BÁO CÁO SÁNG KIẾN Tên sáng kiến: Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học Tiếng Việt nhằm định hướng phát triển năng lực học sinh ở Trường THCS Y Băng Họ và tên: Nguyễn Văn An Đơn vị công tác: Trường THCS Y Băng Thời gian thực hiện: từ ngày 06 tháng 09 2017 đến ngày 15 tháng 05 năm 2018. I.ĐẶT VẤN ĐỀ: 1. Tên sáng kiến: Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học Tiếng Việt nhằm định hướng phát triển năng lực học sinh ở Trường THCS Y Băng 2. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến: Ngữ văn là một môn học thuộc bộ môn khoa học xã hội. Đây là môn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người. Đồng thời nó có tầm quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho học sinh. Mặt khác Ngữ văn còn là môn học có mối quan hệ với rất nhiều các môn học khác trong các nhà trường phổ thông. Học tốt môn Ngữ Văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại. Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, gắn kiến thức với thực tiễn. Để tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ văn trong Nhà trường THCS, năm học 2017 2018 tiếp tục thực hiện theo chỉ đạo của ngành về việc thực hiện giảng dạy theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ Giáo dục Đào tạo, để giáo viên giảng dạy đúng kiến thức và kĩ năng mới trên tinh thần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo, định hướng phát triển năng lực trong việc tiếp cận và lĩnh hội tri thức của học sinh, một yêu cầu quan trọng đặt ra là phải có sự vận dụng và phát huy những phương pháp dạy học truyền thống và những biện pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại. Đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin, ứng dụng những thành tựu khoa học hiện đại vào việc giảng dạy từng bộ môn nhằm định hướng phát triển năng lực cần thiết cho học sinh.
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
………., ngày 20 tháng 5 năm 2019
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
- Tên sáng kiến: Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học Tiếng Việt nhằm định hướng phát triển năng lực học sinh ở Trường THCS Y Băng
- Họ và tên: Nguyễn Văn An
- Đơn vị công tác: Trường THCS Y Băng
- Thời gian thực hiện: từ ngày 06 tháng 09/ 2017 đến ngày 15 tháng 05 năm 2018
I.ĐẶT VẤN ĐỀ:
1 Tên sáng kiến: Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học Tiếng Việt nhằm định hướng phát triển năng lực học sinh ở Trường THCS Y Băng
2 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
Ngữ văn là một môn học thuộc bộ môn khoa học xã hội Đây là môn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người Đồng thời nó có tầm quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho học sinh Mặt khác Ngữ văn còn là môn học có mối quan hệ với rất nhiều các môn học khác trong các nhà trường phổ thông Học tốt môn Ngữ Văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, gắn kiến thức với thực tiễn
Để tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ văn trong Nhà trường THCS, năm học 2017- 2018 tiếp tục thực hiện theo chỉ đạo của ngành
về việc thực hiện giảng dạy theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ Giáo dục & Đào tạo, để giáo viên giảng dạy đúng kiến thức và kĩ năng mới trên tinh thần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo, định hướng phát triển năng lực trong việc tiếp cận và lĩnh hội tri thức của học sinh, một yêu cầu quan trọng đặt ra là phải có sự vận dụng và phát huy những phương pháp dạy học truyền thống và những biện pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại Đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin, ứng dụng những thành tựu khoa học hiện đại vào việc giảng dạy từng bộ môn nhằm định hướng phát triển năng lực cần thiết cho học sinh
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa
là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy
Trang 2cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên-học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực
xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học
để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới
sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
Từ thực tế đó, tôi xin được đưa ra: “ Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học Tiếng Việt nhằm định hướng phát triển năng lực học sinh ở Trường
THCS Y Băng.”
