1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều kiện kinh doanh du lịch theo pháp luật việt nam từ thực tiễn khu di tích làng cổ đường lâm, thị xã sơn tây, thành phố hà nội

74 119 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở vậtchất của ngành du lịch từng bước được đầu tư theo chiều sâu góp phần thúc đẩyphát triển kinh tế Việt Nam Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều quy định pháp luật điều chỉnh quan h

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THẾ TUẤN

ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DU LỊCH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN KHU DI TÍCH QUỐC GIA LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM, THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8.38.01.07

VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN VĂN CƯƠNG

Hà Nội, 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Cương Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.

Học viên

Phan Thế Tuấn

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DU LỊCH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 7

1.1 Khái quát về du lịch và hoạt động kinh doanh du lịch 7

1.2 Hoạt động kinh doanh du lịch 8

1.3 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh du lịch 13

1.4 Điều kiện kinh doanh du lịch theo quy định của pháp luật 14

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới nội dung quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch 19

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DU LỊCH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 24

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật du lịch Việt Nam 24

2.2 Các quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch 32

2.3 Thực tiễn áp dụng tại khu di tích quốc gia Làng cổ Đường Lâm 44

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH TẠI LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM 60

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi 60

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch tại Việt Nam 64

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch và áp dụng 65

KẾT LUẬN 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 4

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội ngày càng phát triển và cuộc sống vật chất hay tinh thần cũng ngàycàng được cải thiện và nâng cao Khi con người đã đến mức đủ ăn, đủ mặc, nhất

là khi của cải dư thừa thì nhu cầu du lịch và nghỉ ngơi hưởng thụ thành quả laođộng của mình là tất yếu

Trong những thập kỷ gần đây, du lịch ở Việt Nam ngày càng phát triển,lượng khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng Nhiềuđiểm đến trong nước được du khách quốc tế yêu thích và bình chọn Sản phẩm

du lịch ngày càng được nâng cao về chất lượng và tính cạnh tranh Cơ sở vậtchất của ngành du lịch từng bước được đầu tư theo chiều sâu góp phần thúc đẩyphát triển kinh tế Việt Nam

Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều quy định pháp luật điều chỉnh quan

hệ kinh doanh dịch vụ và quản lý nhà nước về du lịch, tạo môi trường kinhdoanh lành mạnh và từng bước hoàn thiện về khung pháp lý nhằm thúc đẩy dulịch bền vững

Đường Lâm là một xã trong muời lăm xã, phường thuộc thị xã Sơn Tây,Thành phố Hà Nội Đường Lâm nằm ở phía Tây Bắc thị xã Sơn Tây, cách trungtâm Thị xã Sơn Tây khoảng 3km, có vị trí giao thông thuận lợi, là một vùng đất

cổ, giàu truyền thống lịch sử yêu nước, mang đậm nét nền văn minh lúa nướcsông Hồng

Ngày 19/05/2006 Làng cổ Đường Lâm được nhà nước trao tặng bằng di tíchlịch sử văn hóa Quốc gia và Đường Lâm trở thành làng cổ đầu tiên ở Việt Nam.Trong những năm qua, cán bộ và nhân dân Đường Lâm đã có nhiều cốgắng vươn lên trong phát triển kinh tế, giới thiệu các sản phẩm văn hóa truyềnthống, phục vụ khách du lịch, thích nghi dần với phát triển kinh tế nông nghiệp,dịch vụ gắn với du lịch Giá trị các di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng như:Đình Mông Phụ, Cam Lâm, Đoài Giáp, Đông Sàng, Cam Thịnh, Lăng Ngô

Trang 5

Quyền, chùa Mía, nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh, Văn Miếu… đã đượcphát huy Đồng thời, các sản phẩm truyền thống như nuôi gà mía, nghề làmtương, làm chè kho, chè lam, sản xuất kẹo lạc, may trang phục cổ,… đã từngbước phát triển gắn với du lịch, dịch vụ.

Lãnh đạo các cấp, các ngành cũng có nhiều quan tâm, đầu tư cho làng cổĐường Lâm về quy hoạch, đầu tư cở sở hạ tầng, tu bổ các công trình văn hóa,phát triển sản xuất nông nghiệp, sản xuất làng nghề Đồng thời hiệu quả công tácquản lý di tích làng cổ từng bước nâng cao tạo sự đồng thuận trong nhân dâncùng chung sức xây dựng nông thôn mới

Năm 2016, Làng cổ Đường Lâm đón trên 14 vạn khách, hiện đã đượcUBND Thành phố Hà Nội đưa vào danh sách là một trong ba làng du lịch quốctế(làng cổ Đường Lâm – Sơn Tây; làng lụa Vạn Phúc; làng gốm Bát Tràng – GiaLâm) Theo dự báo, khách đến với làng cổĐường Lâm sẽ ngày càng tăng Theothống kê năm 2018 số lượng khách đến Đường Lâm đã là 17 vạn khách Đây là

cơ hội cũng như thách thức để cán bộ, nhân dân Đường Lâm gần xa và cácdoanh nghiệp khách vươn lên làm giàu kinh tế, văn hóa, phát huy truyền thốngvùng đất cổ

Vậy yêu cầu đặt ra là điều kiện nhất định ở làng cổ Đường Lâm khi khaithác kinh doanh cần tuân thủ những nguyên tắc và phù hợp điều kiện địa lý nhưquy định tại địa phương Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều thuận lợi hay bất cập

từ thực tiễn và quy định pháp luật, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nênviệc em nghiên cứu này là cần và có giá trị

Vậy, em đã chọn đề tài “Điều kiện kinh doanh du lịch theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn khu di tích làng cổ Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội” làm nội dung nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.

Trang 6

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Kinh doanh dịch vụ du lịch là một ngành “Công nghiệp không khói” ở đóthể hiện cả về chính trị, văn hóa, xã hội Có thể nói rằng không có ngành kinh tếnào có thể rút ngắn nhanh về khoảng cách và chống tụt hậu về kinh tế giữa cácnước trong khu vực nhanh bằng ngành du lịch Chính vì vậy Đảng nhà nước tađặc biệt quan tâm và trú trong phát triển ngành du lịch làm mũi nhọn Nhà nướcViệt Nam đã ban hành nhiều quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ kinh doanhdịch vụ và quản lý nhà nước về du lịch, tạo một môi trường pháp lý kinh doanhlành mạnh, đa dạng, mở cửa cho các cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ dulịch Luật Du lịch năm 2005 đã hết hiệu lực và được thay thế bằng Luật Du lịchnăm 2017 với những sửa đổi, bổ sung đáng kể, theo kịp được với những thay đổicủa thực tiễn hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch

Có rất nhiều những tài liệu viết về hoạt động, điều kiện kinh doanh và pháttriển du lịch như:

- Luận văn phát triển du lịch làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc của tác giả Trần ThịHồng Hạnh, bảo vệ năm 2014, công trình được hoàn thành tại trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn

- Luận văn quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội củatác giả Nguyễn Hải Hường, bảo vệ năm 2013, công trình được hoàn thành tại

trường Đại Học Thương Mại

- Luận văn phát triển du lịch tỉnh quốc tế tỉnh Gia Lai của tác giả NguyễnĐức Hoàng , bảo vệ năm 2013, công trình được hoàn thành tại Trường Đại Học

Đà Nẵng

- Còn rất nhiều luận văn hay công trình nói về điều kiện kinh doanh du lịch

ở các tỉnh khác nhau trên cả nước nhưng chưa có công trình nào liên hệ thựctiễn tại khu di tích quốc gia làng cổ Đường Lâm, do đó công trình này vẫn đảmbảo tính mới có giá trị gia tăng

Trang 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Những nghiên cứu nhằm rõ thêm các khía cạnh và thực tiễn của điều kiệnkinh doanh du lịch theo pháp luật Việt Nam, liên hệ thực tiễn khu di tích quốcgia làng cổ Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, qua đó đề xuất giảipháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực tiễn

- Đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện cũng như thực thi pháp luật

về điều kiện kinh doanh du lịch tại Việt Nam nói chung và trong khu di tích quốcgia làng cổ nói riêng

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề về lý luận về điều kiệnkinh doanh dịch vụ du lịch theo pháp luật Việt Nam Đồng thời luận văn đánhgiá, nhận xét thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch từthực tiễn áp dụng tại khu di tích quốc gia làng cổ Đường Lâm những hạn chế,bất cập khi áp dụng nó

4.2 Phạm vi

- Nghiên cứu từ năm 2015 tới nay

- Không gian là khu di tích quốc gia làng cổ Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

Trang 8

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin về phép biện chứng duy vật,luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, sosánh, phương pháp luận duy vật biện chứng, thống kê, phỏng vấn một số cán bộ,nhân dân làm công tác thực tiễn

