VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THANH PHONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH PHONG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH PHONG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LÊ XUÂN SANG
Hà Nội, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Chính sách công: “Thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” là hoàn toàn trung thực, các
thông tin trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng và không trùng lắp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Phong
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Chính sách công ngoài sự nỗ lực nghiên cứu của bản thân, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong quá trình tôi học tập tại cơ sở Học viện Khoa học xã hội tại TP Đà Nẵng, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Đặc biệt, trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm, hướng dẫn tận tình và trách nhiệm của TS Lê Xuân Sang - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam
Cảm ơn lãnh đạo và cán bộ công chức: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam; Văn phòng HĐND và UBND huyện, Phòng Văn hóa – Thông tin huyện, Chi cục Thống kê huyện Thăng Bình và các cơ quan liên quan đã cung cấp thông tin, tài liệu, đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù, đã có nhiều cố gắng, song không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Rất mong nhận được sự hướng dẫn, góp ý của quý thầy, cô và bạn bè đồng nghiệp để luận văn của tôi được bổ sung và hoàn thiện tốt hơn./
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ODA : Viện trợ phát triển chính thức
TPP : Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Doanh thu du lịch giai đoạn 2011 - 2018 24
2 Bảng 2.2 Tổng hợp sản phẩm du lịch huyện Thăng Bình 28
3 Bảng 2.3 Lượng khách du lịch đến Thăng Bình (lượt khách) 35
4 Bảng 2.4 Lượng khách du lịch nội địa đến Thăng Bình (lượt
5 Bảng 2.5 Lượng khách du lịch quốc tế đến Thăng Bình (lượt
6 Bảng 2.6 Tổng hợp SWOT phát triển kinh tế du lịch Thăng Bình 46
7 Bảng 3.1 Danh mục ưu tiên kêu gọi, xúc tiến đầu tư giai đoạn
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 2.1 Tổng hợp nhận định những điểm mạnh du lịch Thăng
2 Biểu đồ 3.1 Tổng hợp nhận định những cơ hội du lịch Thăng Bình
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
2 Hình 2.2 Làng nghề nước mắm Cửa Khe, Làng rau sạch Hưng
5 Hình 3.1 Khu vui du lịch Sealife - Nha Trang 59
Trang 10MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH 10
1.1 Khái niệm chính sách công 10 1.2 Khái niệm về kinh tế du lịch 12
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM 17
2.1 Giới thiệu về du lịch huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam 17 2.2 Đánh giá chung về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội trong quá trình phát triển kinh
tế du lịch huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam 33
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN NĂM 2030 46
3.1 Phương hướng và mục tiêu phát triển kinh tế du lịch lịch huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam 46 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu qủa thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch huyện Thăng Bình 48
KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Đối với Việt Nam, du lịch được xem là một ngành kinh tế mũi nhọn, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng
và xã hội hoá cao Phát triển du lịch đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm, phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn, phát triển tài nguyên du lịch Sản phẩm du lịch Việt Nam được phân bố thành từng cụm hình thành các môi trường du lịch điển hình trên toàn quốc Mỗi vùng, mỗi khu vực du lịch có sắc thái riêng, tạo nên các tuyến điểm xuyên quốc gia, không lặp lại giữa các vùng làm tăng sự thu hút của các điểm du lịch đối với du khách
Quảng Nam là một trong những miền đất có nhiều cảnh quan thiên nhiên phong phú và đa dạng với những tài nguyên du lịch có giá trị, là miền đất có bề dày lịch sử với 2 di sản thế giới là Mỹ Sơn và Hội An cùng với rất nhiều di tích lịch sử văn hoá, có
vị trí giao thông thuận lợi, nằm trên trục quốc lộ 1A, Đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Nghãi và đường sắt Bắc Nam Trong nhiều văn kiện của Đảng bộ và các chính sách của Chính quyền tỉnh đều xác định Quảng Nam có nhiều tiềm năng phát triển du lịch Trong đó huyện Thăng Bình cũng nằm trong chiến lược phát triển chung của Tỉnh Quảng Nam Những sản phẩm phải kể đến ở huyện Thăng Bình là Khu du lịch, nghĩ dưỡng Vinpearl Nam Hội An, bãi tắm Bình Minh, làng nghề nước mắm Cửa Khe, làng nghề rau sạch Hưng Mỹ, Phật viện Đồng Dương, Hố Cam Đây là những điểm đến du lịch còn mới và rất giàu tiềm năng Tuy nhiên Du lịch Thăng Bình phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của nó Các sản phẩm du lịch chưa thực sự hấp dẫn và chưa có sự khác biệt, khả năng cạnh tranh chưa cao Chất lượng các dịch vụ du lịch chưa đáp ứng yêu cầu Môi trường du lịch còn nhiều bất cập Công tác xúc tiến quảng bá du lịch còn nhiều hạn chế về nguồn lực và tính chuyên nghiệp, hiệu quả chưa cao Nguồn nhân lực du lịch vừa thiếu, vừa yếu Vai trò của cộng đồng trong phát triển
du lịch chưa được phát huy Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém nêu
Trang 12sách phát triển du lịch chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, vẫn còn nặng tư tưởng bao cấp, đầu tư còn dàn trải, chưa huy động được nhiều nguồn lực của xã hội cho phát triển du lịch Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch chưa được quan tâm đúng mức
Vấn đề đặt ra cho du lịch huyện Thăng Bình là làm thế nào để phát triển du lịch, tạo ra được nhiều sản phẩm mới để mang lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện đời sống người dân, đồng thời vẫn có thể quản lý được hiện trạng, bảo tồn các giá trị tự nhiên của nó Tất cả những điều đó đặt ra một vấn đề bức thiết là phải tìm ra những giải pháp để xây dựng và phát triển kinh tế du lịch một cách hợp lý, đưa du lịch huyện Thăng Bình phát triển tương xứng với tiềm năng của nó, biến du lịch thành động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, mở rộng hợp tác quốc tế, bảo vệ môi trường thiên nhiên, làm cơ sở cho việc phát triển du lịch của địa phương trong tương lai Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam”
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thu nhập xã hội ngày càng tăng cộng với sự gia tăng dân số thế giới khiến cho nhu cầu du lịch tăng theo Vấn đề đặt ra là tại sao khách du lịch lại chọn điểm đến này mà không chọn điểm đến khác Năng lực cạnh tranh của một điểm đến du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất quyết định tính cạnh tranh của điểm đến du lịch Nhận thức vai trò của du lịch cho sự phát triển, trong thời gian gần đây, việc phát triển kinh tế du lịch ngày càng nhận được sự quan tâm của các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu:
