, Nhà nước sử dụng công cụ QH, KHSDĐ để cơ cấu, điều phối lại quỹ đất sao cho phù hợp với tình hình thực tế, phát huy tối đa các tiềm năng của đất đai, tạo nguồn lực về vốn phục vụ cho các mục tiêu phát triển, bảo đảm quốc phòng – an ninh và cải thiện môi trường; đồng thời, bảo vệ hợp lý quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nhất là diện tích đất trồng lúa nước có năng suất cao, chủ động nguồn nước tưới, diện tích đất có rừng xung yếu

Thứ ba, QH, KHSDĐ giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế

với ổn định xã hội, bảo vệ môi trường

Phát triển bền vững là sự kết hợp hài hòa giữa ba yếu tố đó là phát triển kinh

tế, ổn định xã hội đi liền với bảo vệ môi trường sinh thái, nghĩa là phải đạt được sự đầy đủ về mọi mặt, đáp ứng nhu cầu về vật chất, sự giàu có về tinh thần, bình đẳng

và sự đồng thuận của xã hội, môi trường sống được trong lành Để gắn kết ba nền tảng này thì QH, KHSDĐ là giải pháp hữu hiệu, bởi nó sẽ lựa chọn phương án tối

ưu và ưu tiên những hoạt động phát triển kinh tế chất lượng cao, góp phần nâng cao chất lượng xã hội nhưng không làm ảnh hưởng đến môi trường

Thứ tư, QH, KHSDĐ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững

Xét về góc độ kinh tế, QH, KHSDĐ sau khi được phê duyệt sẽ làm tăng thêm giá trị của đất bởi việc chuyển mục đích sự dụng từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, kích thích thị trường bất động sản phát triển mạnh mẽ [22, tr.12] ;

Trang 18

thông qua sự tác động này sẽ kích thích nền kinh tế tăng trưởng, thu hút đầu tư vào bất động sản như dự án phát triển khu đô thị, khu phố chợ, trung tâm thương mại,

du lịch và dịch vụ

Thứ năm, QH, KHSDĐ góp phần nâng cao giá trị cuộc sống cho cộng đồng

Thực tế cho thấy, những nơi xây dựng và thực hiện QH, KHSDĐ bài bản, khoa học, hợp lý thì giá trị cuộc sống của người dân sẽ được nâng lên, bộ mặt cảnh quan tại các khu dân cư không còn cảnh nhếch nhác, xóa bỏ khu “ổ chuột” tạm bợ;

hệ thống cơ sở hạ tầng, đường giao thông thông thoáng, hiện đại; đi kèm với đó là

sự phát triển của các tổ hợp khu vui chơi, giải trí, mua sắm và cơ sở chăm sóc, điều trị sức khỏe đáp ứng nhu cầu an sinh xã hội cho nhân dân

Tóm lại, làm tốt công tác QH, KHSDĐ sẽ phát huy tiềm năng vốn có của đất đai, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh, chuyển đổi cơ cấu lao động thông qua chuyển đổi cơ cấu SDĐ, tạo việc làm mới, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân [5, tr.14].

1.1.3 Yêu cầu đặt ra đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Một là, QH, KHSDĐ phải là công cụ gắn kết giữa lợi ích kinh tế, lợi ích bảo

vệ môi trường với đảm bảo an sinh xã hội Khi khoanh định các diện tích đất cho phát triển công nghiệp, du lịch, thương mại, nông nghiệp phải cân đối các nhu cầu

và lồng ghép các yếu tố bảo vệ môi trường, hạn chế lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm đảm bảo sự công bằng trong quan hệ đất đai QH, KHSDĐ là kiểm soát việc SDĐ,

là ý đồ SDĐ dựa trên các tính toán, cơ sở khoa học, vì vậy, trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện phải luôn luôn đảm bảo nguyên tắt phát triển bền vững

[27, tr.36]

Hai là, QH, KHSDĐ phải được xây dựng và thực hiện dựa trên QH tổng thể

phát triển kinh tế - xã hội, bởi vì QH tổng thể được quan niệm là QH chung cho mọi ngành kinh tế, mọi lĩnh vực xã hội [34, tr.03] QHSDĐ phải được xây dựng thống nhất không được chồng chéo mâu thuẫn với các QH khác và phải được xây dựng, thực hiện đồng bộ trong hệ thống các cấp QH từ QH tổng thể mang tính vĩ mô đến

Trang 19

QH chi tiết cấp cơ sở; QH cấp dưới phải thống nhất với QH cấp trên, QH cấp trên được xây dựng từ nhu cầu SDĐ của cấp dưới

Ba là, khi lựa chọn phương án QH, KHSDĐ nhất thiết phải quan tâm đến các

yếu tố mang tính đặc thù của mỗi địa phương, vùng miền, nghiên cứu đến tính chất đất đai như không gian, tính chất thảm thực vật tự nhiên, điều kiện thủy văn, tính thỗ nhưỡng, tính chất phân dị lãnh thổ [31, tr.41]; đồng thời, phải dựa vào điều kiện

về văn hóa – xã hội mang tính đặc thù như phong tục, tập quán, truyền thống đạo đức, tâm linh Các yếu tố này thể hiện các nhu cầu SDĐ khác nhau, nếu bỏ qua chúng trong hoạch định phương án SDĐ sẽ không đạt được mục tiêu, không phát huy được vai trò của đất đai, gây lãng phí trong công tác QH [27, tr.38]

Bốn là, Đặc điểm của QHSDĐ là mang tính chiến lược, dự báo, chỉ đạo vĩ mô

và ổn định lâu dài, trong quá trình triển khai, thực hiện QH chúng ta cần phải tiên liệu được những thay đổi trong các quan hệ kinh tế - xã hội để lựa chọn chiến lược SDĐ phù hợp, tôn trọng tính ổn định, hạn chế việc điều chỉnh một cách tùy tiện chạy theo lợi ích hiện tại, trước mắt mà ảnh hưởng đến cục diện chung

1.1.4 Mối quan hệ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với các loại quy hoạch, kế hoạch khác

Hiện nay, hệ thống QH ở Việt Nam có thể phân thành các nhóm lớn đó là QH tổng thể phát triển kinh tế – xã hội; QH phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm; QH thuộc lĩnh vực xây dựng; QH thuộc lĩnh vực tài nguyên môi trường

1.1.4.1 Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với kế hoạch sử dụng đất Thứ nhất, QHSDĐ và KHSDĐ tạo thành một thể thống nhất không thể tách

rời trong quản lý Nhà nước về đất đai, giữa chúng có mối liên hệ gắn bó mật thiết,

hỗ trợ lẫn nhau để trở thành công cụ hữu hiệu giúp Nhà nước quản lý, giám sát việc SDĐ hiệu quả, tiết kiệm

Thứ hai, nội dung QHSDĐ được tính toán, xây dựng trước rồi đến KHSDĐ

Việc xây dựng KH phải căn cứ vào QH, phải coi QH là cơ sở quan trọng trong toàn

bộ các khâu thực hiện của KH Nội dung QH được xây dựng có cơ sở khoa học,

Trang 20

định hướng bao quát, khoanh định rõ ràng bao nhiêu thì KH càng có điều kiện để thực hiện hiệu quả bấy nhiêu