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích các quy định của pháp luật hiệnhành về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch tại Việt Nam; Tổng hợp các văn bảnpháp luật khác nhau, các nhận định của các chuyên gia, các công trình nghiên cứutrước đó, các số liệu về kinh doanh dịch vụ du lịch để đưa ra nhận định cần thiết

- Phương pháp so sánh: So sánh những quy định của Luật Du lịch 2005 và Luật

Du lịch năm 2017 qua đó làm rõ về các điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch

*Phỏng vấn 1 số cán bộ và người dân làm công tác thực tế:

Phan Thị Thao Nguyễn Văn Nguyễn Tiến Dũng Cao Văn Vân

Có nên bỏ Có vì nó làm hạn Có vì có

hết các ĐK chế cho người nhiều thủ tục

kinh doanh dân có nhu cấu không cần

kinh doanh ởdoanh có

cần thêm

thù riêng nên

gì không

có đk riêng

Trang 9

5

Trang 10

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Đề tài góp phần làm thêm các khía cạnh lý luận về pháp luật và tình hình thực tiễn của địa phương trong việc áp dụng pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch tại khu di tích quốc gia làng cổ Đường Lâm, Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

Qua nghiên cứu quy định pháp luật và thực tiễn của địa phương thực tiễn

áp dụng khu di tích quốc gia làng cổ Đường Lâm, Thị xã Sơn Tây, Thành phố

Hà Nội Luận văn chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong việc tổ chức thực hiệnquy định về điều kiện kinh doanh du lịch.Trên cơ sở này đề tài có thể góp phầncung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc chỉ đạo, lãnh đạo của Ủy ban nhân dân

xã, phường trong quá trình hoạch định và thực thi điều kiện kinh doanh du lịchmột cách có hiệu quả trong công cuộc phát triển KT-XH ở địa phương

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu thì luận văn được chia làm 3 chương gồm:

Chương 1 Những vấn đề lý luận điều kiện kinh doanh du lịch theo phápluật Việt Nam

Chương 2 Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch theopháp luật Việt Nam qua thực tiễ áp dụng tại khu di tích Làng cổ Đường Lâm

Chương 3 Hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch của làng cổ Đường Lâm

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH

DU LỊCH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KINH DOANH DU LỊCH

1.1 Khái quát về du lịch và hoạt động kinh doanh du lịch

Du lịch có thể hiểu là đi để vui chơi, giải trí là việc thực hiện chuyến đikhỏi nơi cư trú, có tiêu tiền, thường có lưu trú qua đêm và có sự trở về Mụcđích của chuyến đi có thể là giải trí, nghỉ dưỡng, thăm thân nhân, hay nhằm mụcđích kinh doanh

Tổ chức du lịch thế giới (WTO) năm 1995 đưa ra định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động của con người liên quan đến việc dịch chuyển tạm thời của con người đến một điểm đến nào đó bên ngoài nơi mà họ sống và làm việc thường xuyên cho mục đích giải trí,và các mục đích khác’’.

Luật Du lịch của Việt Nam (2005) định nghĩa:“Du lịch là các hoạt động

có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.Định nghĩa này được kế thừa với một số bổ sung

trong khoản 1 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 như sau: ‘ Du lịch là các hoạt động

có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trongthời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉdưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đíchhợp pháp khác.’

Qua hai khái niệm cơ bản trên có thể hiểu, con người có nhu cầu đi du lịch

là để khám phá, tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng,…tại các điểm đến du lịch ngoài

nơi cư trú của khách du lịch Trong luận văn, tác giả sử dụng định nghĩa về “du lịch” theo Luật Du lịch năm 2017 để phục vụ cho đề tài nghiên cứu.

Trang 12

Như vậy từ các khái niệm trên có thể khẳng định du lịch gồm các thànhphần: Khách du lịch; Các doanh nghiệp, dịch vụ cho khách du lịch; Chínhquyền địa phương; dân cư địa phương;

Các khái niệm trên cho thấy không phải tất cả các hoạt động đi lại khỏinơi cư trú đều là du lịch Việc du lịch được giới hạn lại bởi không gian, thờigian, mục đích như tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng ở nơi khác, có thờigian và lịch trình cố định Các hoạt động như đi xa vì công việc, đi chữa bệnh,

đi du học , đều không phải là du lịch Khái niệm du lịch theo quy định củapháp luật của Việt Nam được hiểu là tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng.Hay nói cách khác du lịch phát sinh từ nhu cầu của người đi, là sự di chuyển từnơi này đến nơi khác bằng bất kỳ phương tiện nào với mục đích tham quan, tìmhiểu, giải trí, nghỉ dưỡng có thời gian cụ thể và có sự trở về nơi xuất phát banđầu

1.2 Hoạt động kinh doanh du lịch

Kinh doanh là các hoạt động kinh tế gồm tổng thể những phương pháp,hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt độngkinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịchvụ ) nhằm đạt mục tiêu sinh lời cao nhất

Hoạt động kinh doanh thường được thông qua các thể chế kinh doanh nhưtập đoàn, công ty hoặc các cá nhân như sản xuất, buôn bán nhỏ lẻ theo kiểu hộgia đình

Về bản chất, kinh doanh du lịch là tổng hòa mối quan hệ kinh tế hìnhthành trên cơ sở phát triển đầy đủ sản phẩm du lịch và quá trình trao đổi muabán sản phẩm du lịch trên thị trường

Sự vận hành kinh doanh du lịch là lấy tiền tệ làm môi giới, tiến hành traođổi sản phẩm du lịch giữa người mua (du khách) và người bán (nhà kinh doanh

du lịch), sự vận hành này lấy vận động mâu thuẫn giữa nhu cầu cung và ứng của

du lịch làm đặc trưng chủ yếu

Trang 13

Khác với các loại hàng hóa thông thường sản phẩm trao đổi giữa hai bêncung cầu trong du lịch không phải là vật cụ thể Cái mà du khách có được là sựcảm giác, trải nghiệm hoặc hưởng thụ, vì thế trong quá trình trao đổi sản phẩm

du lịch, giao lưu hàng hóa và giao lưu vật là tách rời nhau Sự trao đổi sản phẩm

du lịch và tiền tệ do hai bên cung cầu du lịch tiến hành không làm thay đổiquyền sở hữu sản phẩm du lịch, trong quá trình chuyển đổi cũng không xảy ra

sự chuyển dịch sản phẩm, du khách chỉ có quyền chiếm hữu tạm thời sản phẩm

du lịch tại nơi du lịch Cùng một sản phẩm du lịch vẫn bán được nhiều lần chonhiều du khách khác nhau sử dụng, sản phẩm du lịch chỉ tạm thời chuyển dịchquyền sử dụng, còn quyền sở hữu vẫn nằm trong tay người kinh doanh, đâychính là đặc điểm cơ bản của kinh doanh du lịch

Trong điều kiện thị trường thì việc thực hiện thông suốt hoạt động kinhdoanh du lịch được quyết định bởi sự điều hòa nhịp nhàng giữa cung và cầu dulịch

Khi nói về điều kiện kinh doanh du lịch thì không thể không nói về thịtrường du lịch, thi trường du lịch là phạm trù cơ bản của kinh doanh nó là tổngthể các hành vi và quan hệ kinh tế của cả du khách và người kinh doanh phátsinh trong quá trình trao đổi

Trong nền kinh tế thị trường, việc phát triển ngành du lịch thì cũng kéotheo các loại hình dịch vụ liên quan Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạtđộng tương tác giữa bên cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt độngcủa bên cung cấp để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Dịch vụ có thể được tiếnhành nhưng không gắn liền với sản phẩm vật chất.(Theo định nghĩa của ISO9001:1991)

Kinh doanh du lịch là kinh doanh dịch vụ, bao gồm các ngành, nghề sauđây: kinh doanh lữ hành; kinh doanh lưu trú du lịch; kinh doanh vận chuyểnkhách du lịch; kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch; kinh doanh dịch

vụ du lịch khác (Điều 38 của Luật Du lịch năm 2005)

Trang 14

Theo Luật Du lịch năm 2017, các mục về từng hình thức kinh doanh dulịch bao gồm: (1) kinh doanh dịch vụ lữ hành theo Luật Du lịch ; (2) kinh doanhvận tải khách du lịch; (3) kinh doanh lưu trú du lịch; (4) kinh doanh dịch vụ dulịch và du lịch khác…

(1) Kinh doanh dịch vụ lữ hành

Dịch vụ lữ hành gồm các hoạt động chính như: “Làm nhiệm vụ giao dịch

kí kết với các tổ chức kinh doanh du lịch trong nước, nước ngoài để xây dựng

và thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch”

- Kinh doanh lữ hành (Tour Operators Business) là việc thực hiện các hoạtđộng nghiên cứu thị trường, thành lập các chương trình du lịch trọn gói, hay từngphần; quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trunggian hoặc văn phòng, tổ chức thực hiện các chương trình, hướng dẫn du lịch Vậy

ta có thể tóm tắt các đặc trưng của hoạt động kinh như sau:

