1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý các dự án ĐTXD theo hình thức đối tác công tư PPP ở tỉnh Thanh Hóa

116 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 3,73 MB
File đính kèm XDTH119_1109053_PhạmThịHoa_Luanvan (1).rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu: Các dự án đầu tư xây dựng theo hình thức hợp tác giữa Nhà nước và các doanh nghiệp (BOT, BT, BTO, PPP)Phạm vi nghiên cứu: Các dự án đầu tư xây dựng trong các lĩnh vực công nghiệp, dân dụng, giao thông, hạ tầng, nông nghiệp và PTNT trên địa bàn một số tỉnh thành trong nước và tỉnh Thanh Hóa.

Trang 1

Phạm Thị Hoa

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT

MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ- PPP

Ở TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SỸ

KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆP

Trang 3

Phạm Thị Hoa

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT

MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ- PPP

Ở TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SỸ

KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆP

Mã số: 60.58.02.08

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS HỒ NGỌC KHOA

Trang 5

này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của các giảng viên, công trình này chưađược công bố lần nào Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung và lời cam đoan này.

Hà nội, ngày 30 tháng 5 năm 2014

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hoa

Trang 6

nghiệp tại trường đại học Xây dựng , tôi đã được học các môn học về Quản lý dự

án, Khoa học về tổ chức thi công, công nghệ thi công hiện đại, quản trị dự án docác giảng viên của Trường Đại học Xây dựng giảng dạy

Các thầy cô đã rất tận tình và truyền đạt cho chúng em khối lượng kiến thứcrất lớn, giúp cho tôi có thêm lượng vốn tri thức để phục vụ tốt hơn cho công việcnơi công tác, có được khả năng nghiên cứu độc lập và có năng lực để tham gia vàocông tác trong tương lai

Xuất phát từ kinh nghiệm trong quá trình công tác nhiều năm, với vốn kiếnthức được học và qua tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu, văn bản qui định của phápluật, Nhà nước, các bài báo, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về lĩnh vực đầu

tư xây dựng cơ bản, tôi đã lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ tiêu đề

“Nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý các dự án ĐTXD theo hình thức đối tác

công - tư PPP ở tỉnh Thanh Hóa”

Với thời gian nghiên cứu có hạn, trong khi vấn đề nghiên cứu rộng và phứctạp Mặc dù đã được sự tận tình giúp đỡ của các đồng nghiệp mà đặc biệt là sự chỉbảo tận tình của thầy giáo TS Hồ Ngọc Khoa , nhưng sự hiểu biết của bản thân cònhạn chế, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sựgóp ý chia sẻ của các thầy giáo, cô giáo và những người quan tâm đến lĩnh vực đầu

tư xây dựng để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Nhà trường, giảng viênhướng dẫn và Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Thanh Hóa đã tận tình giúp đỡ tác giả hoànthiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 7

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 5

TỔNG QUAN THỰC HIỆN VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN CÁC DỰ ÁN ĐTXD THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG – TƯ PPP Ở VIỆT NAM VÀ TỈNH THANH HÓA 5

1.1 Tổng quan tình hình thực hiện các DA ĐTXD giữa Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trên Thế giới 5

1.1.1 Khái niệm và giải thích từ ngữ 5

1.1.2 Tình hình thực hiện các dự án PPP ở một số nước trên Thế giới 15

1.2 Tổng quan tình hình thực hiện các dự án BOT, BTO, BT, PPP ở Việt Nam 23 1.2.1 Đầu tư công trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam 23

1.2.2 Đặc điểm về khái niệm và hình thức các DA ĐTXD giữa Nhà nước và tư nhân ở Việt Nam 25

1.2.3 Tổng quan tình hình thực hiện các dự án BOT, BTO, BT và PPP ở Việt Nam 26

1.3 Tổng quan tình hình thực hiện các dự án BOT, BTO, BT và PPP ở tỉnh Thanh Hóa 39

1.3.1 Tổng quan về tình hình KTXH, kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội tỉnh Thanh Hóa 39

1.3.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 39

1.3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 40

1.3.2 Tổng quan và tiềm năng phát triển chương trình đầu tư PPP ở Việt Nam và tỉnh Thanh Hóa 48

1.3.2.1 Tình hình thực hiện các dự án BOT, BTO và BT 48

1.3.2.2 Các lĩnh vực ưu tiên áp dụng mô hình PPP 54

1.3.2.3 Tình hình thực hiện và kế hoạch triển khai các dự án PPP 54

Trang 8

1.3.3 Mô hình thực hiện dự án PPP ở tỉnh Thanh Hóa và các vấn đề đặt ra

55

1.3.3.1 Đánh giá thực trạng 55

1.3.3.2 Mô hình thực hiện dự án PPP ở Thanh Hóa 56

1.3.3.3 Các vấn đề đặt ra cần nghiên cứu khắc phục 59

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐTXD THEO HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG TƯ PPP 62

2.1 Cơ sở pháp lý 62

2.1.1 Các bộ luật có liên quan về quản lý đầu tư xây dựng 62

2.1.2 Các văn bản của chính phủ về quản lý ĐTXD đầu tư xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng và quản lý dự án PPP 63

2.2 Cơ sở khoa học 66

2.2.1 Cơ sở khoa học cơ bản về quản lý dự án, mô hình quản lý dự án ĐTXD 66 2.2.1.1 Lý thuyết khoa học về quản lý dự án đầu tư xây dựng 66

2.2.1.2 Mục tiêu, nội dung và hiệu quả công tác quản lý dự án 67

2.2.1.3 Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng 74

2.2.2 Cơ sở khoa học về quản lý dự án ĐTXD PPP 76

2.2.2.1 Khái niệm khoa học về mô hình và phương thức thực hiện PPP 76

2.2.2.2 Quan hệ rủi ro – lợi ích của các dự án PPP 77

CHƯƠNG 3 85

ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH THỰC HIỆN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐTXD THEO HÌNH THỨC PPP Ở TỈNH THANH HÓA 85

3.1 Đề xuất mô hình thực hiện dự án PPP 85

3.1.1 Đề xuất cấu trúc Hợp đồng dự án 85

3.1.1.1 Sơ đồ cấu trúc (hình 3.1) 85

3.1.1.2 Phân tích cấu trúc 85

Trang 9

3.1.2 Đề xuất mô hình thực hiện 87

3.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển và thực hiện hiệu quả PPP ở Thanh Hóa 94

3.2.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý về các hình thức đầu tư PPP 94

3.2.1.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý 94

3.2.1.2 Chuẩn hóa khái niệm PPP hiện nay theo quan niệm quốc tế 96

- Thành lập Tổ công tác PPP trực thuộc UBND tỉnh Thanh Hóa Thành viên của Tổ công tác cơ cấu từ các nhân viên đủ trình độ và kinh nghiệm trong QLDA từ các Ban QLDA của tỉnh 100

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á

BOT Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao

BT Xây dựng – Chuyển giao

BTO Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh

CDB Ngân hàng phát triển Hàn Quốc

CSHT Cơ sở hạ tầng

EDCF Quỹ viện trợ của Hàn Quốc

GTVT Giao thông vận tải

IDA Hiệp hội phát triển quốc tế

IRBD Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế

KFW Vốn vay ngân hành tái thiết Đức

OCR Vốn vay thương mại quốc tế

ODA Hỗ trợ phát triển chính thức

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

PFI Sáng kiến tài chính tư nhân

PPP Hợp tác công-tư

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Danh mục các dự án kêu gọi đầu tư BOT, BT của tỉnh Thanh

Hóa đến năm 2020 42Bảng 1.2 Danh mục các dự án kêu gọi đầu tư PPP của tỉnh Thanh Hóa

đến năm 2020 44

Trang 11

Bảng 2.1 So sánh đối tượng (dự án đầu tư) theo nghị định 108 và Quyết

định số 71/2010/QĐ-TTg của Chính phủ 56

Bảng 2.1 So sánh đối tượng (dự án đầu tư) theo nghị định 108 và Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg của Chính phủ 56

Bảng 3.1: Tính toán tỉ lệ vốn đầu tư dành cho các dự án mới tại Thanh Hóa DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 1.1 Cấu trúc hình thức hợp đồng quản lý trong PPP 10

Hình 1.2 Cấu trúc hình thức hợp đồng giao thầu và cho thuê trong PPP 11

Hình 1.3 Cấu trúc hình thức hợp đồng nhượng quyền trong PPP 12

Hình 1.4 Cấu trúc hình thức hợp đồng BOT trong PPP 13

Hình 1.5 Cấu trúc hình thức hợp đồng liên doanh trong PPP 14

Hình 1.6 Giá trị thực hiện PPP năm 2004 của một số nước OECD 18

Hình 1.7 Tổng vốn đầy tư một số nước ASEAN theo mô hình PPP giai đoạn 1990-2006 23 Hình 1.8 Đầu tư tư nhân vào CSHT theo lĩnh vực của Việt Nam (1990- 28