Thứ ba, giữa QHSDĐ với KHSDĐ có mối liên hệ nhân quả với nhau, nếu

không có QHSDĐ thì KHSDĐ không có căn cứ để thực hiện, việc xây dựng QH phải dự tính được việc thực hiện của KH, ngược lại kết quả thực hiện KHSDĐ là cơ

sở để nhìn nhận, đánh giá quá trình xây dựng QHSDĐ như thế nào

Như vậy, QHSDĐ và KHSDĐ là các công cụ quan trọng không thể thiếu trong quá trình quản lý đất đai của Nhà nước, QHSDĐ phải mang tầm chiến lược, bao quát, dự báo được tình hình SDĐ trong tương lai và KHSDĐ phải bám sát QH, thiết

kế nội dung cụ thể, chi tiết, phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng, lãnh thỗ, địa phương

1.1.4.2 Mối quan hệ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

QH tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là một trong những tiền đề cung cấp căn cứ khoa học để xây dựng KH phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm những thành phần QH chủ yếu: QH phát triển xã hội; SDĐ; phát triển đô thị; phát triển công nghiệp, nông nghiệp; sử dụng tài nguyên nước; giao thông, vận tải; thương mại, dịch vụ [35, tr.51] Như vậy, QHSDĐ là một bộ phận trong QH phát triển kinh tế

- xã hội, trong đó đề cập đến dự kiến SDĐ ở mức độ phương hướng và một số nhiệm vụ chủ yếu Ngoài ra, giữa QHSDĐ và QH phát triển kinh tế - xã hội cũng có những điểm khác nhau cơ bản đó là:

Thứ nhất, đối tượng điều chỉnh của QH tổng thể phát triển kinh tế – xã hội

rộng hơn nhiều so với đối tượng của QHSDĐ Nhiệm vụ chủ yếu của QHSDĐ là xác định cơ cấu và phương hướng SDĐ, xây dựng phương án QH phân phối SDĐ đai thống nhất và hợp lý Còn đối tượng của QH tổng thể phát triển kinh tế – xã hội

là các vấn đề về kinh tế - xã hội, định hướng phát triển kinh tế - xã hội trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh , trong đó tài nguyên đất chỉ là một đối tượng được QH này tác động

Trang 21

Thứ hai, nội dung của QHSDĐ chi tiết, cụ thể hơn và hẹp hơn so với nội dung

của QH tổng thể phát triển kinh tế – xã hội QHSDĐ đưa ra các giải pháp, các KHSDĐ một cách cụ thể, hiệu quả; phân bổ và sử dụng các tài nguyên đất theo chính sách của đất nước, vùng hoặc địa phương Trong khi đó, nội dung của QH tổng thể phát triển kinh tế – xã hội chỉ mang tính định hướng cho sự phát triển kinh

tế - xã hội, đưa ra các chính sách, đường lối trên mọi mặt của xã hội để phát triển toàn diện đất nước, vùng hoặc địa phương nào đó

Thứ ba, về thời gian của kỳ QH QH tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lập

cho thời kì 10 năm, có tầm nhìn từ 15 đến 20 năm và thể hiện cho từng thời kỳ 5 năm Nó được rà soát, điều chỉnh, bổ sung phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở từng giai đoạn khác nhau Còn kỳ QHSDĐ là 10 năm, điều chỉnh, bổ sung rất hạn chế chỉ trong trường hợp thật cần thiết, cấp bách

Tuy nhiên, giữa chúng còn có sự phụ thuộc, liên quan lẫn nhau: Không chỉ có QHSDĐ mới hướng tới đối tượng là tài nguyên đất mà QH tổng thể phát triển kinh

tế – xã hội cũng hướng đến nguồn tài nguyên đặc biệt này, nó nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo về các yếu tố, điều kiện phát triển, khả năng khai thác, sử dụng hợp lý, có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế – xã hội, trong đó có tài nguyên đất

1.1.4.3 Mối quan hệ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch, kế hoạch của các ngành khác

- Mối quan hệ giữa QH, KHSDĐ với QH, KH phát triển các ngành phi nông nghiệp

QH, KHSDĐ và QH, KH các ngành phi nông nghiệp, bao gồm ngành xây dựng, giao thông, y tế, văn hóa, giáo dục đều căn cứ vào QH tổng thể và KH phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt mục tiêu chung của sự phát triển, cùng có đối tượng chính là đất đai và bố trí SDĐ

Về thời hạn QH: giữa hai loại QH này có thời hạn QH không thống nhất Thời điểm lập QH khác nhau cũng là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn về nội dung giữa hai loại QH trên cùng một địa bàn cụ thể, vì QHSDĐ là định hướng trước cho QH

Trang 22

xây dựng, do đó nếu hai loại QH không cùng thời điểm sẽ mang tính tự phát của

QH xây dựng không theo QHSDĐ Về không gian và các loại hình các cấp QH cũng khác nhau, QHSDĐ được lập theo phạm vi lãnh thổ của các đơn vị hành chính Trong khi đó QH ngành phi nông nghiệp như ngành xây dựng có thể theo hoặc không theo phạm vi lãnh thổ của các đơn vị hành chính

Như vậy, giữa QH, KHSDĐ với QH, KH phát triển các ngành phi nông nghiệp luôn biểu hiện cả những mặt phù hợp có tác động tích cực, hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời biểu hiện cả những mâu thuẫn, bất cập trong quá trình lập, điều chỉnh

QH, thẩm định và phê duyệt QH, nội dung lập QH, tổ chức thực hiện QH nên việc phối hợp giữa hai loại QH này gặp nhiều khó khăn [45].

- Mối quan hệ giữa QH, KHSDĐ với QH, KH phát triển nông nghiệp

QH, KH phát triển nông nghiệp là một trong những căn cứ chủ yếu của QH, KHSDĐ, vì QH nông nghiệp (bao gồm nông, lâm, thủy lợi) chiếm tỷ lệ diện tích đất cao nhất và mang tính đặc thù cao trên lãnh thổ QH, KHSDĐ dự báo yêu cầu SDĐ của các ngành trong nông nghiệp, nhưng chỉ có tác dụng chỉ đạo vĩ mô, khống chế

và điều hòa QH phát triển nông nghiệp Hai loại QH này có mối điều hòa qua lại vô cùng mật thiết và không thể thay thế lẫn nhau QH, KH phát triển nông nghiệp phải phù hợp, thống nhất với QH, KHSDĐ; đặc biệt là việc xác định cơ cấu SDĐ phải đảm bảo chống suy thoái, ô nhiễm đất và bảo vệ môi trường

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội [13].

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Nhà nước đề ra QH, KHSDĐ như là công cụ hữu hiệu để hiện thực hóa nhiệm

vụ quản lý đất đai theo Hiến định, đó là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý

về đất đai Pháp luật về QH, KHSDĐ thể hiện ý chí của Nhà nước về việc quản lý, phân bố đất đai, can thiệp sâu và trực tiếp vào quá trình SDĐ để định hướng theo đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, phù hợp với điều kiện

Trang 23

thực tế ở từng giai đoạn; là quy tắc xử sự bắt buộc điều chỉnh những hành vi trong các quan hệ xã hội liên quan đến quá trình SDĐ của mọi tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và quá trình quản lý đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Pháp luật điều chỉnh hoạt động QH, KHSDĐ ở chỗ: Quy định nội dung, quy trình tổ chức thực hiện; quy định chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cấp chính quyền, ngành chuyên môn liên quan trong xây dựng QH, KHSDĐ; đồng thời, đề ra các biện pháp đảm bảo cho các QH và KH đó được thực thi trong thực tế [33, tr.113].