+ Sản phẩm lữ hành có tính chất tổng hợp: sản phẩm lữ hành là sự kết hợpcủa nhiều loại dịch vụ như: dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống…của các nhà sản xuất riêng lẻ thành một sản phẩm mới hoàn chỉnh

+ Chương trình du lịch không thể chuyển quyền sở hữu Việc chỉ được sửdụng hàng hóa, dịch vụ nào đó đồng nghĩa với việc khách hàng không có quyền sởhữu cơ sở hạ tầng dùng để sản xuất dịch vụ đó Pháp luật du lịch phải điều chỉnhcác ngành nghề kinh doanh du lịch một cách riêng.Từ đó mà Pháp luật đã kịp thờiđiều chỉnh hoạt động của các nhà kinh doanh du lịch để nâng cao chất lượng dịch

vụ, phát triển ngành du lịch trong tương lai bền vững

Theo quy định của pháp luật điều chỉnh, các doanh nghiệp cung cấp 12chương trình du lịch phải cung cấp đầy đủ thông tin dịch vụ, công khai giá cảdịch vụ cũng nhấn mạnh lợi ích mà dịch vụ mang lại Doanh nghiệp lữ hànhhoạt động trong khuôn khổ pháp lý phù hợp mà nhà nước quy định sẽ đem tớicho khách du lịch những sản phẩm tốt nhất, đảm bảo quyền lợi của đôi bên

Trang 15

+ Các công ty lữ hành sẽ là cầu nối các sản phẩm du lịch thành một sảnphẩm du lịch trọn gói Khách hàng chọn sản phẩm du lịch trọn gói này sẽ được sửdụng và hưởng các dịch vụ khác kèm theo trong đó Điểm đặc trưng nhất của hoạtđộng kinh doanh lữ hành là kinh doanh các chương trình du lịch trọn gói Các công

ty lữ hành nghiên cứu thị trường và tổ chức các chương

trình du lịch Bên cạnh đó các công ty còn tìm hiểu về sở thích, thị hiếu, quỹthời gian nhàn rỗi, thời điểm và nhu cầu, đặc điểm tiêu dùng, khả năng thanhtoán của du khách cùng với việc nghiên cứu về tài nguyên du lich, khả năng tiếpcận các điểm hấp dẫn du lịch, khả năng đón tiếp của nơi đến du lịch và các đốithủ cạnh tranh, để đưa ra giải pháp và sự cạnh tranh tối ưu nhằm chiến thắng đốithủ Sau khi xây dựng và tính toán xong giá một chương trình du lịch các doanhnghiệp cần tiến hành quảng cáo và chào bán các chương trình du lịch của mìnhcho khách hàng hoặc doanh nghiệp quan hệ trực tiếp với khách hàng thông quacác hợp đồng bán hàng hoặc thông qua các hợp đồng ủy thác để nhận bánchương trình du lịch của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành cho khách dulịch để hưởng hoa hồng Khi thực hiện chương trình du lịch theo hợp đồng đã kíkết thì doanh nghiệp cần có những chuẩn bị nhất định về: hướng dẫn viên, cácthông tin về đoàn khách, các lưu ý về hành trình và các yếu tố cần thiết khác Vìvậy hướng dẫn viên phải được đào tạo trình độ nghiệp vụ cao, phải có nhữngkiến thức hiểu biết lịch sử, chính trị, văn hóa, kinh tế, luật pháp và những hiểubiết nhất định về tâm lý khách hàng, về y tế…để ứng xử và quyết định kịp thờicác yêu cầu của khách và đảm bảo chương trình du lịch được thực hiện đúnghợp đồng Sau khi chương trình du lịch kết thúc, doanh nghiệp lữ hành cần làmthủ tục thanh quyết toán hợp đồng trên cơ sở quyết toán tài chính và giải quyếtcác vấn đề phát sinh con tồn tại, lắng nghe góp ý khách hàng nhằm nâng caohiểu quả chất lượng phục vụ cho các hợp đồng sau

Trang 16

Kinh doanh dịch vụ lữ hành có thể là kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa(phục vụ khách du lịch nội địa) và kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế (phục vụkhách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài) Doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế được kinh doanh dịch vụ lữ hànhquốc tế và dịch vụ lữ hành nội địa, trừ một số trường hợp ngoại lệ Doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tếphục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế

mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác(Điều 30 Luật Du lịch năm 2017)

(2) Kinh doanh vận tải khách du lịch:

Kinh doanh vận tải khách du lịch là việc “cung cấp dịch vụ vận tải đườnghàng không, đường biển, đường thủy nội địa, đường bộ chuyên phục vụ khách

du lịch theo chương trình du lịch tại các khu du lịch, điểm du lịch” Đặc trưngriêng của hoạt động du lịch là con người di chuyển từ nơi nơi cư trú thườngxuyên đến nơi khác với một khoảng cách xa và đã được lên kế hoạch hay lịchtrình từ trước Do vậy, khi đề cập đến hoạt động du lịch nói chung, đến hoạtđộng kinh doanh du lịch nói riêng, không thể không đề cập đến hoạt động kinhdoanh vận chuyển Để phục vụ cho hoạt động kinh doanh này có nhiều phươngtiện vận chuyển khác nhau như: Ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay… Phần lớntrong các trường hợp, khách du lịch sử dụng dịch vụ vận chuyển của cácphương tiện giao thông đại chúng hoặc của các công ty chuyên kinh doanh dịch

vụ vận chuyển Đây cũng là một loại hình kinh doanh có điều kiện

(3) Kinh doanh lưu trú du lịch:

Kinh doanh lưu trú du lịch là hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú củakhách du lịch Dịch vụ này được thực hiện tại các cơ sở lưu trú du lịch, gồm:Resort cao cấp, Khách sạn; Biệt thự du lịch; Căn hộ du lịch; Tầu thủy lưu trú

Trang 17

du lịch; Bãi cắm trại du lịch; Nhà nghỉ du lịch; Nhà nghỉ Homeastay, Nhà ở cóphòng cho khách thuê của các hộ dân; và các cơ sở lưu trú du lịch khác.

(4) Kinh doanh dịch vụ du lịch khác:

Ngoài các hoạt động kinh doanh như đã nêu ở trên, còn có một số hoạt độngkinh doanh dịch vụ như ăn uống, mua sắm, thể thao, vui chơi giải trí; tuyêntruyền, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ liên quan khác phục vụ khách dulịch Cùng với xu hướng phát triển ngày càng đa dạng những nhu cầu củakhách du lịch ngày càng cao nên sự gia tăng mạnh của các doanh nghiệp du lịchdẫn đến sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng cao nên đòi hỏi chấtlượng dịch vụ ngày càng phải chuyên nghiệp và đáp ứng mọi nhu cầu của kháchhàng Như vậy, từ những phân tích trên có thể khẳng định: Dịch vụ du lịch làkết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng dulịch và khách du lịch, thông qua các hoạt động tương tác đó để đáp ứng nhu cầucủa khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng dịch vụ Vậy việccung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí,hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu củakhách du lịch

1.3 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh du lịch

- Kinh doanh du lịch là một ngành thương mại dịch vụ: xã hội càng ngàycàng phát triển và nâng cao cùng với đó thì nhu cầu về tinh thân cũng

leo thang theo đỏi hỏi những nhu cầu phục vụ con người cũng như chất lượngcuộc sống càng ngày cải thiện và ngày du dịch càng ngày phát triển và chiếm tỷtrong cao, như ở Nhật hay một số nước phát triển như Trung Quốc thì nhu cầungười dân đi lu lịch trong nước cũng như nước ngoài càng ngày càng cao và ởNhật khi họ đến tuổi nghỉ hưu và nghỉ hưu là họ đi du lịch khắp thế giới

- Du lịch là ngành thỏa mãn nhu cầu của con người: đúng vậy du lịch lànhững gói như đi lại vui chơi nghỉ ngơi nhằm thỏa mãn nhu cầu của con

Trang 18

người sau một thời gian phải lao động mệt mỏi muốn được nghỉ ngơi lấy lại sức

và tinh thần giúp cho cuộc sống ngày càng trở nên tươi đẹp hơn

- Hoạt động kinh doanh du lịch có tính thời vụ: có thể hiểu sự thay đổi

và lặp đi lặp lại tùy vào điều kiện yếu tố khách quan như vào thời gian, mùa, khíhậu hay hoàn cảnh khách nhau và điều kiện kinh tế mỗi năm

- Kinh doanh du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp như sản xuất, buôn bán, ăn ngủ nghỉ, chơi, và các dịch vụ khác