Tác giả Nguyễn Thị Phương Anh trong “Chiến lược phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng đến năm 2015”đã nghiên cứu sâu về chiến lược phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng Đánh giá thực trạng hoạt động ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng giai đoạn
2005 - 2009, dự báo phát triển du lịch Lâm Đồng đến năm 2020 Với mục đích nêu khái quát cơ sở lý luận về du lịch và chiến lược phát triển du lịch Phân tích môi trường kinh doanh và đánh giá tình hình thực hiện chiến lược phát triển du lịch tỉnh
Trang 13Lâm Đồng đến năm 2010 và chiến lược phát triển du lịch tỉnh đến năm 2020 Tác giả đã nhận định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với sản phẩm du lịch tỉnh Lâm Đồng, từ những cơ sở đó để đưa ra các giải pháp phù hợp cho chiến lược phát triển du lịch của tỉnh [2]
Tác giả Hoàng Thị Thu Thảo trong “Phát triển sản phẩm du lịch tại thành phố
Đà Nẵng” đã nghiên cứu về những vấn đề lý luận liên quan đến các sản phẩm du
lịch nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản phẩm du lịch Đề tài đã làm rõ một số vấn
đề liên quan đến sản phẩm du lịch, loại hình du lịch và dịch vụ du lịch Những quan điểm về phát triển sản phẩm du lịch Đánh giá thực trạng việc phát triển các sản phẩm du lịch của thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua về phát triển mặt quy mô làm tăng doanh thu từ du lịch và khách du lịch Quy mô cơ sở lưu trú và quy mô các hoạt động dịch vụ lữ hành Mặt khác đánh giá thực trạng về phát triển chất lượng của ngành du lịch thông qua chất lượng nguồn nhân lực du lịch, mức độ đầu tư vốn cho phát triển du lịch và chất lượng hệ thống khách sạn Các hoạt động về việc quản
lý nhà nước về du lịch, hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch cũng như phát triển
du lịch trong quan hệ với cộng đồng địa phương Xác định tiềm năng du lịch thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở những nhận định trên đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản phẩm du lịch tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến [11]
Tác giả Nguyễn Duy Mậu: “Phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”đã hệ thống hóa các khái niệm du lịch, thị trường du lịch, chức năng và phân loại thị trường du lịch Đồng thời tác giả đưa ra
13 loại hình du lịch phổ biến hiện nay trên thế giới Làm rõ sản phẩm du lịch và mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch đối với sản phẩm du lịch và thị trường du lịch Phân tích kênh phân phối sản phẩm lữ hành và hệ thống các doanh nghiệp lữ hành tại thị trường nhận khách và giữ khách, vận dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam Làm rõ dịch vụ du lịch là cơ sở lý luận cho định hướng phát triển du lịch Phân tích vai trò của du lịch đối với tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các tác động tới ngành kinh tế, xã hội Tác động giữa hội nhập kinh tế quốc tế và du lịch, những yêu cầu nhằm đáp ứng phát triển du lịch trong tiến trình hội nhập Tác giả cũng
Trang 14đánh giá toàn diện tiềm năng và cơ sở phát triển du lịch, vị trí, vai trò và lợi thế du lịch Tây Nguyên trong phát triển vùng và quốc gia Trên cơ sở đó Tác giả dự báo xu hướng phát triển du lịch thế giới, khu vực và Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn
2030, định hướng phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên đến năm 2020 làm cơ sở cho hoạch định phát triển du lịch Tây Nguyên đề ra chín nhóm giải pháp để phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 [7]
Trong đề tài “Định hướng khai thác các sản phẩm du lịch Đồng Tháp qua việc xác định lợi thế so sánh về tiềm năng du lịch nhân văn với các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long”của tác giả Phạm Thị Hồng Xuân Mục tiêu của đề án phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tác giả có những định hướng khai thác các nguồn tài nguyên nhất là tài nguyên nhân văn của du lịch Đồng Tháp thông qua việc xác định lợi thế so sánh về tiềm năng du lịch với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Xác định Đồng Tháp xuất phát điểm thấp hơn các tỉnh khác trong khu vực, tuy nhiên Đồng Tháp có những sản phẩm du lịch độc đáo hơn các tỉnh khác, đặc biệt là tài nguyên du lịch nhân văn Bài viết đã lượng hóa được việc khai thác các sản phẩm du lịch từ hệ thống các di tích văn hóa - lịch sử Trên cơ sở các tài nguyên
du lịch nhân văn, việc khai thác các sản phẩm du lịch từ các lễ hội hay văn hóa ẩm thực và văn nghệ dân gian và hệ thống các làng nghề thủ công truyền thống cho phát triển kinh tế du lịch [26]
Đề tài Khoa học và công nghệ cấp Đại học Đà Nẵng, tác giả Trần Thị Mai
An với đề tài “Nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịch Đà Nẵng từ tài nguyên văn hóa” đã nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Đà Nẵng mang sắc thái bản địa
theo một thương hiệu Đà Nẵng riêng, với mục đích kéo dài thời gian lưu trú, tăng khả năng chi tiêu của du khách, mang lại chất lượng và lợi nhuận cao trong hoạt động du lịch của Thành phố và sâu sắc hơn là thông qua du lịch góp phần khẳng định giá trị văn hóa phong phú của con người và vùng đất Đà Nẵng Tác giả đã khái quát được hoạt động du lịch Đà Nẵng trong những năm gần đây một cách có hệ thống và đánh giá được thực trạng phát triển du lịch văn hóa của Thành phố Bên cạnh đó, đề tài đã xây dựng được những luận cứ khoa học và thực tiễn để đề xuất
Trang 15các giải pháp phát triển hệ thống sản phẩm du lịch Đà Nẵng từ tài nguyên văn hóa.[1]
Đối với huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, Ủy ban nhân dân huyện đã ban
hành đề án “Phát triển du lịch Thăng Bình giai đoạn 2015 - 2020, Định hướng đến năm 2030”: Đế án đã đánh giá thực trạng phát triển du lịch huyện Thăng Bình kết
quả đạt được, những tồn tại hạn chế, cơ hội, thách thức Trên cơ sở đó đưa ra các nhóm giải pháp phát triển du lịch bền vững, hiệu quả kinh tế - xã hội cao gắn với đảm bảo vững chắc an ninh - quốc phòng, bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường tự nhiên và đa dạng sản phẩm du lịch đến năm 2030 [25]
Tóm lại, đã có một số công trình nghiên cứu về việc xây dựng và phát triển kinh tế du lịch, trong đó có một số nghiên cứu về xây dựng và phát triển kinh tế sản phẩm du lịch ở một vài địa bàn cụ thể gắn với những điều kiện cụ thể của địa phương…
Tuy nhiên những nghiên cứu này chưa đề cập chuyên sâu đến chính sách, nhất là thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn Thanh Bình, tỉnh Quảng nam trước năm 2018 và giai đoạn từ năm 2019 - 2030 Đây chính là những khoảng trống để nghiên cứu và là đóng góp mới của đề tài
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách
và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đến 2020, định hướng đến năm 2030
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về chính sách và thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch;
- Phân tích thực trạng chính sách và thực hiện chính sách phát triển kinh tế
du lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình giai đoạn 2011 - 2018
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch một cách bền vững và phù hợp trên địa bàn
Trang 16huyện Thăng Bình giai đoạn đến 2020, định hướng đến năm 2030
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam dưới góc độ khoa học chính sách công
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
- Về thời gian: Số liệu nghiên cứu được thu thập từ năm 2011 đến năm 2018;
giải pháp thực hiện giai đoạn đến 2020, định hướng đến năm 2030
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Thiết kế nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đề tài, đánh giá chính sách và thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình được khảo sát theo tiếp cận định tính và định lượng (phân tích thống kê) Đề tài kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng Cụ thể:
- Nghiên cứu định tính:
+ Nghiên cứu lý thuyết bằng cách hệ thống lại các lý thuyết có liên quan đến phát triển kinh tế du lịch Phỏng vấn trực tiếp các doanh nghiệp, các hộ gia đình, các chuyên gia du lịch và các nhà quản trị du lịch
- Phân tích thống kê: Sử dụng phương pháp điều tra thông qua phát phiếu khảo sát để thu thập dữ liệu sơ cấp từ 2 nhóm đối tượng: Điều tra 150 hộ gia đình tại 5 xã Bình Dương, Bình Minh, Bình Triều, Bình Phú và Định Định Bắc và 50 cán
bộ quản lý, doanh nghiêp, hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trang 17Quy trình thực hiện nghiên cứu được mô phỏng như sau:
Sơ đồ 1.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu
5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
5.2.1 Mẫu và kỹ thuật lấy mẫu
Trong nghiên cứu này, để thu thập dữ liệu nghiên cứu mang tính đại diện, tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu và thực hiện trên 2 nhóm đối tượng nghiên cứu chính đó là các hộ gia đình và cán bộ quản lý, doanh nghiêp, hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Thành phần thứ nhất là 150 người dân tại 5 xã: Bình
Vấn đề nghiên cứu
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Cơ sở khoa học của nghiên cứu
- Đánh giá kết quả thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch huyện Thăng Bình
Trang 18Dương, Bình Minh, Bình Triều, Bình Phú và Bình Định Bắc, trong quá trình điều tra có sự tham gia của Công chức Văn hóa - Xã hội (xã mỗi xã 30 bảng hỏi) Thành phần thứ hai là 50 bảng hỏi: cán bộ quản lý: 20 bảng, doanh nghiêp: 10 bảng, hướng dẫn viên du lịch: 20 bảng
5.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
Thông qua việc điều tra xã hội học (Bảng câu hỏi): Khảo sát ý kiến của 02 nhóm đối tượng nghiên cứu chính là người dân và cán bộ quản lý, doanh nghiêp, hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
5.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sau khi thu thập đầy đủ số liệu theo thiết kế bảng hỏi, tác giả tiến hành các bước phân tích và xử lý dữ liệu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần cung cấp cơ sở lý luận về chính sách
công cho việc nghiên cứu các vấn đề chính sách phát triển du lịch cho các cơ quan ban hành chính sách công về phát triển du lịch Hệ thống hóa một số lý luận và đánh giá thực tiễn từ huyện Thăng Bình, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch nhằm phát huy tối đa hiệu quả chính sách đã ban hành
và đề xuất một số giải pháp mới
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Qua thực tiễn việc thực hiện chính sách phát triển du
lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình, luận văn đã chỉ ra được những điểm mạnh, điểm trong việc thực hiện chính sách, đồng thời đề ra 9 nhóm giải pháp thực hiện phát triển chính sách phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình hiệu quả và thiết thực hơn
7 Kết cấu của luận văn
Phần Mở đầu
Nội dung chính của Phần mở đầu là giới thiệu tổng quan về lý do chon đề tài
mà cụ thể là báo cáo tổng quan bối cảnh du lịch thế giới, du lịch Việt Nam, du lịch Thăng Bình trong thời gian qua cũng như tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trang 19phát triển kinh tế du lịch của một số tác giả Cuối cùng xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đóng góp của các nghiên cứu
Chương 1 Những vấn đề lý luật về chính sách và chính sách phát triển kinh
tế du lịch
Nội dung chính tổng hợp cơ sở sở lý luận và thực tiễn về kinh tế du lịch và phát triển kinh tế du lịch Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả xác định các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế du lịch
Chương 2 Thực trạng phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn huyện Thăng
Bình, tỉnh Quảng Nam
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện chính sách và thực hiện chính sách phát
triển kinh tế du lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn đến
2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Kết luận
Trang 20CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH 1.1 Khái niệm chính sách công
1.1.1 Khái niệm
Các nhà khoa học ở các nước trên thế giới có cách định nghĩa khác nhau về chính sách công do sự khác nhau về đặc điểm của chế độ chính trị và kiểu nhà nước Chính sách công là một loại chính sách Trong Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…”[8]
Thuật ngữ “chính sách” hàm ý là những định hướng hành động, những giải pháp mà Nhà nước chọn lựa để giải quyết, xử lý vấn đề phát sinh từ thực tiễn phát triển đất nước nhằm đạt được mục tiêu nhất định”[3]
Chính sách là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật chỉ là hình thức, là phương tiện để chuyển tải, để thể hiện chính sách [9]
Chính sách công là một trong những công cụ cơ bản được Nhà nước sử dụng để phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Ở mỗi giai đoạn phát triển, yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả các chính sách công luôn được đặt ra Để làm được điều đó cần có sự hoàn thiện quy trình chính sách, trong đó có tổ chức thực thi chính sách Thực thi chính sách công là một khâu quan trọng của quy trình chính sách với nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách công
Ở Việt Nam, chính sách công là chuyên ngành mới thuộc lĩnh vực khoa học
xã hội Chính sách công dựa trên những nguyên tắc kinh tế học, xã hội học, luật học
và những chuyên ngành hàn lâm đã được hình thành từ lâu Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước Chính sách công phản ánh mối quan hệ nhà nước - xã hội - công dân Chính sách công là do các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước bao gồm Quốc hội, các Bộ, chính quyền địa phương các cấp ban hành Ở nước
ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước,
Trang 21lãnh đạo xã hội (Điều 4, Hiến pháp năm 2013) Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội
thông qua việc vạch ra các cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách Đây
là các căn cứ chỉ đạo để Nhà nước ban hành các chính sách công Như vậy, chính sách công là chính sách của Nhà nước và chính sách này được cụ thể hóa đường lối, chiến lược của Đảng nhằm phục vụ lời ích cho nhân dân [4]
Ở Việt Nam, với cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau, các nhà khoa học đã
đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách công Có người hiểu: Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển
1.1.2 Thực thi chính sách công
Việc tổ chức thực thi chính sách là quá trình biến các chính sách thành những kết quả, trên thực tế là các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, nhằm hiện thực hóa những mục tiêu mà chính sách đã đề ra
Công tác tổ chức thực thi chính sách nếu không được tiến hành tốt, dễ dẫn đến sự thiếu tin tưởng, thậm chí sự chống đối của nhân dân đối với Nhà nước Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây ra những khó khăn cho Nhà nước trong công tác quản lý
Có những vấn đề trong giai đoạn hoạch định chính sách chưa phát sinh, bộc
lộ hoặc đã phát sinh nhưng các nhà hoạch định chưa nhận thấy, đến giai đoạn tổ chức thực thi mới phát hiện Quá trình thực thi chính sách với những hành động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống
Việc phân tích, đánh giá một chính sách (mức độ tốt, xấu) chỉ có thể đầy đủ,
có sức thuyết phục là sau khi thực hiện chính sách Qua tổ chức thực hiện, cơ quan chức năng mới có thể biết chính sách đó được xã hội và đại đa số nhân dân chấp nhận hay không, đi vào cuộc sống hay không
Việc đưa chính sách công vào thực tiễn không đơn giản, nhanh chóng Đó là quá trình phức tạp, đầy biến động, chịu tác động của một loạt các yếu tố, thúc đẩy
Trang 22hoặc cản trở công việc thực thi
1.2 Khái niệm về kinh tế du lịch
1.2.1 Khái niệm
Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002) đưa ra định nghĩa: “Kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tính đặc thù, mang tính dịch vụ và thường được xem như ngành công nghiệp không khói, gồm có du lịch quốc tế và du lịch trong nước; có chức năng, nhiệm vụ tổ chức, khai thác các tài nguyên và cảnh quan của đất nước nhằm thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước; tổ chức buôn bán, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ cho khách du lịch”
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,
nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch
Loại hình du lịchlà tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ tương tự hoặc được bán cho nhóm khách hàng, hoặc vì chúng cùng cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó Để có thể đưa ra các định hướng
và chính sách phát triển đúng đắn về du lịch, các nhà quản lý vĩ mô về du lịch cũng như các nhà quản trị doanh nghiệp du lịch cần xác định loại hình du lịch
Để phân loại loại hình du lịch có thể căn cứ phạm vi lãnh thổ của chuyến đi
du lịch, mục đích chuyến đi Theo tiêu thức phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch,
du lịch được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa Du lịch quốc tế là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau; ở hình thức du lịch này, khách du lịch phải đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch; Du lịch nội địa là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm ở lãnh thổ của một quốc gia
Trang 23Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
Dịch vụ du lịch rất phong phú, song có thể chia thành các loại hình dịch vụ
1.2.2 Quan điểm về phát triển kinh tế du lịch
Phát triển kinh tế du lịch đảm bảo tính bềnh vững và tính cạnh tranh cao Phát huy tối đa các lợi thế tiềm năng về tự nhiên và văn hóa, hài hòa trong xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch Phát huy tính trải nghiệm, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường khách du lịch trong từng loại hình sản phẩm, gia tăng tính hấp dẫn và tính bền vững của sản phẩm du lịch Phát triển sản phẩm theo lộ trình, có tính ưu tiên; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, phát huy tính đặc trưng của vùng du lịch, ưu tiên phát triển các loại hình du lịch có giá trị gia tăng cao Chú trọng đầu tư các điều kiện phát triển du lịch Phát triển các sản phẩm du lịch đảm bảo tính cạnh tranh quốc tế và khu vực
Mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế du lịch là xây dựng hệ thống sản phẩm
du lịch đặc sắc, đa dạng, đồng bộ, chất lượng cao Thu hút thêm nhiều thị trường khách du lịch và thu hút nhiều nguồn đầu tư vào du lịch Yêu cầu chủ đạo và xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển kinh tế du lịch đó là phát triển bền vững: thỏa mãn các nhu cầu du lịch của thị trường, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội lớn cho điểm đến mà không làm suy giảm quá nhiều chất lượng của tài nguyên và môi
Trang 24trường trong tương lai
Để bảo đảm được yêu cầu này, phát triển kinh tế du lịch phải tuân thủ các nguyên tắc sau: theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường, phát triển bền vững, có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch sinh thái, bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch; bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo
đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng
1.2.3 Các điều kiện để phát triển kinh tế du lịch
1.2.3.1 Điều kiện về tài nguyên du lịch
Nếu chúng ta coi các điều kiện chung như là các điều kiện để phát triển du lịch thì điều kiện về tài nguyên du lịch là điều kiện cần thiết nhất để phát triển du lịch Mỗi quốc gia, vùng miền dù có nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội phát triển, song nếu không có các tài nguyên du lịch thì cũng không thể phát triển du lịch được Tiềm năng về kinh tế là vô hạn, song tiềm năng về tài nguyên du lịch là có hạn, nhất là đối với các tài nguyên du lịch thiên nhiên - những cái mà thiên nhiên chỉ ban tặng cho một số vùng miền hay quốc gia nhất định Tài nguyên du lịch có thể do thiên nhiên tạo ra hay do con người tạo ra Tài nguyên du lịch là điều kiện cần cho hoạt động du lịch hình thành và phát triển du lịch Các điều kiện về môi trường tự nhiên đóng vai trò là những tài nguyên thiên nhiên về du lịch như địa hình, khí hậu, động thực vật, nguồn tài nguyên nước hay vị trí địa lý Đồng thời các giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho
sự hình thành và phát triển du lịch ở một địa điểm, một vùng hay một quốc gia
Trang 25triển du lịch của các đơn vị kinh doanh du lịch từ nhà hàng, khách sạn, công ty lữ hành cho đến các chính sách của cơ quan, chính quyền địa phương