Với đề tài này, bản thân muốn tìm hiểu, vận dụng để định hướng phát triển năng lực học sinh cũng như để chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy với bạn bè đồng nghiệp
3 Phạm vi triển khai thực hiện:
- Học sinh lớp 7A3, 7A4, Trường THCS Y Băng
- Chương trình Ngữ Văn 7
II Nội dung sáng kiến
1 Thuận lợi và khó khăn:
1.1 Thuận lợi:
* Về phía giáo viên:
Được tham gia lớp tập huấn chuyên đề: “ Dạy học bằng sơ đồ tư duy.”,
“ Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở Trường THCS.”
Năng lực chuyên môn vững vàng; không ngừng tự bồi dưỡng, nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi, vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Đã có một số năm dạy chương trình Ngữ Văn lớp 7
Đã dạy một số tiết Tiếng Việt bằng sơ đồ tư duy
* Về phía học sinh:
Một số học sinh thích học môn Ngữ Văn
Một số học sinh ngoan ngoãn, có ý thức học tập tốt
Học sinh đã được làm quen với phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy và bước đầu đã biết vẽ sơ đồ tư duy
Trang 3Môn Ngữ Văn là môn học quan trọng đối với học sinh nói chung.
1.2 Khó khăn:
* Về phía giáo viên:
Thực tế qua các tiết dự giờ, tôi nhận thấy giáo viên ít sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như : Nêu vấn đề, gợi mở, thảo luận nhóm….,
kĩ thuật dạy học tích cực (mảnh ghép, khăn trải bàn ), sơ đồ tư duy và ứng dụng công nghệ thông tin Giáo viên vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp dạy học truyền thống
Một số giáo viên thiếu lòng yêu nghề
Hình thức kiểm tra, thi cử ít được đổi mới
* Về phía học sinh:
Trong những năm gần đây, do nhu cầu của xã hội nên môn Ngữ văn trong nhà trường không được hấp dẫn các em học sinh như trước
Đa số học sinh chú trọng vào những môn khoa học tự nhiên, có tâm lí
và suy nghĩ coi thường môn Ngữ văn
Khoảng cách ngày càng rộng giữa văn hóa ngoài xã hội với văn học trong nhà trường, giữa nội dung giảng dạy và tâm lí học sinh
Một bộ phận học sinh không thích học môn Văn
2 Các biện pháp đã tiến hành:
2.1 Các phương pháp đã sử dụng để nghiên cứu viết sáng kiến:
Phương pháp đàm thoại
Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp quan sát
Phương pháp điều tra, khảo sát
Phương pháp thử nghiệm
2.2 Biện pháp thực hiện:
Để đáp ứng những yêu cầu đổi mới về phương diện, phương pháp, đáp ứng tốt hơn chuẩn kiến thức và kĩ năng quy định thì việc làm phong phú, sinh động, khắc sâu đề tài, định hướng phát triển năng lực…bằng một kỹ thuật mới
đó là tổ chức các đơn vị kiến thức trên hệ thống sơ đồ, ta vẫn gọi là sơ đồ tư duy, hay bản đồ tư duy Nó không chỉ giúp cho học sinh có sự hiểu biết sâu
Trang 4rộng, dễ tái hiện kiến thức Ngữ văn mà còn góp phần chắp cánh cho những phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn này Đồng thời, tạo hứng thú để học sinh tham gia học tập tích cực và định hướng phát triển năng lực cho học sinh Đây là một phương pháp dạy học mới đang được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng Qua việc tìm hiểu và vận dụng, tôi nhận thấy phương pháp dạy học này rất có hiệu quả trong công tác dạy và học Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý ngại học Ngữ văn, khơi dậy trong học sinh tình yêu, cái nhìn và
tư duy mới về môn học Vậy thế nào là phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy? Cần sử dụng sơ đồ tư duy như thế nào trong các giờ học Ngữ Văn đặc biệt là phần Tiếng Việt để đem lại những hiệu quả trong các tiết dạy - học
Bằng một phương pháp trong rất nhiều phương pháp: “Sử dụng sơ đồ tư duy
trong dạy học Tiếng việt nhằm định hướng phát triển năng lực của học sinh ở bậc THCS Tân Lộc Bắc” nhằm ít nhiều có thể hỗ trợ đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy và giúp học sinh hoàn thành tốt yêu cầu học tập bộ môn của mình và định hướng phát triển các năng lực cần thiết trong quá trình học tập
2.2.1.Sử dụng sơ đồ tư duy để hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập.