Như vậy, “Pháp luật QH, KHSDĐ là hệ thống các quy tắc xử sự bắt buộc chung do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ

xã hội phát sinh trong quá trình xây dựng, quản lý và tổ chức thực hiện QH,

KHSDĐ” [27,tr.48].

Từ phân tích trên, pháp luật QH, KHSDĐ có phạm vi điều chỉnh khá rộng, tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, quy định các vấn đề về lập, phê duyệt, tổ chức thực hiện đến quản lý QH, KHSDĐ trên thực tế

Pháp luật QH, KHSDĐ ngoài các đặc điểm mang tính chất quy phạm pháp luật chung thì còn có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, thể hiện tính đa chiều, chứa đựng nhiều yếu tố, trong đó mang đậm

yếu tố kinh tế - xã hội

Nội hàm của QH, KHSDĐ là quy định nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền xây dựng và tổ chức thực hiện việc SDĐ; ngoài ra, pháp luật QH, KHSDĐ còn quy định về yếu tố tác động môi trường, xã hội và kinh tế Khi xây dựng một công trình,

dự án có liên quan đến đất đai, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường thì đều phải lập phương án SDĐ, đánh giá tác động môi trường Pháp luật QH, KHSDĐ cũng luôn tính đến các yếu tố mang tĩnh xã hội như phong tục tập quán, giá trị văn hóa, những hoạt động cộng đồng, đặc biệt còn mang yếu tố kinh tế, bởi vì suy cho cùng tất cả đều nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo cho các hoạt động kinh tế phát triển đúng hướng

Thứ hai, vừa thể hiện yếu tố pháp lý vừa mang tính kỹ thuật

Trang 24

Pháp luật QH, KHSDĐ ngoài mang đặc điểm về tính bắt buộc, tính cưỡng chế, tính bảo đảm thi hành, tính thống nhất, tính giáo dục thì nó còn chứa đựng nhiều yếu tố mang tính kỹ thuật như phải xác định rõ loại đất, thành phần trong đất, thổ nhưỡng, các yếu tố này phải sử dụng đến các thiết bị, thông số kỹ thuật mới có thể ghi nhận, thực hiện được Yếu tố kỹ thuật tạo nên sự khác biệt của pháp luật QH, KHSDĐ so với các chế định khác của pháp luật đất đai như các quy định về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, giải quyết tranh chấp đất đai, thu tiền SDĐ, đấu giá quyền SDĐ, tài chính về đất đai [27, tr.48].

1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Đặc trưng của pháp luật QH, KHSDĐ thể hiện qua những nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu

Nguyên tắc này là kim chỉ nam của mọi hoạt động và biện pháp liên quan đến quản lý và SDĐ, có vai trò quan trọng trong thiết lập QH, KHSDĐ Ngoài mang ý nghĩa về kinh tế, xã hội còn là một vấn đề chính trị quan trọng, vì đất đai đã được xã hội hóa thành sở hữu toàn dân Nhà nước là chủ thể đóng vai trò đại diện toàn dân thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu

Hai là, phân bổ quỹ đất hợp lý giữa các ngành, lĩnh vực

Khi thực hiện phân bổ quỹ đất cho các ngành, lĩnh vực cần đảm bảo nguyên tắc vì lợi ích chung của nền kinh tế quốc dân rồi đến từng ngành, lĩnh vực cụ thể, trong đó ưu tiên cho ngành nông nghiệp, vì nước ta vẫn còn dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính Trong mọi trường hợp, việc chuyển mục đích SDĐ phải phù hợp với QH, KHSDĐ, đối với những diện tích có năng suất nông nghiệp cao, nhất là diện tích đất trồng lúa phải khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt, bảo đảm tính ổn định lâu dài, việc đầu tư xây dựng để phát triển kinh tế - xã hội với bất kỳ lý do nào cũng không được xâm phạm đến diện tích này; ngoài ra, cần chú trọng bảo vệ những diện tích đất có những di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

Ba là, SDĐ tiết kiệm, bảo vệ môi trường sinh thái, tài nguyên

Trang 25

Đất đai là loại tài nguyên vô cùng quý giá, bởi vì có hạn, không tăng thêm nhưng có khả năng tái tạo và phục hồi nếu được sử dụng đúng cách và hợp lý Khi tác động đến đất đai phải có KH cụ thể để vừa thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần; đồng thời vẫn đảm bảo sử dụng trong tương lai Một trong những vấn đề bảo

vệ đất là SDĐ hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, hạn chế việc chuyển đổi mục đích SDĐ khi không thật sự cần thiết Pháp luật QH, KHSDĐ ngoài nhiệm vụ lựa chọn phương án SDĐ hiệu quả thì còn thực hiện chức năng bảo vệ quỹ đất, tránh việc SDĐ không đúng mục đích, ảnh hưởng đến chất lượng đất

Thứ tư, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng, địa

phương

Mỗi vùng miền, địa phương, đơn vị SDĐ đều có những điểm khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, chức năng và nhiệm vụ Điều kiện tự nhiên như chất lượng, thỗ nhưỡng đất sẽ được tính toán để phân bổ, quyết định mục đích SDĐ Ngoài ra, khi lựa chọn phương án SDĐ thì phải tính đến hiệu quả về kinh tế, các điều kiện xã hội để đảm bảo tính khả thi Trong phân bổ nguồn tài nguyên đất cần thiết phải xét đến những đặc thù của ngành và của từng vùng lãnh thổ để phù hợp với thực tiễn

1.2.3 Cơ cấu về nội dung của pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Hiện nay, pháp luật QH, KHSDĐ được điều chỉnh bởi Luật Quy hoạch, Khoản

1, Điều 6, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch

số 35/2018/QH14 và các văn bản hướng dẫn về QH, KHSDĐ Theo đó, pháp luật

QH, KHSDĐ bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, nguyên tắc lập QH, KHSDĐ

Nguyên tắc là hệ thống các quan điểm, tư tưởng xuyên suốt toàn bộ hoặc một giai đoạn nhất định đòi hỏi các tổ chức, cá nhân phải tuân theo Nội dung điều chỉnh

sẽ giúp cho quá trình xây dựng QH, KHSDĐ theo sự định hướng cụ thể, thống nhất

mà không loại trừ bất cứ QH, KHSDĐ của địa phương, ngành, lĩnh vực nào

Thứ hai, hệ thống QH, KHSDĐ

Trang 26

Hệ thống QHSDĐ bao gồm: QHSDĐ cấp quốc gia, QHSDĐ cấp huyện, QHSDĐ quốc phòng, QHSDĐ an ninh Đối với cấp tỉnh, phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai theo khu chức năng và theo loại đất đến từng đơn vị hành chính cấp huyện là một nội dung của QH tỉnh

Hệ thống KHSDĐ bao gồm: KHSDĐ quốc gia; KHSDĐ cấp tỉnh; KHSDĐ cấp huyện; KHSDĐ đất quốc phòng; KHSDĐ đất an ninh

Thứ ba, thời kỳ QH, KHSDĐ

Việc quy định thời kỳ QH, KHSDĐ là thể hiện tầm nhìn và định hướng cho tương lai, làm cơ sở để Nhà nước quản lý việc thực hiện của các ngành, các cấp theo đúng tiến độ cũng như có thời gian để điều chỉnh những biến động về đất đai khi cần thiết Bên cạnh đó, quy định về thời kỳ QH, KHSDĐ đảm bảo việc thực thi của pháp luật về đất đai được thực hiện nghiêm minh, tránh tình trạng điều chỉnh, sửa đổi QH, KHSDĐ tùy tiện; đồng thời hạn chế việc bỏ hoang hóa đất, gây lãng phí, thất thoát tài nguyên đất