1.2.3.4 Điều kiện về nguồn nhân lực
Trong du lịch, thì ngoài các yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến việc khai thác
và phục vụ khách thì yếu tố quan trọng và quyết định cho sự thành công cho ngành
du lịch và sản phẩm du lịch đó chính là con người Chính sự năng động cũng như
sự hiểu biết và nhanh nhẹn của các nhân viên là yếu tố để doanh nghiệp thành công
1.2.3.5 Điều kiện về chất lượng chính sách
Định hướng và xây dựng chính sách về du lịch đã khá đúng và đầy đủ, song việc thực thi và giám sát chưa tốt Trong các quyết định của các cấp từ Trung ương đến địa phương vẫn còn nặng về thỏa hiệp với các nhân tố gây phá hủy môi trường
và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của du lịch Do vậy, trong Luật
Du lịch sửa đổi, bổ sung và các văn bản dưới luật, nên chú trọng vào những nội dung cần thiết để có thể cải thiện những điểm yếu này
1.2.3.6 Các tiêu chí về phát triển kinh tế du lịch
Tiêu chí về kinh tế nhằm tăng trưởng kinh tế cho địa phương, kinh doanh du lịch, giải quyết việc làm Tiêu chí này thể hiện qua các yếu tố như doanh thu trực tiếp và gián tiếp từ du lịch; lượng du khách đến với địa phương hàng năm; quốc tịch của du khách và thời gian lưu trú tại địa phương; đánh giá của du khách và giá trị;
số lượng khách sạn, cơ sở lưu trú, số phòng và số lượng các doanh nghiệp tham gia kinh doanh trong lĩnh vực du lịch; số kênh marketing hiện có
Tiêu chí về văn hóa - xã hội nhằm bảo tồn các nét văn hóa vật thể và phi vật thể Tiêu chí này thể hiện qua các nét văn hóa mới tốt và xấu du nhập vào cộng đồng theo thời gian; số lượng tổ chức các hoạt động sản phẩm văn hóa địa phương
và công tác bảo tồn di tích, nét văn hóa truyền thống
Tiêu chí môi trường nhằm xác định ngân sách đầu tư vào bảo tồn, tôn tạo các
dự án về cải thiện môi trường, nhận thức của du khách về môi trường;
Muốn thu hút khách du lịch không chỉ đến một lần mà có thể nhiều lần hoặc thậm chí là tạo ấn tượng tốt đến với khách du lịch Thì từ tầm vĩ mô đến vi mô cần
Trang 26phải có những định hướng chiến lược nhằm tạo một môi trường phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn nhưng phải phù hợp với tình hình khai thác cũng như phát triển du lịch của từng địa phương Thứ nhất, cần thường xuyên đa dạng hóa các sản phẩm du lịch phải phù hợp với từng địa phương Đồng thời phải tiếp tục hoàn thiện các sản phẩm sẵn có để có thể đáp ứng nhu cầu của khách du lịch như du lịch kết hợp với trãi nghiệm, nghỉ dưỡng, … Thứ hai, công tác an ninh – trật tự cần phải được tăng cường cao độ nhằm tạo cho khách tham quan du lịch cảm giác an toàn và thoải mái nghỉ ngơi khi đến đây Thứ ba, cải thiện môi trường sinh thái, giải quyết vấn đề rác thải sinh hoạt Vì thế, cần phải nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của du khách và cả người dân địa phương Thứ tư, đẩy mạnh chương trình quảng cáo, tiếp thị nhằm thu hút khách du lịch Đồng thời tổ chức các sự kiện, lễ hội, các hội nghị, tọa đàm… nhằm quảng bá hình ảnh Từ những phân tích trên có thể thấy, muốn phát triển du lịch cũng như các hoạt động du lịch khác cần phải kết hợp bởi nhiều yếu tố với nhau nhằm tạo nên một hiệu quả tốt nhất
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 Tổng hợp cơ sở sở lý luận chính sách công, chính sách phát triển kinh tế du lịch Trên cơ sở lý thuyết và cáckết quả nghiên cứu, tác giả xác định các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế du lịch, cụ thể:
+ Quan điểm về phát triển kinh tế du lịch;
+ Các điều kiện để phát triển kinh tế du lịch như: Điều kiện về tài nguyên du lịch, thị trường mục tiêu, điều kiện vốn, điều kiện nguồn nhân lực, chất lượng chính sách, các tiêu chí về phát triển kinh tế du lịch
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
2.1 Giới thiệu về du lịch huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Giới thiệu tổng thể về huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Thăng Bình là một huyện phía Đông tỉnh Quảng Nam, có vị trí địa lý nằm ở tọa độ 15030’ đến 15059’ vĩ độ Bắc và từ 10807’ đến 108030’ kinh độ Đông Thăng Bình có thị trấn Hà Lam là huyện lỵ, cách thành phố Tam Kỳ 25 km về phía Bắc, cách Phố cổ Hội An theo đường dọc biển chưa đầy 10 km về phía nam, với 22 đơn
vị hành chính cấp xã Phía Bắc giáp huyện Quế Sơ, Duy Xuyên; Phía Nam giáp huyện Phú Ninh và thành phố Tam Kỳ; Phía Tây giáp huyện Hiệp Đức, huyện Tiên Phước Phía Đông giáp biển Đông Diện tích tự nhiên toàn huyện là 412,25 km2 (chiếm 3,7 % diện tích cả tỉnh), dân số tính đến 2017 là 181.61 người (chiếm 12,4% dân số cả tỉnh), mật độ dân số 441 người/km2 Thăng Bình xếp thứ 12 về diện tích, xếp thứ 2 về dân số, thứ 4 về mật độ so với 18 đơn vị hành chính của tỉnh Quảng Nam
2.1.2 Tình hình thực hiện chính sách phát triển du lịch huyện Thăng Bình
Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 06/10/2017 của Chính phủ về ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của
Bộ Chính trị “về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn”; Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 27/12/2016 của Tỉnh ủy Quảng Nam “về phát triển du lịch Quảng Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2025”; đã đề ra những quan điểm, mục
tiêu, một số nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp chủ yếu định hướng cho phát triển
du lịch Quảng Nam trong giai đoạn 2017 – 2020, định hướng đến năm 2025 Với địa thế thuận lợi là một huyện nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Quảng Nam, dọc theo tuyến quốc lộ 1A, đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, đường sắt Bắc - Nam, có nguồn tài nguyên ưu đãi, đồng thời nằm trong vùng kinh tế phát triển năng động nằm giữa thành phố Đà Nẵng và Tam Kỳ Với chiều dài 25km bãi biển còn nguyên
vẻ đẹp hoang sơ; sông Trường Giang có chiều dài hơn 70km, chạy dọc theo biển, từ
Trang 28Duy Xuyên qua Thăng Bình; có Phật viện Đồng Dương - di sản cấp quốc gia đặc biệt là trung tâm phật giáo lớn nhất của Vương quốc Chămpa… Đây là điều kiện thuận lợi cho huyện Thăng Bình phát triển du lịch
Tiếp thu các văn bản chỉ đạo của cấp trên và tình hình thực tế của địa phương những năm qua các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở luôn quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện các giải pháp về phát triển du lịch trên địa bàn huyện Chỉ đạo ban hành các Nghị quyết, Đề án về phát triển du lịch, đã góp phần định hướng tạo ra bước chuyển biến lớn về nhận thức của cán bộ, nhân dân về vai trò, vị trí và hiệu quả nhiều mặt của kinh tế du lịch đối với phát triên kinh tế - xã hội của địa phương
Tập trung phát triển các sản phẩm du lịch theo đúng định hướng, phù hợp với lợi thế của huyện Đưa vào khai thác các loại hình du lịch mới như du lịch giải trí, nghĩ dưỡng Quan tâm phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm các làng nghề truyền thống, du lịch cộng đồng góp phần tăng thu nhập cho người dân
