1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài tập phong cách tiếng Việt hiện đại về cấu trúc cân đối

16 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 90 KB
File đính kèm cấu trúc cân đối.rar (20 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tìm hiểu sắc thái ý nghĩa các cấu trúc đồng nghĩa cú pháp đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với tiếng Việt, một ngôn ngữ mà trật tự từ, hư từ là những phương tiện và phương thức ngữ pháp chủ yếu. Việc thay đổi trật tự từ, chuyển đổi cấu trúc, chức năng của câu...trong tiếng Việt mà không làm thay đổi ý nghĩa cơ bản là những quy tắc diễn đạt giàu sắc thái ý nghĩa và sắc thái phong cách. Một trong những quy tắc đó là cấu trúc câu cân đối. Quy luật biểu đạt tạo ra hình thức cấu trúc cân đối của lời nói là một quy luật quan trọng và thường thấy trong giao tiếp. Bởi vì với tổ chức cấu trúc cân đối sẽ làm nảy sinh những hiệu quả ngữ nghĩa và sắc thái ý nghĩa phong phú (cho lời nói) khác với những tổ chức cấu trúc không cân đối.

Trang 1

A Phần mở đầu

Mỗi một ngôn ngữ có một hệ thống các kiểu cấu trúc đa dạng, phong phú, chuẩn mực được sử dụng trong mọi hoàn cảnh giao tiếp, mọi phong cách, nói cách khác là những kiểu cấu trúc cú pháp đa phong cách Bên cạnh đó còn có một hệ thống các biến thể cú pháp (biến thể cấu trúc câu) mang tính đơn phong cách để được ưu tiên sử dụng thích hợp trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể nào đó) Phong cách học về cú pháp không miêu tả toàn bộ hệ thống các kiểu cấu trúc câu của một ngôn ngữ - đó là công việc của ngữ pháp học – mà chỉ khảo sát các biện pháp phong cách về câu mang tính đặc biệt giàu sắc thái gợi cảm, đối lập các cấu trúc đồng nghĩa, các biến thể cú pháp đồng nghĩa nhằm miêu tả các ý nghĩa biểu cảm và ý nghĩa phong cách, quy luật sử dụng chúng Các quy tắc diễn đạt về cú pháp được nhận thức trên cơ sở các biện pháp tổ chức các biến thể (cú pháp) đồng nghĩa cú pháp Trong giao tiếp hằng ngày do sự chi phối của các nhân tố nội dung, đối tượng, hoàn cảnh và mục đích giao tiếp nên một cấu trúc câu thông thường đa phong cách có thể được chuyển đổi thành các biến thể đơn phong cách nhằm phù hợp với từng phong cách nhất định, trong khi nội dung logic của nó không thay đổi Sự khác nhau ở đây chỉ là sắc thái ý nghĩa mà thôi Việc tìm hiểu sắc thái ý nghĩa các cấu trúc đồng nghĩa cú pháp đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với tiếng Việt, một ngôn ngữ mà trật tự từ, hư từ là những phương tiện và phương thức ngữ pháp chủ yếu Việc thay đổi trật tự từ, chuyển đổi cấu trúc, chức năng của câu trong tiếng Việt mà không làm thay đổi ý nghĩa

cơ bản là những quy tắc diễn đạt giàu sắc thái ý nghĩa và sắc thái phong cách Một trong những quy tắc đó là cấu trúc câu cân đối

Quy luật biểu đạt tạo ra hình thức cấu trúc cân đối của lời nói là một quy luật quan trọng và thường thấy trong giao tiếp Bởi vì với tổ chức cấu trúc cân đối sẽ làm nảy sinh những hiệu quả ngữ nghĩa và sắc thái ý nghĩa phong phú (cho lời nói) khác với những tổ chức cấu trúc không cân đối

Trang 2

B Phần nội dung

I.

L ý thuyết về cấu trúc cân đối trong câu

1 Cấu trúc cân đối là gì?

Câu có cấu trúc cân đối là câu văn mà ở đó hai mặt hình thức và nội dung được tổ chức thành hai vế có mối quan hệ phù hợp, cân xứng nhau trên ba bình diện: ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa

Hai vế có thể có những cách tổ chức như sau:

- Hai vế thể hiện cùng một chiều, bổ sung, phối hợp với nhau nhằm để nhấn mạnh một tính chất nào đó

Ví dụ trong hai câu: “Nền phú hậu/ bậc tài danh

Văn chương nết đất, thông minh tính trời”