Trang 12

Hình 1.9 Tỷ trọng số các dự án phân theo hình thức đầu tư 29

Hình 1.10 Tỷ trọng vốn đầu tư các dự án phân theo hình thức đầu tư 29

Hình 1.11 Tỷ trọng số dự án phân theo lĩnh vực đầu tư 30

Hình 1.12 Bảng xếp hạng chỉ số PCI năm 2013 các tỉnh duyên hải miền trung 40

Hình 1.13 Mười chỉ số thành phần PCI của Thanh Hóa năm 2013 41

Hình 1.14 Mô hình thực hiện dự án PPP theo QĐ SỐ 71/2010/ QĐ-TTG ở Thanh Hóa (Giai đoạn chuẩn bị đầu tư) 48

Hình 1.15 Mô hình thực hiện dự án PPP theo QĐ Số 71/2010/ QĐ-TTg ở Thanh Hóa 50

Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc khoa học quản lý DADTXD 58

Hình 2.2 Sơ đồ các điều kiện ràng buộc của dự án đầu tư xây dựng 59

Hình 2.3 Nội dung triển khai quản lý dự án đầu tư xây dựng 60

Hình 2.4 Sơ đồ mục tiêu của kế hoạch quản lý dự án 61

Hình 2.5 Sơ đồ hệ thống quản lý với mối liên hệ ngược 64

Hình 2.6 Sơ đồ hệ thống giám sát trong quản lý dự án 64

Hình 3.1 Cấu trúc hợp đồng dự án ĐTXD theo mô hình PPP áp dụng cho tỉnh Thanh Hóa 78

Hình 3.2 Mô hình đề xuất thực hiện dự án PPP theo QĐ SỐ 71/2010/ QĐ-TTg ở Thanh Hóa (Giai đoạn chuẩn bị đầu tư) 79 Hình 3.3

Mô hình đề xuất thực hiện dự án PPP theo QĐ SỐ 71/2010/

QĐ-TTG ở Thanh Hóa (giai đoạnthực hiện đầu tư và khai thác) 81

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Cũng như các nước đang phát triển khác, đầu tư công không những tạo độnglực quan trọng cho phát triển kinh tế Việt Nam mà còn tạo ra nền tảng kết cấu hạtầng kinh tế cơ bản để tạo điều kiện cho đầu tư tư nhân phát huy hiệu quả Tuynhiên, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, Chính phủ lẫn chính quyền địaphương luôn đối mặt giữa nhu cầu đầu tư và nguồn vốn ngân sách dành cho đầu tư.Mặt khác, Việt Nam đang đối mặt với tình trạng thâm hụt triền miên và nguồn vốnODA không còn lãi suất ưu đãi như trước Vì thế, hình thức hợp tác Nhà nước - tưnhân trong đầu tư công được hình thành nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt này đangtrở nên cần thiết và phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay

Trong những năm qua, các hình thức đầu tư xây dựng theo hình thức BOT,

BT mang lại nhiều hiệu quả tích cực cho nền kinh tế đạt, đặc biệt trong lĩnh vực hạtầng kỹ thuật Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, việc thu hồi vốn của nhà đầu tưtrong các dự án BOT ngày càng khó khăn, các dự án trở nên kém hấp dẫn Giaiđoạn đóng băng và khủng hoảng thị trường bất động sản cũng ảnh hưởng tiêu cựcđến việc triển khai các dự án BT Rất nhiều các dự án BT bị dừng vô thời hạn dophương án đổi đất, đổi dự án lấy hạ tầng không còn hấp dẫn với các nhà đầu tư, haynói cách khác hình thức BT khó thu hút được nhà đầu tư và nguồn vốn thực hiện

Trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam tiếp tục thực hiện giảm bớt đầu tư công,việc thu hút hơn nữa đầu tư từ khu vực tư nhân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng làrất quan trọng và cần có cơ chế và chính sách mới Ngày 9/11/2010 PPP, Thủ tướngChính phủ ban hành Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg về việc thí điểm thực hiện đầu

tư theo hình thức PPP

Trong năm 2012 theo báo cáo của Tổ công tác liên ngành về PPP của Chínhphủ, đã có 30 dự án được đề xuất thực hiện theo mô hình PPP từ các Tỉnh thành, Bộngành với ước tính tổng vốn đầu tư trên 20 tỉ USD Trong số này, có 4 dự án giaothông trong các đô thị lớn như Hà Nội và Tp.HCM, 3 dự án cấp điện, 1 dự án sân

Trang 14

bay, 2 dự án bệnh viện, 4 dự án cấp nước, 3 dự án cảng sông và 3 dự án hạ tầng đôthị khác.

Thanh Hóa là một tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển trên nhiều ngành nghềkinh tế Việc thành lập khu kinh tế Nghi Sơn với nhiều cụm công nghiệp then chốtnhư hóa dầu, điện năng, sản xuất vật liệu xây dựng sẽ là một nguồn lực tạo khôngnhững tạo ra sản phẩm cho xã hội, việc làm cho cư dân, đóng góp cho ngân sáchNhà nước, mà còn là nguồn tăng vốn phát triển kinh tế xã hội cho tỉnh, từ đó khảnăng dùng nguồn kinh phí đó đầu tư lại cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội trên địabàn tỉnh là triển vọng và khả thi Trong thời gian qua, các dự án đầu tư hình thứcBOT, BTO, BT ở Thanh Hóa rất hạn chế, chỉ có một vài dự án được triển khai, thực

tế đó không tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển của Tỉnh Tình trạngnày do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, một trong số đó là cơ chế chính sách thuhút đầu tư của tỉnh chưa tốt, mô hình quản lý có thể chưa linh động, qui trình chưagọn nhẹ, chưa hấp dẫn được nhà đầu tư

Trong thời gian sắp tới, tỉnh Thanh Hóa có rất nhiều dự án kêu gọi đầu tưbằng nhiều hình thức, trong đó có nhiều danh mục dự án PPP rất cần thiết PPP làmột hình thức đầu tư còn rất mới, vừa là thách thức vừa là cơ hội và tiềm năng pháttriển trong lĩnh vực đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và xã hội của tỉnh Thanh Hóa.Vấn đề thu hút nhà đầu tư, chuẩn bị hồ sơ dự án, triển khai và quản lý dự án mộtcách hiệu quả là rất cần thiết đối với các cơ quan liên quan của Tỉnh

Vì vậy, việc chọn đề tài: "Nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý các dự án ĐTXD theo hình thức đối tác công - tư PPP ở tỉnh Thanh Hóa" là cần thiết và

mang ý nghĩa thực tiễn cao

Trang 15

BTO trong nước; cơ sở lý thuyết, khoa học và thực tiễn quản lý dự án có liên quantrong nước và trên Thế giới.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các dự án đầu tư xây dựng theo hình thức hợp tácgiữa Nhà nước và các doanh nghiệp (BOT, BT, BTO, PPP)

- Phạm vi nghiên cứu: Các dự án đầu tư xây dựng trong các lĩnh vực côngnghiệp, dân dụng, giao thông, hạ tầng, nông nghiệp và PTNT trên địa bàn một sốtỉnh thành trong nước và tỉnh Thanh Hóa

4 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu thực tế thông qua việc thu thập số liệu thực tế

- Tổng hợp, phân tích đưa ra kết luận

5 Kết quả nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn phải giải quyết được cácnhiệm vụ cơ bản sau:

- Phân tích tổng quan thực trạng quản lý, các mô hình và qui trình quản lýđối với các dự án ĐTXD theo các hình thức BOT, BT, BTO, PPP ở một số tỉnhthành ở Việt Nam và Thanh Hóa;

- Làm rõ những yếu tố thuận lợi, khó khăn, tồn tại bất cập trong việc quản

lý ĐTXD các dự án nêu trên, đặc biệt là đối với các dự án đầu tư theo hình thứcPPP hiện nay trên cả nước nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng;

- Phân tích cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học trong vấn đề quản lý dự án đầu tưxây dựng nói chung và các dự án đầu tư theo hình thức hợp tác giữa Nhà nước vàcác doanh nghiệp nói riêng;

- Đề xuất mô hình quản lý và quy trình thực hiện các dự án ĐTXD theohình thức đối tác công – tư PPP để có thể áp dụng hiệu quả ở Thanh Hóa trong giaiđoạn hiện nay

6 Kết quả nghiên cứu

Trang 16

- Về mặt lý thuyết: Bước đầu nghiên cứu và làm rõ hơn một số vấn đềtrong lý thuyết khoa học quản lý dự án ĐTXD theo hình thức PPP hiện nay ở ViệtNam.

