1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thực hiện chính sách an sinh xã hôi từ thực tiễn quận ngũ hành sơn – thành phố đà nẵng

94 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Hội nghị Trung ương khóa XI của Đảng ta đã nhấn mạnh: “Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ NGUYỄN HẢI LONG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI

TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ NGUYỄN HẢI LONG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI

TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu; các số liệu trong Luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác,

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Hồ Nguyễn Hải Long

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 8

1.1 Những vấn đề chung về an sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội 8

1.2 Nội dung thực hiện chính sách an sinh xã hội 17

1.3 Các yếu tố ảnh hướng đến thực hiện chính sách an sinh xã hội 20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN QUA 25

2.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng 25

2.2 Thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng thời gian qua 29

2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn thời gian qua 45

2.3.1 Những thành tựu và nguyên nhân 45

2.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 48

Tiểu kết Chương 2 52

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 53

3.1 Quan điểm thực hiện chính sách an sinh xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng 53

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách An sinh xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng 57

KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm y tế

BHXH BHYT

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Số hiệu

2.1 Các chỉ tiêu kinh tế xã hội của Quận Ngũ Hành Sơn 27

2.9 Tình hình thực hiện sửa chữa, xây mới nhà ở cho gia

đình người có công với cách mạng năm 2018 41

2.10 Kết quả đánh giá của nhân dân về thực hiện chính sách

ưu đãi người có công cách mạng năm 2018 42

2.11 Tình hình tham gia BHXH từ năm 2015 đến năm 2018

trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng 44 2.12 Kết quả đánh giá của nhân dân đối với việc thực hiện

các chính sách ASXH trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn 47

Trang 7

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Số hiệu

1.1 Hệ thống an sinh xã hội Việt Nam giai đoạn 2012-2020 11

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong mọi giai đoạn phát triển của xã hội, Chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực để phát triển nhanh và bền vững Thực hiện

có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm An sinh xã hội (ASXH) trong từng bước và từng chính sách phát triển là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách ASXH, coi đây là mục tiêu, động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Tại Hội nghị Trung ương khóa XI của Đảng ta đã nhấn mạnh: “Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ… Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người có công và bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Ðảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội”

Ngũ Hành Sơn là đơn vị hành chính loại II của Thành phố Đà Nẵng Trong những năm qua, với việc thực hiện một cách đúng đắn các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của Thành phố Đà Nẵng; gắn chương trình phát triển kinh tế của quận với việc giải quyết các vấn đề xã hội, chính sách an sinh xã hội, quan tâm nhân tố con người và đã đạt được những kết quả tích cực trên tất cả các lĩnh vực kinh

tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng – an ninh Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách ASXH ở quận Ngũ Hành Sơn vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế như: tạo việc làm và giảm nghèo chưa bền vững, tỉ lệ hộ cận nghèo, tái nghèo còn cao; đời sống của một

bộ phận người nghèo chưa bảo đảm được mức tối thiểu; việc giải quyết việc làm cho vùng di dời giải tỏa gặp nhiều khó khăn, bất cập do các dự án treo chậm triển khai

Trong những năm qua, quận Ngũ Hành Sơn với đặc thù có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tốc độ đô thị hóa rất nhanh nhưng chính quá trình đó đã dẫn đến những vấn đề bức xúc như: Việc mở rộng và phát triển các ngành công nghiệp, dịch

vụ đã thu hút số lượng lớn lao động từ các địa phương khác đến tham gia làm việc

Trang 9

và cư trú Bên cạnh đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình đô thị hóa, việc các hộ dân sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp, tái định cư do quá trình mở rộng và chỉnh trang đô thị rất lớn, gây áp lực cho việc giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống, bố trí nhà ở trên địa bàn quận, gây khó khăn cho công tác ASXH Bên cạnh đó, việc tập trung hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp trên địa bàn quận đã làm tăng số lượng học sinh, sinh viên đến học tập và ở lại làm việc đã gây áp lực không nhỏ về vấn đề chỗ ở, khám chữa bệnh, chăm sóc y tế và các vấn đề xã hội khác Đặc biệt, việc huy động nguồn lực tại chỗ của các phường thuộc quận trong thực hiện chính sách ASXH còn khá hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách của Thành phố, của Trung ương; chưa khuyến khích người dân và các đối tác xã hội tích cực tham gia, chủ động tham gia Mặt khác, để tiếp tục thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW năm 2003 của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về xây dựng và phát triển Thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước” cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, quan trọng hàng đầu là an sinh xã hội

Trước những khó khăn và thách thức đặt ra cho việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quận Ngũ Hành Sơn đang là vấn đề cấp thiết trong tình hình hiện nay Xuất phát từ

cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi chọn vấn đề: “Thực hiện chính sách an sinh xã

hôi từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn – Thành phố Đà Nẵng ” làm đề tài luận văn

thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

An sinh xã hội là một vấn đề có nội hàm rộng, có đối tượng nghiên cứu rất

đa dạng Thực tế, có nhiều nghiên cứu trên thế giới đề cập đến an sinh xã hội trên những khía cạnh khác nhau Ida C Merriam (1978) phân tích tương đối hệ thống các nội dung lý thuyết gắn với hệ thống an sinh xã hội và những chỉ số cơ bản về phúc lợi xã hội André Leliveld (1991) nghiên cứu lý thuyết về hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt nhấn mạnh các nội dụng về đặc điểm, tính cần thiết, những nguyên tắt, những hình thức, và những nhân tố của hệ thống an sinh xã hội của một quốc gia

Trang 10

JICA (2009) phân tích lý thuyết về an sinh xã hội và thực tế hệ thống an sinh xã hội tại một số quốc gia châu Á

Phạm Thị Định (2012) nêu lên những đặc điểm chính của hệ thống an sinh

xã hội trong nền kinh tế thị trường, và những xu hướng phát triển hệ thống an sinh

xã hội ở một số nước Tây Âu và Mỹ Cụ thể hơn, tác giả phân biệt hai mô hình an sinh xã hội chủ yếu với những đặc trưng khác nhau : An sinh xã hội theo mô hình Bicmarck nhấn mạnh bảo hiểm xã hội là công cụ nòng cốt để thực hiện chính sách

an sinh cho mọi người dân, và an sinh xã hội theo mô hình của Anh và Mỹ hướng theo trách nhiệm cá nhân và nhà nước chỉ tập trung vào những đối tượng yếu thế trong xã hội (nhấn mạnh vai trò của các chính sách hỗ trợ xã hội) Tác giả nhận định rằng hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam được dựa trên 3 trụ cột cơ bản : Bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội và thị trường lao động tích cực Cuối cùng, tác giả đề xuất những bài học kinh nghiệm để cải cách hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam

Mai Ngọc Cường (2009) trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách an sinh xã hội ; phân tích hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua với những cấu thành cơ bản là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp và ưu đãi xã hội ; đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm hoàn thiện

hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam Mai Ngọc Cường (2013) cho rằng

để phát triển hệ thống an sinh xã hội đến năm 2020, nhà nước cần đa dạng hóa hình thức bảo hiểm xã hội cho người lao động khu vực phi chính thức và nông dân, chuyển căn cứ đóng bảo hiểm xã hội từ chỗ dựa vào tiền công, tiền lương hiện nay sang dựa trên toàn bộ thu nhập của người tham gia, bổ sung thêm các chế độ bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm thai sản vào chế độ hưởng của bảo hiểm xã hội thu nhập, nâng độ bao phủ trợ giúp xã hội đến năm 2020 khoảng 2,5-2,6% dân số Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất cần đa dạng hóa việc tổ chức quản lý an sinh xã hội, tăng cường phối hợp quản lý kinh tế - xã hội với quản lý an sinh xã hội, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác an sinh xã hội