- Du lịch chỉ phát triển trong môi trường hòa bình và ổn định: việc dulịch chỉ phát triển trong môi trường hòa bình ổn định không có bạo loạn haychiến tranh và luôn ở trạng thái hòa bình hữu nghị với các nước Sự bất ổn chínhtrị là rào cản vô hình với ngành du lịch nói chung như sự bất ổn chính trị ở TháiLan đã làm giảm lớn lượng khách thăm quan trong và ngoài nước bên cạnh đócòn sự bệnh dịch, sóng thần hay thảm họa nhà máy nguyên tử hạt nhân cũng làrào cản phát triển du lịch

1.4 Điều kiện kinh doanh du lịch theo quy định của pháp luật

Trong nền kinh tế thị trường phát triển việc mở rộng hành lang pháp lýtrong kinh doanh luôn được ưu tiên hàng đầu của các quốc gia trên thế giới nóichung và Việt Nam nói riêng Ở Hiến pháp năm 1992 theo Điều 57 “Công dân

có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” Có thể nói, quyền tự

do kinh doanh có nhiều ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì đây là sự tự do tronghoạt động kinh tế, hoạt động sản xuất của cải vật chất cho xã hội, mà hoạt độngkinh tế giữ một vị trí trung tâm trong đời sống xã hội, quyết định hay ảnh hưởngcác mặt hoạt động của quốc gia Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh luôn đi theo

là một hệ thống pháp luật cụ thể, một quốc gia nhất định và trong một nước cópháp luật tự do nghĩa được làm những cái nên làm và không bị ép buộc làm điềukhông nên làm Trong bối cảnh đó quan niệm về tự do kinh doanh và giới hạnquản lý của nhà nước đối với sự phát triển của thị trường luôn có những bướcphát triển mới Với mỗi giai đoạn phát

Trang 19

triển, pháp luật lại có những thay đổi trong việc xác định lại nội hàm của quyền

tự do kinh doanh Khi quyền tự do kinh doanh của cá nhân được mở rộng, phápluật phải thay đổi cách thức và nội dung quản lý nhà nước đối với thị trường

Hiến pháp năm 1992 lần đầu tiên trong lịch sử luật pháp Việt Nam ghinhận và tôn trọng quyền tự do kinh doanh của công dân được thể chế hóa trongHiến pháp Mặc dù, còn hạn chế ở phạm vi tự do kinh doanh, khi các chủ thểkinh doanh chỉ được “tự do” kinh doanh trong lĩnh vực mà pháp luật cho phép,song so với các quan điểm quản lý kinh tế vào thời kì trước, đây cũng đã đượcxem là bước tiến đặc biệt quan trọng khi Việt Nam đã chủ động ghi nhận quyền

tự do kinh doanh là một trong những quyền cụ thể của quyền con người ĐếnHiến pháp năm 2013, quyền tự do kinh doanh đã có một bước tiến mới, thôngthoáng hơn, cởi mở hơn khi quy định tại Điều 33 “Mọi người có quyền tự dokinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm” Hiến pháp năm

2013 đã đặt đúng vị trí quyền con người như là chế định cơ bản, bao gồm cácquyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, phù hợp với mong muốn của ngườidân, tương thích với thế giới văn minh thời kì hội nhập, với các Công ước quốc

tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia Vậy để giới hạn quyền tự do kinhdoanh, Nhà nước cần phải có cơ sở pháp lý đầy đủ thể hiện cam kết của Nhànước đối với toàn dân, với bạn bè quốc tế

Thể chế hóa quyền tự do kinh doanh theo Hiến pháp năm 2013, LuậtDoanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014 đã được xây dựng vớiphương thức tiếp cận theo hướng đơn giản hóa điều kiện và thủ tục đăng kí kinhdoanh, dỡ bỏ hàng loạt hạn chế, bất cập của quy định cũ, mở rộng các nhómquyền tự quyết, tự chủ trong hoạt động của doanh nghiệp Khoản 1, Điều 7,Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định doanh nghiệp có quyền được “tự dokinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm” Theo đó

Trang 20

quyền tự do kinh doanh cho phép doanh nghiệp được quyền lựa chọn để kinhdoanh tất cả các ngành, nghề; trừ một số ngành nghề có thể gây ảnh hưởng xấutới an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tới thuần phong mỹtục được liệt kê trong danh mục ngành nghề cấm kinh doanh.

Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh chỉ là tương đối nó cũng phải tuântheo nguyên tắc “Quyền của cá nhân, tổ chức này không được gây phương hạiđến quyền của cá nhân, tổ chức khác” vì vậy trong một số trường hợp phải đượcgiới hạn Việc giới hạn quyền tự do kinh doanh phải dựa trên những nguyên tắc

cơ bản, theo hướng Nhà nước “tạo mọi điều kiện để thực hiện quyền tự do kinhdoanh” chứ không phải Nhà nước quản lý quyền đó theo hướng “quản được đếnđâu thì cho phép mở rộng quyền đến đó” Giới hạn quyền tự do kinh doanh phảiđảm bảo vì mục đích chính đáng, bảo đảm sự phù hợp giữa giới hạn quyền vàmục đích đặt ra, đảm bảo được sự công bằng Luật Đầu tư 2014 đã cụ thể hóanguyên tắc hạn chế quyền tự do kinh doanh với Điều 6 “nhà đầu tư được quyềnthực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành nghề mà Luật này khôngcấm” Chế định pháp luật về điều kiện kinh doanh hiện nay đã có nhiều điểmmới mang tính đột phá, đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm tháo gỡ cáchạn chế, bất cập của luật cũ, tiếp tục hướng tới việc tạo lập môi trường đầu tư,kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế

Trước khi đi đến khái niệm điều kiện kinh doanh, thì ta cần phải hiểuđược khái niêm về “điều kiện” Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông của ViênNgôn ngữ xuất bản năm 2008 định nghĩa “điều kiện là cái cần phải có để chomột cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra” Vây ta có thể hiểu điều kiện chính lànhững yếu tố tiên quyết, mang tính quyết định đối với sự xuất hiện của một sựvật, sự việc, hiện tượng nào đó

Khái niệm điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặcphải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép

Trang 21

kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề,chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặcyêu cầu khác.( theo khoản 2 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2005).

Còn khái niệm pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch là tổng hợp cácquy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinhdoanh dịch vụ du lịch và nhà nước dùng các quy phạm đó để điều tiết trong kinhdoanh du lịch.

Tuy nhiên tới Luật Doanh nghiệp năm 2014 không nêu ra định nghĩa haykhái niệm về điều kiện kinh doanh hoặc những ngành, nghề kinh doanh có điềukiện mà thay vào đó đã được cụ thể hóa trong Luật Đầu tư năm 2014 tại khoản 1Điều 7 “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việcthực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điềukiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xãhội, sức khỏe của cộng đồng”

Như vậy, điều kiện kinh doanh được hiểu là những yêu cầu Nhà nước đặt

ra buộc các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng được khi thực hiện kinh doanhtrong những ngành, nghề kinh doanh nhất định Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 7Luật Đầu tư năm 2014 cũng liệt kê các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điềukiện bao gồm 243 ngành, nghề kinh doanh đồng thời các điều kiện kinh doanhphải được quy định tại “các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Bộ, cơ quan ngang bộ,Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, các nhân kháckhông được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh”

Hình thức áp dụng của điều kiện đầu tư kinh doanh được quy định tạiKhoản 2 Điều 9 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn chitiết thi hành một số điều của Luật Đầu tư như sau: Giấy phép kinh doanh; Giấychứng nhận đủ điều kiện kinh doanh; Chứng chỉ hành nghề; Chứng nhận bảohiểm trách nhiệm 20 nghề nghiệp; Xác nhận vốn pháp định; Các hình

Trang 22

thức văn bản khác theo quy định của pháp luật ngoài các hình thức điều kiệntrên; Các điều kiện mà cá nhân, tổ chức kinh tế phải đáp ứng để thực hiện hoạtđộng đầu tư kinh doanh mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới cáchình thức văn bản.

Các quy định về điều kiện kinh doanh tuy có tác dụng tạo ra giới hạnquyền tự do kinh doanh nhưng có thể trở thành công cụ để nhà nước quản lýhoạt động kinh tế, tạo lập nên một khung pháp lý để các chủ thể kinh doanh tiếnhành hoạt động kinh doanh lành mạnh, có lợi cho sự phát triển chung của xãhội Thông qua các chế định pháp luật về điều kiện kinh doanh, Nhà nước có thểđiều tiết được hoạt động sản xuất - kinh doanh, giữ được sự phát triển ổn địnhbền vững cho nền kinh tế

Qua đó có thể thấy, điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch là yêu cầu màcác doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân phải có khi kinh doanh dịch vụ du lịch đượcquy định trong các văn bản quy phạm pháp luật và các điều ước quốc tế mànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thể hiện bằng các hìnhthức theo quy định của pháp luật

Điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch gồm các nội dung chính như: điềukiện về chủ thể kinh doanh du lịch, điều kiện về ký quỹ trong kinh doanh dịch

vụ du lịch và điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ

- Điều kiện đối với chủ thể kinh doanh du lịch: Điều kiện về chủ thể

đối với kinh doanh lữ hành là doanh nghiệp được thành lập theo quy định củapháp luật doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp năm 2014 tại Khoản 7 Điều 4

“Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng

ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” LuậtThương mại 2005 tại Điều 6 có nói thương nhân bao gồm: “tổ chức kinh tếđược thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Đối với nhóm kinh doanh dịch vụ dulịch lưu trú, vận tải du lịch hoặc các dịch vụ khác thì điều kiện về chủ thể

Trang 23

kinh doanh theo Luật Du lịch năm 2017 đã mở rộng đến các “tổ chức và cánhân” Như vậy, đối với một số loại hình dịch vụ du lịch nhất định, không phảinhất thiết là doanh nghiệp thì mới trở thành chủ thể kinh doanh du lịch.