Giáo viên tiến hành khi hướng dẫn học sinh tự học ở nhà, chuẩn bị bài mới nhằm rèn luyện tính tự giác, chuyên cần và chủ động trong học tập giúp tăng tính hiệu quả, sau khi kết thúc một bài học trên lớp.Gio viên chiếu màn hình bài tập về nhà, định hướng cho học sinh phác thảo đề cương của bài sẽ học bằng sơ đồ tư duy về những nội dung liên quan như : khái niệm, các loại tác dụng…
Ví dụ: Sau khi dạy văn bản “Thánh Gióng” ( Ngữ văn 6 tập 1), tiết tiếp theo
là bài “ Từ mượn”.Giao viên có thể hướng cho học sinh phác thảo đề cương của bài sẽ học bằng sơ đồ tư duy nội dung như sau:
Sơ đồ minh hoạ:
Trang 5Ví dụ: Sau khi dạy văn bản “Thánh Gióng” ( Ngữ văn 6 tập 1), tiết tiếp theo
là bài “ Từ mượn” Giáo viên có thể hướng cho học sinh phác thảo đề cương của bài “ sẽ học” bằng sơ đồ tư duy nội dung như sau:
Sơ đồ minh hoạ:
2.2.2 Sử dụng sơ đồ tư duy dạy bài mới.
Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các từ liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện sơ đồ tư duy Qua sơ đồ
tư duy đó, học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng đồng thời phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy
và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học
Ví dụ khi dạy bài : « Danh từ » môn Ngữ văn 6 tập I, đầu tiên giáo
2.2.2 Sử dụng sơ đồ tư duy dạy bài mới
Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để tìm ra các từ liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện sơ đồ tư duy Qua sơ đồ tư duy
đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàngđồng thời phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học
Ví dụ khi dạy bài: “ Danh từ” môn Ngữ Văn 6 tập I, đầu tiên giáo viên cho từ khóa: “Danh từ”, rồi yêu cầu học sinh vễ sơ đồ tư duy bằng cách giáo viên đặt một số câu hỏi gợi ý để các em có thế vẽ tiếp các nhánh con vào bảng nhóm và bổ sung dần các nhánh nhỏ( nhánh cấp 2, cấp 3) Sau khi các nhóm học sinh vẽ xong, cho các nhóm lên bảng trình bày sản phẩm của nhóm mình trước lớp để tất cả học sinh có thể nhận xét và bổ sung Cuối cùng, giáo viên kết luận ( sơ đồ đã chuẩn bị hoặc thể hiện trên máy chiếu) qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả đồng thời kích thích hứng thú học của học sinh
Trang 6Bên cạnh đó, phương pháp học này còn giúp học sinh định hướng phát triển năng lực học của bộ môn Tiếng Việt cụ thể : năng lực nói, năng lực
nghe, năng lực đọc và năng lực viết Nghe hiểu nội dung chính hay nội dung
chi tiết các bài đối thoại, chuyện kể, lời giải thích, cuộc thảo luận; nói chính xác, đúng ngữ điệu và nhịp điệu, trình bày được nội dung, chủ đề thuộc chương trình học tập; đọc hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các văn bản, tài liệu ngắn; viết đúng các dạng văn bản về những chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân ưa thích; viết tóm tắt nội dung chính của bài văn, câu chuyện ngắn Phát âm đúng nhịp điệu và ngữ điệu; hiểu từ vựng thông dụng được thể hiện trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ, thông qua các ngữ cảnh có nghĩa; phân tích được cấu trúc và ý nghĩa giao tiếp của các loại câu