Trang 11

Nguyễn Hữu Dũng (2012) đề cập về mặt lý luận những nhận thức cơ bản về các vấn đề xã hội trong bối cảnh phát triển bền vững Sau những phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra về các vấn đề xã hội trong phát triển bền vững ở Việt Nam, tác giả đã gợi ý những ưu tiên chủ đạo trong giải quyết các vấn đề xã hội theo định hướng phát triển bền vững Nguyễn Hữu Dũng (2013) khái quát tình hình lao động, việc làm, và an sinh xã hội Việt Nam năm 2012 Trên cơ sở đó, tác giả dự báo những triển vọng tình hình lao động, việc làm, và an sinh xã hội Việt Nam năm

2013 và đề xuất những khuyến nghị quan trọng để thực hiện những vấn đề này

Hoàng Đức Thân (2012) tranh luận rằng, thực tế tại Việt Nam sự gắn kết trong hệ thống chính sách kinh tế và chính sách xã hội, trong tổng thể phát triển kinh tế và an sinh xã hội là chưa tốt Thành quả tăng trưởng kinh tế chưa được phân phối một cách hợp lý, hệ thống an sinh xã hội chưa phát huy tác dụng ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn Đặc biệt, cơ chế phúc lợi hiện nay rất phi lý, trong khi nhóm người giàu, trung lưu hưởng mức phúc lợi xã hội cao thì nhóm người nghèo lại hưởng mức phúc lợi thấp nhất Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất những thay đổi căn bản hệ thống quan điểm và giải pháp về phát triển kinh tế gắn với đảm bảo an sinh xã hội của Việt Nam cho giai đoạn 2011-2020

Phạm Văn Sáng và cộng sự (2009) tiếp cận hệ thống an sinh xã hội bao gồm

ba trụ cột chủ yếu : bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội và xóa đói giảm nghèo Theo đó, các tác giả đã tiến hành phân tích thực trạng hệ thống an sinh xã hội của tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo an sinh xã hội của tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

Lê Anh (2017) trong luận án tiến sĩ “Thực thi chính sách an sinh xã hội ở

Thành phố Đà Nẵng hiện nay – Thực trạng và giải pháp”, đã nêu các vấn đề lý luận cơ

bản, thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn Thành phố và đưa ra các giải pháp trên các lĩnh vực của an sinh xã hội như: Bảo trợ xã hội, giảm nghèo, việc làm, ưu đãi người có công, BHXH

Nguyễn Dũng Anh (2014) trong luận án tiến sĩ “Việc làm cho nông dân bị thu

hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở Thành phố Đà Nẵng”, đã đề cập

Trang 12

đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phân tích tác động của thu hồi đất và tính cấp thiết của việc tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Thành phố Đà Nẵng Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Thành phố Đà Nẵng thực sự có ý nghĩa đối với việc thực thi chính sách ASXH ở Thành phố Đà Nẵng

Lê Văn Đính, Hồ Kỳ Minh (2012) đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết nhà ở thu nhập thấp trong chính sách an sinh xã hội; thực trạng thị trường và chính sách chính sách nhà ở thu nhập thấp trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng; hoàn thiện chính sách nhà ở thu nhập thấp trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới Những nội dung trong cuốn sách được tác giả luận án kế thừa khi phân tích sự “ưu trội”, “đặc thù” về thành tựu trong việc xây dựng nhà ở xã hội và nhà ở thu nhập thấp ở Thành phố Đà Nẵng

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã nghiên cứu khá đầy đủ chính sách

an sinh xã hội trên cả chiều cạnh lý luận lẫn thực tiễn, cả việc thực thi chính sách an sinh xã hội ở cấp quốc gia lẫn cấp địa phương, gần hơn là tại Thành phố Đà Nẵng Tuy nhiên, theo hiểu biết của tác giả, hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về thực hiện chính sách ASXH tại quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Luận giải, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của việc thực hiện chính sách an sinh

xã hội; phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ASXH ở quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách ASXH

- Phân tích thực trạng thực hiện chính sách ASXH ở quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng thời gian qua

- Xây dựng các quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách

Trang 13

ASXH ở quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Quá trình thực thi chính sách ASXH ở quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng trên các lĩnh vực bảo trợ xã hội, giảm nghèo, người có công với cách mạng, giải quyết việc làm cho người lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

* Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà

Nẵng

- Về thời gian: Tài liệu, số liệu nghiên cứu, điều tra từ năm 2015 đến năm 2018

- Về Nội dung: Tập trung nghiên cứu những vấn đề về thực hiện chính sách an sinh

xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Vấn đề nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về ASXH và thực hiện chính sách ASXH Các Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2015-2020; các Nghị quyết của Thành phố và quận về ASXH

và thực hiện chính sách ASXH; đồng thời sử dụng số liệu tham khảo các tài liệu có liên quan và kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố

* Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp thống kê, mô tả: Trên cơ sở số liệu thứ cấp được thu thập từ các

cơ quan quản lý nhà nước, các báo cáo tổng kết, các nghiên cứu đã có, các tài liệu khác liên quan, đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để làm rõ bức tranh thực trạng thực hiện chính sách ASXH tại quận Ngũ Hành Sơn

- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: khảo sát bằng bảng hỏi 100 người dân thụ hưởng chính sách an sinh xã hội theo nguyên tắc ngẫu nhiên tại 2 phường Mỹ An (50 phiếu) và Hòa Quý (50 phiếu)

Trang 14

- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn sâu 10 cán bộ thực hiện chính sách

an sinh xã hội tại 2 phường Mỹ An và Hòa Quý để thu thập thông tin và đánh giá quá trình thực hiện chính sách từ phía người thực thi chính sách

- Ngoài ra còn dựa trên phương pháp khác như: Phương pháp so sánh, diễn giải, quy nạp làm cơ sở cho quá trình hoàn thành luận văn

6 Ý nghĩa của đề tài

- Đề tài nghiên cứu thành công sẽ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhất định để có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, giúp các cơ quan nghiên cứu, các sở, ban, ngành liên quan của Thành phố Đà Nẵng, quận Ngũ Hành Sơn tham khảo, nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ASXH tại địa phương Nhất là góp phần hiện thực hóa những nội dung được nêu về thực hiện chính sách an sinh xã hội trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận Ngũ Hành Sơn, giai đoạn 2015 - 2020”

- Có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy gắn với chủ đề thực hiện chính sách an sinh xã hội

7 Kết cấu của luận văn

Gồm phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

và phụ lục

Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách an sinh xã hội

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách

an sinh xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 1.1 Những vấn đề chung về an sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội

1.1.1 An sinh xã hội và hệ thống an sinh xã hội

Hiện nay trên thế giới có khá nhiều khái niệm về an sinh xã hội như:

Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): An sinh xã hội là một sự bảo vệ mà xã

hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khắn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong An sinh xã hội cung cấp chăm sóc y

tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em ( ILO – 1984)([49])

Theo hiệp hội an sinh thế giới ( ISSA): An sinh xã hội giống như là sự chi

phối kết hợp các thành tố (hợp phần) của chính sách công, có thể điều chỉnh đáp ứng nhu cầu của người công nhân, các công dân trong bối cảnh toàn cầu với sự thay đổi về kinh tế, xã hội, nhân khẩu học chưa từng xảy ra ([49])

Ngoài ra, còn có các quan điểm về an sinh xã hội của Cơ quan phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Ngân hàng Thế giới (WB), các tài liệu của Nhật Bản, các tài liệu của Hoa Kỳ, các chuyên gia Việt Nam Trên cơ sở những khái niệm của các

tổ chức quốc tế, các chuyên gia Việt Nam trong các hội thảo, đã đúc kết để đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh hơn, phù hợp với về an sinh xã hội, nó bao gồm cái phỗ biến và cái đặc thù của việt nam như sau:

An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách giải pháp của nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi

Trang 16

ro, các cú sốc về kinh tế – xã hội làm cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập

do bị ốm đau thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khỗ, bần cùng hóa

và cung cấp dịch vụ chăm soc sức khỏe cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và trợ giúp đặc biệt([30])