Công tác quy hoạch, xây dựng được quan tâm thực hiện bám sát các Nghị quyết phát triển du lịch theo hướng bền vững, trong đó thực hiện nghiêm việc bảo
vệ tài nguyên môi trường, cảnh quan du lịch, đảm bảo quy định về mật độ, quy chuẩn xây dựng đối với dự án du lịch
Đẩy mạnh quản bá du lịch đến nhiều thị trường với nhiều hình thức đa dạng; đẩy mạnh xúc tiến đầu tư các dự án du lịch như: Khu du lịch nghỉ dưỡng Vinpaerl Nam Hội An, Khu phức hợp Nam Hội An, An Thịnh, BRG
Tổ chức nhiều lớp tập huấn nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân dân về du lịch, phát huy các điểm du lịch tiềm năng, phát triển du lịch đã góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, cùng các giá trị tự nhiên khác
Hoạt động kinh doanh du lịch ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân Kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2011 - 2018 có những chuyển biến tích cực, doanh thu từ hoạt động du lịch qua các năm tăng dần, năm 2011 doanh thu hoạt động du lịch đạt 2,5 tỷ đồng, chiếm 0,23% toàn tỉnh Quảng Nam, tuy nhiên đến năm 2018 con số này tăng lên 3,86 tỷ đồng, chiếm 0,10% toàn tỉnh
Trang 29Nhìn nhận tổng thể tỷ lệ chiếm giữ trong toàn tỉnh có xu hướng giảm do doanh thu toàn tỉnh tăng, nhưng trong địa phương của huyện doanh thu du lịch cũng tăng lên
Bảng 2.1 Doanh thu du lịch giai đoạn 2011 - 2018 Năm Quảng Nam (tỷ đồng) Thăng Bình (tỷ đồng) Tỷ trọng (%)
Nguồn: Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Quảng Nam
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế đó là: Quy hoạch
và quản lý quy hoạch ngành du lịch còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, chất lượng quy hoạch còn hạn chế Một số dự án đầu tư du lịch tiến độ triển khai chậm, đặc biệt là các dự án du lịch giải trí, nghỉ dưỡng dọc ven biển; công tác bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng thực chưa triệt để, làm ảnh hưởng đến công tác xúc tiến đầu tư Việc đầu tư hạ tầng du lịch chưa đồng bộ, thiếu hạ tầng thiết yếu; một số điểm du lịch có tiểm năng vẫn chưa được đầu tư đúng mức Công tác xúc tiến, quảng bá còn hạn chế, nguồi lực xúc tiến, quảng bá du lịch thấp chưa đủ sức lan tỏa Nguồn nhân lực du lịch hạn chế cả về số lượng và chất lượng, thiếu về chuyên môn, trình độ quản lý tay nghề chưa đáp ứng được nhu cầu; cán bộ trong bộ máy nhà nước của huyện làm công tác du lịch còn mỏng, chủ yếu là kiêm nhiệm Công tác quản lý điểm đến và môi trường du lịch còn nhiều bất cập; hoạt động kinh doanh lữ hành chưa tốt, chất lượng các cơ sở lưu trú chưa được kiểm soát chặt chẽ
Trang 302.1.3 Tình hình phát triển du lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam
2.1.3.1 Các loại hình du lịch
a Du lịch sinh thái
Với tiềm năng về du lịch sinh thái huyện Thăng Bình có điều kiện để phát triển mạnh loại hình du lịch này Hiện nay tại các khu vực sông Trường Giang, hồ Cao Ngạn, hồ Đông Tiển, hồ Phước Hà, Hố Thác, Hố Cam đang phát triển các dịch
vụ tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trên cở sở cảnh quan, môi trường thiên nhiên mát
mẻ Khai thác loại hình du lịch sông nước dọc sông Trường Giang, mở ra các tuyến
du lịch đường thủy kết hợp du lịch sinh thái tham quan các làng quê, làng nghề hai bên bờ sông Kết nối du lịch sông Trường Giang với các điểm du lịch ở Hội An và Tam Kỳ, đặt biệt là khu Du lịch nghỉ dưỡng Vinpearl Nam Hội An Bên cạnh đó, các loại hình du lịch sinh thái ở huyện Thăng Bình cũng rất đa dạng như Hố Cam phong cảnh nơi đây là sự kết hợp giữa núi rừng bao la với những dòng nước mát
mẻ Từ trên những đỉnh núi nhìn xuống, có thể bao quát được cả một không gian hồ Phước Hà, hồ Cao Ngạn
Hình 2.1 Sông Trường Giang, Hố Thác
Nguồn: Tác giả
b Du lịch làng nghề truyền thống - làng quê và ẩm thực
Tiềm năng du lịch Thăng Bình còn có các làng nghề truyền thống như làng nghề nước mắm Cửa Khe, Làng rau sạch Hưng Mỹ, Làng nghề hương Hà Lam
Trang 31Làng nghề nước mắm Cửa Khe - Bình Dương đã từ lâu nổi tiếng và được nhiều người ưa chuộng vì chất lượng thơm ngon Đến với làng rau sạch Hưng Mỹ - Bình Triều, du khách sẽ bắt gặp nhiều loại rau với chủng loại phong phú, tạo nên sự hấp dẫn đối với người tiêu dùng Tất cả cư dân ở đây vẫn duy trì và phát triển làng nghề, bởi vậy nhiều làng nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo việc làm và tăng thu nhập cho nông dân Với tiềm năng về du lịch sinh thái, làng nghề tại huyện Thăng Bình có điều kiện để phát triển mạnh loại hình du lịch này
Hình 2.2 Làng nghề nước mắm Cửa Khe, Làng rau sạch Hưng Mỹ
Nguồn: Tác giả
c Du lịch biển
Thăng Bình với 25km đường bờ biển đã tạo ra những lợi thế rất lớn trong việc phát triển sản phẩm du lịch biển, nổi bật trong đó có bãi tắm Bình Minh, Bình Dương Cách trung tâm huyện gần 10km về phía Đông, bãi tắm Bình Minh, Bình Dương được thiên nhiên ưu đãi với việc khai thác, đánh bắt hải sản, ngoài ra khi đến đây, du khách đều có chung nhận định rằng đây là một bãi tắm lý tưởng Nơi đây có một bờ biển dài, còn nguyên vẻ đẹp hoang sơ, quyến rũ
Trang 32Hình 2.4 Lễ Hội rước cộ Bà Chợ Được
Nguồn: Tác giả
e Di tích văn hoá, di tích lịch sử
Theo dòng lịch sử, Khu phế tích Phật viện Đồng Dương đã để lại cho Huyện những giá trị văn hóa lịch sử có giá trị từ thời vua Indravarman II (năm 875) Nơi được xem là trung tâm Phật giáo lớn nhất của vương quốc Chămpa, hứa hẹn về một loại hình du lịch tâm linh trong tương lai khi khu di tích này được khai quật, trưng bày Đến với Thăng Bình còn có các di tích văn hóa, lịch sử khác như Bia Văn
Trang 33Thánh, Đình làng Hà Lam cũng tạo nên điểm nhấn đáng kể trong du lịch di tích văn hóa lịch sử của huyện
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia nhìn nhận, để phát triển du lịch Thăng Bình cần tập trung vào các nhóm sản phẩm chính là Du lịch nghĩ dưỡng, du lịch biển; du lịch sinh thái; du lịch làng nghề truyền thống - làng quê, ẩm thực và du lịch văn hóa, lịch sử cách mạng và du lịch lễ hội
Bảng 2.2 Tổng hợp sản phẩm du lịch huyện Thăng Bình Sản phẩm du lịch Điểm du lịch
Du lịch dịch vụ, nghỉ dưỡng Khu du lịch, nghỉ dưỡng Vinpearl Nam Hội An
Du lịch biển Biển Bình Minh, Bình Dương, Bình Hải, Bình Nam
Du lịch sinh thái Sông Trường Giang, Hồ Phước Hà, Hồ Đông Tiển,
Du lịch lễ hội Lễ hội Lăng Bà ở Chợ Được
Lễ hội cầu ngư
- Hệ thống giao thông: Hệ thống đường bộ của Thăng Bình bố trí đều khắp trong huyện, đường ô tô đến 100% các trung tâm xã Nối liền các huyện thành phố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam với quốc lộ 1A, Đường sắt Bắc - Nam, Đường cao tốc
Đà Năng - Quảng Ngãi, Đường ven biển 129 nối thành phố Hội An - Khu du lịch