2.2.3 Sử dụng sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức sau mỗi phần học, tiết học.
Sau mỗi phần, mỗi bài học, giáo viên gợi ý, hướng dẫn để củng cố hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ sơ đồ
tư duy Mỗi bài học, phần học được vẽ kiến thức trên một trang giấy dời rồi kẹp lại thành tập Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức
Trang 7khi cần một cách nhanh chóng dễ dàng và rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh Ví dụ : khi học bài : “Số từ, lượng từ”- Ngữ văn 6, tập 1 Học sinh hệ thống kiến thức băng sơ đồ tư duy như sau :
Phần số từ :
Phần lượng từ
Trang 82.2.4 Sử dụng sơ đồ tư duy luyện tập củng cố.
Các loại bài tập Tiếng Việt rất đa dạng, thời lượng dành cho luyện tập ở mỗi bài khá hạn chế nên không phải bài tập nào cũng có thể lập sơ
đồ tư duy một cách dễ dàng Do đó, giáo viên phải lựa chọn loại sơ đồ tư duy phù hợp và hiệu quả nhất để lập sơ đồ tư duy Thực tế cho thấy, sử dụng sơ đồ tư duy phù hợp với các bài luyện tập yêu cầu phân tích: Là
Trang 9dạng bài tập cho sẵn một ngữ liệu và yêu cầu phân tích, nhận diện các hiện tượng ngôn ngữ có trong ngữ liệu
Áp dụng: Giáo viên ra bài tập cho học sinh, yêu cầu học sinh lập
sơ đồ tư duy để giải bài tập đó Đây là dạng bài tập giúp học sinh chuyển lời giải bài tập từ ngôn ngữ thông thường sang ngôn ngữ tư duy Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh khác nhận xét, đánh giá, sửa chữa và kết luận bài tập
Phương pháp này có sự kết hợp giữa học tập cá thể (hình thức học cá nhân) với học tập hợp tác (hình thức học theo nhóm, theo lớp); chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao tri thức với rèn luyện các kĩ năng, gắn với thực tiễn cuộc sống; phát huy thế mạnh của các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại; các phương tiện, thiết bị dạy học và những ứng dụng của công nghệ thông tin…; chú trọng cả hoạt động đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh
Ví dụ khi dạy bài Danh từ (tiếp theo) Ngữ văn 6 tập 1, giáo viên hướng dẫn học sinh luyện tập, củng cố bằng sơ đồ như sau:
2.2.5 Sử dụng sơ đồ tư duy để dạy bài ôn tập, tổng kết Tiếng Việt
Trang 10Để dạy học các tiết ôn tập hoặc tổng kết một phần, một chương, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện tại lớp hoặc tại nhà
Có thể thực hiện trên máy tính và đèn chiếu hoặc vẽ trên giấy A4, A0
Có thể hướng dẫn cho học sinh thực hiện :
- Sau khi học xong một tiết, giáo viên có thể cho học sinh hệ thống lại kiến thức của bài học trên giấy A4, chọn một vài em lên bảng thuyết minh lại theo sơ đồ tư duy của mình những kiến thức đã tiếp thu được và cho HS cả lớp nhận xét, rút kinh nghiệm Thực hiện sơ đồ tư duy như vậy sẽ giúp cho giáo viên nắm được mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh, và học sinh cũng nắm vững kiến thức và nhớ lâu hơn
- Đối với bài ôn tập hoặc tổng kết nhiều kiến thức, giáo viên có thể vẽ trước ở nhà hoặc có thể hướng dẫn học sinh vẽ bằng giấy A0, mang đến lớp
sử dụng trong tiết học
Ví dụ : Khi dạy ôn tập Tiếng Việt phần ( từ loại, cụm từ) , giáo viên tổ chức cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy sau mỗi bài học để mỗi em có một tập sơ