- Việc ký quỹ trong kinh doanh dịch vụ du lịch:

Tiền kí quỹ là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân

sự, số tiền ký quỹ sử dụng để giải quyết các vấn đề phát sinh trong trường hợpdoanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hoạtđộng kinh doanh lữ hành Điều kiện về ký quỹ được áp dụng đối với doanhnghiệp kinh doanh lữ hành nội địa vì xét thấy tính chất và mức độ rủi ro củahoạt động này đối với các đối tượng khác, đặc biệt là khách du lịch Việc ký quỹnhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hànhđối với khách du lịch, tạo ra cơ chế bảo vệ quyền lợi của khách du lịch

- Điều kiện về yêu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn cơ sở vật chất, kỹ thuật, phòng cháy chữa cháy, trật tự an toàn xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm, trình độ chuyên môn: Đối với từng hình thức kinh doanh dịch vụ du

lịch sẽ có các điều kiện kinh doanh tương ứng, phù hợp với yêu cầu về các tiêuchuẩn cơ sở vật chất, kĩ thuật, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường.Người quản lý hay hướng dẫn viên du lịch phải có bằng cấp, trình độ chuyênmôn sâu, kiến thức về du lịch,văn hóa, chính trị, y tế, nghiệp vụ quản lý Ngoài

ra đối với kinh doanh dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống phải xin cấp phép về antoàn phòng chống cháy nổ, vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định pháp luật

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới nội dung quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch

Hiến pháp năm 2013 đã thừa nhận quyền tự do kinh doanh là quyền conngười và là một trong những quyền cơ bản của công dân Việc kinh doanh trongmột số ngành, nghề nhất định mặc dù được tự do kinh doanh nhưng các

Trang 24

chủ thể kinh doanh cần đáp ứng được các điều kiện cần và đủ đối với ngành, nghề đó.

Pháp luật quy định về các điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch bị chi phốibởi tính đặc thù của lĩnh vực du lịch cũng như vai trò của ngành du lịch:

- Đối với kinh tế:

Hoạt động kinh doanh du lịch có tác động tích cực đến phát triển kinh têđất nước cũng như đến từng vùng đó thông qua việc thu nhập từ khách du lịch

Du lịch luôn đòi hỏi dịch vụ hàng hóa chất lượng cao, phong phú về chủng loại

và hình thức góp phần phát triển thị trường sản xuất hàng hóa Mặt khác, nhucầu hàng hóa mở rộng, dịch vụ rất đa dạng, khả năng thanh toán của khách hàngkhá cao Thị trường du lịch hoạt động trong không gian lãnh thổ như thị trườngnội địa, nhưng thị trường này lại có khả năng “xuất khẩu tại chỗ” thu vào ngoại

tệ, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế Sự phát triển của du lịch tạo ra các điềukiện để khách du lịch trong và ngoài nước tìm hiểu thị trường mở rộng đầu tưphát triển du lịch nhằm tạo điều kiện cho nguồn thu trong nước và ngoài nước

- Đối với chính trị:

Du lịch góp phần củng cố và mở rộng các quan hệ đối ngoại, tăng cường

sự hiểu biết về đất nước, con người lịch sử truyền thống dân tộc, về mặt kinh tế,văn hóa, xã hội của các nước mà du khách đến thăm Du lịch quốc tế làm chocon người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau, các hoạtđộng kinh doanh du lịch theo chủ đề được thực hiện, kêu gọi hàng triệu triệungười quý trọng lịch sử, văn hóa và truyền thống của các quốc gia, giáo dụclòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sựhiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc, và năm 1979, Đại hội của UNWTO

đã thông qua Hiến chương du lịch và chọn ngày 27/9 làm ngày du lịch thế giới

Trang 25

- Đối với văn hóa, xã hội:

Du lịch là hiện tượng khách quan trong đời sống xã hội của con người, cóvai trò to lớn trong việc giữ gìn, hồi phục nét đẹp văn hóa lưu giữ cái đẹp cáihay người xưa Du lịch làm thay đổi bộ mặt kinh tế vùng, miền có hoạt động dulịch phát triển và càng giảm quá trình đô thị hóa

Du lịch còn làm phong phú kiến thức sự hiểu biết của con người khi họđược tham quan các kho tàng mỹ thuật, di tích lịch sử văn hóa Bên cạnh đó, dulịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước nồng nàn truyền thống quý báucủa dân tộc Việt Nam anh hùng, giữ gìn và nâng cao truyền thống của dân tộc

và bảo tồn các di sản văn hóa của dân tộc, thúc đẩy sự phát triển của các ngànhnghề thủ công truyền thống như tranh Đông Hồ, gốm Bát tràng , góp phần bảo

vệ và phát triển môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội

- Đối với môi trường sinh thái:

Du lịch được thể hiện trong việc tạo nên môi trường sống ổn định về mặtsinh thái Việc nghỉ ngơi du lịch có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục

và tối ưu hóa môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này cóảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tâm sinh lý của con người

Việc đẩy mạnh hoạt động du lịch vào môi trường thiên nhiên nhất định lạiđòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch Lúc nàycon người phải đặt ra vấn đề trong việc bảo vệ tự nhiên, đảm bảo điều kiện sửdụng nguồn tài nguyên một cách hợp lý để không bị tàn phá và vẫn giữ đượcmôi trường sinh thái tự nhiên

Thực tiễn cho thấy rằng việc phát triển du lịch quốc tế một cách thụ độngqua tải dẫn đến việc làm mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, gây áp lựccho việc lạm phát Ngành du lịch mang tính thời vụ do đó ảnh hưởng rất lớn tớiviệc sử dụng lao động, tạo ra sự mất cân đối do tính thời vụ trong hoạt động dulịch Ngoài ra, du lịch làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến tài nguyên củađất nước do khai thác quá mức hoặc không hợp lý Sức

Trang 26

chứa của nhiều địa bàn du lịch đã quá tải dẫn đến việc ô nhiễm nước và khôngkhí do nước thải, do chất thải, khí thải của phương tiện vận tải như tàu thuyền,ôtô, xe máy, nuôi trồng thủy sản Rừng, núi đồi bị tàn phá để đầu tư xây dựngcác khu du lịch, cây to cổ thụ, thực vật động vật quý hiếm để cung cấp nguyênvật liệu và đáp ứng nhu cầu tinh thần, ẩm thực của khách du lịch Từ đó gâyảnh hưởng tới tính đa dạng sinh học Từ đó dẫn đến hệ lụy như phá hủy nơi cưtrú (trên mặt đất hoặc biển) do giải phóng mặt bằng hoặc quy hoạch xây dựng

hạ tầng, cơ sở dịch vụ Xáo trộn cuộc sống hoang dã hủy hoại thực vật do đi lại

và phương tiện làm động thực vật quý hiếm bị tiệt chủng Di sản thiên nhiên vàvăn hóa cũng như tính đa dạng của các nền văn hóa đang tồn tại tạo ra lực hấpdẫn to lớn đôi khi tạo nên sự phát triển tùy ý, không được kiểm soát của cácdịch vụ du lịch đe dọa tới tính toàn vẹn của tự nhiên và ý nghĩa của di sản Mặtkhác, du lịch phát triển nhanh nhưng quản lý yếu kém sẽ dẫn tới những hậu quảnghiêm trọng Nhiều tệ nạn xã hội, các loại hình kinh doanh không lành mạnhtrong nhà hàng, khách sạn cũng ngày càng tăng làm xấu và ảnh hưởng đến tuầnphong mỹ tục của dân tộc và để lại hình ảnh không đẹp đối với bạn bè quốc tế