Trang 34nghỉ dưỡng Vinpearl Nam Hội An - thành phố Tam Kỳ Tuyến quốc lộ 1A nối liền với huyện Duy Xuyên - nơi có di sản văn hóa thế giới đền tháp Mỹ Sơn, quốc lộ 14E nối liền với tỉnh Kon Tum Nhìn chung, hệ thống giao thông đường bộ ở Thăng Bình đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển du lịch
Giao thông trên sông tại Thăng Bình chỉ phù hợp đối với việc phát triển du lịch sinh thái trên sông Trường Giang
- Hệ thống cấp điện: Nguồn điện cung cấp cho huyện Thăng Bình khá ổn định
- Hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường: Hệ thống cấp nước cho các điểm
du lịch được cung cấp nước từ sông Trường Giang và nước sạch của các nhà máy nước Hệ thống thoát nước ở Thăng Bình chưa được cải thiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường khu vực
- Hệ thống bưu chính viễn thông: Mạng lưới viễn thông của Thăng Bình đã
có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực Đến nay, hệ thống viễn thông phát triển với những công nghệ hiện đại và giá trị sản xuất tăng nhanh
Bản đồ 2.1 Quy hoạch giao thông huyện Thăng Bình giai đoạn 2018 - 2020 và
đến năm 2030
Nguồn: Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Thăng Bình
Trang 352.1.3.3 Hệ thống hạ tầng xã hội
a Các công trình văn hóa, thể thao: Trên địa bàn huyện Thăng Bình hệ thống các dịch vụ vui chơi, văn hóa giải trí còn đơn điệu, chỉ có sân hoạt động thể dục - thể thao bóng đá Mạng lưới nghe nhìn chưa đáp ứng chu cầu thụ hưởng của du khách Toàn huyện có 3 bể bơi, 51 điểm dịch vụ karaoke, 78 điểm dịch vụ Internet,
5 sân bóng đá nhân tạo và 4 điểm dịch vụ vui chơi trẻ em Ngoài ra, các công trình văn hóa khác tạo thành sản phẩm du lịch độc đáo, điểm đến phục vụ du khách
b Các công trình dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe: Hệ thống y tế từ huyện đến các xã được cũng cố, kiện toàn Các chương trình y tế được triển khai thực hiện tốt, không để xẩy ra dịch bệnh lớn Tại các điểm xa trung tâm huyện, các dịch vụ y
tế cũng đảm bảo phục vụ khách du lịch trong trường hợp cần thiết tạo nên sự an toàn cho du khách
c Cơ sở đào tạo nghiên cứu và các công trình dịch vụ khác: Hệ thống ngân hàng tại trung tâm huyện, các khách sạn đều có dịch vụ đổi ngoại tệ tại chỗ cho du khách Hệ thống thanh toán thẻ tín dụng điện tử, máy rút tiền tự động Ngoài ra tại huyện Thăng Bình còn có đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, người lao động
có kinh nghiệm trong hoạt động thương mại và dịch vụ du lịch, thâm canh nông nghiệp, sản xuất và kinh doanh rau, nước mắm và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ
d Đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch: Hiện nay mới có 01 doanh nghiệp vào đầu tư trên lĩnh vực du lịch: Tập đoàn Vingroup đầu tư khu du lịch nghỉ dưỡng Vinpearl Nam Hội An và một số đơn vị đang làm thủ tục đầu tư (Tập đoàn BRG, Tập đoàn T&T, công ty TNHH Du lịch nghỉ dưỡng làng biển nhiệt đới Hội An, công ty xây dựng Long Á …) và sau khi thủ tục hoàn tất thì đầu tư và khai thác tại các xã Bình Dương, Bình Minh, Bình Hải, Bình Sa, Bình Nam hứa hẹn sẽ tạo ra bộ mặt mới cho huyện Thăng Bình
e Dịch vụ bán hàng lưu niệm
Đối với các làng nghề truyền thống, hiện nay sản phẩm chỉ mới là phục vụ nhỏ lẻ, chưa tập trung, chưa có đầu tư đúng mức nhằm phục vụ khách du lịch Vì vậy, hàng lưu niệm tại làng nghề truyền thống của huyện như nước mắm Cửa Khe -
Trang 36Bình Dương, hương - thị trấn Hà Lam là sản phẩm có kiểu dáng còn đơn giản, chưa tạo sự hấp dẫn đáp ứng thị hiếu của khách du lịch
g Cơ sở lưu trú
Cùng với xu hướng chung của cả tỉnh, hiện nay do lượng khách đến ngày càng tăng, các khách sạn, nhà nghỉ được xây dựng thêm để phục vụ đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách du lịch Huyện Thăng Bình cũng không ngừng nâng cấp, xây dựng mới khách sạn, nhà nghỉ phục vụ khách du lịch Đặc biệt năm 2018 sau khi Khu du lịch, nghỉ dưỡng Vinpearl Nam Hội An hoàn thành đi vào hoạt động thì
số lượng và chất lượng cơ sở lưu trú phục vụ khách du lịch được nâng lên đáng kể
Trên toàn huyện chỉ có 05 khách sạn ở thị trấn Hà lam, 17 nhà nghỉ ở 08 xã thị trấn với tổng 185 phòng Với công suất sử dụng phòng gia tăng qua từng năm, từ 70% đến 85%, qua đó các cơ sở lưu trú đã góp phần giải quyết việc làm thường xuyên cho khá nhiều lao động Đây là yếu tố then chốt nhất thể hiện năng lực sẵn sàng phục vụ du lịch của huyện Sự phân bố hệ thống cơ sở lưu trú không đồng đều phụ thuộc khả năng khai thác du lịch của địa phương
Ngoài một số khách sạn đạt tiêu chuẩn, phần lớn các nhà nghỉ còn yếu trên nhiều phương diện: số lượng phòng ít, trang bị không đồng bộ, phân bổ không đều, một số nhà nghỉ, khách sạn đã xây dựng lâu nên cơ sở vật chất đã cũ không đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch Trong những năm gân đây, cùng với xu hướng phát triển chung của cả tỉnh lượng khách quốc tế cũng tăng nhanh, khách nội địa cũng có nhu cầu đi nghỉ nhiều hơn nên các khách sạn, nhà nghỉ ở đây đã đang được xây dựng thêm để đáp ứng nhu cầu khách du lịch
h Dịch vụ vui chơi giải trí
Khu vui chơi Vinpearl Nam Hội An là khu vui chơi giải trí, trải nghiệm văn hóa và thiên nhiên hoang dã lớn nhất, mới nhất Việt Nam Nơi đây chắc chắn là một điểm đến không thể bỏ lỡ trong hành trình du lịch miền Trung của bất cứ du khách nào tới Đà Nẵng, Hội An 12 con tàu khổng lồ đậu trên sông ngay cổng chào là một trong những nét độc đáo, hấp dẫn du khách từ ánh nhìn đầu tiên khi bước vào Với thiết kế tinh tế của các kiến trúc sư, Vinpearl Nam Hội An được xây dựng đan xen
Trang 37giữa những văn hóa cổ, hiện đại, thiên nhiên hoãng dã vànhiều trò chơi cảm giác mạnh độc - lạ - hiếm có trên thế giới như cú rơi thế kỷ từ độ cao kỷ lục 85m, phi thuyền gió lốc Tourbillon,… 95 trò chơi trong nhà, hay sân khấu nhạc nước hiện đại với 2500 chỗ ngồi Ven theo sông bên bờ Tây của Bến cảng Giao Thoa, du khách sẽ được chiêm ngưỡng Đại lộ Giấc Mơ khắc họa tổ hợp kiến trúc phương Tây hiện đại với những ngôi nhà biểu tượng của Nga, Ý, Tây Ban Nha, … Còn gì thú vị hơn khi được vi vu Châu Âu ngay tại Việt Nam tất cả sẽ đem đến cho bạn trải nghiệm tuyệt hảo tại khu vui chơi giải trí hấp dẫn này
Huyện Thăng Bình cũng chú trọng đến các hoạt động vui chơi giải trí phục
vụ du lịch, trên toàn huyện có 3 cơ sở kinh doanh dịch vụ bể bơi, 51 điểm karaoke,
78 điểm dịch vụ Internet, 5 sân bóng đa nhân tạo và 4 điểm vui chơi trẻ em Đây là những tiền đề phục vụ tốt hơn trong chất lượng sản phẩm kinh tế du lịch địa phương Tuy nhiên, hệ thống vui chơi giải trí ở huyện ngoài Khu du lịch Vinpearl thì các điểm khác chưa đồng bộ, chất lượng chưa cao, chưa thu hút lượng khách đến, cần có những điểm nhấn trong dịch vụ vui chơi giải trí để thu hút hơn khách du lịch
2.1.3.4 Công tác xúc tiến, quảng bá liên kết phát triển kinh tế du lịch