Thứ tư, căn cứ lập, nội dung QH, KHSDĐ

Luật quy định khá rõ về căn cứ, nội dung lập QH, KHSDĐ đất quốc gia; cấp huyện, đất quốc phòng, đất an ninh và KHSDĐ cấp tỉnh, đây là cơ sở quan trọng đảm bảo tính phù hợp, sát thực đối với QH, KHSDĐ của mỗi cấp, mỗi ngành trên

cơ sở điều kiện thực tế về tự nhiên, kinh tế - xã hội và định hướng phát triển của mỗi địa phương, mỗi ngành, qua đó thể hiện được nhu cầu của thị trường, thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển ổn định

Thứ năm, trách nhiệm tổ chức lập QH, KHSDĐ; lấy ý kiến về QHSDĐ

Quy định này phân định rõ trách nhiệm của từng cấp, ngành liên quan có thẩm quyền thực hiện hoặc tổ chức thực hiện lập QH, KHSDĐ của cấp đó, ngành đó

QH, KHSDĐ là cơ sở để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi, chuyển mục đích SDĐ, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ, những hoạt động này có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt và sản xuất của người dân Để đảm bảo việc lập QH, KHSDĐ có tính khả thi, tránh tình trạng “quy hoạch treo”, hạn chế tình trạng khiếu nại, khiếu kiện, giải quyết hài hòa các mối quan hệ phát

Trang 27

sinh trong quá trình quản lý, SDĐ, phù hợp với lợi ích chính đáng, nguyện vọng hợp pháp của người dân thì việc lấy ý kiến của nhân dân về QH, KHSDĐ là hoạt động không thể thiếu, có ý nghĩa đặc biệt, thể hiện sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân theo Hiến định

Thứ sáu, thẩm định, thẩm quyền quyết định, phê duyệt QH, KHSDĐ

Kết quả của việc triển khai thực hiện QH, KHSDĐ phụ thuộc vào chất lượng của QH, KHSDĐ đã được phê duyệt Nói cách khác, QH, KHSDĐ được lập và phê duyệt phải thực sự có tính khoa học, có mục tiêu và giải pháp sát với thực tế để đảm bảo tính khả thi muốn vậy, phải nâng cao năng lực và chất lượng của công tác thẩm định trước khi phê duyệt

Luật quy định thẩm quyền quyết định, phê duyệt QHSDĐ và KHSDĐ thành hai bước riêng biệt, theo đó, thẩm quyền quyết định, phê duyệt QHSDĐ quốc gia, QHSDĐ quốc phòng, QHSDĐ an ninh thực hiện theo quy định của Luật Quy hoạch Trước khi trình UBND tỉnh phê duyệt thì QHSDĐ cấp huyện phải được HĐND cùng cấp thông qua Về thẩm quyền quyết định, phê duyệt KHSDĐ, đối với cấp quốc gia sẽ do Quốc hội quyết định; đất quốc phòng, đất an ninh và cấp tỉnh do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; cấp huyện sẽ do UBND cấp tỉnh phê duyêt Ngoài

ra, pháp luật đất đai còn quy định về hồ sơ, thủ tục khi trình để xét duyệt

Thứ bảy, điều chỉnh; công bố công khai QH, KHSDĐ

Luật quy định khá rõ về các căn cứ, trường hợp để làm cơ sở điều chỉnh QH, KHSDĐ, nội dung điều chỉnh, các bước thực hiện điều chỉnh và đối tượng thực hiện Việc điều chỉnh QH, KHSDĐ là việc làm không thể thiếu được trong nội dung

"Quản lý QH, KHSDĐ", bởi lẽ trong quá trình thực hiện chắc chắn không tránh khỏi những điểm chưa phù hợp, thậm chí không thể thực hiện được

Công bố công khai là động thái thể hiện sự công khai, minh bạch của Nhà nước, đồng thời phát huy tinh thần dân chủ của nhân dân nhằm hạn chế tiêu cực, nhũng nhiễu trong quá trình thực hiện các sách về đất đai, mua bán thông tin về QHSDĐ, làm trong sạch thị trường bất động sản Thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, tình trạng khiếu nại, khiếu kiện của người dân ở nhiều địa phương liên quan

Trang 28

đến công tác giải tỏa, đền bù, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất diễn biến phức tạp, chiếm tỷ lệ rất cao Nguyên nhân một phần do người dân thiếu thông tin về QH, KHSDĐ

Thứ tám, thực hiện QH, KHSDĐ

Tổ chức thực hiện QH, KHSDĐ là một nội dung quan trọng của pháp luật về

QH, KHSDĐ, bước cụ thể hóa đưa các điều khoản được quy định trong văn bản để triển khai, áp dụng vào thực tiễn đời sống xã hội, giải quyết các mối quan hệ phát sinh liên quan đến đất đai Thông qua kết quả thực hiện sẽ đánh giá được chất lượng, tính khả thi, hiệu quả của quá trình lập, thẩm định, phê duyệt QH, KHSDĐ

1.3 Các yếu tố chi phối pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện thì các chế định pháp luật đều

bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau Pháp luật QH, KHSDĐ cũng vậy, cũng chịu

sự chi phối, tác động của yếu tố kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa – xã hội

1.3.1 Yếu tố kinh tế

Đất đai thuộc loại hàng hóa đặc biệt, được tiền tệ hóa để tham gia vào nền kinh tế với vai trò vừa là tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt vừa là nguồn vốn đầu tư cho sự phát triển, do vậy để nguồn lực từ đất đai được sử dụng hiệu quả hợp lý, tiết kiệm, điều phối được mối quan hệ cung - cầu thì đòi hỏi phải có sự chi phối, quản

lý của pháp luật bằng QH, KHSDĐ Trong những năm gần đây, khi tốc độ đô thị hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh chóng, làm tăng nhu cầu về bất động sản để thỏa mãn phù hợp với các hoạt động kinh tế, đời sống xã hội, sản xuất kinh doanh, đầu tư thì QH, KHSDĐ cần phải làm tốt vai trò của nó để đáp ứng nhu cầu SDĐ, phát huy tối đa các tiềm năng do đất đai mang lại, tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra lợi nhuận bằng các hình thức vận động cụ thể

1.3.2 Yếu tố chính trị

Pháp luật QH, KHSDĐ là công cụ hữu hiệu nhằm cụ thể hóa những quan điểm, chủ trương của Đảng về chính sách đất đai, thông qua pháp luật QH, KHSDĐ, Nhà nước thực hiện quyền quản lý, định đoạt đối với đất đai bằng việc

Trang 29

quy định mục đích sử dụng cho từng diện tích đất, từng vùng đất cụ thể và chỉ có Nhà nước mới có quyền điều chỉnh mục đích sử dụng các loại đất [22, tr.21]

Pháp luật QH, KHSDĐ phải đảm bảo dựa trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, đây là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xây dựng và thực hiện phát luật về đất đai, trong đó có pháp luật QH, KHSDĐ, trên cơ sở đó các cơ quan Nhà nước sẽ tổ chức xây dựng và triển khai thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của mình