đồ tư duy về các từ loại Tiếng Việt: danh từ, động từ, tính từ, số từ, lượng từ, chỉ từ… Sau khi có một học sinh hoặc một nhóm học sinh vẽ xong sơ đồ tư duy sẽ cho một học sinh khác, nhóm khác nhận xét, bổ sung … Có thể cho học sinh vẽ thêm các đường, nhánh khác và ghi thêm các chú thích… rồi thảo luận chung trước lớp để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ sơ đồ tư duy cho các
em
Việc học sinh tự vẽ sơ đồ tư duy có ưu điểm là phát huy tối đa năng lực sáng tạo của học sinh, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh, các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt,
Trang 11thẳng, cong…), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi sơ đồ tư duy thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và sơ đồ tư duy do các
em tự thiết kế nên các em yêu quí, trân trọng “tác phẩm của mình »
3 Lưu ý khi sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học Tiếng Việt
Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học nói chung và dạy học tiếng Việt nói riêng có rất nhiều ưu điểm Ngoài việc giúp học sinh hình thành phương pháp học hiệu quả, khả năng ghi nhớ lâu còn giúp học sinh học tập tích cực, phát huy năng lực chủ động sáng tạo và tạo môi trường học tập sinh động, mới mẻ cho học sinh Tuy nhiên, phương pháp này không nên áp dụng cho các nội dung kiến thức có dung lượng lớn, dài và khó vì việc vẽ sơ đồ tư duy gây mất nhiều thời gian do phải lựa chọn hình ảnh và từ ngữ Sơ đồ có dung lượng kiến thức lớn gây rối mắt, khó nhớ Bên cạnh đó việc phân phối thời gian và điều tiết bài giảng không hợp lý có thể gây giảm hiệu quả bài giảng vì học sinh sa đà vào việc vẽ và trang trí bản đồ tư duy mà không tập trung vào hoàn thiện kiến thức
Như vậy, muốn vận dụng hiệu quả phương pháp dạy học này, giáo viên phải chú ý một số yêu cầu sau:
Giáo viên phải nắm chắc kiến thức về bài giảng, có kỹ năng vẽ bản đồ tư duy một cách thành thạo
Giáo viên phải biết lựa chọn bài giảng, bài tập và hình thức kiếm tra đánh giá sử dụng bản sơ đồ tư duy hợp lý
Học sinh đã được cung cấp kiến thức và kỹ năng sử dụng, vẽ bản đồ tư duy từ trước và được rèn luyện thường xuyên
Kết hợp với các phương pháp và hình thức dạy học khác để tăng hiệu quả bài học
III Đánh giá về tính mới, tính hiệu quả và khả thi, phạm vi áp dụng
1 Tính mới: Tạo sự hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, năng lực chủ
động, sáng tạo và môi trường học tập sinh động, mới mẻ cho học sinh
2 Tính hiệu quả và khả thi:
Sau một thời gian ứng dụng sơ đồ tư duy trong đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt nói riêng, tôi thấy bước đầu có những kết quả khả quan Tôi đã nhận thức được vai trò tích cực của ứng dụng sơ đồ tư duy trong hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học Biết sử dụng sơ đồ tư duy để dạy bài mới, củng cố kiến thức bài học, tổng hợp kiến thức chương, phần Học sinh hiểu bài nhanh hơn, hiệu quả hơn Kết quả học tập của các em đã từng bước đi lên Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng sơ đồ tư duy để ghi chép bài, tổng hợp kiến thức môn học Một số học sinh trung bình đã biết dùng sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản Đối với môn Tiếng Việt, học sinh rất hào hứng trong việc ứng dụng sơ đồ tư duy để ghi chép bài nhanh, hiệu quả Đồng thời hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc,
có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống khoa học Sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình, thảo luận nhóm góp phần đổi mới phương pháp dạy học và định