1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

80 117 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giống như lập luận của Santhosh Thampi, để tăng cường vai trò của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch sinh thái, vấn đề sở hữu của các cộng đồng đối với các hoạt động liên quan

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TÀO THỊ TỐ ĐIỂM

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN,

TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TÀO THỊ TỐ ĐIỂM

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Tào Thị Tố Điểm

Trang 4

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của du lịch sinh thái 8 1.2 Một số cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái19

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

DU LỊCH SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN 27

2.1 Thực trạng phát triển tiềm năng du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Nông Sơn 27 2.2 Thực trạng thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Nông Sơn 37 2.3 Nhận xét chung về thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Nông Sơn 43

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI HUYỆN NÔNG SƠN GIAI ĐOẠN 2019-2025 48

3.1 Phương hướng thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Nông Sơn 48 3.2 Những giải pháp chủ yếu thúc đẩy chính sách phát triển du lịch sinh thái

ở Nông Sơn 53

KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển mạnh của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề đô thị hóa tăng mạnh và biểu hiện quá nóng khiến con người ngày càng gia tăng nhu cầu hướng trở

về với thiên nhiên Du lịch sinh thái (DLST) hiện nay chính là sự lựa chọn đáp ứng nhu cầu này và trở thành xu hướng du lịch phổ biến trên thế giới Du khách luôn tìm

về các điểm du lịch còn lưu giữ những nét văn hoá truyền thống lâu đời, môi trường trong sạch và nhất là các cảnh quan thiên nhiên, các khu bảo tồn đa dạng sinh học Mọi miền trên đất nước ta vốn sẵn có tài nguyên thiên nhiên phong phú và văn hóa đặc sắc, trở thành là nơi có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái

Tỉnh Quảng Nam nói chung và huyện Nông Sơn nói riêng là địa bàn có địa hình và tài nguyên đa dạng và các giá trị văn hoá truyền thống phong phú Nông Sơn là một huyện thuộc khu vực trung du và miền núi, nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Nam Nơi đây tập trung nhiều nguồn tài nguyên du lịch có giá trị như: Làng Đại Bình, Nước Nóng Tây Viên, Hòn Kẽm Đá Dừng, Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Voi đã đạt đến mức độc đáo và quý hiếm

Trong nhiều năm qua, kinh tế xã hội của huyện Nông Sơn, đặc biệt là lĩnh vực

du lịch nói đã có những thành tựu đáng kể, song vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh vốn có của huyện Các chỉ tiêu về du lịch như: cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ dịch vụ du lịch còn nhỏ bé; số lượng du khách; doanh thu ngành du lịch chưa đạt chỉ tiêu vạch ra Hầu hết các hoạt động du lịch của huyện chỉ dừng lại

ở việc khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên sẵn có mà chưa có sự đầu tư để phát triển bền vững Hoạt động du lịch sinh thái tuy bước đầu đã hoạt động nhưng còn mang tính tự phát là chủ yếu, nên việc tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái đã bắt đầu bộc lộ sự yếu kém gây tác động xấu đến cảnh quan, môi trường Trong khi việc ban hành và triển khai một số chính sách liên quan đến lĩnh vực du lịch còn chậm trễ, chưa bao quát; vẫn còn tình trạng chồng chéo giữa một số chính sách liên quan đến lĩnh vực này; chưa tiến hành khảo sát kỹ lưỡng và toàn diện về tài nguyên du lịch tự nhiên cũng như các điều kiện khác để phát triển du lịch sinh thái, dẫn đến

Trang 6

thiếu quy hoạch, chiến lược phát triển… Hơn nữa, năng lực thực thi chính sách phát triển du lịch sinh thái của huyện còn yếu, mà biểu hiện ra là các cấp, các ngành, đơn

vị, cá nhân làm du lịch chưa thật sự hiểu rõ về du lịch sinh thái và những lợi ích mà

nó mang lại, nên không chú trọng đầu tư (cả về cơ sở hạ tầng, nhân lực và kiến thức khoa học) Hiện trạng này làm cho quá trình thực thi chính sách phát triển du lịch sinh thái của Nông Sơn chưa đáp ứng sự mong đợi, nên chưa khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh sẵn có về phát triển du lịch sinh thái để đáp ứng được yêu cầu phát triển mới của huyện Nông Sơn