Hai câu trên có sự cân đối về số lượng âm tiết (câu trên: 3/3, câu dưới 4/4), cân đối về loại từ (phú hậu/tài danh, văn chương/thông minh, nết đất/ tính trời) và về ý nghĩa cả hai vế của hai câu trên có ý nghĩa bổ sung để chi sự thượng lưu, giàu có, danh tiếng đồng thời giỏi giang, thông tuệ

- Hoặc hai vế ngược chiều nhưng không phủ định nhau Nội dung hai vế đối chọi nhau có tính chất tương phản để khắc họa, nhấn mạnh rõ nét hơn về tính mâu thuẫn, hai mặt, thiếu hài hòa của một thuộc tính đặc trưng nào đó

Ví dụ như thành ngữ “Khẩu xà tâm Phật” có cấu trúc đối xứng: số lượng

ấm tiết 2/2, hài hòa về từ ngữ, hài hòa về âm thanh TB/BT nhưng về ý nghĩa có

sự mâu thuẫn để nhấn mạnh một hiện tượng trong đời sống đó là những con

Trang 3

người có lời nói, hành động cử chỉ xấu xa, độc ác nhưng trong bụng lại hiền lành, đúng đắn

2 Cơ sở cấu trúc cân đối trong tiếng Việt

a Cơ sở xã hội

Xuất phát từ cơ sở văn hóa Việt Nam Sự cân đối vốn là hình thức về cái đẹp tồn tại phổ biến trong cuộc sống của nhân dân ta Từ những hoa văn tinh vi trên đồ đồng, đồ gốm, ý phục đến các công trình kiến trúc, chúng ta luôn bắt gặp những vẻ đẹp tạo bởi các yếu tố, các bộ phận cân xứng với nhau Thêm vào đó lối tư duy tổng hợp, lối sống ổn định có quan hệ tốt với hết thảy mọi người dẫn đến xu hướng trọng sự cân đối, hài hòa trong ngôn từ - một biểu hiện của tính biểu trưng trong ngôn ngữ tiếng Việt

b Cơ sở ngôn ngữ

Tổ chức câu văn theo cấu trúc cân đối là một đặc điểm có tính đặc thù đối với tiếng Việt và các ngô ngữ cùng loại hình Đối với tiếng Việt, đặc điểm này

có nguồn gốc sâu xa từ tính chất đối xứng trong các đơn vị ngôn ngữ (từ đơn vị

từ, cụm từ đến câu)

Tính cân xứng là một đặc tính rất điển hình của tiếng Việt Theo nguyên

lý cấu trúc loại hình, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn tiết song nó chứa khối lượng không nhỏ các từ song tiết Điều quan trọng hơn nữa là mỗi từ đơn tiết lại hầu như đều có thể có những biến thể song tiết, dạng láy Cho nên thực chất trong ngôn từ lời nói Việt thì cấu trúc song tiết lại là chủ đạo

Tế bào thấp nhất của cấu trúc đối xứng trong tiếng Việt là những hình thức đối xứng âm tiết ta thường gọi là từ ghép đẳng lập, kiểu như sống chết, hay

Trang 4

dở, ít nhiều Lớn hơn là các tổ hợp 4 hoặc 6 có khi 8 âm tiết, ta gọi là tục ngữ hay thành ngữ

II

Cấu trúc cân đối trong câu văn tiếng Việt là một loại phương tiện tu từ biểu cảm đặc sắc

1 Biểu hiện cấu trúc cân đối trong ngôn ngữ văn chương

Việc vận dụng cấu trúc cân đối là những cách thức, phương tiện có hiệu quả cao trong giao tiếp và đặc biệt chúng ta thường thấy trong ngôn ngữ văn chương

a Thành ngữ, tục ngữ Việt Nam

Cấu trúc cân đối từ lâu đã là một nguyên tắc tổ chức ngôn ngữ trong tuyệt đại bộ phận thành ngữ, tục ngữ Việt Nam Ở thành ngữ thông qua hình thức ngôn ngữ cân xứng, tư duy hình tượng hóa của dân gian đã được thể hiện một cách trọn vẹn Ví dụ nói về nỗi vất vả, nghèo khổ của người nông dân xưa, thành

ngữ Việt Nam có hàng loạt các thành ngữ có cấu trúc cân đối: “Một nắng hai sương”, “Chân lấm tay bùn”, “Tay làm hàm nhai”, “Dãi nắng dầm sương”,

“Quần manh áo vá”