- Về mặt thực tiễn: Đề xuất mô hình quản lý làm cơ sở để phát triển hoànthiện hơn để có thể áp dụng đối với các dự án ĐTXD theo hình thức đối tác công –

tư PPP ở tỉnh Thanh Hóa

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN THỰC HIỆN VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN CÁC DỰ ÁN ĐTXD THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG – TƯ PPP Ở VIỆT NAM VÀ

TỈNH THANH HÓA

1.1. Tổng quan tình hình thực hiện các DA ĐTXD giữa Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trên Thế giới

1.1.1 Khái niệm và giải thích từ ngữ

Đầu tư theo hình thức đối tác công - tư là việc Nhà nước và Nhà đầu tư cùngphối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ

sở Hợp đồng dự án PPP là viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Public-PrivatePartnership" – tạm hiểu là “Quan hệ đối tác công - tư” hay là “Hợp tác công - tư”

1.1.1.1 Sự ra đời và các quan niệm về PPP

Thực tế kinh tế Thế giới đã chứng minh, không một Chính phủ nào có thểđộc lập cung cấp đầy đủ cơ sở kết cấu hạ tầng (kỹ thuật, xã hội, dịch vụ công ích )

và đặc biệt là hạ tầng giao thông nói riêng không cần phải hợp tác với khu vực tưnhân Mặc dù theo truyền thống, việc cung cấp kết cấu cơ sở hạ tầng của một đấtnước do khu vực công đảm nhiệm, từ vốn ngân sách hoặc các nguồn hỗ trợ chínhthức Tuy nhiên, các bằng chứng thực nghiệm cho thấy, ngân sách Quốc gia eo hẹpcùng với sự sụt giảm các nguồn hỗ trợ chính thức (ở các nước đang phát triển) đãhạn chế các Chính phủ thực hiện chức năng này hiệu quả Bên cạnh đó, áp lực phảiphát triển cơ sở hạ tầng hiện đại đáp ứng sự gia tăng mạnh mẽ của dân số và nhucầu phát triển kinh tế đã thôi thúc các nước tìm kiếm kênh cung cấp mới phù hợphơn, và hình thức hợp tác công – tư PPP) ra đời [13]

Vào những năm 1980 và đầu những năm 1990, nhiều quốc gia tiến hành xemxét lại quy mô và khả năng điều hành của khu vực công, đặc biệt ở Anh, Mỹ Cácnước này đã đưa ra hình thức quản lý công mới (NPM) theo những tiêu chí như hiệnđại, năng động, nhạy bén và thích nghi cao nhằm đáp ứng các yêu cầu về quản lý vàdịch vụ trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ và các quan hệ Quốc tếngày càng phụ thuộc chặt chẽ với nhau Làn sóng cải cách khu vực công này đã làm

Trang 18

thay đổi đáng kể “diện mạo” của khu vực công, cho thấy vai trò của Nhà nước đãthay đổi, hướng đến tăng năng suất, thị trường hóa, định hướng dịch vụ, phân cấptrách nhiệm, tư nhân hóa một phần hoạt động của Nhà nước và xu hướng Quốc tếhóa

Theo nghiên cứu của [29], thuật ngữ hợp tác công - tư PPP bắt nguồn từ Hoa

Kỳ với các chương trình giáo dục được cả khu vực công và khu vực tư nhân tài trợtrong thập niên 1950 Sau đó nó được dùng rộng rãi để nói đến các liên quangiữa các chính quyền thành phố và nhà đầu tư tư nhân trong việc cải tạo các công trì

nh đô thị ở Hoa Kỳ trong thập niên 1960 Kể từ thập niên 1980 thuật ngữ hợp táccông tư dần được phổ biến ở nhiều nước và được hiểu là sự hợp tác giữa Nhà nước

và tư nhân để cùng xây dựng cơ sở hạ tầng hay cung cấp dịch vụ công cộng Trênthực tế mô hình này đã xuất hiện ở Pháp và ở Anh từ thế kỷ 18 và 19

Theo Nijkampetal (2002): PPP là một hình thức đã được thể chế hóa của sựkết hợp các diễn viên Nhà nước và diễn viên tư nhân, trên cơ sở những mục tiêuthuộc về sở hữu của họ, làm việc với nhau theo một mục tiêu chung, để mà cả haibên tham gia chấp nhận những rủi ro đầu tư trên cơ sở doanh thu và chi phí đượcxác định trước

Nghiên cứu của Klijn & Teisman (2003) cũng đã nêu bật những đặc điểmchung của PPP, nhưng ông đã nhấn mạnh thêm bằng việc sử dụng một cách rõ ràngthuật ngữ “giá trị tăng thêm”: PPP được định nghĩa như là một sự kết hợp lâu dàigiữa đối tác Nhà nước và đối tác tư nhân trong đó các diễn viên này phát triểnnhững dịch vụ và sản phẩm chung và trong đó rủi ro, chi phí và lợi ích được chia sẻcho các bên tham gia Những cái đó được hình thành trên ý tưởng của giá trị tăngthêm chung

Bộ Tài chính Singapore cho rằng PPP phản ánh mối quan hệ dài hạn giữakhu vực Nhà nước và khu vực tư nhân đối với cung cấp dịch vụ PPP là một cáchtiếp cận mới mà Chính phủ đang kế tục và phát huy để làm gia tăng thêm mối quan

hệ với khu vực tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ công

Trang 19

Theo Federal Highway Administration của Mỹ, PPP là một thỏa thuận hợpđồng dài hạn giữa khu vực công (ở mọi cấp độ của chính quyền) và khu vực tư(thường là một nhóm các công ty tư nhân cùng làm việc với nhau) để cung cấp cơ

sở hạ tầng công

Ủy ban Châu Âu định nghĩa: PPP là hợp đồng giữa Nhà nước và tư nhân,thông qua đó các kỹ năng và tài sản của mỗi bên được chia sẻ trong việc phân phốidịch vụ cho xã hội

Theo “PPP: Hướng dẫn cho chính quyền địa phương” Chính quyền bangBritish Columbia, Canada coi Đối tác công tư là “sự phối hợp giữa các cơ quanChính phủ và tổ chức tư nhân nhằm mục đích cung cấp cơ sở hạ tầng công, các tiệnnghi cho cộng đồng và các dịch vụ liên quan”

Theo quan điểm của ADB: PPP miêu tả các mối quan hệ giữa Nhà nước và

tư nhân trong lĩnh vực CSHT trong đó chia sẻ công bằng quyền lợi, chi phí và tráchnhiệm [22]

Theo World Bank, thuật ngữ PPP được sử dụng để nói đến những hình thứcthỏa thuận hợp tác từ đơn giản đến phức tạp giữa khu vực Nhà nước và khu vực tưnhân trong việc cung cấp dịch vụ công là kết cấu hạ tầng và các dịch vụ liên quan

mà trước đây thường do khu vực Nhà nước cấp vốn và thực hiện, theo đó, khu vực

tư nhân chấp nhận những rủi ro về hoạt động, kỹ thuật và tài chính, đổi lại khu vực

tư nhân được phép thu phí từ người sử dụng hoặc nhận thanh toán từ khu vực Nhànước

Như vậy, mặc dù có nhiều khái niệm về PPP, nhưng các khái niệm đều cóđặc điểm chung là: “Mối quan hệ đối tác Nhà nước – tư nhân là sự kết hợp hài hòagiữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ công cho xãhội, trên cơ sở lợi ích kinh tế, trách nhệm, chi phí và rủi ro được chia sẻ cho các bêntham gia”

Hay nói cách khác, Hợp tác công tư PPP là mô hình hợp tác theo đó Nhànước cho phép tư nhân cùng tham gia đầu tư vào các dịch vụ hoặc công trình côngcộng Với mô hình hợp tác công tư, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung

Trang 20

cấp dịch vụ và khu vực tư nhân được khuyến khích tham gia hợp tác bằng cơ chếthanh toán theo chất lượng dịch vụ Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quảđầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao Hình thức hợp tác này sẽmang lại lợi ích cho cả Nhà nước và người dân vì tận dụng được nguồn lực tài chính

và quản lý từ tư nhân trong khi vẫn đảm bảo lợi ích cho người dân

Đối tác Nhà nước trong PPP là các tổ chức Chính phủ, bao gồm các Bộ,Ngành, các chính quyền địa phương hoặc các doanh nghiệp Nhà nước Đối tác tưnhân có thể là một hoặc nhiều đối tác trong nước hoặc nước ngoài, và có thể là cácdoanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư có chuyên môn về tài chính hoặc kỹ thuật liênquan đến dự án

Dựa trên các loại hợp đồng và chuyển giao thì có nhiều mô hình (hình thức) PPPtrên Thế giới Các thuật ngữ sau đây thường được sử dụng để mô tả các thỏa thuậnquan hệ đối tác tiêu biểu, cũng có thể hiểu là các mô hình, hay hình thức PPP khácnhau:

- Build - Own - Operate (BOO): Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh

- Build - Own - Operate - Transfer (BOOT): Xây dựng - Sở hữu - Kinhdoanh - Chuyển giao

- Build - Operate - Transfer (BOT): Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao

- Build - Lease - Operate - Transfer (BLOT): Xây dựng - Cho thuê - Kinhdoanh - Chuyển giao

- Design - Build - Finance - Operate (DBFO): Thiết kế - Xây dựng - Tàichính - Kinh doanh

- Finance Only: Tài chính đơn thuần

- Operation&Maintenance Contract (O & M): Hợp đồng kinh doanh và bảodưỡng

- Design-Build (DB): Thiết kế - Xây dựng

- Operation License: Giấy phép hoạt động

Như vậy có thể nhận thấy hình thức của PPP là rất phong phú và phụ thuộcvào nội dung thực hiện của nhà đầu tư, cơ chế thực hiện từ lúc xây dựng dự án đến

Trang 21

vận hành khai thác, và mối quan hệ giữa nhà đầu tư và Nhà nước, trong đó bản chấtmối quan hệ giữa nhà đầu tư và Nhà nước quyết định đến hô hình của PPP Văn bảnpháp lý để thực hiện các hình thức đầu tư PPP là Hợp đồng dự án giữa Nhà đầu tư

và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Xét ở góc độ đó và tổng quát lại thì có 06 hình thức (hay 6 dạng hợp đồngmang tính chất mối quan hệ đối tác Nhà nước - tư nhân đang sử dụng phổ biến trênthế giới như sau:

- Hợp đồng dịch vụ;

- Hợp đồng quản lý;

- Hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng giao thầu;

- Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) hoặc các thoả thuậntương tự (BTO, BT);

3 năm Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền vẫn là người cung cấp chính dịch vụ cơ

sở hạ tầng Đối tác tư nhân phải thực hiện dịch vụ với một mức chi phí được thoảthuận và thường phải đáp ứng những tiêu chuẩn hoạt động do cơ quan Nhà nước đặt

ra

Trong một hợp đồng dịch vụ, Chính phủ trả đối tác tư nhân một khoản phí địnhtrước cho dịch vụ, trên cơ sở chi phí đơn vị dịch vụ Hợp đồng dịch vụ thôngthường thích hợp nhất khi dịch vụ có thể được xác định rõ ràng trong hợp đồng,mức độ nhu cầu tương đối chắc chắn và việc thực hiện có thể theo dõi một cách dễdàng Các hợp đồng dịch vụ là một lựa chọn có độ rủi ro tương đối thấp trong việc

mở rộng vai trò của khu vực tư nhân Các hợp đồng dịch vụ thường có thời gianngắn

b Hợp đồng quản lý.

Trang 22

Trong hình thức Hợp đồng quản lý, nghĩa vụ cung cấp dịch vụ vẫn thuộctrách nhiệm của khu vực Nhà nước, hoạt động quản lý kiểm soát và thẩm quyền xử lýhàng ngày được giao cho đối tác tư nhân hoặc nhà thầu, đối tác tư nhân cung cấp vốn chohoạt động quản lý điều hành nhưng không cung cấp vốn đầu tư (hình 1.1).

Hình 1.1 Cấu trúc hình thức hợp đồng quản lý trong PPP [21].

Nhà thầu tư nhân được trả một tỷ lệ được thoả thuận trước cho chi phí laođộng và các chi phí điều hành dự kiến khác Nhà thầu quản lý có thể được nhận mộtphần lợi nhuận Khu vực Nhà nước vẫn giữ nghĩa vụ cung cấp các khoản đầu tư chủyếu Đối tác tư nhân sẽ liên hệ với các khách hàng và khu vực Nhà nước chịu tráchnhiệm quy định biểu phí dịch vụ Một hợp đồng quản lý thông thường sẽ cải thiện

hệ thống quản lý và tài chính của công ty

c Hợp đồng giao thầu hoặc cho thuê.

Trang 23

Đối tác tư nhân chịu trách nhiệm về toàn bộ dịch vụ và thực hiện các nghĩa

vụ liên quan đến chất lượng và tiêu chuẩn của dịch vụ Ngoại trừ các khoản đầu tưmới và đầu tư thay thế thuộc trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhàđiều hành chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ với chi phí và rủi ro do mình gánhchịu (hình 1.2) Thời hạn của hợp đồng cho thuê thường là 10 năm và có thể đượcgia hạn kéo dài đến 20 năm Trách nhiệm cung cấp dịch vụ được chuyển từ khu vực

Nhà nước sang khu vực tư nhân và rủi ro tài chính đối với việc điều hành và duy trì dịch

vụ hoàn toàn do nhà điều hành tư nhân gánh chịu

Hình 1.2 Cấu trúc hình thức hợp đồng giao thầu và cho thuê trong PPP [21].

d Hợp đồng giao thầu hoặc cho thuê.

Trong hình thức hợp đồng này, người được nhượng quyền chịu trách nhiệmcung cấp toàn bộ dịch vụ trong một khu vực cụ thể, bao gồm việc điều hành, duy tubảo dưỡng, thu phí, quản lý, xây dựng và tu bổ hệ thống, chịu trách nhiệm đối vớitoàn bộ các khoản đầu tư vốn, các tài sản này vẫn thuộc sở hữu của khu vực nhànước thậm chí cả trong thời gian nhượng quyền Khu vực Nhà nước chịu tráchnhiệm thiết lập các tiêu chuẩn hoạt động và đảm bảo rằng người được nhượng

Trang 24

quyền đáp ứng được các tiêu chuẩn hoạt động đó Điểm quan trọng là vai trò củakhu vực nhà nước đã chuyển từ việc là một người cung cấp dịch vụ sang một ngườiđiều tiết và quản lý giá và chất lượng dịch vụ (hình 1.3).

Hình 1.3 Cấu trúc hình thức hợp đồng nhượng quyền trong PPP [21].

Người được nhượng quyền thu phí trực tiếp từ những người sử dụng hệthống Người được nhượng quyền chịu trách nhiệm đối với bất kỳ khoản đầu tư cầnthiết để xây dựng, nâng cấp hoặc mở rộng hệ thống và chịu trách nhiệm thu xếp vốncho các khoản đầu tư đó từ nguồn lực của mình và từ các khoản phí do người sửdụng hệ thống chi trả Người được nhượng quyền cũng chịu trách nhiệm đối vớivốn hoạt động của hệ thống Một hợp đồng nhượng quyền thông thường có giá trị từ

25 đến 30 năm để nhà điều hành có đủ thời gian thu hồi vốn đầu tư và có được mộtkhoản lợi nhuận hợp lý trong thời gian được nhượng quyền

e Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao và các thoả thuận tương tự.

Theo các hợp đồng BOT, đối tác tư nhân cung cấp vốn đầu tư cần thiết đểxây dựng cơ sở dịch vụ mới Điều quan trọng là nhà điều hành tư nhân được quyền

Trang 25

sở hữu tài sản trong một khoảng thời gian quy định trong hợp đồng - một khoảngthời gian đủ để cho đối tác tư nhân xây dựng cơ sở hạ tầng thu hồi chi phí đầu tưthông qua việc trả phí của người sử dụng Các hợp đồng BOT thường yêu cầunhững gói đầu tư tài chính phức tạp để đạt được lượng tài chính đủ lớn và thời gianthu hồi vốn đủ dài Khi hợp đồng kết thúc, khu vực Nhà nước nắm quyền sở hữunhưng có thể lựa chọn việc tự đảm nhiệm việc điều hành, tiếp tục ký hợp đồng giaotrách nhiệm điều hành cho nhà đầu tư cũ, hoặc trao hợp đồng điều hành mới chomột đối tác mới (hình 1.4).

Sự khác biệt giữa một thoả thuận dạng BOT và một hợp đồng nhượng quyền nằm ởchỗ hợp đồng nhượng quyền thông thường liên quan đến việc mở rộng và điều hành một

hệ thống hiện có, trong khi một hợp đồng BOT thông thường liên quan đến các khoản đầu

tư lớn để xây dựng một hệ thống mới, cần phải huy động nguồn tài chính đáng kể từ bênngoài, bao gồm cả việc góp vốn và đi vay

Hình 1.4 Cấu trúc hình thức hợp đồng BOT trong PPP [21].

Có rất nhiều biến thể của của cơ cấu BOT cơ bản, bao gồm các hợp đồng xâydựng chuyển giao-kinh doanh (BTO) trong đó việc chuyển giao về sở hữu Nhànước được tiến hành khi việc xây dựng kết thúc mà không phải khi hợp đồng kếtthúc, các hợp đồng xây dựng-sở hữu-kinh doanh (BOO) trong đó nhà đầu tư phát

Trang 26

triển xây dựng và điều hành cơ sở dịch vụ mà không chuyển lại quyền sở hữu chokhu vực Nhà nước Theo một hợp đồng thiết kế-xây dựng-kinh doanh (DBO), sởhữu không khi nào nằm trong tay của tư nhân Thay vào đó, một hợp đồng được lập

ra cho việc thiết kế, xây dựng và điều hành dự án cơ sở hạ tầng

f Hợp đồng liên doanh.