Nguyễn Thị Lan Hương (2010) đã đưa ra khái niệm: An sinh xã hội (ASXH)

là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế Hệ thống ASXH gồm các

cơ chế, chính sách, giải pháp nhiều tầng, nấc nhằm bảo vệ cho mọi thành viên trong xã hội không bị rơi vào tình trạng bần cùng hoá bởi tác động tiêu cực của các loại rủi ro

Trong “Báo cáo phát triển hệ thống an sinh xã hội phù hợp với nền kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Nguyễn Hải Hữu (2005) khái niệm: An

sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách giải pháp của nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc

về kinh tế – xã hội làm cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khỗ, bần cùng hóa và cung cấp dịch vụ chăm soc sức khỏe cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và trợ giúp đặc biệt

Với mục tiêu phấn đấu để làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng

và văn minh; ASXH được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, gần đây nhất được quan niệm thể hiện rõ nét tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của

Đảng, an sinh xã hội được quan niệm: ASXH là một hệ thống chính sách và giải

pháp nhằm bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Bảo đảm ASXH là điều kiện để bảo đảm định

hướng XHCN cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, phản ánh bản chất tốt

Trang 17

đẹp của chế độ

Nước ta là một nước đã phải hứng chịu hậu quả nặng nề của những cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Mỹ; nằm trên khu vực chịu nhiều thiên tai thường xuyên xảy ra trên diện rộng, đất nước còn nhiều khó khăn, số hộ ngèo còn nhiều… đây cũng là một khía cạnh khác làm cho quan niệm về ASXH ở Việt Nam càng rõ ràng hơn

Có thể hiểu An sinh xã hội theo các nghĩa sau:

Theo nghĩa rộng: An sinh xã hội là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được an bình, an toàn trong đời sống xã hội

Theo nghĩa hẹp, an sinh xã hội là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân , gia đình, cộng đồng trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập vì lý do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm, cho những người già cô đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai địch họa…

Lê Quốc Lý (2014) khái niệm “ASXH là sự bảo vệ, trợ giúp của Nhà nước

và cộng đồng đối với những người “yếu thế” trong xã hội bằng các biện pháp khác nhau nhằm hỗ trợ cho các đối tượng khi họ bị suy giảm khả năng lao động, giảm sút thu nhập hoặc gặp rủi ro, bất hạnh, rơi vào tình trạng nghèo đói, hoặc là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, mất sức lao động, già yếu động viên, khuyến khích tự lực vươn lên giải quyết vấn đề của chính họ”

1.1.1.2 Hệ thống an sinh xã hội

Hệ thống ASXH giữa các quốc gia trên thế giới được xây dựng không hoàn toàn đồng nhất với nhau Theo cuốn sách “Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020” của Viện Khoa học Lao động và Xã hội thì Hệ thống an sinh

xã hội của Việt Nam được xây dựng trên nguyên lý quản lý rủi ro, đồng thời nhấn mạnh đến vai trò cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, gồm 4 nhóm chính sách cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Nhóm chính sách việc làm đảm bảo thu nhập tối thiểu và giảm

nghèo: nhằm hỗ trợ người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro thông qua tham gia

Trang 18

thị trường lao động để có được việc làm tốt, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững

Thứ hai: Nhóm chính sách bảo hiểm xã hội: nhằm hỗ trợ người dân giảm

thiểu rủi ro khi bị ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già…thông qua tham gia vào hệ thống BHXH để chủ động bù đắp phần thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi

ro trên

Thứ ba: Nhóm chính sách trợ giúp xã hội: bao gồm chính sách thường xuyên

và đột xuất nhằm hỗ trợ người dân khắc phục các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, đói, nghèo kinh niên)

Thứ tư :Nhóm chính sách dịch vụ xã hội cơ bản nhằm tăng cường cho người

dân tiếp cận hệ thống dịch vụ cơ bản ở mức tối thiểu, bao gồm giáo dục tối thiểu, y

tế tối thiểu, nhà ở tối thiểu, nước sạch và thông tin truyền thông

Sơ đồ 1.1: Hệ thống an sinh xã hội Việt Nam giai đoạn 2012-2020

(Nguồn sách Phát triển an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020)

TẠO VIỆC LÀM

VIỆC LÀM, ĐẢM BẢO THU NHẬP

TỐI THIỂU VÀ GIẢM NGHÈO

BẢO HIỂM HƯU TRÍ

BỔ SUNG

BH THẤT NGHIỆP

TỬ TUẤT HƯU TRÍ

TỬ TUẤT HƯU TRÍ

TAI NẠN LĐ - BỆNH NN THAI SẢN

ỐM ĐAU

TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN

TRỢ GIÚP XÃ HỘI CHO CÁC NHÓM ĐẶC THÙ

TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỘT XUẤT

HỖ TRỢ TIỀN MẶT

CHĂM SÓC TẠI CƠ SỞ BẢO TRỢ XH

VÀ CỘNG ĐỒNG

DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ BẢN

THÔNG TIN NƯỚC SẠCH NHÀ Ở

Y TẾ (gồm BHYT) GIÁO DỤC

HỆ THỐNG AN SINH

Trang 19

1.1.2 Chính sách an sinh xã hội và vai trò của chính sách an sinh xã hội

1.1.2.1 Chính sách an sinh xã hội

“Chính sách xã hội là cụ thể hóa và thể chế hóa bằng pháp luật những

đường lối, chủ trương, những biện pháp giải quyết những vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất của chế độ xã hội chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống, vật chất, văn hóa tinh thần của người dân”

(Bùi Đình Thanh – Chính sách xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội, 1993)

Chính sách xã hội luôn gắn với một chế độ chính trị – xã hội nhất định Do

đó, khái quát lại có thể hiểu chính sách xã hội như sau: Chính sách xã hội là sự thể chế hóa và cụ thể hóa những đường lối, chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội, dựa trên những tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất của chế độ xã hội chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm tác động trực tiếp vào con người và điểu chỉnh các mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục tiêu cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân

Từ nhiều năm qua, đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối đổi mới (1986) đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách ASXH, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để ổn định chính trị - xã hội, phát triển bền vững Đường lối, chủ trương và quan điểm của Đảng về ASXH

đã được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật (Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Bình đẳng giới, Luật Dạy nghề ), được hoạch định

và triển khai thành hệ thống các chính sách ASXH liên quan đến các đối tượng khác nhau Đồng thời, những cơ chế, chính sách nhằm huy động tốt hơn các nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp cho các đối tượng đặc biệt khó khăn vươn lên trong cuộc sống cũng được xây dựng và ngày càng hoàn thiện

Trang 20

Những cơ chế, chính sách và giải pháp bảo đảm ASXH được triển khai đồng

bộ trên cả 3 phương diện: 1) Giúp các đối tượng thụ hưởng tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng thiết yếu như y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở ; 2) Hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm thị trường, tín dụng, việc làm; 3) Phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế -

xã hội và cải thiện điều kiện sống của nhân dân

1.1.2.2 Vai trò của chính sách an sinh xã hội

Trong xã hội hiện đại, các quốc gia, một mặt hướng vào phát huy mọi nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế tạo ra bước phát triển bền vững và ngày càng phồn vinh cho đất nước; mặt khác không ngừng hoàn thiện hệ thống ASXH để giúp cho con người, nhất là người lao động, có khả năng chống chọi với các rủi ro xã hội, đặc biệt là rủi

ro trong KTTT và rủi ro xã hội khác Ngoài tác động chung như đối với các nước giàu, chính sách ASXH có thể có những đóng góp cho sự nghiệp phát triển KT -