Với tục ngữ, nội dung trí tuệ được cố định hóa một cách chặt chẽ, hàm súc và giàu sức thuyết phục thông qua cấu trúc cân đối Tiếng nói của kinh nghiệm, của tư duy trong tục ngữ sẽ được nói lên phần lớn nhờ cấu trúc ngôn ngữ chặt chẽ của chúng Ở đây chân lý của đời sống hiện thực được phản ánh đã tìm được hình thức thể hiện tương ứng Vần và cấu trúc cân đối làm cho người

ta tin hơn vào nội dung được phản ánh và cũng nhờ thế mà sức lưu truyền cũng

bền lâu, mạnh mẽ hơn: “Làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng”, “Chị ngã em nâng”, “Cày sâu tốt lúa”, “Trâu ra mạ vào”

Trang 5

Cấu trúc cân đối trong tục ngữ và thành ngữ thể hiện trên cả ba mặt: ngữ

âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa Đặc tính đó thể hiện trước hết ở số lượng âm tiết trong thành ngữ, tục ngữ bao giờ cũng là âm tiết chẵn Nội dung hai vế cũng phải cân đối nhau Tính cân đối về nội dung lại được nâng đỡ bằng sự cân đối hài hòa về âm thanh, luật bằng trắc:

“Con nhà lính/ tính nhà quan” ( BBT/TBB)

“Rừng có mạch/ vách có tai” (BTT/TTB)

“Bới lông/ tìm vết” (TB/BT)

“Người sống/ đống vàng” (BT/TB)

Nghệ thuật đối chọi rất chỉnh cả âm, lời và ý của từng thành tố của từng

vế cấu trúc của thành ngữ đã chi phối tính chặt chẽ của thành ngữ và tạo nên âm điệu nhịp nhàng, uyển chuyển, giàu sắc thái gợi cảm

b Câu đối.

Câu đối là một thể loại văn học có tính chất bác học thuộc thể biền ngẫu gồm hai vế đối nhau, nhằm biểu thị ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một sự việc, một hiện tượng nào đó trong đời sống xã hội Câu đối là một loại sản phẩm văn chương đặc biệt, nó vừa công phu tỉ mỉ, lại vừa cô đúc ngắn gọn Trong tác phẩm “mini” ấy thể hiện đủ cả cái đẹp cân đối nhịp nhàng của hình thức và cái uyên thâm của chiều sâu triết lí phương Đông

Vd: “Chiều ba mươi nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa/ Sáng mồng một rượu say túy lúy, giang tay bồng ông Phúc vào nhà.”

(Nguyễn Công Trứ)

“Tết đến không tiền lo chi Tết/ Xuân về hết gạo đón chi xuân”

(Nguyễn Công Trứ)

Trang 6

“Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ đói/ Sáng mồng một, nới lỏng then tạo hóa, mở toác ra cho thiếu nữ rước xuân vào”.

(Hồ Xuân Hương)

“Giàu thì thiếu gì tiền, đi một vài quan không phải lẽ/ Sang không thì ra bạc, gửi năm ba chữ gọi là tình.”

(Nguyễn Khuyến)

c Khẩu hiệu

Do cấu trúc cân đối có tác dụng đối với nội dung hoàn chỉnh nên khi muốn biểu hiện một điều gì mang tính khái quát, vĩnh viễn như một quy luật thì cấu trúc cân đối tỏ ra rất thích hợp Vì thế trước đây chúng ta gặp rất nhiều câu khẩu hiệu được tổ chức theo cấu trúc cân đối

Dùng cấu trúc cân đối, Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra những khẩu hiệu châm ngôn dễ nhớ, dễ thuộc

“Thi đua là yêu nước/ yêu nước là thi đua”

“Đâu cần thanh niên có/ Đâu khó có thanh niên”

“Vì lợi ích mười năm trồng cây/ Vì lợi ích trăm năm trồng người”

d Thơ và văn xuôi

Cấu trúc cân đối không chỉ giới hạn trong một số tiểu loại văn bản như thành ngữ, tục ngữ, khẩu hiệu, câu đối mà nó còn được sử dụng trong những câu văn dài, những đoạn văn, khổ thơ

Trang 7

Thơ ca Việt Nam là một thứ thơ ca có cấu trúc chặt chẽ (lục bát, song thất lục bát) và thể hiện sự cân đối hài hòa Đặc biệt ta có thể gặp cấu trúc cân đối xuất hiện nhiều trong kiệt tác “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du

- “Người quốc sắc/ kẻ thiên tài Tình trong như đã/ mặt ngoài còn e”

- “Phong tư tài mạo tót vời Vào trong phong nhã/ ra ngoài hào hoa”

- “Chập chờn cơn tỉnh, cơn mê Rốn ngồi chẳng tiện/ dứt về chỉnh khôn”