Du lịch là con đường mà các thế lực phản động thường hay sử dụng để tuyêntruyền, kích động phá hoại chế độ chính trị xã hội, kinh tế, văn hóa Chúng độilốt các du khách để xâm nhập sâu vào đất nước xây dựng các cơ sở, tổ chứcphản động Đồng thời cũng gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, antoàn xã hội ở các điểm du lịch Pháp luật du lịch phải điều chỉnh các ngành nghềkinh doanh du lịch một cách hợp lý, có cơ quan quản lý trực tiếp và giám sát để

xử lý các tình huống kịp thời đảm bảo du lịch trong sạch mạnh

Du lịch mang tính thời vụ là việc khách du lịch không ổn định, lượngkhách du lịch tới các khu du lịch tăng đột biến Khách du lịch đi lẻ với tâm lýngẫu hứng, thiếu thông tin cũng như sự không tập trung của nguồn khách lẻ đãdẫn tới khó khăn trong việc quản lý khách du lịch của địa phương, khó

Trang 27

khăn trong việc cung cấp sản phẩm du lịch cũng như an ninh khu vực Việc mộtchương trình du lịch tác động đến nhiều doanh nghiệp khác như lưu trú, ănuống, vận chuyển, thăm quan, vui chơi mua sắm , tác động đến di tích lịch sử,danh lam thắng cảnh cũng như tác động đến khách du lịch, đất nước Việt Namtrong mắt khách du lịch Trong một sản phẩm du lịch như vậy, rất nhiều quan hệquả phát sinh dễ dẫn đến nhiều tranh chấp phức tạp Vậy việc cần có những quyđịnh cụ thể về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch là cấp thiết để phù hợp vớiquá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng vận động chung của thị trường,nâng cao được hiệu quả của hoạt động du lịch một mặt đảm bảo lợi ích của cácchủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch, mặt khác đảm bảo quyền lợi của khách dulịch cũng như lợi ích chung của quốc gia, của dân tộc.

Tiểu kết chương Thứ nhất, du lịch có ý nghĩa lớn trong việc phát triển kinh tế, đời sống,

xã hội Từ việc phân tích, đánh giá, đặc điểm, yếu tố ảnh hưởng, rủi ro của hoạtđộng kinh doanh dịch vụ du lịch, qua đó nhìn nhận việc quy định về điều kiệnkinh doanh du lịch là sự cần thiết và tất yếu khách quan

Thư hai, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thi trường đang trên đà

hội nhập quốc tế, cùng với sự phát triển vượt bậc của du lịch, đòi hỏi các quyđịnh pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch cũng từng bước pháttriển với xu hướng mở rộng hành lang pháp lý để các chủ thể kinh doanh khácnhau có thể gia nhập thị trường Bên cạnh đó, Luận văn cũng đã nêu ra nhữngđiều kiện đăng kí kinh doanh du lịch theo pháp luật Việt Nam hiện hành Với sự

ra đời của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2014, Luật Du lịch năm 2017

đã có nhiều điểm mới, quy định chi tiết và phù hợp với xu thế phát triển Sựthay đổi các quy định của pháp luật không chỉ là sự kế thừa những quy định cũ

mà còn phát triển theo hướng thông thoáng hơn, tạo điều kiện cho môi trườngcạnh tranh lành mạnh giữa các cá nhân, tổ chức, mang lại hiệu quả kinh tế caocho đất nước

Trang 28

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH

VỀ DU LỊCH VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

2.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển pháp luật du lịch Việt Nam

Ngành Du lịch tại Việt Nam chính thức có mặt khi Quốc trưởng Bảo Đạicho lập Sở Du lịch Quốc gia ngày 05/06/1951 Chuyển tiếp sang thời kỳ ViệtNam Cộng hòa, Nha Quốc gia Du lịch điều hành việc phát triển các tiện nghi dulịch trong nước ở phía nam vĩ tuyến 17 cùng tăng cường hợp tác quốc tế nhưviệc gửi phái đoàn tham dự Hội nghị Du lịch Quốc tế ở Brussel năm 1958

Đối với miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì ngày thành lập ngành Dulịch Việt Nam được tính là ngày 09/07/1960

Du lịch Việt Nam ra đời và bắt đầu sự nghiệp của mình từ hai bàn taytrắng với đúng nghĩa của nó, khi đội ngũ cán bộ thiếu kinh nghiệm về quản lý vàkinh doanh du lịch; cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gần như con số không với 9khách sạn, 152 buồng nằm rải rác ở các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng vàQuảng Ninh Chính vì vậy, trong giai đoạn 10 năm đầu tiên sau khi được thànhlập, Du lịch Việt Nam đã tập trung mọi nguồn lực cho sự hình thành ngành với

vị thế của một ngành kinh tế cùng với việc khẩn trương xây dựng cơ sở vật chất

kỹ thuật du lịch để phục vụ yêu cầu hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước.Trước yêu cầu thực tế về sự phát triển của một ngành, ngày 18/08/1969, Hộiđồng Chính phủ đã ra Nghị định số145/CP chuyển giao Công ty Du lịch ViệtNam từ Bộ Ngoại thương sang trực thuộc Phủ Thủ tướng để phát huy năng lựcđộc lập

Giai đoạn 1971 – 1978 là thời kì hoạt động du lịch được mở rộng với việc

bổ sung một số khách sạn như Thống Nhất, Hòa Bình (Hà Nội) từ ngành giao tế,chuyên gia, nội thương sang cho ngành Du lịch quản lý và hình thành mạng lưới

Trang 29

các công ty du lịch ở một số địa phương trong cả nước như TP Hồ Chí Minh,Huế, Nha Trang… trực thuộc UBND các địa phương.

Có thể nói, đây là giai đoạn “tập dượt” của Du lịch Việt Nam để bước vàohoạt động kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh du lịch quốc tế một cách bài bản.Tuy còn hạn chế về mặt quản lý nhà nước, nhưng đây là giai đoạn quan trọng đểngành Du lịch có được cái nhìn đầy đủ hơn về bản chất kinh doanh du lịch, vềtính liên ngành trong hoạt động kinh doanh du lịch và sự kết hợp giữa mở rộngkinh doanh du lịch với bảo đảm an ninh quốc phòng như một nguyên tắc hoạtđộng của ngành, đặc biệt trong tiếp cận với kinh doanh du lịch quốc tế

Ngày 27/6/1978, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 262/NQ-QH-K6 về việc thành lập Tổng cục Du lịch Việt Nam theo Tờ trình của BộCông an, kết thúc giai đoạn lịch sử 18 năm xây dựng đội ngũ và cơ sở vật chất - kỹthuật Ngành, “tập dượt” kinh doanh du lịch và mở ra giai đoạn phát triển mới củangành Du lịch với sự ra đời của tổ chức quản lý nhà nước về du lịch

Giai đoạn 1979 -1991: Tổng cục Du lịch thực hiện hai chức năng là quản

lý nhà nước và quản lý trực tiếp chỉ đạo hoạt động kinh doanh du lịch đối vớimột số công ty trực thuộc như: Công ty Du lịch Hà Nội, Hải Phòng, QuảngNinh, Tam Đảo, Cửa Lò, Quảng Nam - Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Du lịch Dầu khíVũng Tàu (OSC) Tuy nhiên, cả hai chức năng này đều rất hạn chế, chưa có đủđiều kiện để phát triển

Trong bối cảnh thực hiện chủ trương rút gọn đầu mối quản lý nhà nước,ngày 31/3/1990 Hội đồng Nhà nước (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định

số 244/HĐNN8 về việc thành lập Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịchtrên cơ sở Bộ Văn hóa, Bộ Thông tin, Tổng cục Thể thao và Tổng cục Du lịch.Đây là lần đầu việc thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về du lịch được triểnkhai trong một Bộ đa ngành

Tuy nhiên, chỉ sau 1 năm hoạt động, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 9 (từ 27/7 - 12/8/1991) đã ban hành Nghị quyết chuyển chức năng quản lý nhà

Trang 30

nước về du lịch và đổi tên một số Bộ, theo đó chức năng quản lý nhà nước về dulịch được chuyển sang Bộ Thương mại và đổi tên Bộ Thương mại thành BộThương mại - Du lịch.

Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, để tăng cường hiệu lực quản lý nhànước về du lịch, tạo điều kiện cho du lịch phát triển với đầy đủ vị thế của mộtngành kinh tế mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao đem lại cơ hộiphát triển cho nhiều thành phần kinh tế, ngày 26/10/1992, Chính phủ đã có banhành Nghị định số 05/CP về việc thành lập Tổng cục Du lịch trên cơ sở bộ máycủa Tổng cục Du lịch cũ và Cục Chuyên gia

Giai đoạn 1992 - 2006: Du lịch có bước phát triển mạnh mẽ với vị thế củamột ngành kinh tế

Từ năm 1990, với chính sách mở cửa và hội nhập của Đảng và Nhà nước,đất nước đã chuyển mình bước vào giai đoạn phát triển mới.Đây là cơ hội để dulịch phát triển với đúng tư cách là một ngành kinh tế khác với những gì mà ởthời kỳ trước đó khi hoạt động du lịch chỉ mang tính chất phục vụ yêu cầu đốingoại của Đảng và Nhà nước trong cơ chế bao cấp

Cùng với chính sách mở cửa và hội nhập của đất nước, nhận thức về dulịch đã có những thay đổi căn bản Vai trò ngành kinh tế mũi nhọn của du lịchluôn được thể hiện trong văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng lần VII, VIII và IX.Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định đẩy mạnh phát triển du lịch, tạobước đột phá để phát triển vượt bậc khu vực dịch vụ, góp phần thực hiện mụctiêu đưa Việt Nam sớm thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển

Quan điểm của Đảng đối với phát triển du lịch được cụ thể hóa trong giai

đoạn phát triển mới, theo đó du lịch được khẳng định là “ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước” (Nghị quyết 45/CP ngày 22/6/1993) và “phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa,…góp phần thực hiện

Trang 31

chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước” (Chỉ thị 46/CT/TW ngày

14/10/1994 của Ban Bí thư TW Đảng) [1]

Cùng với việc lập lại Tổng cục Du lịch năm 1992, chỉ trong thời gian ngắn

hệ thống tổ chức quản lý nhà nước ở các địa phương đã được hoàn thiện, trong

đó có 14 địa phương thành lập Sở Du lịch là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,

Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam - ĐàNẵng, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Lâm Đồng, Cần Thơ và TP Hồ ChíMinh

Cũng trong giai đoạn này, Luật Du lịch đã được xây dựng và được Quốchội khóa XI thông qua ngày 14/6/2005 tại kỳ họp thứ 7 và chính thức có hiệulực từ 1/1/2006 Đây là sự kiện đặc biệt quan trọng đối với phát triển của Dulịch Việt Nam bởi sau 45 năm xây dựng và phát triển ngành Du lịch mới cóđược khung pháp lý đầu tiên cho hoạt động của Ngành

Cùng với Luật Du lịch, nhiều chính sách hỗ trợ phát triển du lịch đã đượcxây dựng và ban hành, trong đó tiêu biểu là chương trình hỗ trợ phát triển hạtầng về du lịch Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch đã được thành lập và chínhthức hoạt động năm 1999 đã tạo sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành củaChính phủ và sự phối hợp trong hành động giữa các bộ ngành liên quan để thúcđẩy phát triển du lịch

Giai đoạn 1992 - 2006 là khoảng thời gian Du lịch Việt Nam đã khẳngđịnh được vai trò của ngành kinh tế với việc lần đầu tiên trong lịch sử phát triểnNgành là đã xây dựng được Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịchViệt Nam với tư cách là công cụ quản lý ngành quan trọng Trên cơ sở Chiếnlược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam, quy hoạch các vùng dulịch, các trung tâm du lịch, quy hoạch phát triển du lịch các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương đã được thực hiện một cách có hệ thống trên phạm vi toànquốc

Trang 32

Những yếu tố trên đây cùng với việc thành lập lại Tổng cục Du lịch đã tạo

cơ hội để ngành Du lịch tự khẳng định được mình và mở ra thời kỳ phát triển

“bùng nổ” du lịch ở Việt Nam với mức tăng trưởng bình quân năm cao trên haicon số Sự phát triển du lịch Việt Nam ở thời kỳ này đã được Tổ chức Du lịchThế giới (UNWTO) ghi nhận và xếp Việt Nam vào danh sách một trong 7 quốcgia có mức tăng trưởng cao nhất trên thế giới Nếu lấy năm 1990 (khởi đầu thời

kỳ đổi mới) dấu mốc lần đầu tiên phát động Năm Du lịch Việt Nam với 250.000lượt khách quốc tế thì đến năm 2007, Việt Nam đã đón được 4,2 triệu, tăng trên16,8 lần trong 15 năm Khách du lịch nội địa cũng tăng mạnh liên tục trong suốtgiai đoạn vừa qua, từ 1,0 triệu lượt năm 1990 đến 2007 đạt con số 19,2 triệulượt Sự tăng trưởng không ngừng về khách du lịch đã thúc đẩy mở rộng quy môhoạt động của Du lịch Việt Nam trên mọi lĩnh vực

Những kết quả đạt được của Ngành trong giai đoạn phát triển này về tổchức quản lý, về xây dựng chiến lược, quy hoạch và chính sách, về phát triểnđội ngũ, về mở rộng thị trường và hội nhập có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạonền tảng cho Du lịch Việt Nam tự tin phát triển trong những giai đoạn tiếp theo.Giai đoạn 2007- 2015: Đẩy mạnh phát triển với yêu cầu hội nhập Năm

2007, trong bối cảnh hệ thống quản lý nhà nước được sắp xếp lại theo hướng lậpcác bộ đa ngành, Tổng cục Du lịch đã sáp nhập vào Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch (gồm 3 ngành văn hóa, thể thao và du lịch) Hệ thống quản lý nhà nước

về du lịch ở các địa phương cũng được sắp xếp lại Giai đoạn này phát triểntrong bối cảnh du lịch khu vực và thế giới chịu tác động của khủng hoảng kinh

tế toàn cầu, tác động của xung đột chính trị ở một số khu vực và quốc gia, trong

đó có vấn đề xung đột ở biển Đông, Du lịch Việt Nam vẫn tiếp tục chủ độngthực hiện tốt chức năng quản nhà nước về du lịch với việc xây dựng Chiến lược

và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ phát triển mới đếnnăm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; tiếp tục triển khai

Trang 33

Chương trình Hành động quốc gia về du lịch, Chương trình Xúc tiến du lịchquốc gia, tham mưu với Bộ VHTTDL và Chính phủ ban hành các chính sáchnhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh phát triển du lịch trong giaiđoạn mới mà tiêu biểu là việc Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 92/NQ-CPngày 8/12/2014 về “Một số giải pháp phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳmới”.

Có thể nói, ngành Du lịch trong giai đoạn này phát triển mạnh mẽ và đạtnhiều thành quả mang tính chất toàn diện, sâu sắc và chuyên nghiệp, khẳng địnhvai trò là một ngành kinh tế quan trọng của đất nước Tốc độ tăng trưởng kháchnăm này, năm khác có thể chững lại, nhưng tốc độ phát tăng trưởng khách ở giaiđoạn này luôn đạt nhịp độ 2 con số: 5,049 triệu lượt năm 2010, đến năm 2014đón xấp xỉ 8 triệu lượt khách quốc tế, tổng thu từ du lịch đạt 230 ngàn tỷ đồng

Về khách nội địa, năm 2010 phục vụ 28 triệu lượt và năm 2014 đạt gần 38 triệulượt

Hoạt động du lịch khởi sắc với hàng nghìn doanh nghiệp kinh doanh lữhành quốc tế và hàng chục nghìn doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa; độingũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên có nhiều ngoại ngữ khác nhau từng bướcđảm nhận tốt vai trò hướng dẫn, giới thiệu khi du khách đến Việt Nam Đầu tưnước ngoài vào du lịch thời kỳ này có hàng trăm dự án với số vốn lên đến hàngchục tỷ USD, trong đó đầu tư vào các khu nghỉ dưỡng, khách sạn hiện đang làlĩnh vực “nóng”, đặc biệt là tại các địa bàn trọng điểm như Hạ Long, Đà Nẵng,Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Ninh Bình, Phú Quốc, Hải Phòng, Côn Đảo, NhaTrang, Phan Thiết, Vũng Tàu, Đà Lạt… Các dự án đầu tư không chỉ có mặt ở đôthị mà còn ở các vùng biển, vùng núi, với nhiều hình thức đa dạng Nhiều địaphương đã lựa chọn cho mình các hình thức xúc tiến quảng bá mang dấu ấnriêng như Festival Huế, Festival hoa Đà Lạt, Carnaval Hạ Long, cuộc thi bắnpháo hoa quốc tế Đà Nẵng…

Trang 34

Cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống giao thông, phương tiện giao thông đượccải thiện đáng kể và phát triển ngày càng đa dạng Đặc biệt, hệ thống cơ sở lưutrú gần như bùng nổ, tính đến hết 6/2015, cả nước có 18.600 cơ sở lưu trú dulịch với 355.000 buồng, trong đó có 668 khách sạn từ 3-5 sao với 68.520 buồng.Điều đáng tự hào là tiêu chuẩn, chất lượng phục vụ tại các khách sạn 4-5 sao tạiViệt Nam được đánh giá ngang bằng với các khách sạn 4-5 sao trên thế giới.Bởi thế, không lạ khi ngày càng có nhiều khách sạn, khu nghỉ dưỡng ở ViệtNam được các tổ chức, báo chí nước ngoài vinh danh trong top đầu thế giới.