Với lý do trên, việc nghiên cứu đề xuất những giải pháp để phát triển du lịch sinh thái là cần thiết, không chỉ với lý luận mà còn có giá trị thực tiễn cao Do vậy

tác giả chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ chuyên

ngành Chính sách công của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Ngay từ khi xuất hiện như một loại hình du lịch mới, du lịch sinh thái đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới Chỉ trong khoảng 2 thập kỉ từ khi loại hình du lịch này xuất hiện, đã có hàng trăm bài viết được xuất bản về chủ đề này Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi chỉ điểm lược một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, có ý nghĩa về mặt phương pháp luận cho luân văn

Một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề này là nghiên cứu của Santhosh Thampi (2001) Theo tác giả, du lịch sinh thái xuất hiện như một cứu cánh để 'hoà giải" giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển sinh thái ở những khu vực giàu có về nguồn tài nguyên thiên nhiên Tác giả cho rằng du lich sinh thái bao gộp trong nó nhiều cấu phần để có thể tạo ra tiềm năng cho sự sự phát triển bền vững Để giảm thiểu sự mất cân bằng trong phân chia lợi nhuận, một vấn

đề phổ biến ở các loại hình du lịch khác, thì vấn đề quan trọng là gia tăng sự sở hữu của các cộng đồng địa phương đối với tài nguyên và với các hoạt động kinh doanh

du lịch Thêm vào đó, vấn đề này còn có thể được giải quyết thông qua việc sừ dụng

Trang 7

nguồn nhân lực địa phương trong các hoạt động du lịch, bao gồm cả việc xây dựng

cơ sở hạ tầng cho đến nhân cộng làm các dịch vụ liên quan Điều này cũng đồng nghĩa với sự loại bỏ hoàn toàn việc chỉ giao các hoạt động liên quan đến du lịch sinh thái cho các nhà đầu tư đến từ bên ngoài

Bijender Punia (1999) trong nghiên cứu của mình có tiêu đề "Vấn đề và triển vọng của du lịch ở Haryana’ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các thành tố cho phát triển du lịch sinh thái như khí hậu, cảnh quan, khá năng tiếp cận địa bàn, thái

độ của các cộng đồng chủ nhân, sự sẵn có của nguồn lực con người cũng như các kế hoạch khả thi của các nhà hoạch định chính sách Theo tác giả, các yếu tố này có vị thế quan trọng như nhau trong việc hình thành nên một mô hình du lịch sinh thái bền vững mà ở đó, cả vấn đề phát triển kinh tế địa phương lẫn vấn đề bảo tồn thiên nhiên được đảm bảo Trong khi đó, Aga Iqrar Haroon (1999) nhấn mạnh tầm quan trọng của các cộng đồng địa phương Theo tác giả, du lịch sinh thái sẽ không có ý nghĩa nếu không có vai trò của các cộng đồng này Giống như lập luận của Santhosh Thampi, để tăng cường vai trò của cộng đồng địa phương trong phát triển

du lịch sinh thái, vấn đề sở hữu của các cộng đồng đối với các hoạt động liên quan đến mô hình du lịch này phải được đặt lên hàng đầu

Một khía cạnh quan trọng khác đối với sự phát triển bền vững của du lịch sinh thái được các nhà nghiên cứu quan tâm là vấn đề quản lý và luật lệ Theo Jacobson,

và các cộng sự (1998, để vấn đề bảo tồn thiên nhiên được đảm bảo, đặc biệt là ở những địa bàn có sự phát triển mạnh của loại hình du lịch này, các quy định, chế tài

về vai trò và trách nhiệm của các công ty tổ chức triển khai hoạt động du lịch sinh thái phải được thực hiện một cách bài bản và chặt chẽ Một trong những gợi ý có tính khả thi liên quan đến việc thúc đẩy trách nhiệm của các tổ chức khai thách du lịch sinh thái là việc đánh giá mức độ tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường của các tổ chức có liên quan Chẳng hạn, có thể công khai cho công chúng biết tên các cộng ty, khách sạn, tổ chức tuân thủ tốt hoặc không tốt các quy định do các nhà chức trách đặt ra Đây được coi là cách làm hữu hiệu bởi nó đánh vào vấn đề thương hiệu của các tổ chức Ngoài vấn đề về bảo vệ môi trường, sự đóng góp của