XH ở những nước nghèo Điều này thể hiện ở những khía cạnh sau: Thứ nhất, các chính sách ASXH tác động đến quá trình tích lũy vốn con người vì nó cải thiện trình độ giáo dục và sức khỏe của con người, loại bỏ những hình thức tồi tệ nhất của

sự bần cùng, nghèo đói Thứ hai, các chính sách ASXH cũng có những tác động tích cực đến khía cạnh cầu vì nó là sự phân phối lại sức mua và có lợi cho nền sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong nước Thứ ba, các chính sách ASXH còn đóng góp lớn trong việc tạo ra điều kiện để xây dựng môi trường CT - XH bền vững Khi lợi ích từ tăng trưởng kinh tế đến được với mọi người dân, gồm cả nhóm xã hội trước kia bị gạt ra ngoài lề, điều này sẽ góp phần làm giảm tình trạng mất trật tự về CT -

XH Những tác động này bắt nguồn từ bản chất tái phân phối của hệ thống BHXH

1.1.3 Thực hiện chính sách an sinh xã hội

1.1.3.1 Quan niệm về thực hiện chính sách an sinh xã hội

Trên cơ sở nghiên cứu, kế thừa kết quả những công trình đã được nghiên

cứu, các khái niệm về an sinh xã hội và khái niệm chính sách an sinh xã hội, có thể

quan niệm về thực hiện chính sách an sinh xã hội như sau:

Trang 21

Thực hiện chính sách an sinh xã hội là tổng thể các hoạt động của toàn xã hội dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm huy động, hình thành và sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực vật chất, tài chính cho các đối tượng được hưởng chính sách ASXH, để tạo điều kiện cho họ đảm bảo, nâng cao mức sống vật chất, văn hóa, tinh thần và tái sản xuất sức lao động

Từ khái niệm trên, cần hiểu thực hiện chính sách ASXH theo nghĩa đầy đủ là công việc của toàn xã hội trên một lĩnh vực rất rộng lớn, phức tạp và quan trọng của toàn bộ đời sống xã hội Đó là hoạt động mà mục tiêu cao cả của nó là vì cuộc sống hạnh phúc và các quyền con người trong chế độ ta Cho nên thực hiện chính sách ASXH không phải là sự ban phát hay đem đến cho đối tượng nào đó được hưởng thụ những giá trị vật chất mang tính tạm thời giống như một sự cứu trợ vì lý do của những hoàn cảnh không may mà đây là hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội mang tính nhân văn hết sức sâu sắc

Nếu xét trong quá trình tái sản xuất xã hội thì nó thuộc về quá trình tái sản xuất sức lao động và tái sản xuất các quan hệ sản xuất xã hội Rõ ràng thực hiện chính sách ASXH phản ảnh bản chất của một chế độ kinh tế - xã hội nhất định Bởi vậy, ở nước ta thực hiện chính sách ASXH được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, là sự nghiệp của toàn dân mà đối tượng được hưởng là mọi công dân Việt Nam Tất nhiên tùy theo hoàn cảnh, điều kiện khác nhau việc thực hiện chính sách ASXH đối với từng đối tượng cụ thể sẽ có những nội dung và sự quan tâm không giống nhau

1.1.3.2 Vai trò thực hiện chính sách an sinh xã hội

Thực hiện chính sách ASXH là một lĩnh vực hoạt động rất rộng lớn trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội lấy con người làm đối tượng của mọi quốc gia nên

nó có ý nghĩa rất quan trọng trên nhiều mặt kinh tế, chính trị, xã hội…Đối với nước

ta ý nghĩa đó càng trở nên đặc biệt trên con đường phát triển theo định hướng XHCN, vì chính trên lĩnh vực hoạt động này tính ưu việt của chế độ kinh tế, chính trị, xã hội mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn được thể hiện rất rõ nét Vai trò, ý

Trang 22

nghĩa của thực hiện chính sách ASXH đối công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc ở nước ta có thể trình bày trên một số nội dung sau:

Thứ nhất: Thể hiện rõ nét mục tiêu, đích đến của Xã hội chủ nghĩa Việt Nam“ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước theo con đường XHCN Đảng ta xác định lấy con người làm trung tâm Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của toàn bộ sự nghiệp đổi mới Thực hiện chính sách ASXH đã trở thành một phần cấu thành trong các hoạt động của toàn xã hội để thực hiện mục tiêu đó Đảng và Nhà nước ta luôn giành sự quan tâm hàng đầu cho các vấn đề quan trọng và thiết thực của thực hiện chính sách ASXH; đặc biệt là các lĩnh vực y tế, giáo dục, chính sách với những người có công với nước, có hoàn cảnh khó khăn, nạn nhân của chiến tranh, chất độc da cam, thiên tai, đồng bào dân tộc thiểu số, những địa phương nghèo…

Thứ hai: Thể hiện sự kế thừa, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ xưa đến nay Kết hợp tinh hoa truyền thống và mục tiêu cao cả của XHCN

để thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc

Dân tộc Việt Nam với lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng trong lao động và chiến đấu chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, cùng với tinh thần đoàn kết cộng đồng, yêu thương gắn bó, lòng vị tha cao thượng đã tạo nên nét đẹp văn hóa Việt Nam với sức mạnh bất diệt để giúp dân tộc ta đánh thắng mọi kẻ thù, giữ gìn và bảo

vệ vững chắc nền độc lập dân tộc Trong thời đại Hồ Chí Minh – thời đại của độc lập dân tộc gắn liền với CNXH những truyền thống và tài sản vô giá đó được mang những nội dung mới và phát huy cao độ

Ở nước ta hiện nay, thực hiện chính sách ASXH mang bản chất và nội dung

là mục tiêu cao cả của CNXH kết hợp và phát huy, phát triển lên tầm cao mới Ước

mơ ngàn đời của những người lao động là được sống trong độc lập tự do và có cuộc sống bình đẳng, công bằng, các quyền của con người được tôn trọng Song trong các chế độ dựa trên chế độ tư hữu và tồn tại ách áp bức, bóc lột, những mơ ước đó mãi mãi chỉ là mơ ước mà thôi Chỉ có trong xã hôi XHCN mà nước ta đang hướng

Trang 23

tới xây dựng, những ước mơ đó mới được hiện thực hóa thông qua thực hiện chính sách ASXH Bởi vậy Thực hiện chính sách ASXH trở thành một trong những động lực mạnh mẽ để thực hiện thành công mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh

Thứ ba: Nằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nền tảng chính trị XHCN và thế trận quốc phòng toàn dân

Thực hiện chính sách ASXH không chỉ có ý nghĩa trực tiếp về mặt kinh tế như là một sự đãi ngộ hay trợ giúp đối với những người được hưởng chính sách mà còn là sự giáo dục, truyền bá có hiệu quả các quan điểm, đường lối, chính sách đến từng người dân và cộng đồng xã hội Thông qua đó nâng cao trình độ giác ngộ, lòng yêu nước, yêu chế độ, truyền thống và các giá trị văn hóa lịch sử làm cho mọi người vững tin ở sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nâng cao nhận thức về thái độ, trách nhiệm của công dân, nhận rõ những âm mưu thủ đoạn, hành động của các thế lực thù địch tự giác và tích cực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc bảo

vệ Đảng bảo vệ chế độ

Thực hiện chính sách ASXH trong đó rất nhiều nội dung có quan hệ trực tiếp đến xây dựng nền quốc phòng toàn dân như chính sách hậu phương quân đội… Nói rộng ra nó có một vai trò to lớn trong xây dựng thế trận lòng dân của sự nghiệp bảo

vệ tổ quốc, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân

Thứ tư: Nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, Thực hiện chính sách ASXH đã trở thành mối quan tâm chung của cả cộng đồng quốc tế vì con người Liên hiệp quốc đã có những mục tiêu và chương trình thiên niên kỷ về chống bênh tật, đói nghèo; các tệ nạn, đối phó với những biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu với sự tham gia của cộng đồng các quốc gia trên thế giới Với tư cách là một quốc gia thành viên của Liên hiệp quốc và nhiều tổ chức văn hóa, nhân đạo khác; bên cạnh đó lại là nước chịu nhiều đau thương, hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh, việc tích cực chủ động tham gia các hoạt động thiết thực trong các hoạt động thực hiện chính sách ASXH của nước ta được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Liên hiệp quốc