Năm 2017, ngành du lịch và thương mại đã có nhiều cố gắng trong công tác đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, quảng bá về du lịch Dưới sự chỉ đạo của Sở VH-TT&DL, UBND huyện, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch thuộc các thành phần kinh tế đã tích cực tham gia các hội chợ thương mại, liên hoan du lịch Nhiều sản phẩm du lịch của Thăng Bình bước đầu tiếp cận được thị trường Ngoài việc thu thập thông tin, tài liệu về du lịch, du lịch Thăng Bình đã hoàn thành cơ bản website
du lịch, thương mại, duy trì thường xuyên cung cấp thông tin, các chương trình hỗ trợ xúc tiến du lịch Tích cực quảng bá hình ảnh du lịch huyện Thăng Bình trên cổng thông tin điện tử Huyện Phối hợp với cơ quan thông tin đại chúng xúc tiến quảng bá du lịch trên website của tỉnh để quảng bá hình ảnh du lịch huyện Thăng Bình đến các địa phương trong và ngoài nước Tập trung xúc tiến đầu tư, đẩy mạnh quảng bá du lịch, liên kết tour, thiết kế sản phẩm, tổ chức các sự kiện văn hóa - du lịch Triển khai tốt công tác tuyên truyền quảng bá cho các sự kiện Lễ hội, các hoạt
Trang 38động mùa hè biển, trong đó làm chương trình và phát sóng các hoạt động này trên đài QRT, cổng thông tin điện tử, VTV 8
2.1.3.5 Đầu tư phát triển kinh tế du lịch
Sản phẩm du lịch của huyện đã từng bước được đa dạng hóa, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh Các địa phương trong huyện như Bình Minh, Bình Dương, Bình Định Bắc đã đẩy mạnh việc khai thác tiềm năng và thế mạnh về tài nguyên du lịch trong đó nổi trội là tài nguyên tự nhiên để xây dựng các sản phẩm du lịch gắn với loại hình du lịch sinh thái bên cạnh việc bảo tồn và phục hồi các lễ hội truyền thống, tổ chức nhiều hoạt động du lịch văn hóa với nhiều chủ đề độc đáo, hấp dẫn Trong những năm qua, việc đầu tư phát triển kinh tế sản phẩm du lịch được thực hiện đều khắp ở các khu vực trong huyện Đặc biệt, cầu Cửa Đại và tuyến đường ven biển đã hoàn thành nối liền giữa Hội An - Duy Xuyên - Thăng Bình - Tam Kỳ là một cơ hội rất lớn cho huyện Thăng Bình Đồng thời, vùng Đông Thăng Bình có tiềm năng về du lịch lịch sử - cách mạng - văn hóa (1 di tích lịch sử, 2 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia), gần kề với Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn - hai di sản văn hóa thế giới của Việt Nam nên Thăng Bình có lợi thế rất lớn trong việc đầu tư phát triển kinh tế du lịch
2.1.3.6 Quản lý Nhà nước về du lịch
Quản lý Nhà nước về du lịch đã đạt được những kết quả bước đầu khả quan UBND huyện Thăng Bình thực hiện nhiều việc liên quan đến công tác quản lý thực hiện quy hoạch du lịch Tuy nhiên việc nhận thức về pháp luật, cơ chế, chính sách
về phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng trong thời gian qua còn hạn chế
Vì vậy đòi hỏi các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể trong huyện, nhất là những nơi có tiềm năng du lịch cần phải tiếp thu, quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và nhận thức về phát triển du lịch một cách nghiêm túc, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản hướng dẫn để vừa góp phần đưa các quy định pháp luật vào cuộc sống, tạo môi trường hoạt động du lịch lành mạnh, vừa nâng cao nhận thức của họ về vai trò, ý nghĩa của hoạt động du lịch trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Trên địa bàn Huyện đã
Trang 39triển khai nhiều quy hoạch chi tiết, nhiều dự án đầu tư khu trọng điểm du lịch theo hướng quy hoạch tổng thể và phát huy hiệu lực công tác quản lý du lịch theo quy hoạch Việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của huyện tập trung vào quy hoạch không gian du lịch và định hướng phát triển các sản phẩm du lịch, chú trọng đến các khu, điểm du lịch ở các địa bàn có tiềm năng Tuy nhiên, trong công tác quản lý còn nẩy sinh nhiều bất cập, nhiều nơi thiếu thống nhất, nhiều vấn đề chưa phân định rõ giữa quản lý nhà nước với quản lý kinh doanh Quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch hiệu quả chưa cao về nhiều mặt như vốn, quy hoạch, chính sách đầu tư, liên kết quốc tế, vệ sinh môi trường, an ninh quốc phòng và an toàn cho khách du lịch
2.1.3.7 Khách du lịch và thu nhập từ du lịch
a Doanh thu từ du lịch
Doanh thu du lịch ngày càng tăng, chủ yếu là chi phí phòng nghỉ, vận chuyển, các nguồn thu từ dịch vụ ăn uống và hàng hoá còn hạn chế Doanh thu từ hoạt động du lịch của huyện Thăng Bình giai đoạn 2010 - 2017 đã có sự tăng trưởng với tốc độ trung bình đạt 20% Năm 2010, doanh thu từ du lịch đạt 2,5 tỷ đồng, nhưng trải qua 7 năm, năm 2017 doanh thu đạt 3,86 tỷ đồng
Trong những năm qua, việc đầu tư phát triển hệ thống cơ sở vật chất phục vụ
du lịch đã góp phần đem lại doanh thu du lịch cho một số địa phương Trong đó doanh thu từ dịch vụ bãi tắm biển Bình Minh được đánh giá tăng trưởng cao Năm
2010 doanh thu đạt 1.200 triệu đồng, đến năm 2018 đạt 2.500 triệu đồng
b Tình hình khách du lịch
Nhờ vào chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước, đặc biệt từ khi
có Nghị quyết 45/CP của Chính phủ về đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch
và chỉ thị 46/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, hoạt động kinh doanh du lịch Quảng Nam nói chung, Thăng Bình nói riêng khá phát triển; địa bàn du lịch được mở rộng; các điểm danh thắng được tôn tạo, nâng cấp; các khu vui chơi giải trí được xây dựng; hệ thống các cơ sở lưu trú du lịch được quan tâm đầu tư nên đã thu hút đáng kể lượng du khách trong và ngoài nước đến Thăng Bình Đây thực sự
Trang 40là một tín hiệu đáng mừng đối với du lịch Quảng Nam nói chung, du lịch Thăng Bình nói riêng Thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 25/6/2007 của Tỉnh ủy Quảng Nam về “Đẩy mạnh phát triển du lịch Quảng Nam đến năm 2020” đồng thời thực hiện “Chương trình hành động số 23 - CTr/HU ngày 28/8/2013 của Huyện ủy Thăng Bình” Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy cùng với việc nghiêm túc thực hiện của các ngành các cấp và sự nhận thức đúng đắn của mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh, trong huyện, có thể nhận thấy khách du lịch nói chung đến tham quan, nghỉ dưỡng tại Quảng Nam nói chung, Thăng Bình nói riêng thời gian qua đều tăng năm sau cao hơn năm trước
Bảng 2.3 Lượng khách du lịch đến Thăng Bình (lượt khách)
Năm Quảng Nam Thăng
Bình Hội An Tỷ trọng trong
toàn tỉnh
So sánh Thăng Bình /Hội An
Nguồn: Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Quảng Nam
Năm 2011 số lượng khách đến Quảng Nam 2.391.677 lượt khách, năm 2018 đạt 5.300.000 lượt khách, tốc độ tăng bình quân 11,73% Trong đó du lịch Thăng Bình cũng phát triển đáng kể Năm 2011 số lượng khách đến Thăng Bình đạt 23.710 lượt khách, đến năm 2018 tăng lên 26.200 lượt khách, tốc độ tăng khoản 9% Tuy nhiên so với du lịch Hội An, Thăng Bình còn nhiều vấn đề cần cải thiện để tương xứng với tiềm năng du lịch của huyện, tỷ trọng lượng khách đến Thăng Bình chiếm dưới 1% trong tổng thể du lịch toàn tỉnh, so với Hội An - một điểm du lịch