Trong văn xuôi ta cũng thấy từ những bài văn xuôi viết theo lối biền ngẫu của Trần Quốc Tuấn hay như thư dụ hàng gửi địch của Nguyễn Trãi cho tới những lời văn nôm bình dân ta đều gặp một lối cấu trúc cân đối, nhịp nhàng, chặt chẽ và có tiết tấu, vần điệu Thậm chí ngay cả trong việc chửi nhau, người Việt cũng chửi nhau một cách bài bản, cân đối, nhịp nhàng, đầy chất thơ Đây là lời chửi của một người đàn bà mất gà được ghi lại trong tiểu thuyết “Bước

đường cùng” của Nguyễn Công Hoan: “Làng trên xóm dưới, bên trước bên sau, bên ngược bên xuôi! Tôi có con gà mái xám nó sắp ghẹ ổ, nó lạc ban sáng, mà thằng nào con nào, đứa ở gần mà qua, đứa ở xa mà lại, nó dang tay mặt, nó đặt tay trái, nó bắt mất của tôi, thì buông tha thả nó ra, không tôi chửi cho đới! Chém cha đứa bắt gà nhà bà Chiều hôm qua, bà cho nó ăn nó hãy còn sáng hôm nay con bà gọi nó nó hãy còn, mà bây giờ nó đã bị bắt mất Mày muốn sống mà ở với chồng với con mày, thì buông tha thả bỏ nó ra, cho nó về nhà bà Nhược bằng mày chấp chiếm, thì bà đào mả thằng tam tứ đại nhà mày ra, bà khai quật bật săng thằng ngũ đại lục đại nhà mày lên Nó ở nhà bà, nó là con

Trang 8

gà, nó về nhà mày, nó biến thành cú thành cáo, thành nanh đỏ mỏ; nó mổ chồng

mổ con, mổ cả nhà mày cho mà xem ” Ngay trong những tiểu thuyết xuất hiện

dưới ảnh hưởng của văn xuôi phương Tây cũng vẫn mang rất đậm dấu ấn của truyền thống cân đối nhịp nhàng, biểu trưng ước lệ Đây là những câu văn tả

người của Tản Đà trong “Giấc mộng con”: “Tiếng nói nhẹ nhàng bao nhiêu, dáng người mềm mại bấy nhiêu; mềm bao nhiêu, chín bấy nhiêu, tươi bấy nhiêu, tình bấy nhiêu Như ghét, như yêu, như chiều, như ngượng Lông mày ngài, đôi mắt phượng, cô chờ ai?”

Cấu trúc cân đối không chỉ sử dụng hạn chế trong lối văn biền ngẫu gò bó

mà còn phát triển linh hoạt trong văn thơ hiện đại Tính cân đối được chú trọng

ở một khía cạnh khác rộng hơn, tế nhị hơn, uyển chuyển hơn

Hồ Chí Minh là người rất thích diễn đạt theo cấu trúc cân đối Hình thức cân đối trong câu văn của Người rất phong phú, đa dạng và khoáng đạt Người không chỉ chú trọng ở luật bằng trắc, số chữ mà còn quan tâm đến nhịp điệu, tiết tấu câu văn Có lúc người sử dụng hình thức đối trong phạm vi các cặp từ trái nghĩa Nhưng có lúc lại mở rộng ra giữa nhiều câu, giữa từ đoạn văn dài và trở thành một lối văn cân đối, có nhạc tính tự nhiên

Ví dụ:

- “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập tự do Trái lại, lúc nào nhân dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi ”

- “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước

ta lần nữa”

Trang 9

- “Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo đảng phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc.”

Những câu văn của Hồ Chí Minh có cái nhịp nhàng, cân đối của những câu thơ Văn xuôi của Người vì thế mà tăng sức thuyết phục, truyền cảm mạnh

mẽ, dễ khắc sâu vào trái tim và khối óc của nhân dân

2

Cấu trúc cân đối trong câu văn tiếng Việt là một loại phương tiện

tu từ biểu cảm đặc sắc

Phương tiện tu từ đó là các phương tiện ngôn ngữ (âm thanh, từ ngữ, cú pháp) được vận dụng nhằm mục đích tu từ biểu cảm

Sự đối lập giữa câu văn có cấu trúc cân đối và câu văn không có cấu trúc cân đối là sự đốiập về kiểu câu nói chung, không phải là đối lập từng câu cụ thể

Sự đối lập của hai loại câu này về tổ chức hình thức và tổ chức nội dung như vậy làm nảy sinh các sắc thái ý nghĩa