Trang 24

và nhiều tổ chức quốc tế coi Việt Nam như là một tấm gương trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ Mặt khác việc thực hiện tốt các chính sách ASXH của nước ta

đã góp phần giữ vững ổn đinh chính trị - xã hội tạo ra điều kiện và môi trường đầu tư thuận lợi thu hút được đầu tư của các nước lớn trên thể giới vào Việt Nam Những hoạt động chủ động, tích cực của chúng ta cũng là điều kiện thuận lợi để các nguồn lực từ bên ngoài về vật chất, tài chính, khoa học, công nghệ thông tin và sự hợp tác nhiều mặt từ bạn bè quốc tế để thực hiện chính sách ASXH

1.2 Nội dung thực hiện chính sách an sinh xã hội

Thực thi chính sách (Policy Implementation) là quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, nhằm hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách đã đề ra; là toàn bộ quá trình hoạt động của chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách công một cách có hiệu quả [34, tr.127]

Việc thực hiện chính sách bao gồm các bước cơ bản sau đây:

Bước 1: xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách an sinh xã hội

Đây là bước cần thiết quan trọng vì tổ chức thực hiện chính sách là quá trình phức tạp, lại diễn ra trong thời gian dài do đó phải có kế hoạch cụ thể thực hiện các nội dung của chính sách an sinh xã hội Kế hoạch này phải được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống và gồm các bước sau đây: Kế hoạch về tổ chức, điều hành như hệ thống các cơ quan tham gia, đội ngũ nhân sự, cơ chế thực thi; kế hoạch cung cấp nguồn vật lực như tài chính, trang thiết bị; kế hoạch thời gian triển khai thực hiện; kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách; dự kiến về quy chế, nội quy về tổ chức và điều hành thực thi chính sách

Bước2: Phổ biến tuyên truyền chính sách an sinh xã hội

Đây là công đoạn tiếp theo sau khi chính sách đã được thông qua Việc thực tuyên truyền đầy đủ, chính xác các chính sách sẽ giúp cho người dân, chính quyền các cấp hiểu được về chính sách và giúp cho chính sách được triển khai thuận lợi và

có hiệu quả Việc tuyên truyền này cần phải được thực hiện thường xuyên liên tục, ngay cả khi chính sách đang được thực thi và với mọi đối tượng

Trang 25

Bước 3: Phân công phối hợp thực hiện chính sách

Một chính sách thường được thực hiện trên một địa bàn rộng lớn và nhiều tổ chức tham gia do đó phải có sự phối hợp, phân công hợp lý để hoàn thành tốt nhiệm

vụ

Bước 4: Duy trì chính sách

Duy trì chính sách công là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách phát huy tác dụng trong đời sống chính trị xã hội Muốn cho chính sách được duy trì, đòi hỏi phải có sự nhất trí và quyết tâm cao của các người tổ chức, người thực thi và môi trường tồn tại Đối với người chấp hành chính sách phải có trách nhiệm tham gia tích cực vào thực thi chính sách

Bước 5: Điều chỉnh chính sách

Việc làm này là cần thiết, diễn ra thường xuyên trong quá trình tổ chức thực thi chính sách Nó được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thông thường cơ quan nào lập chính sách thì có quyền điều chỉnh) Việc điều chỉnh này phải đáp ứng được việc giữ vững mục tiêu ban đầu của chính sách, chỉ điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu Hoạt động này phải hết sức cẩn thận và chính xác, không làm biến dạng chính sách ban đầu

Bước 6: Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách

Bất cứ triển khai chính sách nào thì cũng phải kiểm tra, đôn đốc để đảm bảo các chính sách được thực hiện đúng, và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực Các cơ quan Nhà nước thực hiện việc kiểm tra này, và nếu tiến hành thường xuyên thì giúp nhà quản lý nắm vững được tình hình thực thi chính sách từ đó có những kết luận chính xác về chính sách Công tác kiểm tra này cũng giúp cho các đối tượng thực thi nhận ra những hạn chế của mình để điều chỉnh bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách

Bước 7: Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm:

Khâu này được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình này ta có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ chính sách Ở việc đánh giá

Trang 26

này phải tiến hành đối với cả các cơ quan nhà nước và đối tượng thực hiện chính sách [34, tr.131, 136]

Thực hiện chính sách an sinh xã hội là quá trình biến các chủ trương, phương hướng và biện pháp liên quan đến hệ thống ASXH thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước và sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, đơn vị, gia đình, cá nhân và toàn xã hội, nhằm hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách đã đề ra Đó là quá trình triển khai hệ thống chính sách ASXH (trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, giải quyết việc làm…) vào thực tiễn bằng các công cụ, bộ máy của nhà nước nhằm hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra [34, tr.44]

Việc thực thi chính sách ASXH như thế nào phụ thuộc vào các bộ phận (cơ quan nhà nước hoạch định chính sách ASXH, cơ quan chấp hành thực hiện chính sách ASXH, cộng đồng xã hội tham gia hoạt động ASXH, đối tượng thụ hưởng chính sách ASXH) và các bước cơ bản trong việc thực thi chính sách ASXH Trên thực tế các bộ phận nói trên nhiều khi không tách biệt độc lập một cách tuyệt đối

mà có sự đan xen, lồng ghép với nhau (như người hoạch định chính sách ASXH cũng là đối tượng thụ hưởng chính sách…) Việc thực hiện các bước trong thực thi chính sách an sinh xã hội phải được xem xét ở cấp độ chủ thể thực thi: Chính sách

xã hội, chính sách ASXH được cấp trung ương hoạch định (chính sách quốc gia) thì cấp thực thi chính sách ASXH đó là chính quyền địa phương các cấp Trên cơ sở chính sách quốc gia, chính quyền địa phương các cấp trên cơ sở điều kiện đặc thù của địa phương mình lại tiếp tục thể chế hóa chính sách quốc gia thông qua việc ban hành các quyết định, kế hoạch, chương trình (chính sách địa phương) và tổ thức thực hiện để hiện thực hóa các chính sách nói trên Vì vậy, trong tính tương đối, vừa

có thể coi việc thực thi chính sách ASXH tại một địa phương chỉ là một khâu trong chu trình chính sách (hoạch định, thực thi, đánh giá kết quả) và vừa có thể coi việc thực thi đó hàm nghĩa cả chu trình chính sách (chính sách địa phương) với cả 3 bước (hoạch định, thực thi, đánh giá kết quả)

Trang 27

1.3 Các yếu tố ảnh hướng đến thực hiện chính sách an sinh xã hội

1.3.1 Thể chế chính sách về ASXH

Thể chế chính sách đóng vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội Nội dung cơ bản của thể chế này là xác định khuôn khỗ pháp lý (luật, các văn bản dưới luật), phạm vi các chính sách/chế độ, đối tượng tham gia, tiêu chí, điều kiện tham gia, cơ chế đóng góp (tuỳ từng hình thức, chế độ), quyền lợi hưởng thụ và những điều kiện ràng buộc Thể chế chính sách còn xác định trách nhiệm của bộ, ngành địa phương trong việc thực hiện chính sách, chế độ đề ra Mỗi một cơ chế cụ thể đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, việc vận dụng cơ chế nào là phụ thuộc vào điều kiện KT - XH và truyền thống văn hóa của từng quốc gia Nếu chính sách ASXH phù hợp với đòi hỏi với thực tiễn cuộc sống thì việc thực thi chính sách ASXH sẽ thuận lợi, khả thi; ngược lại chính sách ASXH phù hợp với đòi hỏi với thực tiễn cuộc sống thì việc thực thi chính sách ASXH sẽ khó khăn, thậm chí không khả thi, thiếu hiệu quả [52, tr.48-56]