1.3.3 Yếu tố về lịch sử

Pháp luật về QH, KHSDĐ là sự định hướng, sắp xếp, lựa chọn các phương án SDĐ cho hiện tại và tương lai, đáp ứng nhu cầu SDĐ của thị trường song cũng không thể tách rời hiện trạng SDĐ mang nhiều dấu ấn lịch sử, các giá trị văn hóa truyền thống còn lưu lại; đồng thời pháp luật về QH, KHSDĐ phải thể hiện sự hài hòa giữa vấn đề về nhu cầu SDĐ đai cho mục tiêu phát triển kinh – tế xã hội cho tương lai gắn với kế thừa và xử lý hợp lý các vấn đề của quá khứ, các vấn đề do lịch

sử để lại

1.3.4 Yếu tố văn hóa – xã hội

Khi xây dựng QH, KHSDĐ ngoài việc căn cứ vào thực trạng và nhu cầu SDĐ thực tế, tình hình kinh tế - xã hội còn phải căn cứ vào các yếu tố về văn hóa – xã hội, phong tục tập quán truyền thống của từng vùng, lãnh thỗ, địa phương Trước khi quyết định và phân bổ các chỉ tiêu SDĐ cho các ngành, lĩnh vực, địa phương thì không thể bỏ qua yếu tố văn hóa – xã hội, vì đây là cơ sở hình thành nên những đặc điểm riêng về phong tục, tập quán của mỗi địa phương, tâm lý, tín ngưỡng, đời sống của con người Như vậy, Pháp luật QH, KHSDĐ không chỉ bị chi phối bởi ý chí chủ quan của Nhà nước mang yếu tố chính trị, kinh tế, lịch sử mà còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố văn hóa – xã hội

1.4 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất tại Việt Nam

Trãi qua nhiều giai đoạn lịch sử; đồng thời để phù hợp với xu thế mới, đáp ứng với tình hình phát triển kinh tế - xã hội nên pháp luật về đất đai có sự thay đổi,

Trang 30

QH, KHSDĐ có những quy định khác nhau Do vậy, có thể phân chia pháp luật

QH, KHSDĐ thành các giai đoạn sau:

- Giai đoạn trước khi Luật Đất đai 1987 được ban hành

Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 quy định về hình thức sở hữu đa cấp độ về đất đai đó là sở hữu tư nhân, sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Đến Hiến

pháp năm 1980 căn cứ vào tình hình thực tế đất nước đã quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất đều thuộc sở hữu toàn dân” Như vậy, Hiến pháp năm 1980 đã xóa bỏ các hình thức sở hữu đất đai

trước đó và thiết lập một hình thức sở hữu đất đai duy nhất là sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu [46] Mặc dù Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng trên thực tế Nhà nước thực hiện thu hồi, đăng ký, thống kê đất đai để nhằm thiết lập quyền sở hữu của mình; các chủ thể SDĐ vẫn tồn tại như trước [46]

Nhìn chung, QH, KHSDĐ trước khi Hiến pháp năm 1980 ra đời chưa được xem là công cụ để Nhà nước quản lý về đất đai mà chỉ được đề cập đến như là một phần của QH phát triển nông nghiệp Đến khi Hiến pháp năm 1980 ra đời với việc khẳng định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, QH, KHSDĐ bắt đầu được coi trọng

và trở thành công cụ để SDĐ đai hợp lý, hiệu quả, song QH, KHSDĐ vẫn chưa được cụ thể hóa bằng các quy định của pháp luật [22, tr.24]

- Giai đoạn Luật Đất đai 1987 ban hành đến trước Luật Đất đai 1993 ban hành

Để cụ thể hóa quyền sở hữu toàn dân về đất đai được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 1987, trong đó quy định

QH, KH hóa việc SDĐ là một trong các hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai, đánh dấu mốc quan trọng lần đầu tiên công tác QH, KHSDĐ được chính thức luật hóa Điều 11, Luật Đất đai 1987 quy định hoạt động QH, KHSDĐ gồm: việc lập

QH, KH và thẩm quyền phê chuẩn và xét duyệt QH, KHSDĐ

- Giai đoạn Luật Đất đai 1993 ban hành đến trước khi Luật Đất đai 2003 ban hành

Trang 31

Luật Đất đai 1993 cũng đã có những quy định tạo tiền đề cho nền kinh tế hàng hóa phát triển, đó là việc công nhận thị trường bất động sản, quy định giá đất, quy định năm loại quyền cho hộ gia đình và cá nhân SDĐ gồm: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền SDĐ Luật Đất đai 1993 có nhiều đổi mới hơn so với Luật Đất đai 1987 về mối quan hệ giữa QH, KHSDĐ với

QH tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, tránh tình trạng QH thiếu đồng bộ, nhỏ lẻ Tuy vậy, từ Điều 16 đến Điều 18, Luật Đất đai 1993 cũng chỉ quy định ba điều khoản liên quan đến QH, KHSDĐ đó là thẩm quyền lập, xét duyệt, nội dung của

QH, KHSDĐ Nhìn chung, những quy định này còn khá chung chung, chưa đáp ứng được hết các yêu cầu về nội dung, phương án để thực hiện quy trình QH, KHSDĐ một cách hiệu quả

Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội đã thông qua KHSDĐ cả nước 5 năm (1996 – 2000) Đây là lần đầu tiên có một báo cáo tổng quan về QH, KHSDĐ tương đối đầy

đủ, thể hiện rõ các khía cạnh ảnh hưởng đến tình hình khai thác, SDĐ Mặc dù đã

có những chuyển biến tích cực, nhưng Luật Đất đai 1993 vẫn còn nhiều hạn chế, vì vậy, vào năm 1998 và 2001, Luật Đất đai 1993 đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung, trong đó có thẩm quyền, quy trình lập QH, KHSDĐ theo trình tự từ tổng thể đến chi tiết nhằm thống nhất, phù hợp giữa QH, KHSDĐ của cấp trên và cấp dưới

- Giai đoạn Luật Đất đai 2003 ban hành đến trước Luật Đất đai 2013 ban hành

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Khóa IX đã vạch

ra những hạn chế của pháp luật về đất đai, đồng thời đã chỉ rõ những nguyên nhân

và đề ra các biện pháp khắc phục Tại kỳ họp thứ 04, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Đất đai 2003 thay thế Luật Đất đai 1993 Các nội dung trong Luật Đất đai

2003 đã khẳng định được tư duy đổi mới, thể hiện sự công khai, minh bạch trong công tác quản lý, SDĐ đai theo xu thế thị trường, trong đó hoạt động QH, KHSDĐ ngày càng được quan tâm, đã bổ sung và tiếp tục hoàn thiện hệ thống QH, KHSDĐ, thông qua 10 điều được quy định trong luật đã thể hiện khá chi tiết về các vấn đề

Trang 32

liên quan từ nguyên tắc, căn cứ, nội dung, cách thức lập và thẩm quyền thẩm định, xem xét, phê duyệt và cách thức tổ chức thực hiện

- Giai đoạn Luật Đất đai 2013 ra đời đến nay

Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014, những quy định của luật đã thể chế hóa đầy đủ những quan điểm và định hướng của Nghị quyết 19-NQ/TW Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đấy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm

2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Vấn đề QH, KHSDĐ được thể hiện trong Chương IV, gồm 16 điều, từ Điều 35 đến Điều 51, Luật Đất đai 2013, những quy định này đã khắc phục, giải quyết được những tồn tại, hạn chế phát sinh trong QH, KHSDĐ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người SDĐ; đồng thời khẳng định vai trò, vị trí của QH, KHSDĐ cho các ngành, lĩnh vực sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, tránh được sự chồng chéo; khắc phục những khó khăn, bất cập trong việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích SDĐ