Liên doanh là phương án theo đó cơ sở hạ tầng cùng được sở hữu và điềuhành bởi khu vực Nhà nước và nhà điều hành tư nhân Trong một liên doanh, cácđối tác Nhà nước và tư nhân có thể thành lập một công ty mới hoặc thực hiện việcliên doanh sở hữu trong một công ty hiện có thông qua việc bán cổ phần cho mộthoặc một số nhà đầu tư tư nhân Công ty cũng có thể được niêm yết trên thị trườngchứng khoán Đối tác tư nhân đảm nhiệm vai trò điều hành và một ban giám đốcthường được xây dựng dựa trên tỷ lệ phần vốn góp hoặc dựa trên năng lực và trình

độ (hình 1.5)

Hình 1.5 Cấu trúc hình thức hợp đồng Liên doanh trong PPP [21].

Cơ cấu liên doanh thường đi kèm với các hợp đồng bổ sung Các liên doanhcũng cần có một khoảng thời gian để phát triển và cho phép các đối tác Nhà nước

và tư nhân có cơ hội thích đáng để đối thoại và hợp tác trước khi dự án được thực

Trang 27

hiện Trong cơ cấu liên doanh, cả đối tác Nhà nước và tư nhân phải sẵn sàng đầu tưvào công ty và cùng chia sẽ những rủi ro nhất định.

1.1.2 Tình hình thực hiện các dự án PPP ở một số nước trên Thế giới

Mô hình PPP đã được áp dụng trong việc xây dựng các kênh đào ở Pháp vàothế kỷ XVIII, các cây cầu ở London vào thế kỷ XIX hay cây cầu Brooklyn nổi tiếng

ở New York cũng vào thế kỷ XIX Tuy nhiên, mô hình này chỉ thực sự bắt đầu phổbiến trên thế giới từ đầu thập niên 1980 và nó đã đóng một vai trò nhất định trongviệc phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước phát triển

1.1.2.1 Ở các nước Châu Âu, châu Mỹ và Úc

Vương quốc Anh là một trong những quốc gia đầu tiên xây dựng và triểnkhai thành công dự án PPP Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX Vương quốcAnh đã có những bước đi ban đầu cho việc hình thành cơ chế PPP cho các dự áncung cấp dịch vụ công và từ thập niên 80 đã áp dụng rộng rãi Theo đó, bắt đầu từnhu cầu cải cách và hiện đại hóa dịch vụ công, đồng thời cải thiện hiệu quả muasắm các dịch vụ công cũng như tăng khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực này Bêncạnh đó, dự án PPP giúp triệt tiêu chủ nghĩa “ăn xổi” trong cả hai khu vực công và

tư khi triển khai dự án, cải thiện tính minh bạch về chi phí của dịch vụ công PPP tại Vương quốc Anh được hiểu theo nghĩa rất đơn giản và hiệu quả như sau:Khu vực công chỉ trả tiền nếu những yêu cầu dịch vụ được cung cấp, trả theo từngnăm Cũng theo Bộ Ngân khố Vương quốc Anh, PPP chiếm 11% trong tổng đầu tưcông ở Anh; môi trường và giao thông vận tải là 2 lĩnh vực áp dụng PPP nhiều nhấttại Vương quốc Anh hiện nay Đến nay tại Anh đã có 667 hợp đồng PPP đã được kýkết với giá trị vốn 56,6 tỷ bảng Anh và 590 dự án đang thực hiện

Tại Anh có cơ chế tái cấp vốn cho các dự án PPP Theo đó, cơ quan này cóthể xem xét để đảm bảo tài chính cho một dự án hoặc nền tảng cấu trúc tài chính vớigiá trị tối thiểu là 20 triệu bảng Anh Xuất phát từ thực tế, các ngân hàng thườngkhông ưu đãi cho các dự án có thời gian triển khai trên 5 năm, trong khi các dự ánPPP thường có thời gian triển khai tối thiểu từ 15 - 20 năm Do đó, Vương quốcAnh đã thiết lập liên minh các ngân hàng để cứu vãn tình hình, thu hút nhiều ngân

Trang 28

hàng tham gia các dự án dài hơi Đây chính là những kinh nghiệm mà Việt Nam cầntham khảo khi bắt đầu triển khai các dự án PPP.

Tư duy của người Anh là những gì mà tư nhân không làm được, hoặc khôngthể tham gia thì Nhà nước mới làm, mới quản lý Cụ thể, như chức năng quản lýhành chính được coi là một chức năng không thể sẻ chia cho tư nhân Vì vậy ở Anh,Nhà nước khuyến khích tư nhân tham gia đầu tư vào hầu hết các lĩnh vực và khoángọn cho họ đầu tư toàn bộ cơ sở vật chất, sau đó Nhà nước thuê lại công trình đó.Nhà nước chỉ thuê sử dụng còn quản lý cơ sở vật chất vẫn là tư nhân

Ở Liên bang Đức, mặc dù có nhiều kinh nghiệm trong triển khai và quản lývới sự minh bạch và công khai bậc nhất thế giới, các dự án PPP đã thực hiện đềuphản ảnh hiệu ứng 2 chiều Chiều tích cực là đã tận dụng được nguồn vốn trong lĩnhvực phát triển hạ tầng kỹ thuật và xã hội Chiều ngược lại là chất lượng công trình

và vận hành khai thác dự án vẫn còn nhiều vấn đề

Ví dụ: Dự án dịch vụ đường sắt nhanh của Berlin được xây dựng bằng hìnhthức PPP, sau khi hoàn thành và được đưa vào sử dụng, chất lượng dịch vụ vậnchuyển đường sắt này kém dần Là dịch vụ đường sắt nhanh nhưng người dân phảiđứng chờ tàu tại các bến ga hàng giờ trong giá lạnh tuyết rơi mà tàu thì vô cùngchậm chạp, chậm giờ, luôn bỏ chuyến, bỏ bến khiến người dân bất bình và biểu tìnhphản đối Hay một dự án công trình đường cao tốc liên tỉnh được xây dựng theo môhình PPP được hoàn thiện và đi vào khai thác sử dụng, công ty tư nhân được quyềnđiều hành dịch vụ con đường này đã bỏ bê chất lượng dịch vụ, đến mức đi trên đoạnđường cao tốc liên tỉnh 600 km này thời gian lên đến 9 giờ đồng hồ, chậm hơn hơn

4 tiếng so với trước Nguyên nhân được công ty tư nhân giải trình là mức phí đượcphép thu của các phương tiện quá thấp nên không đủ trang trải và nâng cấp conđường

Theo một số chuyên gia về đầu tư của Đức nhận định, không nên tin tất cảnhững gì tốt đẹp mà PPP hứa hẹn mang lại Theo họ, việc đánh giá hiệu quả cuốicùng PPP hiện nay ở Đức là khó bởi vì các dự án PPP thường có thời gian dài, từ 30năm trở lên, trong khi các dự án ở Đức cũng chỉ mới được thực hiện khoảng 5 năm

Trang 29

trở lại đây Tuy nhiên cũng cần xem xét thu hồi các dự án không hiệu quả về choNhà nước quản lý.

Để thúc đẩy PPP, Chính phủ Đức tiến hành cải cách luật pháp, xây dựngLuật thúc đẩy đầu tư theo hình thức PPP (2005) như là một văn bản tổng thể chứađựng những điều chỉnh/ sửa đổi những quy định thuộc các Bộ luật và các văn bảnpháp lý khác nhau liên quan tới những khía cạnh riêng rẽ trong đầu tư theophương thức PPP Bộ luật này điều chỉnh các quy định liên quan tới quan hệ PPPtrong 7 văn bản pháp lý có hiệu lực thi hành tại thời điểm đó, cụ thể là:

- Luật chống hạn chế cạnh tranh; Nghị định về mua sắm công; Luật về tài trợ

tư nhân trong xây dựng đường quốc lộ Liên bang; Luật Ngân sách Liên bang; LuậtThuế chuyển giao bất động sản; Luật Thuế đất đai và Luật Đầu tư

Hiện nay, ngoài những quy định tương đối tổng thể về phương thức đầu tưPPP như trong bộ luật trên, CHLB Đức đã ban hành thêm hoặc tiếp tục điều chỉnh,

bổ sung những quy định cụ thể về các vấn đề kinh tế - tổ chức trong một số Luật vềPPP cho từng lĩnh vực hoặc những vấn đề riêng rẽ liên quan tới quan hệ đối táccông- tư