Trang 8

các tổ chức, công ty đối với cộng đồng chủ nhân cũng nên được kiểm soát, đánh giá định kỳ và sau đó là công khai để khách du lịch có thông tin trong việc lựa chọn công ty, tổ chức du lịch nào phù hợp Để thúc đẩy vai trò và trách nhiệm trong bảo

vệ môi trường và đóng góp vào sự phát triển kinh tế địa phương, một vài quốc gia

đã vận hành hệ thống "Giẩy chứng nhận du lịch sinh thái" Ví dụ, ở Costa Rica, chứng chỉ "Du lịch sinh thái bền vững" (CST) sẽ được cấp cho các công ty làm tổt việc bảo vệ môi trường và đóng góp vào sự phát triển kinh tế cho các cộng đồng sở tại Loại chứng chỉ này tập trung đánh giá sự tương tác giữa công ty và các nguồn lực văn hoá và tự nhiên, đánh giá sự đóng góp vào việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho các cộng đồng và trong một cộng đồng cũng như đánh giá mức độ đóng góp của công ty đó cho sự phát triên kinh tế của vùng và quốc gia nói chung CST cũng đánh giá mức độ một công ty du lịch đóng góp vào việc giáo dục về ý nghĩa của thiên nhiên cho khách du lịch của họ

Ở Việt Nam, Du lịch sinh thái cũng được một số nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu đó là:

- Đề tài khoa học năm 2012 “Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch cộng

đồng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” của tác giả Chu Thị Thanh Hiền Đề tài này đã

nghiên cứu những điều kiện về xây dựng và phát triển du lịch cộng đồng, trên cơ sở

đó tìm hiểu và đánh giá khái quát về hiện trạng và tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng ở tỉnh Phú Thọ; phân tích mặt thuận lợi và thách thức trong quá trình thực hiện du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh và hiệu quả của nó về kinh tế xã hội mang lại Đây là luận cứ mà đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác, phát huy tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng ở tỉnh Phú Thọ Dù vậy, đề tài này vẫn chưa đưa

ra được các giải pháp chiến lược và cụ thể nhằm phát huy tiềm năng du lịch cộng đồng

- Đề tài khoa học năm 2012 “Nghiên cứu, kết nối du lịch Phú Thọ với các

tuyến du lịch vùng Tây Bắc mở rộng” của tác giả Phùng Quốc Việt Đề tài nghiên

cứu này đã góp phần chỉ ra cơ sở lí luận và thực tiễn về du lịch và du lịch liên vùng, phân tích thực trạng du lịch của tỉnh Phú Thọ và vùng Tây Bắc mở rộng (Điện Biên,

Trang 9

Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Hòa Bình, Lào Cai và Hà Giang), đề xuất một số định hướng và các giải pháp thúc đẩy du lịch tỉnh Phú Thọ kết nối với du lịch vùng Tây Bắc mở rộng; thiết kế bản đồ các tuyến giao thông kết nối (đường bộ, đường thủy, đường hàng không, đường sắt) Tuy vậy, kết quả đề tài này còn chưa đánh giá được

cụ thể về mặt hạn chế, tồn tại trong phát triển du lịch địa bàn tỉnh Phú Thọ và các tỉnh Tây Bắc, nhằm đề xuất giải pháp khắc phục để phát triển du lịch bền vững

- Trần Đức Thanh, “Cơ sở khoa học trong việc thành lập các bản đồ phục vụ

quy hoạch du lịch cấp tỉnh ở Việt Nam (Lấy ví dụ ở Ninh Bình)” Luận án PTS, Hà

Nội 1995- 170 trang

- Vũ Tuấn Cảnh (Chủ trì) “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” Đề tài nghiên

cứu khoa học cấp nhà nước 1998-2000 (Tài liệu lưu trữ tại viện nghiên cứu phát triển du lịch Tổng cục du lịch Việt Nam.)