Cấu trúc cân đối có thể mang lại một số sắc thái ý nghĩa như sau:

a.Tạo nên tính chính xác về nội dung

Cấu trúc cân đối làm nội dung biểu đạt được hiểu một cách rõ ràng, chính xác, tránh được những cách hiểu khác nhau

Ví dụ: “Gần mực thì đen/ gần đèn thì rạng”

Nhờ cấu trúc cân đối mà ta xác định được quan hệ ngữ nghĩa giữa hai vế

và đưa đến một cách hiểu: Vế 1: Nếu ta tiếp xúc với những điều không tốt thì sẽ

bị lây nhiễm Vế 2: Ngược lại, nếu ta tiếp xúc với những điều hay lẽ phải thì ta cũng học được những điều tốt đẹp Câu tục ngữ là bài học kinh nghiệm được

Trang 10

đúc kết từ cuộc sống về mối quan hề giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách con người

Một ví dụ khác: “Người chửa/ cửa mả”

Cũng nhờ có cấu trúc cân đối mà ta có thể xác định một cách hiểu đúng nhất cho câu tục ngữ trên Ở đây câu tục ngữ nói lên một nhận xét, một kinh nghiệm của ông cha ta: người có mang (vế 1) nếu không giữ gìn cẩn thận thì dễ gặp nguy hiểm, có khi thiệt mạng như chơi (vế 2)

Ví dụ khác là câu thành ngữ “Đau thiết/ thiệt van” Nhờ có cấu trúc cân

đối chúng ta mới có thể xác định một cách chính xác về ý nghĩa của câu thành ngữ Đây vốn là câu thành ngữ có sử dụng yếu tố từ cố là “thiết” Nếu không nhờ cấu trúc cân đối thì rất khó để có thể hiểu nghĩa chính xác Câu thành ngữ trên có nghĩa là đau thì rên rỉ mà thiệt thì năn nỉ

- Cấu trúc cân đối sẽ giúp ta hiểu đúng nội dung trong trường hợp do yêu cầu của cấu trúc văn bản, thể loại, câu văn lược bỏ các hư từ (quan hệ từ, liên từ ) làm cho chúng ta khó xác lập quan hệ ngữ nghĩa giữa các vế, thành phần trong câu

Ví dụ:

Để thông báo được ngắn gọn, nội dung thông báo được cô đọng, súc tích, thành ngữ, tục ngữ có thể giản lược những từ không cần thiết Do được hình thành từ lâu đời và được truyền miệng qua nhiều thế hệ, nên cấu trúc của thành ngữ, tục ngữ đã lược bỏ những từ làm nhiệm vụ chuyển nối (liên từ, quan hệ từ)

và mang chức năng đưa đẩy như mà, và, là, thì, nhưng, mắc dù, tuy, nếu Việc

lược bỏ những yếu tố trên tạo ra các cấu trúc cân đối, đối xứng Chẳng hạn, thành ngữ “mình đồng da sắt” có cấu trúc cân xứng, cân đối về cả âm thanh, ngữ

Trang 11

có ý nghĩa bổ trợ nhau Bởi vậy ở nhiều tục ngữ, thành ngữ có thể xen thêm các yếu tố tỉnh lược, nhất là các hư từ làm công cụ ngữ pháp bị tỉnh lược, để thấy rõ thêm mối quan hệ giữa các bộ phận trong thông báo, do vậy mà nội dung thông báo được sáng rõ

“Được làm vua (còn) thua làm giặc”.

“Con nhà lính (mà) tính nhà quan”.

“Trẻ không tha (mà) già (cũng) không thương”

- Một trường hợp khác là trong chữ Nôm trước đây không có dấu câu nhưng đọc lên người nghe vẫn có thể tự mình phân định các câu nói để từ đó hiểu rõ nội dung biểu đạt Điều đó thực hiện được là do hình thức cân đối của câu và một số tiểu từ tình thái ở cuối câu hoặc cuối vế câu như vậy, há, chăng

đã giúp cho người nghe khắc phục khó khăn trên

Ví dụ: “Uống nước quên nguồn, người xưa chê trách Trái thầy mà học, người hiền vốn tránh Nước ta ở thiên về phương Nam, tiếng nói khác với Trung Quốc Những học sĩ nho sinh, tuy tập theo văn tự Trung Hoa, song hát vịnh nói năng đều chẳng lìa bỏ thanh âm của bản quốc Lẽ nào lại có thể chỉ một điều cho chữ Hán là thanh cáo mà lại chối bỏ tiếng ta, cho là thô bỉ”

(Phạm Đình Toái)

Ngày đăng: 08/07/2019, 09:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w