Kết quả là, từ 2003 tới 2007, số dự án PPP ở Đức tăng từ 01 lên 35 dự án, sốvốn tăng từ 345 triệu (2004) lên 1.498 triệu € (2007) Tới cuối năm 2008, số dự ánPPP đã chiếm tới khoảng 15% tổng số dự án đầu tư xây dựng các công trình côngcộng Tới đầu năm 2013, ở Đức có 243 dự án PPP trên mọi lĩnh vực

Ở Hà Lan bắt đầu chương trình PPP năm 1999 bằng việc thành lập Trungtâm kiến thức PPP (PPP Knowledge Center) Trung tâm này giữ vai trò quan trọnghướng dẫn cho khu vực Nhà nước lẫn tư nhân các nhiệm vụ trong dự án PPP, xâydựng những tài liệu và công cụ tiêu chuẩn để đo lường giá trị vượt trội của dự ántheo mô hình PPP so với mô hình đầu tư truyền thống Nhờ vậy, các dự án đường

bộ của Hà Lan đã thành công, và tạo ra giá trị tăng thêm 10-15% cho Chính phủ.Đặc trưng của các dự án giao thông PPP Hà Lan là bất kể lưu lượng giao thông thếnào, rủi ro doanh thu được Chính phủ Hà Lan gánh chịu Yếu tố quan trọng thúcđẩy sự phát triển của các dự án PPP ở Hà Lan là đánh giá giá trị tiền mang lại từ dự

Trang 30

án ở các giai đoạn chuẩn bị và đấu thầu Ở giai đoạn đầu, một đánh giá được thựchiện xem mô hình PPP có mang lại giá trị thặng dư cho dự án không Quá trình nàyđược lặp lại trước khi đấu thầu, khi quy mô của dự án đã được xác định chi tiết Khicác đơn thầu PPP được nhận, một so sánh sẽ được tiến hành giữa đầu tư theo môhình PPP và đầu tư theo truyền thống, từ đó ra quyết định có thực hiện dự án bằng

mô hình PPP hay không Chỉ những dự án PPP nào có chi phí rẻ hơn so với đầu tưtruyền thống mới được chọn Chính sách của Hà Lan là sử dụng PPP để thực hiệncác dự án công rẻ, nhanh, và hiệu quả hơn

Ở các nước châu Âu khác mô hình PPP cũng đạt được những thành tựu đáng

kể Giá trị thực hiện các dự án PPP của một số nước trong khối OECD (các nướcchâu Âu phát triển, Mỹ, Úc, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc trong năm 2004 thể hiện

ở hình 1.6

Hình 1.6 Giá trị thực hiện PPP năm 2004 của một số nước OECD.

So với các nước châu Âu, giá trị thực hiện PPP của nước Mỹ trong năm

2004 ở mức trung bình, kém xa so với Anh, Hàn Quốc và Úc (hình 1.6) ,

Ở Chile (theo một báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố năm 2008)PPP được thực hiện rất thành công như một hình mẫu cho các nước trong khu vực.Chile có 21 dự án có tổng đầu tư 5 tỉ USD trong giai đoạn 1993-2001 Nhằm đolường phản ứng của thị trường và hạn chế rủi ro đối với khu vực tư nhân, chínhquyền nước này tổ chức đấu thầu dự án theo quy mô từ nhỏ đến lớn, thu hút 27 liêndanh và 40 doanh nghiệp trong và ngoài nước từ 10 quốc gia Quy trình đấu thầuminh bạch và cạnh tranh, khuyến khích mức doanh thu tối thiểu đối với từng dự án

Triệu USD

Trang 31

Ở Mexico việc thực hiên PPP không thu được hiệu quả như kế hoạch và cáigiá phải trả thường là nặng nề trong dài hạn, mà điển hình là trong các dự án PPPđường thu phí Đến cuối năm 1995, Chính phủ nước này phải thu hồi 23/52 dự ánđược cấp phép, thanh toán khoản nợ 7,6 tỉ USD cho các ngân hàng và công ty xâydựng Tỉ lệ thành công chỉ chiếm chưa đến 10% (5 dự án) Nguyên nhân đầu tiên làchi phí xây dựng phát sinh tăng khoảng 25%, doanh thu thấp hơn 30% so với dựbáo Hai là điều kiện bắt buộc để thắng thầu là thời gian nhượng quyền khai thácquá ngắn (15 năm), khiến phí đường bộ bị đẩy lên, từ 0,02 USD lên 0,17USD/km.

Ba là đường nhượng quyền thu phí phải xây dựng song song với đường không thuphí Bốn là tác động từ việc nền kinh tế Mexico rơi vào khủng hoảng năm 1994 Ổnđịnh vĩ mô cũng là một yếu tố được các nhà đầu tư đặc biệt cân nhắc khi quyết địnhtham gia PPP

1.1.2.2 Ở các nước Châu Á

Mô hình hay hình thức PPP kết hợp được nhiệm vụ của dịch vụ công vớihiệu quả của một hay nhiều doanh nghiệp tư nhân cho phép các chính quyền địaphương nhanh chóng đạt được những tiêu chuẩn quốc tế tốt nhất trong các dịch vụcông, tạo thuận lợi cho chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại

Nhật Bản là một trong những quốc gia đã phát triển mạnh nhất mô hình này

ở châu Á Theo kinh nghiệm của nước này, có ít nhất hai lĩnh vực mà mô hình PPP

có thể phát huy hiệu quả, đó là các dự án không thể hoặc khó áp dụng phương pháp

cổ phần hóa và các dự án mà Nhà nước không thể tham gia trực tiếp Cụ thể như cácdự án về sản xuất và phân phối điện, đường cao tốc, giao thông đô thị, dịch vụ cảng,cấp nước và các dịch vụ công cộng Hiệu quả mà mô hình này đem lại là giảm chiphí, giảm rủi ro và tạo ra được một môi trường cạnh tranh cao

Tỷ lệ các dự án theo mô hình hợp tác Nhà nước - Tư nhân trên tổng số cácdự án xét thầu của Chính phủ cũng ở mức khá cao và ổn định Ngoài ra, ở NhậtBản, Luật Sáng kiến tài chính công (PFI) tương tự như chương trình hợp tác Nhànước - Tư nhân đã được thông qua từ năm 1999 Tổng vốn đầu tư của các dự án PFI

Trang 32

lên tới 3.000 tỷ Yên Nhật năm 2008 trong khi tổng lượng vốn đầu tư xây dựng kếtcấu hạ tầng của Chính phủ Nhật Bản là 6.700 tỷ Yên.

Ở Trung Quốc, trong những năm 1990, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ ở đãdẫn đến nhu cầu to lớn về cơ sở hạ tầng cơ bản như đường giao thông, bến cảng vàcác cơ sở phát điện Ngân hàng Thế giới ước tính đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở TrungQuốc xếp hàng đầu trong số tất cả các nước Đông Á với ước tính khoảng 750 tỷUSD trong giai đoạn 1995 đến năm 2004 Đường xá và dự án phát điện là những ưutiên hàng đầu của Chính phủ Trung Quốc Để đáp ứng nhu cầu phát triển, Chínhphủ Trung Quốc đã tăng cường cung cấp các dự án nhượng quyền với điều kiện ưuđãi để thu hút đầu tư nước ngoài Trong khi đó, một số tỉnh đã cho phép thực hiệnthí điểm mô hình xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (dự án BOT) kể từ cuối năm

1996 để giới thiệu BOT trên một quy mô lớn hơn, chẳng hạn như dự án điện Laibin

B, dự án nước Dachang và dự án điện Changsa Ba hình thức đầu tư chính ở TrungQuốc là sở hữu duy nhất, liên doanh và hợp tác xây dựng

Dự án cấp nước sạch ở TP Thượng Hải là một hình mẫu mà Việt Nam cóthể tham khảo Năm 2002 chính quyền Thượng Hải đã ký kết với Tập đoàn VE củaPháp hợp đồng quản lý dịch vụ cấp nước sạch trong thời hạn 50 năm Từ đó hìnhthành một doanh nghiệp liên doanh Pháp – Trung Quốc với tỷ lệ vốn góp 50/50.Theo đó, VE cung cấp toàn bộ dịch vụ sản xuất, phân phối nước sạch, quản lý vàchăm sóc khách hàng, thiết kế và đầu tư

Về mặt hạn chế, nhiều nghiên cứu cho rằng sự can thiệp của Chính phủ vàtham nhũng là trở ngại lớn nhất cho sự thành công của mô hình PPP ở Trung Quốc,nguyên nhân là do các quy định pháp luật chưa đầy đủ, hệ thống giám sát yếu, chưacông khai trong quá trình ra quyết định