So với Luật đất đai 2003, Luật đất đai 2013 đã có những quy định mang tính thực tiễn cao, khắc phục tình trạng giao đất cho thuê đất tràn lan, thường tập trung vào đầu kỳ của kỳ kế hoạch SDĐ 5 năm và cũng chính là đầu nhiệm kỳ của hệ thống chính trị Ngoài những nội dụng kế thừa Luật Đất đai 2003, Luật đất đai 2013 cũng đã bổ sung điểm mới qui định rõ quyền và nghĩa vụ của người SDĐ trong vùng QH, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Tóm lại, hơn 30 năm qua, cùng với những thay đổi trong công tác quản lý, SDĐ nói chung, pháp luật QH, KHSDĐ đã không ngừng được đổi mới, hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý khá đầy đủ và trở thành công cụ hữu hiệu trong quản lý nhà nước về đất đai, qua đó điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện, góp phần đáng kể vào quá trình quản lý, SDĐ hiệu quả, hợp lý và tiết kiệm

1.5 Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và gợi mở cho Việt Nam

Trang 33

Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, thể chế chính trị, lịch sử, văn hóa của mỗi nước mà phương pháp, cách thức quản lý và quan điểm về QH, KHSDĐ có

sự khác nhau và quá trình tổ chức thực hiện cũng vậy Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn lựa chọn một số quốc gia có những điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, nhu cầu SDĐ với Việt Nam để đi sâu tìm hiểu, phân tích, học hỏi kinh nghiệm, đó là các nước: Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada, Hà Lan

- Trung Quốc:

Ở Trung Quốc, theo quy định của Luật Đất đai 1999 thì kỳ QHSDĐ của các cấp là 10 năm [6, tr.11], QHSDĐ được lập theo 4 cấp: cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Việc lập QHSDĐ phải bảo đảm tuân thủ triệt để nhiều nguyên tắc, như: SDĐ phải tiết kiệm, đem lại hiệu quả cao nhất; bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu và lợi ích SDĐ của các ngành kinh tế, xã hội và các địa phương; tăng cường bảo

vệ môi trường, phát triển sinh thái tự nhiên … Tuy nhiên, nguyên tắc quan trọng nhất là bảo vệ nghiêm ngặt 120 triệu ha đất canh tác nông nghiệp

Như vậy, chúng ta có thể nghiên cứu, tham khảo những nội dung về nguyên tắc, căn cứ lập; thẩm quyền, quyết định, xét duyệt và quy trình lập QH, KHSDĐ Đặc biệt, họ rất coi trọng và bảo vệ nghiêm ngặt quỹ đất nông nghiệp, đất trồng lúa; đối với QHSDĐ cấp quốc gia phải xác định được diện tích đất canh tác cần bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Nhà nước, trong đó phải chỉ rõ diện tích đất canh tác

cơ bản (chiếm 80% tổng diện tích canh tác) có chất lượng tốt nhất cần được duy trì vĩnh cửu và không được phép chuyển đổi mục đích sử dụng dưới bất cứ lý do gì Việc chuyển mục đích SDĐ canh tác sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp phải được phê duyệt tại cấp tỉnh và Chính phủ Trường hợp QH, KHSDĐ bị

vi phạm thì tùy mức độ vi phạm mà người đứng đầu địa phương sẽ bị xử lý hành chính hoặc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đất bị vi phạm sẽ bị thu hồi, kể cả trường hợp đã đầu tư [47].

- Hàn Quốc

Theo quy định, kỳ QH đối với cấp quốc gia, cấp tỉnh là 20 năm, QHSDĐ vùng

đô thị cơ bản và KHSDĐ là 10 năm Sau 5 năm sẽ tiến hành rà soát để điều chỉnh

Trang 34

cho phù hợp với yêu cầu phát triển và thị trường [6, tr.9] Việc lập QHSDĐ thực hiện theo các cấp: quốc gia, cấp tỉnh, vùng thủ đô; cấp huyện, vùng đô thị cơ bản Theo đó, QHSDĐ được thực hiện từ tổng thể tới chi tiết QH cấp tỉnh, vùng thủ đô phải căn cứ trên cơ sở QH cấp quốc gia; QH cấp huyện, vùng đô thị phải căn cứ vào

QH cấp tỉnh [47].

Việc lập QH, KHSDĐ có tổ chức lấy ý kiến nhân dân Sau khi QH được phê duyệt sẽ được công khai và phổ biến đến nhân dân Chính quyền các cấp có trách nhiệm tiếp thu, giải trình ý kiến nhân dân về QH, KHSDĐ và tổ chức thực hiện QH,

KH đó [6, tr.9]. Quốc hội không can thiệp vào quá trình xét duyệt QHSDĐ [47].

Chúng ta có thể nghiên cứu, vận dụng quy định mang tính nguyên tắc về tính thống nhất trong hệ thống QH quốc gia từ Trung ương đến địa phương, đưa nội dung lấy ý kiến người dân vào trong quá trình xây dựng QH như một trình tự bắt buộc; ngoài ra có thể tham khảo quy định kỳ QH khác nhau giữa các cấp Bên cạnh

đó, pháp luật của Hàn Quốc còn quy định một số khu vực hạn chế phát triển, hạn chế xây dựng các công trình kiến trúc, cấm mọi ý đồ khai thác nhằm khống chế sự phát triển kiểu nhảy cóc, bảo vệ đất nông nghiệp

Theo Luật Quy hoạch chính quyền tỉnh, mỗi thành phố lập KH phát triển và bản QH vùng (bao gồm KH chi tiết, các quy định về SDĐ và các tiêu chuẩn phát triển) KH phát triển phải tuân thủ các quy định, chính sách của tỉnh; các cơ quan khác phải được tham vấn trong quá trình chuẩn bị KH Nếu họ không đồng ý với

Trang 35

một KH phát triển được đề xuất, họ có thể khiếu nại đến một hội đồng đặc biệt và thường KH sẽ không được phê duyệt nếu có phản đối này Việc giải quyết xung đột thường được thực hiện thông qua thương lượng, thỏa thuận giữa các bên [6, tr.16].

Việc lập KH phát triển và bản QH vùng thuộc thẩm quyền của chính quyền các thành phố nhưng phải có sự tham gia ý kiến của các cơ quan khác và khi các chủ thể này không thống nhất với nhau thì cấp có thẩm quyền sẽ không phê duyệt

KH đó, như vậy Việt Nam có thể học hỏi việc kiểm soát chéo giữa các cơ quan liên quan nhằm tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai thực hiện; đồng thời đảm bảo sự đồng bộ giữa KH phát triển với các KH khác, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn gữa các hệ thống KH trong thực tế

- Hà Lan [47]

Đối với Hà Lan, việc lập QH, KHSDĐ phải trên cơ sở kết quả khảo sát đánh giá các tham số ở các địa phương: tham số kỹ thuật (chất lượng đất, đặc điểm địa hình, hiện trạng sử dụng, các khả năng cải thiện với bên ngoài ); tham số kinh tế (tiềm năng phát triển kinh tế); tham số văn hoá - xã hội (công trình văn hoá, nghệ thuật, bảo tồn các truyền thống văn hoá ); các giá trị và tiêu chuẩn xã hội; tham số môi trường (mức độ ô nhiễm nước và đất, không khí)

Hà Lan đặc biệt coi trọng công tác khảo sát, thu thập các dữ liệu phục vụ cho việc QHSDĐ, chúng ta có thể học tập Hà Lan việc xây dựng QH, KHSDĐ phải coi trọng kết quả khảo sát thực địa, khảo sát qua các tham số, qua đó sẽ giúp chính quyền có được cái nhìn tổng quát và chi tiết nhất về đặc điểm của từng vùng, lãnh thổ, tránh tình trạng không đúng thực tế, từ đó đưa ra bản QH, KHSDĐ phù hợp, hiệu quả và có tính bền vững