- Trần Quốc Nhật, “Quản lý nhà nước về du lịch trong giai đoạn phát triển

mới của nền kinh tế Việt Nam”, luận án thạc sỹ kinh tế,1996

- Lê Thạc Cán “Đánh giá tác động môi trường - phương pháp luận, kinh

nghiệm thực tiễn.” Nxb KH và KT, Hà Nội 1994

- Phạm Trung Lương “Đánh giá tác động môi trường trong phát triển du lịch

của Việt Nam” Tuyển tập báo cáo hội thảo lần thứ nhất về “đánh giá tác động môi trường” Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, Hà nội 6-7/6/1997

- Phan Trung Lương, “Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái Việt Nam.”

Báo cáo đề tài khoa học cấp ngành, Hà Nội, 1998

- Tổng cục du lịch Việt Nam “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai

đoạn 2001-2010” tháng 10/2001

- Và một số công trình khoa học, bài viết khác

Nhìn chung các công trình nghiên cứu và các bài viết trên chỉ đề cập đến vấn

đề du lịch dưới các góc độ và phạm vi rộng hẹp khác nhau Chưa có công trình nào

đi sâu nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về phát triển du lịch sinh thái ở Nông

Sơn Đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” không trùng lắp với bất cứ luận văn hoặc đề

Trang 10

tài khoa học nào đã công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Lập luận cứ khoa học và đề xuất những phương hướng và các giải pháp chủ yếu thúc đẩy chính sách phát triển du lịch sinh thái ở Nông Sơn tương xứng với tiềm năng sẵn có của huyện

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái

- Nghiên cứu làm rõ thực tiễn thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái

ở Nông Sơn, tìm hiểu những hạn chế còn tồn tại cần giải quyết

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp thúc đẩy chính sách phát triển du lịch sinh thái ở Nông Sơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2015 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính, bao gồm: Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu, phương pháp điền dã

và phương pháp đánh giá

Phương pháp phân tích và tổng hợp, được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các đề tài nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức, người dân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề thực hiện chính sách phát triển, khai thác tiềm năng du lịch sinh thái, tâm linh huyện Nông Sơn Đồng thời, thu thập các các số liệu của các tổ chức liên quan đến đề tài trong thời gian qua

Phương pháp khảo sát thực địa: Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi

Trang 11

đã tiến hành điều tra nhu cầu về du lịch sinh thái tại Nông Sơn của khách du lịch nội địa, cũng như các nhà quản lý và thực thi chính sách ở địa bàn Ngoài ra chúng tôi cũng phỏng vấn một số người dân bản địa về khả năng cũng như nhu cầu tham gia vào các chương trình, dự án du lịch sinh thái tại cơ sở

Phương pháp đánh giá: Đề tài đã sử dụng phương pháp chính sách công, văn hóa học; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích tổng hợp và phương pháp tổng kết thực tiễn để đánh giá phát triển du lịch sinh thái là ngành kinh tế mũi nhọn trên địa bàn huyện Nông Sơn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Về mặt khoa học, cung cấp thêm một nghiên cứu trường hợp về các vấn đề liên quan đến sự phát triển của du lịch sinh thái, ở cả khía cạnh quản lý, vận hành và tính bền vững của nó, các chủ đề được thảo luận rộng rãi trong các nghiên cứu gần đây trên thế giới Kết quả nghiên cứu của luận văn, về ý nghĩa thực tiễn, cung cấp

cơ sở khoa học giúp tìm hiểu về các dịch vụ du lịch sinh thái, chất lượng các dịch

vụ du lịch sinh thái ở khu du lịch Nông Sơn, với những thuận lợi và hạn chế Trên

cơ sở đó, đề ra những giải pháp để phát huy những lợi thế, khắc phục khó khăn trong dịch vụ du lịch và chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái góp phần thúc đẩy khu

du lịch sinh thái Nông Sơn hoạt động chuyên nghiệp, toàn diện và phát triển được bền vững, lâu dài