Ở Hàn Quốc từ những năm 1960 đến thập niên đầu của thế kỷ 21 ghi nhận sựphát triển thần kỳ về kinh tế, mức sống và an sinh xã hội Điều này được giải thíchchủ yếu là do những tiến bộ vượt bậc về cơ sở hạ tầng của quốc gia trong suốt giaiđoạn đó Trong đó, có sự đóng góp, hợp tác tích cực của khu vực tư nhân trong việccung cấp kết cấu hạ tầng công

Trang 33

Hàn Quốc đã bắt đầu chương trình PPP vào năm 1994 với 100 dự án cơ sở

hạ tầng được đề xuất Chương trình này không thành công hoàn toàn, trong bốnnăm, chỉ có 42 dự án được thực hiện Các lý do cho sự không thành công của môhình PPP tại Hàn Quốc là không đủ động cơ thu hút tư nhân, các thủ tục đấu thầukhông rõ ràng, thiếu sự minh bạch, không nhất quán với các tiêu chuẩn của thế giới,

và cơ chế phân bổ rủi ro không phù hợp Để ứng phó với khủng hoảng tài chínhchâu Á và khắc phục hạn chế, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành luật PPL 12/1998nhằm cải thiện hình thức các hợp đồng PPP, cách thức xử lý các dự án đơn lẻ, quyđịnh bắt buộc nghiên cứu khả thi, lập hệ thống hỗ trợ xử lý rủi ro, và thành lậpTrung tâm Xúc tiến và phát triển dự án PPP cơ sở hạ tầng Hàn Quốc (PrivateInfrastructure Investment Centre of Hàn Quốc - PICKO) Luật này đã cải thiện đáng

kể, khơi thông dòng vốn và thu hút đầu tư nước ngoài cho nhiều dự án Ngoài ra,Chính phủ còn thực hiện đơn giản thủ tục đấu thầu, miễn giảm thuế, bảo đảm doanhthu tối thiểu 90% nên tư nhân hầu như không có rủi ro doanh thu Nhờ vậy số lượngdự án PPP phát triển hạ tầng tăng lên nhanh chóng Hàn Quốc đã trở thành một ví

dụ điển hình để các quốc gia đang phát triển Việt Nam nghiên cứu học tập kinhnghiệm Ví dụ, theo hình thức PPP, TP Seoul đã xây dựng tuyến xe điện ngầm số 9.Hiện nay, mỗi ngày phục vụ 256.000 lượt khách, dự báo đến năm 2013 sẽ thu hút760.000 lượt khách/ngày Gần 1.000 người Hàn Quốc đã được đào tạo để vận hành,khai thác và làm dịch vụ chăm sóc khách hàng

Tại Ấn Độ hình thức dự án hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân để xây dựng hạtầng đường sá rất phát triển trong mấy năm gần đây Để tiến hành các dự án PPP,Chính phủ và các công ty tư nhân tiến hành thỏa thuận hợp đồng dài hạn cho việccung cấp tài chính, thiết kế, thực hiện và khai thác dự án Trong đó, khu vực công làngười tạo thuận lợi, thúc đẩy, kiểm soát và trợ cấp cho dự án Khu vực tư nhân lạigiúp tiếp cận được với nguồn tài chính, công nghệ tiên tiến, quản lý hiệu quả, hoànthành công trình đúng thời hạn và khai thác công trình có hiệu quả nhất Hai bênchia sẻ rủi ro thương mại và rủi ro xây dựng

Trang 34

Ở các nước ASEAN trong những năm gần đây PPP có những bước phát triển

rõ rệt, đặc biệt ở bốn nước Malaixia, Philíppin, Inđônêxia và Thái Lan (hình 1.7)

Tuy nhiên, mặc dù vốn đầu tư lớn, hiệu quả PPP ở Malaixia chưa cao.((2006)) đã chỉ ra năm nguyên nhân dẫn đến thất bại của việc thực hiện các dự ánPPP ở Malaysia, đó là: Sự thiếu minh bạch trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư;mức giá thu phí thấp;khả năng hỗ trợ của Chính phủ bị giới hạn; các chính sách củaChính phủ chưa đồng bộ; sự bất ổn về chính trị

Hình 1.7 Tổng vốn đầu tư một số nước ASEAN.

theo mô hình PPP giai đoạn 1990-2006

Ở Thái Lan Chính phủ đã xây dựng những đạo luật để thực hiện PPP, tuynhiên về nội dung và cơ sở chưa chặt chẽ, phạm vi áp dụng chưa cao, thiếu cơ sởthực tế Các dự án PPP chủ yếu thuộc lĩnh vực giao thông, cấp thoát nước, nănglượng và viễn thông Các vấn đề còn tồn tại: việc cơ cấu dự án theo phương phápgiá trị tiền tệ với các chi phí vòng đời dự án, việc tài trợ vốn để phát triển dự ángiữa các lĩnh vực, việc huy động tài chính cho dự án từ khu vực tư nhân

Ở Lào, bước đầu Chính phủ khuyến khích các lĩnh vực đầu tư theo PPP là hạtầng điện năng và cấp nước nông thôn Các vấn đề tồn tại: thiếu khung pháp lý choPPP, phát triển dự án và tài trợ vốn cho dự án

Ở Campuchia, luật hợp đồng về BOT được ban hành năm 1998, dự thảo luậtchuyển nhượng hiện đang được áp dụng từ tháng 12 năm 2006 Chú trọng vào việcmời gọi đầu tư của khu vực tư nhân vào các lĩnh vực điện lực, vận tải, cấp thoátnước, viễn thông, công nghệ thông tin, du lịch và dầu khí Các dự án có áp dụng

Triệu USD

Trang 35

hình thức PPP như Sân bay PhnomPhenh, đường PhnomPenh - Sihanoukville, thuỷđiện (KamChay), thu gom rác thải đô thị ở PhnomPenh và một số dự án cấp nước.

1.2 Tổng quan tình hình thực hiện các dự án BOT, BTO, BT, PPP ở Việt Nam 1.2.1 Đầu tư công trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam

1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm đầu tư công

Khái niệm: Đầu tư công là hình thức đầu tư vốn Nhà nước vào các chương

trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh Đây làhoạt động đầu tư của Chính phủ và khu vực công, phản ánh sự phân phối và sửdụng nguồn lực tài chính của Nhà nước trong quá trình cung cấp hàng hóa công

- Đối với các dự án cơ sở HTKT (giao thông, cấp thoát nước, năng lượng…)

có thu hồi vốn một phần hoặc toàn bộ với thời gian thu hồi vốn thường rất dài,thông thường trên 20 năm

- Đầu tư đuợc thực hiện khi có phân tích lợi ích kinh tế đạt được mục tiêukinh tế - xã hội, chú trọng đến phúc lợi xã hội hơn là lợi ích tài chính của dự án

1.2.1.2 Hình thức và nguồn vốn cho đầu tư công

- Nguồn vốn NSNN kể cả vốn của Trung ương và địa phương

- Nguồn tài trợ của các nước và các tổ chức phi Chính phủ không hoàn lại nhưcác công trình HTXH và các công trình bảo vệ môi trường sinh thái

- Nguồn vốn vay ưu đãi của các tổ chức viện trợ phát triển chính thức (ODA) đểxây dựng cơ sở HTKT và HTXH

- Nguồn vốn huy động đóng góp của nhân dân (tự nguyện, công ích )

- Nguồn vốn của nhân dân kết hợp với Nhà nước cùng làm

Trang 36

Không một Chính phủ nào có thể kham nổi toàn bộ việc đầu tư cho hệ thống

cơ sở hạ tầng, nhưng cũng không nhà đầu tư tư nhân nào có thể làm được việc này

vì đây là lĩnh vực có hiệu quả kinh tế thấp và nhiều rủi ro

Chính phủ thường đối mặt với những nhu cầu ngày càng tăng trongviệc tìm đủ nguồn tài chính để phát triển và duy trì cơ sở hạ tầng theo sự gia tăngcủa dân số Hơn nữa, các dịch vụ cơ sở hạ tầng thường có doanh thu thấp hơn chiphí, vì vậy phải bù đắp thông qua trợ cấp và do đó làm cho nguồn lực Nhà nước bịhao mòn thêm

1.2.1.3 Vai trò và hiệu quả của đầu tư công trong phát triển KT-XH

Tăng trưởng kinh tế: Đầu tư có vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng

trưởng và phát triển kinh tế Lý luận và thực tiễn đều chỉ cho chúng ta thấy rõ điềunày Cho đến những năm của thế kỷXX, nhà kinh tế học Haros Domar của trườngphái Keynes đã chỉ ra mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thông qua hệ sốICOR (hiệu quả sử dụng vốn đầu tư)

G=I/ICOR*YTrong đó:

G : Tốc độ tăng trưởng

I : Vốn đầu tư

Y : Thu nhập quốc dân

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Chúng ta có thể nhận rõ vai trò của đầu tư

công đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua chiến lược phát triển kinh tế củaquốc gia và các chính sách đầu tư vào ngành mũi nhọn được ưu tiên Kinh nghiệmcủa các nước trên Thế giới có thể thấy con đường tất yếu dẫn đến tăng trưởng nhanhvới tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tư phát triển ưu tiên vào cơ sở hạ tầngnhằm tạo ra sự phát triển về sau ở khu vực công nghiệp và dịch vụ

Công bằng xã hội: Hoạt động đầu tư của khu vực Nhà nước tác động trực

tiếp đến công bằng xã hội Đó là đầu tư xóa đói giảm nghèo, nâng cao hệ thốngphúc lợi xã hội… Làm cho người nghèo hưởng những lợi ích tốt nhất có thể, nâng

Trang 37

cao mặt bằng chung xã hội, đẩy mạnh tiến bộ xã hội thông qua các chương trìnhhành động quốc gia.