Tóm lại, không thể áp dụng một cách tuyệt đối cách làm QH, cách điều chỉnh của pháp luật đối với QH của quốc gia này cho quốc gia khác, tuy nhiên trong xu thế hiện nay mang tính kết nối quốc tế thì chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm, nghiên cứu vận dụng những kết quả đạt được của các quốc gia khác cho việc hoàn thiện pháp luật, khắc phục những bất cập trong công tác QH, KHSDĐ ở Việt Nam

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận về QH, KHSDĐ và pháp luật về QH, KHSDĐ, tác giải đã tập trung giải quyết, làm rõ được một số vấn đề sau:

Một là, tác giả đã viện dẫn một số luận cứ và đưa ra nhiều quan điểm khác

nhau của các nhà khoa học, các học giả về khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của QH, KHSDĐ; đồng thời đã nêu lên những nhận định khái quát về một số nội dung của QH, KHSDĐ với các đặc điểm, dấu hiện nhận biết cơ bản Bên cạnh đó, tác giả đã làm rõ vai trò, tính chất quan trọng của QH, KHSDĐ đối với sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh; đồng thời, khẳng định QH, KHSDĐ là công cụ để Nhà nước thực hiện quyền quản

lý thống nhất, tổ chức, phân bố lại việc sử dụng đất cho phù hợp giữa các ngành, lĩnh vực, vùng miền và địa phương; lựa chọn phương án tốt nhất để đất đai được sử dụng hiệu quả, hợp lý và tiết kiệm

Hai là, trên cơ sở nghiên cứu lý luận về QH, KHSDĐ, tác giả đã đi đến luận

giải những vấn đề về khái niệm, nêu ra đặc điểm, nguyên tắc và khái quát cơ cấu về nội dung của QH, KHSDĐ Tác giả còn phân tích các yếu tố chi phối đến quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật QH, KHSDĐ để thấy được cùng lúc chịu sự tác động đa chiều, tác động của yếu tố bên ngoài mang tính khách quan, qua đó khi xây dựng cần phải tính toán cân đối, hài hòa các yếu tố khách quan, chủ quan trong pháp luật QH, KHSDĐ

Ba là, việc nghiên cứu lịch sử hình thành pháp luật về đất đai nói chung, trong

đó có QH, KHSDĐ cho thấy trãi qua nhiều giai đoạn QH, KHSDĐ không ngừng được sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện, cơ bản giải quyết được hầu hết các mối quan hệ phát sinh về đất đai

Bốn là, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật QH, KHSDĐ của một số quốc gia trên

thế giới có đặc điểm tương đồng với Việt Nam như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada và Hà Lan để có cái nhìn tổng thể, đa dạng về quá trình xây dựng và thực hiện QH, KHSDĐ, những vấn đề mang lại sự thành công của các quốc gia mà Việt

Nam có thể nghiên cứu, vận dụng, rút ra bài học kinh nghiệm

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Thực trạng pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Trước năm 2013, pháp luật QH, KHSDĐ được điều chỉnh bởi Luật Đất đai

2003 Đến khi Luật Đất đai 2013 được ban hành, pháp luật QH, KHSDĐ được quy định tại Chương 4, với 17 điều, từ Điều 35 đến Điều 51 Tuy nhiên, để khắc phục một số bất cập, tồn tại trong quá trình thực hiện pháp luật QH, KHSDĐ trong Luật Đất đai 2013, năm 2017, Quốc hội đã ban hành Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch số 35/2018/QH14; Luật Quy hoạch

Trên cơ sở các Luật đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019, tác giả luận văn sẽ tập trung đánh giá, phân tích pháp luật QH, KHSDĐ ở một số nội dung

cơ bản được ghi nhận trong Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch số 35/2018/QH14; Luật Quy hoạch theo các yêu cầu và nội dung điều chỉnh đã được phân tích ở Chương 1 có sự so sánh, đối chiếu với Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai 2013

2.1.1 Các quy định của pháp luật về nguyên tắc lập; hệ thống; thời kỳ; căn

cứ lập, nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

2.1.1.1 Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Theo Luật hiện hành việc lập QHSDĐ phải tuân thủ các nguyên tắc: QHSDĐ quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng; QHSDĐ cấp huyện phải thể hiện nội dung SDĐ của cấp xã; Bảo vệ nghiêm ngặt đất chuyên trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng; Bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu SDĐ của các ngành, lĩnh vực, địa phương và khả năng, quỹ đất của quốc gia nhằm SDĐ tiết kiệm

và có hiệu quả; Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên; thích ứng với biến đổi khí hậu; Nội dung phân bổ và SDĐ trong QH ngành quốc gia, QH vùng, QH tỉnh phải bảo đảm phù hợp với QHSDĐ quốc gia

Trang 38

Việc lập KHSDĐ phải tuân thủ các nguyên tắc: Phù hợp với chiến lược, KH phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; KHSDĐ phải phù hợp với QHSDĐ cùng cấp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; đối với KHSDĐ cấp tỉnh phải phù hợp với phương án phân bổ, khoanh vùng đất đai trong QH tỉnh; SDĐ tiết kiệm và có hiệu quả; Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu; Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; KH của ngành, lĩnh vực, địa phương có SDĐ phải bảo đảm phù hợp với QH, KHSDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt

Nguyên tắc lập QH, KHSDĐ theo Luật hiện hành đã có sự kế thừa một số quy định của Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013, ngoài ra còn sửa đổi, bổ sung một

số nội dung để phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế hiện nay của Việt Nam và

xu thế hội nhập thế giới Theo đó, Luật hiện hành đã quy định rạch ròi, riêng biệt về nguyên tắc lập QHSDĐ và KHSDĐ, khác với các quy định trước đây là hợp nhất thành một nguyên tắc chung, việc đổi mới này là hợp lý, không thể gắn nguyên tắc chỉ đạo cho công tác lập QHSDĐ với nguyên tắc lập KHSDĐ, bởi vì QHSDĐ là ý

đồ, chiến lược SDĐ trong tương lai, còn KHSDĐ là việc xác định một cách cụ thể phương pháp thực hiện gắn với từng thời điểm nhất định

Ngoài ra, Luật hiện hành không quy định các nguyên tắc như quy định trước

đây, đó là nguyên tắc: “dân chủ, công khai; Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường; Được lập từ tổng thể đến chi tiết; QHSDĐ của cấp dưới phải phù hợp với QHSDĐ của cấp trên” Việc không quy định các nguyên tắc trên có

thể làm hạn chế tiếp cận thông tin liên quan đến QH, KHSDĐ của nhân dân; ảnh hưởng đến phục vụ cho mục đích quốc phòng – an ninh, vì lợi ích quốc gia, dân tộc; việc lập QH, KHSDĐ có nguy cơ chồng chéo, nhiệm vụ thực hiện của cấp dưới không tuân thủ, trái với cấp trên

2.1.1.2 Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Trang 39

Theo Luật hiện hành, hệ thống QHSDĐ bao gồm: QHSDĐ cấp quốc gia, QHSDĐ cấp huyện, QHSDĐ quốc phòng, QHSDĐ an ninh Đối với cấp tỉnh, phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai theo khu chức năng và theo loại đất đến từng đơn vị hành chính cấp huyện là một nội dung của QH tỉnh Hệ thống KHSDĐ bao gồm: KHSDĐ quốc gia; KHSDĐ cấp tỉnh; KHSDĐ cấp huyện; KHSDĐ đất quốc phòng; KHSDĐ đất an ninh