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái

Chương 2: Thực tiễn thực hiện chính sách du lịch sinh thái của huyện Nông Sơn thời gian qua

Chương 3: Đề xuất các giải pháp thúc đẩy chính sách phát triển du lịch sinh thái huyện Nông Sơn giai đoạn 2019- 2025

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DU LỊCH SINH THÁI

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của du lịch sinh thái

1.1.1 Khái niệm du lịch sinh thái

Cho đến nay, du lịch sinh thái đã và đang phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới và ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp xã hội, đặc biệt là đối với những người có nhu cầu tham quan du lịch và nghỉ ngơi Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và văn hóa cộng đồng, sự phát triển du lịch sinh thái đã và đang mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập quốc gia và thu nhập cho cộng đồng dân cư địa phương, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, nơi có cảnh quan thiên nhiên, văn hóa hấp dẫn Mặt khác, DLST còn góp phần vào việc nâng cao dân trí và sức khoẻ cộng đồng thông qua giáo dục môi trường, văn hóa, lịch sử và nghỉ ngơi giải trí Là loại hình du lịch có xu thế phát triển nhanh trên phạm vi toàn thế giới, DLST ngày càng nhận được sự quan tâm của nhiều người, nhiều quốc gia, bởi đây là loại hình du lịch có trách nhiệm, có ảnh hưởng lớn đến việc “xanh hoá” ngành du lịch thông qua các hoạt động nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, phát triển phúc lợi cộng đồng và đảm bảo cho sự phát triển bền vững

Do tạo được sự quan tâm của xã hội nên nhiều tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu về loại hình du lịch này Mỗi tổ chức, cá nhân khi nghiên cứu đều đưa ra những định nghĩa của riêng mình:

- Một trong những định nghĩa được coi là sớm về du lịch sinh thái mà đến nay vẫn được nhiều người quan tâm là định nghĩa của Hội Du lịch Sinh thái Quốc tế đưa

ra năm 1991: “Du lịch Sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với các vùng

tự nhiên, bảo vệ môi trường và duy trì cuộc sống yên bình của người dân địa phương” [6, tr.11]

Định nghĩa nhấn mạnh đến trách nhiệm của du khách đối với khu vực mà họ

Trang 13

đến thăm đó là trách nhiệm giữ gìn, tôn tạo, tránh sự ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên, hệ sinh thái và cả cuộc sống của cư dân địa phương

- Theo quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF - World Wild Fund): "Du lịch sinh thái đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới các khu vực thiên nhiên hoang dã, gây tác động tối thiểu tới môi trường tự nhiên và cuộc sống của các loài động thực vật hoang dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương và

những người bản địa phục vụ tại đó" [6, tr.11]

Ở định nghĩa này cũng đề cập đến địa điểm có thể tổ chức các tuor du lịch sinh thái, đó là các khu vực tự nhiên hoang dã, và điều quan trọng là giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên và đặc biệt là mang lại những lợi ích kinh

tế cho cộng cư dân địa phương và những người bản địa làm việc trực tiếp trong ngành du lịch

- Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO - World Tourism Organisation): Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu vực đó, giúp giảm thiểu và tránh được các tác động tiêu cực tới khu vực mà du khách đến thăm Ngoài ra, DLST phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối với người dân bản địa và du khách đến thăm [6, tr.11]

Có thể nói, đây là một định nghĩa đầy đủ nhất nội dung cũng như những đặc điểm của DLST, đó là địa điểm để tổ chức được một tuor du lịch, mục đích chuyến

đi của du khách đặc biệt là việc giáo dục và nâng cao nhận thức cho du khách cùng với nó là trách nhiệm của các tổ chức cũng như du khách trong việc bảo tồn giữ gìn môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá để đảm bảo cho sự phát triển bền vững

ở những nơi mà du khách tới tham quan

Tại hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST tháng 9-1999 tại Hà Nội: "Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự

Trang 14

tham gia tích cực của cộng đồng địa phương" [36, tr ]