Tăng cường cơ sở vật chất -kỹ thuật: Để thúc đẩy quá trình công nghiệp

hóa-hiện đại hóa, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật là yếu tố quan trọng đặc biệt lànhững quốc gia đang phát triển Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là điều kiện tiênquyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của đất nước

1.2.2 Đặc điểm về khái niệm và hình thức các DA ĐTXD giữa Nhà nước và tư

nhân ở Việt Nam

1.2.2.1 Hình thức đầu tư BOT (Xây dựng – Vận hành - Chuyển giao)

Theo hình thức BOT, nhà đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, quản

lý, kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định theo một HĐ dự án BOT kývới Cơ quan thẩm quyền của Nhà nước Hết thời hạn trên, nhà đầu tư sẽ bàn giaokhông bồi hoàn công trình cho Nhà nước [8]

1.2.2.2 Hình thức đầu tư BTO (Xây dựng – Chuyển giao – Vận hành)

BTO là mô hình có chút khác biệt so với mô hình BOT, quyền sở hữu côngtrình hạ tầng được chuyển giao ngay cho Nhà nước sau khi xây dựng xong, Nhànước sẽ giao lại quyền vận hành khai thác công trình cho nhà đầu tư để thu hồi vốnđầu tư, thời gian khai thác theo Hợp đồng dự án BTO [8]

1.2.2.3 Hình thức đầu tư BT (Xây dựng – Chuyển giao)

Theo hình thức BT, nhà đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng Sau khihoàn thành sẽ chuyển giao nó cho Nhà nước, Nhà nước sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu

tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhàđầu tư theo thoả thuận trong Hợp đồng dự án BT

Trong ba hình thức BOT, BTO, BT nêu trên, tổng vốn Nhà nước tham gia thực hiệnDự án không được vượt quá 49% tổng vốn đầu tư của Dự án Đối với Dự án cầnthực hiện để đáp ứng nhu cầu cấp bách về việc sử dụng công trình kết cấu hạ tầng

và Dự án quan trọng khác, các Bộ, Ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyếtđịnh việc sử dụng vốn ngân sách Nhà nước để xây dựng công trình phụ trợ, tổ chứcbồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư hoặc thực hiện các công việc khác

Trang 38

nhằm hỗ trợ thực hiện Dự án Nguồn vốn hỗ trợ thực hiện Dự án theo quy định tạikhoản 2 Điều này không tính vào tổng vốn đầu tư của Dự án và được lập, quản lý,

sử dụng theo quy định đối với dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước [8]

1.2.2.4 Hình thức đầu tư PPP (Hình thức đối tác công – tư)

Theo Qui chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư PPP, ban hànhkèm theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ [10], hình thứcđầu tư PPP là việc Nhà nước và Nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện Dự án pháttriển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng Dự án PPP được

ký kết giữa Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và Nhà đầu tư, trong đó, Nhà nướcnhượng quyền cho Nhà đầu tư được phép đầu tư, khai thác công trình, cung cấpdịch vụ công trong một thời gian nhất định Căn cứ tính chất của từng Dự án cụ thể,Hợp đồng dự án quy định cam kết về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của Nhàđầu tư và Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, mối quan hệ giữa Nhà nước và Nhàđầu tư

Phần tham gia của Nhà nước là tổng hợp các hình thức tham gia của Nhànước bao gồm: Vốn Nhà nước, các ưu đãi đầu tư, các chính sách tài chính có liênquan, được tính trong tổng mức đầu tư (tổng vốn đầu tư) của Dự án, nhằm tăng tínhkhả thi của Dự án Căn cứ tính chất của từng Dự án, Phần tham gia của Nhà nước

có thể gồm một hoặc nhiều hình thức nêu trên Phần tham gia của Nhà nước khôngphải là phần góp vốn chủ sở hữu trong Doanh nghiệp dự án, không gắn với quyềnđược chia lợi nhuận từ nguồn thu của Dự án

Tổng giá trị Phần tham gia của Nhà nước không vượt quá 30% tổng mức đầu

tư của Dự án, trừ trường hợp khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định Căn cứ tínhchất của từng Dự án cụ thể, Vốn nhà nước có thể được sử dụng để trang trải mộtphần chi phí của Dự án, xây dựng công trình phụ trợ, tổ chức bồi thường, giảiphóng mặt bằng, tái định cư hoặc các công việc khác trong trường hợp cần thiết

1.2.3 Tổng quan tình hình thực hiện các dự án BOT, BTO, BT và PPP ở Việt

Nam

1.2.3.1 Tổng quan tình hình thực hiện các dự án BOT, BTO và BT

Trang 39

a) Tình hình thu hút đầu tư

Việt Nam có nhu cầu rất lớn về vốn đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng Chính

vì vậy, trong gần 20 năm qua, Việt Nam đã thực thi rất nhiều những chính sách, giảipháp nhằm thu hút các nguồn đầu tư tham gia xây dựng kết cấu hạ và đầu tư công

mà điển hình là những chính sách BOT, BTO, BT và nhiều chính sách khác.Tuy nhiên, những chính sách hiện hành chưa thực sự thu hút được các nguồn vốn

từ tư nhân cũng như những nguồn vốn từ nước ngoài

Nguồn vốn đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng của Việt Nam giai đoạn

1990 - 2011 chủ yếu tập trung vào lĩnh vực năng lượng, khoảng gần 5 tỷ USD; lĩnhvực viễn thông khoảng trên 2 tỷ USD; lĩnh vực giao thông trên 1 tỷ USD (hình 1.8)

Hình 1.8 Đầu tư tư nhân vào CSHT theo lĩnh vực của Việt Nam (1990-2011)

Tính tới thời điểm 31/12/2010 theo báo cáo từ 48 tỉnh, thành phố trực thuộc

TW và một số Bộ, có 35 tỉnh, thành phố trực thuộc TW và 02 Bộ có dự án đầu tưtheo hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT Tổng số dự án có tất cả 384 dự án đầu tưvới tổng số vốn đầu tư 1.114.663 tỷ đồng đã được cấp phép và đang kêu gọi đầu tư.Trong số đó, các địa phương quản lý 342 dự án với tổng số vốn đầu tư là 660.832 tỷđồng, chiếm tỷ trọng 89,1% về số dự án và 59,3% về tổng vốn đầu tư Bộ Giaothông vận tải quản lý 29 dự án với tổng số vốn đầu tư là 88.111 tỷ đồng, chiếm tỷ

Trang 40

trọng 7,6% về số dự án và 7,9% về vốn đầu tư; Bộ Công thương quản lý 13 dự ánvới tổng số vốn đầu tư là 365.720 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,4% về số dự án và32,8% về số vốn đầu tư

Phân loại theo hình thức đầu tư như sau: Dự án BOT: 129 dự án với tổng sốvốn đầu tư 604.389 tỷ đồng; Dự án BTO: 02 dự án với tổng số vốn đầu tư 918 tỷđồng; Dự án BT: 211 dự án với tổng số vốn đầu tư 324.129 tỷ đồng; Dự án BT kếthợp BOT: 42 dự án với tổng vốn đầu tư 185.227 tỷ đồng

Xét về số dự án, chủ yếu là dự án đầu tư theo hình thức BT, chiếm 54,95%;tiếp đến là dự án theo hình thức BOT, chiếm 33,59%; dự án BT kết hợp BTO chiếm0,94%; hình thức dự án BTO chỉ chiếm 0,52% (hình 1.9) [19]

Hình 1.9 Tỷ trọng số các dự án phân theo hình thức đầu tư (%)

Trong khi đó, xét về vốn đầu tư, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng vốn đầu

tư là dự án đầu tư theo hình thức BOT, chiếm 54,22%; dự án theo hình thức BT tuychiếm tỷ trọng số dự án nhiều nhất, nhưng chiếm 29,08% tỷ trọng về vốn; dự án BTkết hợp BTO chiếm 16,62%; hình thức dự án BTO chỉ chiếm 0,08% (hình 1.10)

Ngày đăng: 09/07/2019, 09:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w