1.3.2 Thể chế và nguồn lực tài chính

Thể chế tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh xã hội Thể chế tài chính xác định cơ chế đối với từng loại chính sách, từng nhóm đối tượng (tỷ lệ đóng góp của người dân, người

sử dụng lao động, của Nhà nước); cơ chế cân đối thu-chi, đầu tư phát triển quỹ; giá

cả, cơ chế và chất lượng cung cấp dịch vụ an sinh xã hội

Cơ chế tài chính của các hợp phần của an sinh xã hội không hoàn toàn giống nhau Các loại hình bảo hiểm có thể áp dụng cơ chế có đóng có hưởng , còn đa số hợp phần trợ giúp xã hội thì nguồn tài chính lại chủ yếu do ngân sách nhà nước cung cấp

Thể chế tài chính của hệ thống an sinh xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với chính sách thuế và tài chính và phụ thuộc vào mô hình hệ thống an sinh xã hội Trong thể chế tài chính, vấn đề hỗ trợ của nhà nước cho người tham gia hệ thống an sinh xã hội có ý nghĩa rất quan trọng Người nghèo, người lao động khu vực phi chính thức thường có thu nhập thấp và không ổn định, do vậy nếu không có sự tài

Trang 28

trợ của Nhà nước thì khó tham gia vào hệ thống an sinh xã hội Việc bố trí nguồn tài chính cho các chính sách an sinh xã hội tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế-xã hội của từng địa phương [52, tr.38]

1.3.3 Tổ chức bộ máy thực thi chính sách

Để đảm bảo thực hiện chính sách ASXH có hiệu quả đi vào cuộc sống nhân dân thì yếu tố tổ chức thực hiện có vai trò quyết định quan trọng Do vậy, việc thiết lập hệ thống tổ chức quản lý với đội ngũ cán bộ có đầy đủ phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách ASXH là yêu cầu đòi hỏi cấp bách Thể chế chính sách mang tính phỗ cập thì chi phí quản lý ít và bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ và ngược lại, thể chế phức tạp thì chi phí quản lý tốn kém hơn Nếu chủ thể thực thi chính sách (tổ chức, cơ quan, cán bộ) triển khai không đúng kế hoạch, thiếu đồng bộ, không đúng đối tượng và định mức, vụ lợi sẽ làm giảm hiệu quả việc thực thi chính sách và giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.[2, tr.42]

1.3.4 Nhận thức của người dân thụ hưởng chính sách

Để việc thực hiện chính sách ASXH có hiệu quả bên cạnh sự thực hiện của Nhà nước thì cần có sự phối hợp của những đối tượng tham gia váo quá trình thực chính sách; một khi người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước hiểu được tầm quan trọng của chính sách ASXH, từ đó tự nguyện và tích cực tham gia, thì hệ thống này mới có cơ hội phát triển và ngược lại Người dân là đối tượng thụ hưởng chính sách ASXH, nếu họ tự giác, tích cực, chủ động, tự nguyện tham gia thì việc thực thi chính sách ASXH sẽ có hiệu quả, bền vững; ngược lại nếu họ thờ ơ, thụ động, ỷ lại và thậm chí vụ lợi thì việc thực thi chính sách ASXH sẽ không hiệu quả [2, tr.42]

1.3.5 Các đối tác tham gia vào việc thực hiện chính sách

Các đối tác tham gia có vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, bao gồm: các đối tác khu vực nhà nước, khu vực tư nhân, các tổ chức chính trị-xã hội Mỗi nhân tố nêu trên đều có vai trò quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nhau, phụ thuộc và chi phối lẫn nhau, góp phần phát

Trang 29

triển hệ thống an sinh xã hội ổn định và bền vững Các đối tác khu vực nhà nước gồm: các cơ quan lập pháp - Quốc hội thông qua các luật về an sinh xã hội hoặc các luật riêng (luật bảo hiểm y tế, luật bảo hiểm xã hội…) và giám sát việc thực hiện; các cơ quan hành pháp bao gồm các Bộ, ngành của Chính phủ quản lý hoạt động của từng chính sách theo các cấp (trung ương, tỉnh, huyện, xã); các cơ quan tư pháp như tòa xã hội

Các đối tác tư nhân gồm: các công ty cung cấp dịch vụ an sinh xã hội (công

ty bảo hiểm, bệnh viện, trường học…); các nhóm tương trợ; gia đình, họ hàng, bạn

bè, cá nhân

Các hiệp hội, tổ chức từ thiện gồm: công đoàn; các nghiệp đoàn, các tổ chức khác của người lao động; các tổ chức phi chính phủ; hội chức thập đỏ, nhà thờ [ 2, tr.40]

1.3.6 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn thực hiện chính sách ASXH

Mỗi địa phương và vùng miền đều có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau Những địa phương, vùng, miền nào có vị trí, điều kiện tự nhiên thuận lợi, người dân có sự hiểu biết, trình độ nhận thức cao thì việc hiện chính sách ASXH thuận lợi và ngược lại Bên cạnh đó nếu địa phương nào có trình độ phát triển kinh tế cao, nguồn lực tài chính mạnh, thu nhập của người lao động ổn định, mức độ thất nghiệp thấp thì việc thực thi chính sách ASXH thuận lợi và ngược lại Nơi nào đảm bảo giữ vững ổn định - xã hội trong quá trình phát triển thì việc thực thi chính sách ASXH thuận lợi và ngược lại [2, tr.42]

Trang 30

Tiểu kết chương 1

An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế chính sách, biện pháp của nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế xã hội làm cho họ có nguy cơ bị suy giảm mất nguồn thu nhập

do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khỗ và cung cấp dịch vụ sức khỏe cho cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về BHXH, BHYT

và trợ giúp xã hội

Thực hiện chính sách an sinh xã hội là tổng thể các hoạt động của toàn xã hội dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm huy động, hình thành và sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực vật chất, tài chính cho các đối tượng được hưởng chính sách ASXH, để tạo điều kiện cho họ đảm bảo, nâng cao mức sống vật chất, văn hóa, tinh thần và tái sản xuất sức lao động Thực hiện chính sách an sinh xã hội được thực hiện trên 7 bước: Xây dựng Kế hoạch, Phỗ biến tuyên truyền chính sách, Phân công phối hợp thực hiện chính sách, Duy trì chính sách, Điều chỉnh chính sách, Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách, Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm Dựa trên 7 bước của thực hiện chính sách an sinh xã hội, ta thấy được quá trình biến các chủ trương, phương hướng và biện pháp liên quan đến hệ thống ASXH thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước và sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, đơn vị, gia đình, cá nhân và toàn xã hội, nhằm hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách đã đề ra

Vai trò của việc thực hiện chính sách an sinh xã hội rất quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với một Đảng cầm quyền trong đó Nhà nước có vai trò cơ bản trong thực hiện chính sách ASXH Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội sẽ góp phần tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc, đánh bại mọi âm mưu thế lực thù địch; góp phần nâng cao vị thể của nước ta ra tầm khu vực và quốc tế

Dựa trên việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách an sinh xã hội trên các mặt: Thể chế chính sách, thể chế tài chính, đối tác tham gia, hệ

Trang 31

thống tổ chức quản lý, nhận thức người dân, môi trường thực hiện Có thể thấy để thực hiện thành công các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn đòi hỏi phải có sự chung tay góp sức của tất cả người dân, có các kế hoạch xây dựng thực hiện một cách rõ ràng, sự năng động của các cấp có thẩm quyền…

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI

TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

TRONG THỜI GIAN QUA 2.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Quận Ngũ Hành Sơn nằm về phía Đông Nam Thành phố Đà Nẵng, cách trung tâm Thành phố 8km; phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 12km, phía Tây giáp huyện Hòa Vang, Cẩm Lệ và quận Hải Châu, phía Bắc giáp quận Sơn Trà, phía Nam giáp Phường Điện Ngọc, Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Với vị trí địa lý trên cùng với các tiềm năng về lao động và các địa điểm du lịch có sẵn, Ngũ Hành Sơn là một trong những điểm thu hút khách du lịch và đầu tư vốn rất lớn, Một bước đệm lớn trong phát triển kinh tế của quận