Theo Luật Đất đai 2003, hệ thống QH, KHSDĐ được quy định chung, gồm 04 cấp: cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Đến Luật Đất đai 2013 đã bỏ QH, KHSDĐ cấp xã, bổ sung QH, KHSDĐ đất quốc phòng, đất an ninh, nên có 5 cấp: cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, đất quốc phòng, đất an ninh Tuy nhiên, Luật hiện hành đã bỏ QHSDĐ cấp tỉnh, thay vào đó đối với cấp tỉnh, phương án phân bổ

và khoanh vùng đất đai theo khu chức năng và theo loại đất đến từng đơn vị hành chính cấp huyện là một nội dung của QH tỉnh

2.1.1.3 Thời kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Theo Luật hiện hành, thời kỳ QHSDĐ là 10 năm Tầm nhìn của QHSDĐ quốc gia là từ 30 năm đến 50 năm và cấp huyện là từ 20 năm đến 30 năm Thời kỳ KHSDĐ quốc gia, KHSDĐ cấp tỉnh, KHSDĐ quốc phòng và KHSDĐ an ninh là 05 năm; KHSDĐ cấp huyện được lập hàng năm

Luật Đất đai 2003, thời kỳ QHSDĐ là 10 năm, thời kỳ KHSDĐ là 05 năm Luật Đất đai 2013, thời kỳ QHSDĐ là 10 năm; thời kỳ KHSDĐ cấp quốc gia, cấp tỉnh và thời kỳ KHSDĐ quốc phòng, đất an ninh là 05 năm và KHSDĐ cấp huyện được lập hàng năm

Như vậy, thời gian thời kỳ QH, KHSDĐ cơ bản giống nhau, Luật hiện hành

bổ sung thêm “tầm nhìn của QHSDĐ quốc gia là từ 30 năm đến 50 năm và cấp huyện là từ 20 năm đến 30 năm”

2.1.1.4 Căn cứ lập, nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Đối với quốc gia

Khi lập QHSDĐ quốc gia phải căn cứ vào Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực trong cùng giai đoạn; Điều kiện tự nhiên,

Trang 40

kinh tế - xã hội; Hiện trạng SDĐ, tiềm năng đất đai và kết quả thực hiện QHSDĐ quốc gia thời kỳ trước; Nhu cầu SDĐ của các ngành, lĩnh vực và của cấp tỉnh Nội dung QHSDĐ quốc gia xác định việc phân bổ và tổ chức không gian SDĐ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu SDĐ của các ngành, lĩnh vực mang tính liên vùng, liên tỉnh Nội dung QHSDĐ quốc gia phải đảm bảo các yêu cầu: Phân tích, đánh giá về các yếu

tố, điều kiện tự nhiên, nguồn lực, bối cảnh trực tiếp tác động và thực trạng SDĐ của các ngành, lĩnh vực; Dự báo xu thế biến động của việc SDĐ; Xác định các quan điểm và mục tiêu SDĐ trong thời kỳ mới; Định hướng phân bổ không gian và chỉ tiêu SDĐ nông nghiệp, đất rừng; Định hướng phân bổ không gian và chỉ tiêu SDĐ phi nông nghiệp; Xác định không gian đất chưa sử dụng; Giải pháp, nguồn lực thực hiện QH

Căn cứ để lập KHSDĐ cấp quốc gia bao gồm: QHSDĐ quốc gia; KH phát triển kinh tế - xã hội 05 năm và hàng năm của cả nước; Nhu cầu SDĐ 05 năm của các ngành, lĩnh vực, của cấp tỉnh; Kết quả thực hiện KHSDĐ quốc gia thời kỳ trước; Khả năng đầu tư, huy động nguồn lực để thực hiện KHSDĐ

Nội dung KHSDĐ quốc gia bao gồm: Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện KHSDĐ quốc gia thời kỳ trước; Xác định diện tích các loại đất trong QHSDĐ quốc gia theo từng thời kỳ KHSDĐ 05 năm; KHSDĐ 05 năm cho từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính cấp tỉnh; Giải pháp thực hiện KHSDĐ

- Đối với cấp huyện

Khi lập QHSDĐ cấp huyện phải căn cứ vào QH tỉnh; Điều kiện tự nhiên, kinh

tế - xã hội; Hiện trạng SDĐ, tiềm năng đất đai và kết quả thực hiện QHSDĐ cấp huyện thời kỳ trước; Nhu cầu SDĐ của các ngành, lĩnh vực, của cấp huyện, cấp xã; Định mức SDĐ; Tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc SDĐ

Nội dung QHSDĐ cấp huyện bao gồm: Định hướng SDĐ 10 năm; Xác định các chỉ tiêu SDĐ theo loại đất gồm chỉ tiêu SDĐ do QH tỉnh phân bổ cho cấp huyện

và chỉ tiêu SDĐ theo nhu cầu SDĐ của cấp huyện và cấp xã; Xác định các khu vực

Ngày đăng: 09/07/2019, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Đại học luật Hà Nội (2008), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Đại học luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2008
18. GS. Nguyễn Lan (2006), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Việt Nam
Tác giả: GS. Nguyễn Lan
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
22. Nguyễn Thị Phương Thảo (2016), Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất từ thực tiễn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sĩ, Khoa luật, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất từ thực tiễn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Thảo
Năm: 2016
23. Chu Văn Thỉnh (2007), Nhìn lại công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở nước ta trong 10 năm qua, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học về quy hoạch đất, ngày 24/8/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở nước ta trong 10 năm qua
Tác giả: Chu Văn Thỉnh
Năm: 2007
24. PGS. TS Lê Quang Trí (2005), Giáo trình quy hoạch sử dụng đất đai, tài liệu soạn thảo theo FAO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quy hoạch sử dụng đất đai
Tác giả: PGS. TS Lê Quang Trí
Năm: 2005
26. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Đất đai
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2012
27. ThS. Lê Thị Phúc (2014), Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất qua thực tiễn tại Thừa Thiên Huế, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất qua thực tiễn tại Thừa Thiên Huế
Tác giả: ThS. Lê Thị Phúc
Năm: 2014
31. Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội (2005), Giáo trình quy hoạch sử dụng đất, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quy hoạch sử dụng đất
Tác giả: Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
33. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Đất đai
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2013
34. Trường Đại học Xây dựng (2006), Giáo trình Quy hoạch Tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quy hoạch Tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả: Trường Đại học Xây dựng
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2006
35. Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội (2008), Giáo trình quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả: Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2012), Nghị quyết 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đấy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Khác
2. Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh Quảng Nam (2017), Báo cáo số 157/BC- HĐND ngày 04/12/2017 về danh mục dự án cần thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất lúa, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng năm 2018 Khác
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Khác
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 về quy định chi tiết lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Khác
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo số 193/BC-BTNMT ngày 06/09/2012 về tổng kết tình hình thi hành Luật Đất đai 2003 và định hướng sửa đổi Luật Đất đai Khác
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Kinh nghiệm nước ngoài về quản lý và pháp luật đất đai Khác
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 về quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Khác
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017), Thông báo số 75/TB-BTNMT ngày 25/4/2017 về kết quả thẩm định điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) của tỉnh Quảng Nam Khác
9. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w