Hoạt động du lịch đem lại nguồn thu đáng kể, đến năm 2014 Du lịch ViệtNam thu được 230 nghìn tỷ đồng, đóng góp đáng kể vào cơ cấu nền kinh tế đấtnước: nếu như năm 2000 Du lịch Việt Nam đóng góp 3,26% vào GDP cả nướcthì đến năm 2014 đã chiếm tới 6%

Lực lượng lao động du lịch tăng tương đối nhanh cả về số lượng và chấtlượng Đến năm 2014, đã có 1,97 triệu lao động trực tiếp và gián tiếp làm việctrong ngành Du lịch, chiếm 3,8% tổng số lao động trong toàn quốc Trình độchuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ lao động không ngừng được nâng cao, đặcbiệt các cơ sở đào tạo có sự phát triển rất mạnh mẽ: nếu như trước năm 2000 có

2 trường đào tạo du lịch thì đến nay gần như các trọng điểm đều có trường đàotạo về du lịch hoặc là các khoa đào tạo về du lịch Hiện nay, nhiều trường đạihọc nước ta đã đào tạo cán bộ cao cấp về mặt du lịch, vì thế đội ngũ nhân viênqua đào tạo không ngừng tăng lên và chất lượng đào tạo có những bước tiến bộđáng kể

Hợp tác quốc tế về du lịch biểu thị sự hội nhập rất tích cực thông qua việctham gia các tổ chức thế giới như UNWTO, ASEAN, PATA, APEC, GMS,ACMECS… và ký kết điều ước, thỏa thuận quốc tế về du lịch với 76 quốc gia

và vùng lãnh thổ Các doanh nghiệp du lịch Việt Nam đã có mối quan hệ bạnhàng với khoảng 1500 doanh nghiệp trên thế giới ở hàng trăm quốc

Trang 35

gia, vùng lãnh thổ Du lịch Việt Nam cũng đã tranh thủ được nhiều nguồn vốn

hỗ trợ của các tổ chức quốc tế về kinh phí và chuyên gia như Liên minh EU,Luxembourg, Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), Bỉ, Tây Ban Nha…

Giai đoạn phát triển này của Du lịch Việt Nam cũng ghi nhận vai trò củadoanh nghiệp du lịch với tổ chức đại diện là Hiệp hội Du lịch Việt Nam với vaitrò là một đối tác trong phát triển du lịch Điều này thể hiện sự thay đổi cơ bản

về tư duy quản lý nhà nước về du lịch, đảm bảo cho môi trường phát triển dulịch trở nên công bằng và lành mạnh hơn, phù hợp với xu thế phát triển ở cácquốc gia có ngành Du lịch phát triển

Từ giữa năm 2014 đến thời điểm này, ngành Du lịch phải đối mặt vớinhiều khó khăn thách mới đặt ra Nhưng cũng chưa bao giờ ngành Du lịch nhậnđược sự quan tâm chỉ đạo sâu sát và cụ thể của Đảng và Nhà nước như lúc này.Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 8/12/2014 của Chính phủ về một số giải phápđẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới là văn kiện có ý nghĩachiến lược, đề ra 5 nhóm giải pháp toàn diện có tính đột phá để du lịch ViệtNam huy động và kết nối các nguồn lực, vượt qua khó khăn, nâng cao năng lựccạnh tranh Tiếp theo đó, trong các phiên họp thường kì tháng 4, tháng 5/2015,Chính phủ đã quyết định những giải pháp có ý nghĩa hết sức quan trọng cụ thểhóa Nghị quyết 92 như: miễn visa cho một số thị trường trọng điểm của ViệtNam, thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch, ban hành Chỉ thị của Thủ tướngChính phủ về tăng cường quản lý nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúcđẩy phát triển du lịch, nhất là những vấn nạn đã tồn tại nhiều năm nhưng chưađược giải quyết dứt điểm

Ngày 19/06/2017, Quốc hội đã thông qua luật số 09/2017/QH14 và tớingày 01/01/2018 Luật Du lịch 2017 chính thức có hiệu lực với hy vọng tạo rađộng lực mới cho ngành Du lịch phát triển

Sau 55 năm hình thành và phát triển, Du lịch Việt Nam đã trải qua nhiềugiai đoạn thăng trầm đan xen những khó khăn - thuận lợi, cơ hội - thách thức

Trang 36

Tuy nhiên, khi nhìn vào xu thế phát triển du lịch và nhận thức xã hội, đặc biệt là

sự nhìn nhận, quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với vai trò của ngành Du lịchtrong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung và Chiến lược kinh tế đốingoại của đất nước nói riêng, sẽ thấy rõ được tương lai của ngành Du lịch vàqua đó có được niềm tin, xác định được trách nhiệm của mỗi người lao độngtrong ngành Du lịch, cho dù trên bất kỳ vị trí nào, đối với kỳ vọng của đất nước

về sự phát triển tất yếu của ngành Du lịch Việt Nam

2.2 Các quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch

Pháp luật về kinh doanh du lịch là một hệ thống tổng hợp các quy phạmpháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh doanh du lịch.Một trong những bộ phận quan trọng của pháp luật về kinh doanh du lịch là cácquy định về điều kiện kinh doanh du lịch Các quy định này được phân thànhcác nhóm chính như: điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành, điều kiện kinhdoanh dịch vụ lưu trú…

2.2.1 Điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành

Kinh doanh lữ hành (Tour operators business) là việc doanh nghiệp, tổchức, cá nhân đầu tư, thực hiện một hoặc một số hoặc tất cả công đoạn của quátrình chuyển giao từ các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chươngtrình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo, và bán các chương trình nàytrực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian tới việc tổ chức thực hiện cung ứngdịch vụ tới khách hàng Tại khoản 9, Điều 3, Luật Du lịch năm 2017 “kinhdoanh dịch vụ lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặctoàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch” Kinh doanh dịch vụ lữ hànhgồm hai loại là kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa và kinh doanh dịch vụ lữhành quốc tế Hai loại hình kinh doanh này tuy có nhiều nét tương đồng nhưngcũng có nhiều điểm khác biệt do phạm vi loại hình hoạt động khác nhau, liênquan tới yếu tố chủ quyền quốc gia lãnh thổ, do đó, pháp luật về kinh doanh dulịch cũng đặt ra 2 nhóm điều kiện kinh doanh khác nhau Cụ thể:

Trang 37

Thứ nhất, điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa bao gồm: Làdoanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp; Kýquỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa tại ngân hàng; Người phụ trách kinhdoanh dịch vụ lữ hành phải tốt nghiệp trung cấp trở lên chuyên ngành về lữhành; trường hơp tốt nghiệp trung cấp trở lên chuyên ngành khác phải có chứngchỉ nghiệp vụ điều hành du lịch nội địa (khoản 1 Điều 31 Luật Du lịch năm2017).

Thứ hai, điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế bao gồm: Là doanhnghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp; Ký quỹkinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế tại ngân hàng; Người phụ trách kinh doanhdịch vụ lữ hành phải tốt nghiệp cao đẳng trở lên chuyên ngành về lữ hành;trường hơp tốt nghiệp cao đẳng trở lên chuyên ngành khác phải có chứng chỉnghiệp vụ điều hành du lịch quốc tế (khoản 2 Điều 31 Luật Du lịch năm 2017)

Doanh nghiệp đáp ứng các điều kiện kinh doanh quy định tại khoản 1Điều này được cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa; đáp ứng cácđiều kiện kinh doanh quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật du lịch năm 2017 đượccấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế

Phí thẩm định cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế, Giấyphép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa được thực hiện theo quy định của phápluật về phí và lệ phí

Để thực hoạt động kinh doanh thì các doanh nghiệp phải tuân thủ các điềukiện kể trên và thực hiện thủ tục xin cấp phép kinh doanh dịch vụ lữ hành Cụthể:

Ngày đăng: 08/07/2019, 06:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Quốc hội (1992), Hiến pháp năm 1992 12. Quốc hội (2014), Luật Doanh nghiệp 2014 13. Quốc hội (2014), Luật đầu tư 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 1992"12. Quốc hội (2014), "Luật Doanh nghiệp 2014"13. Quốc hội (2014)
Tác giả: Quốc hội (1992), Hiến pháp năm 1992 12. Quốc hội (2014), Luật Doanh nghiệp 2014 13. Quốc hội
Năm: 2014
1. Ban Bí thư TW Đảng (1994), Chỉ thị 46/CT/TW ngày 14/10/1994 của Ban Bí thư TW Đảng Khác
2. Bộ tài chính (1993), Quyết định số 06-TC/BH về việc ban hành các quy tắc bảo hiểm khách du lịch Khác
3. Chính phủ ( 2014), Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 8/12/2014 của Chính phủ Khác
4. Chính phủ (2017), Nghị định 168/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2017 về hướng dẫn Luật Du lịch 2017 Khác
5. Chính phủ (2015), Nghị định 118/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/11/2015 về hướng dẫn Luật Đầu tư Khác
6. Chính phủ (2016), Nghị định 96/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/07/2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Khác
7. Chính phủ (2015), Nghị định 118/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/11/2015 về hướng dẫn Luật Đầu tư Khác
8. Chính phủ (2016), Nghị định 96/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/07/2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Khác
15. UBND thành phố Hà Nội (2013) Quyết đinh số 6634/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w