Quận Ngũ Hành Sơn có 4 phường, với tổng diện tích là 4028,8 ha trong đó: Đất nông nghiệp 516,7 ha, đất phi nông nghiệp 2837,9 ha, đất chưa sử dụng 674,9

ha, đất có mặt ven biển 73,9 ha

Là quận có địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai ở đây được chia làm nhiều vùng khác nhau và khá đồng nhất về tính chất lí - hóa học, cấu tạo địa chất chủ yếu

là cát

Tuy diện tích đất tương đối, tuy nhiên đất canh tác sản xuất của Quận lại chỉ chiếm 20,8%/ tổng diện tích đất của toàn quận Đất canh tác ít, trong khi có một số khu vực đất đai khô cằn, khó canh tác những điều này trở thành những trở lại lớn trong quá trình sản xuất của người dân trên địa bàn quận

Nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa nên chế độ nhiệt, lượng mưa, độ ẩm tương đối thuận lợi cho sự phát triển sản xuất cây lương thực và thực phẩm, nhiệt

độ trung bình: 26,6C/năm (2016), lượng mưa trung bình là 224mm (2016)

Tuy quanh năm nắng lắm mưa nhiều, nhưng lượng mưa phân bổ không đồng đều, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và Tây Bắc khu vực Duyên hải miền

Trang 33

Trung và các cơn bão đổ vào, chính những điều này đã gây khó khăn cho công cuộc phát triển của quận.Và lượng mưa của khu vực này thường lớn hơn các khu vực khác

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Tại hội nghị giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng -

an ninh và dự toán thu, chi ngân sách năm 2018, theo đó quận đã đặt ra chỉ tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế từ 15,5 - 16,5% so với năm 2017 tương đương với

2535 triệu đồng, cơ cấu kinh tế theo các ngành dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp lần lượt là: 73,2%, 24,7%, và 2,1%; tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn dự kiến

là 95,8triệu đồng; đặc biệt phấn đấu đón 1,4 triệu lượt khách du lịch đến tham quan khu du lịch thắng cảnh Ngũ Hành Sơn; phấn đấu tổng thu ngân sách đạt 522,7 triệu đồng

Với việc chú trọng công tác quảng bá du lịch, đầu tư nâng cấp, sửa chữa các hạng mục công trình tại Khu du lịch Thắng cảnh Ngũ Hành Sơn; cải thiện môi trường văn hóa, văn minh du lịch; nâng tầm tổ chức Lễ hội Quán Thế Âm, Lễ hội

Vu lan báo hiếu,… ngày càng quy mô, chất lượng với nhiều hoạt động, sự kiện làm gia tăng lượng khách tham quan hàng năm Các hoạt động thương mại trên địa bàn quận diễn ra sôi động, thu hút được lượng lớn khách du lịch làm tăng nguồn thu ngân sách địa phương Với việc tổng thu ngân sách hằng năm trên địa bàn quận cao

do đó ngoài nguồn lực từ ngân sách nhà nước thì nguồn lực từ địa phương được bố trí để thực hiện chính sách an sinh xã hội tương đối cao so với các quận huyện trên địa bàn Thành phố

Trang 34

Bảng 2.1: Các chỉ tiêu kinh tế xã hội của Quận Ngũ Hành Sơn

(Đơn vị: Tỷ đồng)

Năm 2013 2014 2015 2016 Giá trị sản xuất ngoài QD (Gía 2010) 962.35 1196.49 1408.14 1711.14 Nông – Lâm – Thủy sản 55.97 57.92 63.40 53.15 Công nghiệp – Xây dựng 386.85 465.45 500.38 53.16 Thương mại – Dịch vụ 519.53 673.12 844.36 1107.58 Tổng mức bán lẻ hàng hóa 1402 1817 2280 2696

Nguồn: Phòng Tài chính - Kế hoạch quận Ngũ Hành Sơn)

Sơ đồ 2.1: Phân bổ cơ cấu ngành của Quận Năm 2017

(Nguồn: Phòng Tài chính - Kế hoạch quận Ngũ Hành Sơn)

Tình hình về dân số, năm 2017 dân số của toàn quận là 77.820 người Mật độ dân số là 1932 người/km2, trong đó nguồn lao động chiếm hơn 52,3% dân số của quận Tình hình phân bố dân cư và khu vực phát triển kinh tế - xã hội giữa các phường trên địa bàn quận không đồng đều nên một bộ phận không nhỏ dân cư của các phường còn có tư tưởng không muốn thoát nghèo, muốn sống dựa trên các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước Bên cạnh đó trên địa bàn phường công

Trang 35

tác quy hoạch, giải tỏa đền bù nhiều cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các chinh sách an sinh xã hội trên địa bàn quận

Bảng 2.2: Diện tích- dân số- mật độ dân số 2017

Diện tích tự nhiên (km2)

Dân số trung bình (nghìn người)

Mật độ dân số (người/ km2)

Năm

2016

Tổng 40,29 77,82 1932

Mỹ An 3,30 26,02 7885 Khuê Mỹ 5,48 12,21 2229 Hòa Hải 16,62 25,93 1560 Hòa Quý 14,89 13,66 918

(Nguồn niên giám thống kê quận Ngũ Hành Sơn năm 2017)

Quận Ngũ Hành Sơn đang có nguồn nhân lực rất dồi dào, chủ yếu là lao động trẻ, khoẻ Số lao động có chuyên môn kỹ thuật đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động Với đa số là lao động nông nghiệp, đang trên đà chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp và dịch chuyển dần sang cơ cấu kinh tế đô thị: dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp phù hợp với định hướng phát triển trong tương lai của quận Do đó công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách về an sinh xã hội luôn được quang tâm đầu tư, với nhiều hình thức phong phú; đã tác động một phần nào đó đến ý thức của mỗi người dân trên địa bàn quận

Bảng 2.3: Dân số trong độ tuổi lao động

(Đơn vị: Nghìn người)

Năm 2012 2013 2014 2015 2016

Mỹ An 18,7 18,9 19,4 19,7 19,9 Khuê Mỹ 7,4 7,6 7,8 7,8 8,0 Hòa Hải 14,1 14,5 14,8 15,6 15,9 Hòa Hải 7,9 8,1 8,3 8,1 8,4 Tổng số 48,1 49,0 50,3 51,2 52,3

(Nguồn niên giám thống kê quận Ngũ Hành Sơn năm 2017)

Tuy có nguồn lao động dồi dào nhưng tỉ lệ giới tính chênh lêch khá rõ, giới tính nữ chiếm tỉ lệ hơn 50% dân số của quận, đây là một thách thức đối với việc phát triển các ngành công nghiệp nặng

Trang 36

Bảng 2.4: Phân bố dân số theo giới tính

(Nguồn niên giám thống kê quận Ngũ Hành Sơn năm 2017)

2.2 Thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng thời gian qua

2.2.1 Thực trạng thực hiện chính sách bảo trợ xã hội

Việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội được thực hiện theo các Quyết định của UBND Thành phố Đà Nẵng như:

+ Quyết định số 25/2015/QĐ-UBND ngày 28/8/2015 của UBND Thành phố

về chính sách trợ giúp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn Thành phố

Đà Nẵng;

+ Quyết định số 27/2016/QĐ-UBND ngày 07/9/2016 của UBND Thành phố về việc bổ sung quyết định số 25/2015/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2015 của UBND Thành phố về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;

+ Quyết định số 30/2016/QĐ-UBND ngày 03/10/2016 của UBND Thành phố về việc bãi bỏ khoản 4, điều 1 quyết định số 25/2015/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm

Trang 37

2015 của UBND Thành phố về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;

+ Quyết định số 24/2017/QĐ-UBND ngày 07/7/2017 của UBND Thành phố về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định số 25/2015/QĐ-UBND ngày 28/8/2015 của UBND Thành phố về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng;

Trong năm 2018 trên toàn địa bàn quận Ngũ Hành Sơn đã hỗ trợ thường xuyên cho hơn 3.000 đối tượng với kinh phí chi trả 1,5 tỷ đồng/tháng; trợ cấp khó đột xuất cho 27 trường hợp bị mắc bệnh hiểm nghèo có hoàn cảnh khó khăn với số tiền 83.500.000 đồng Triển khai thực hiện kế hoạch chăm sóc người cao tuổi năm

2018 và giải quyết chính sách người cao tuổi, trợ cấp đột xuất cho người cao tuổi bị

ốm đau thường xuyên, chúc thọ, mừng thọ cho người cao tuổi đúng quy định; tổ chức thăm, tặng quà cho 45 người cao tuổi cô đơn tại các phường với kinh phí 500 ngàn/suất nhân ngày quốc tế người cao tuổi

UBND quận Ngũ Hành Sơn đã tổ chức Chương trình “Tết yêu thương”, đã kêu gọi và hỗ trợ hỗ trợ 89.760 kg gạo Tết nguyên đán cho 4.089 người với tổng kinh phí 897.600.000 đồng cho hộ nghèo, đối tượng BTXH

Bảng 2.5 Tình hình thực hiện bảo trợ xã hội trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng từ năm 2016 đến 2018

(Nguồn: Phòng LĐ-TB&XH quận)

Kết quả điều tra khảo sát của ngươi dân về thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn tại bảng 2.2 cho thấy, người dân đánh giá khá cao công tác hỗ trợ kịp thời cho các đối tượng như: Quận đã tập trung công tác chỉ đạo chăm lo

Trang 38

đời sống của các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn quận không chỉ về vật chất mà lẫn tinh thần, mọi đối tượng liên quan bảo trợ xã hội đều được quan tâm hỗ trợ; hỗ trợ kịp thời đảm bảo yêu cầu cuộc sống cho các thành viên gia đình đối tượng nhất là các đối tượng không còn sức lao động Bên cạnh đó các đối tượng không đủ điều kiện hưởng chính sách BTXH nhưng cuộc sống gặp khó khăn cũng được quan tâm hổ trợ để tạo điều đảm bảo cuộc sống Hằng năm UBND quận đều tổ chức chương trình ca nhạc Xuân yêu thương để quyên góp, ủng hộ quỹ an sinh xã hội của Thành phố, quận qua đó đã hỗ trợ kịp thời cho các đối tượng nhất là trong dịp Tết nguyên đán hằng năm

Tuy nhiên, việc hỗ trợ của Quận vẫn còn nhiều bất cập, một phần do các yêu cầu đòi hỏi quá cao của các đối tượng Bên cạnh đó việc một số khoản chi hỗ trợ được các cấp quy định hiện hành chưa đáp ứng bắt kịp được với xu thế cuộc sống của người dân ngày càng phát triển gây khó khăn trong công tác hỗ trợ Chưa có các chương trình kêu gọi ủng hộ quỹ dành riêng cho các đối trượng bảo trợ xã hội, chưa kêu gọi được các nhà hảo tâm

Bảng 2.6 Kết quả đánh giá của người dân về thực hiện chính sách

bảo trợ xã hội

1 Hỗ trợ kịp thời 37 74%

2 Hỗ trợ không kịp thời 9 18%

3 Không biết/ Không trả lời 4 8%

(Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát của tác giả)

2.2.2 Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo và thực hiện mục tiêu giảm nghèo

2.2.2.1 Thực hiện chính sách giảm nghèo

Ủy ban nhân dân quận đã tập trung chỉ đạo điều hành thực hiện các chính sách giảm nghèo ngay từ đầu năm qua đó đã ban hành Kế hoạch số 750/KH-UBND ngày 09 tháng 4 năm 2018 của UBND quận về việc thực hiện chương trình mục tiêu giảm nghèo

- An sinh xã hội năm 2018; Kế hoạch số 1186/KH-UBND ngày 05 tháng 6 năm 2018 của UBND quận về việc điều tra hộ gia đình có mức thu nhập thấp theo phương pháp

Trang 39

tiếp cận đa chiều trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn; Công văn số 400/UBND-PLĐTBXH ngày 27 tháng 02 năm 2018 của UBND quận về tiến hành khảo sát và phúc tra thực tế các nhu cầu của hộ nghèo CHCĐBKK tại các phường; Công văn số 495/ UBND-PLĐTBXH ngày 12 tháng 3 năm 2018 về làm việc công tác ASXH tại UBND 4 phường

Ngay từ đầu năm 2018 UBND quận tổ chức làm việc với UBND các phường về chương trình mục tiêu giảm nghèo – An sinh xã hội năm 2018 Chỉ đạo Đài truyền thanh quận chủ trì, phối hợp với phòng Lao động – TB và XH, phòng Văn hóa - Thông tin quận và UBND các phường tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên sóng phát thanh của quận, lồng ghép trong các chuyên mục hàng tuần nhằm tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác giảm nghèo, chương trình An sinh xã hội Trên cơ sở đó, UBND 4 phường đã tổ chức 4 buổi đối thoại trực tiếp có trên 400 lượt hộ thuộc hộ nghèo tham gia qua đó tư vấn và thống nhất các giải pháp hỗ trợ để giúp hộ có điều kiện đầu tư phát triển sinh kế, cải thiện nhà ở ; Phòng LĐ-TB&XH quận, UBND 4 phường đã phối hợp UBMTQVN quận và phường tổ chức 4 lượt trực tiếp khảo sát nhu cầu và tư vấn trực tiếp tại nhà cho 100 % hộ nghèo tại các địa phương qua đó đã giải quyết kịp thời những nhu cầu chính đáng giúp các hộ có thêm nguồn lực trong việc nổ lực vươn lên thoát nghèo

UBND quận đã thực hiện hỗ trợ giảm nghèo nhằm các hộ vươn lên thoát nghèo qua các chính sách hỗ trợ cụ thể như:

dư nợ 4.482 tỷ đồng với 155 hộ được vay (trong đó cho vay trong 11 tháng có 21 hộ với

số tiền vay 902 triệu đồng)

UBND quận hỗ trợ và UBND các phường hỗ trợ sinh kế 17 hộ nghèo với số tiền

hỗ trợ 100.300.000 đồng (để mua xe nước mía, làm chuồng và nuôi bồ câu, máy làm

Trang 40

hương …); Ngoài ra các hội đoàn thể của quận hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo và đoàn viên thuộc con hộ nghèo với số tiền 185.870.000 đồng (trong đó: Hội phụ nữ 51 hộ/77.370.000 đ; Hội Từ thiện và bảo vệ quyền trẻ em 02 hộ/35.000.000 đ; Quận đoàn

17 em/37.500.000 đ) góp phần giúp các hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững

* Chính sách hỗ trợ về giáo dục - đào tạo:

Trao học bổng dài hạn từ các tổ chức phi chính phủ LOVE hỗ trợ 25 em với số tiền 18.900.000 đ; COV hỗ trợ 43 em với số tiền 33.000.000 đ; Hội SEAR trao 04 suất với số tiền 1.500.000 đồng;

UBND quận vận động Ngân hàng KienLong Bank hỗ trợ học bổng cho 50 em học sinh con hộ nghèo với tổng kinh phí là 75.000.000 đồng và ngân sách quận hỗ trợ cấp học bổng cho 192 em học sinh con hộ nghèo vượt khó học giỏi với tổng kinh phí là 96.000.000 đồng, Tổ chức COV hỗ trợ 120 suất cho học sinh con hộ nghèo với kinh phí 120.000.000 đồng …

Ngoài ra UBMTTQVN quận hỗ 11 suất học bổng cho sinh viên nghèo học giỏi với số tiền 55.000.000 đ; Hội Phụ nữ quận hỗ trợ 66 suất học bổng cho con hội viên phụ

nữ nghèo với tổng số tiền 49.900.000 đồng; Hội Từ thiện và bảo vệ quyền trẻ em quận

Ngày đăng: 08/07/2019, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w