Có thể nói, đây là một định nghĩa đầu tiên của Việt Nam về du lịch sinh thái, mang đầy đủ những ý nghĩa và nội dung của loại hình du lịch này Đây được coi là

cơ sở lý luận cho các nghiên cứu và ứng dụng thực tế việc phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam

Mặc dù có thể có sự khác nhau về diễn đạt và cách thể hiện nhưng trong các định nghĩa về DLST đều có sự thống nhất cao về nội dung ở bốn điểm:

Thứ nhất, phải được thực hiện trong môi trường tự nhiên còn hoang sơ hoặc tương đối hoang sơ gắn với văn hoá bản địa

Thứ hai, có khả năng hỗ trợ tích cực cho công tác bảo tồn các đặc tính tự nhiên, văn hoá và xã hội

Thứ ba, có tính giáo dục môi trường cao và có trách nhiệm với môi trường

Thứ tư, phải mang lại lợi ích cho cư dân địa phương và có sự tham gia của cộng đồng cư dân địa phương

Ngày nay, người ra rất hay sử dụng thuật ngữ du lịch sinh thái để giới thiệu, quảng bá cho các điểm du lịch, tuor du lịch, bởi vậy khi xem xét, đánh giá chúng ta cần phải dựa vào các đặc trưng của mỗi loại hình du lịch để có thể phân biệt đúng

về hoạt động du lịch đó là du lịch sinh thái hay là du lịch dựa vào thiên nhiên vì các

loại hình này có hình thức tương đối giống nhau, nếu không hiểu rõ bản chất người

ta sẽ dễ bị nhầm lẫn

1.1.2 Phân biệt du lịch sinh thái với một số loại hình du lịch tương tự

* Phân biệt DLST với du lịch tự nhiên (nature tourism):

Du lịch tự nhiên, theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) là loại hình du lịch với

động cơ chính của khách du lịch là quan sát và cảm thụ tự nhiên Trong khi DLST đòi hỏi tính trách nhiệm cao đối với môi trường và cộng đồng cư dân địa phương

* Phân biệt DLST với du lịch mạo hiểm (adventure tourism):

Theo tổ chức du lịch Quebec (Canada): Du lịch mạo hiểm là hoạt động thể

chất ngoài trời hoặc các hoạt động kết hợp diễn ra tại một khu vực tự nhiên nhất định (khu vực hoang dã, tách biệt hoặc đặc thù…) Những hoạt động này thường có

Trang 15

tính mạo hiểm và mức độ rủi ro tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường Loại hình du lịch mạo hiểm để chứng tỏ khả năng chinh phục tự nhiên của con người, nên nó hoàn toàn khác với DLST Vì DLST đi tìm sự hoà hợp, cùng chung sống hài hoà giữa con người với thiên nhiên

* Phân biệt DLST với các loại hình du lịch có chọn lựa (alternative tourism):

Du lịch có chọn lựa nhằm thúc đẩy sự trao đổi thông qua du lịch giữa các thành viên của các cộng đồng khác nhau Nó tìm kiếm sự hiểu biết, gắn kết và bình đẳng giữa các thành viên tham gia trong đó Các loại hình du lịch lựa chọn ra đời một mặt nhằm thoả mãn đúng hơn các mong muốn của người tiêu dùng du lịch Với

ý nghĩa này, DLST thực chất là một trong những loại hình du lịch lựa chọn

1.1.3 Đặc điểm của du lịch sinh thái

Thứ nhất, DLST được thực hiện tại những nơi hoang sơ hoặc tương đối hoang

sơ và có môi trường tự nhiên đa dạng phong phú

Những nơi có môi trường tự nhiên đa dạng phong phú gắn với bề dày thời gian về sự hình thành và phát triển của các hệ động thực vật và con người Để có thể làm được DLST phải là nơi có tài nguyên tự nhiên dồi dào, mà cụ thể là các hệ sinh thái được làm giàu bởi rất nhiều các loài động thực vật khác nhau Những yếu

tố từ cây cối, nguồn nước, bầu khí quyển, đất đai cũng được tính đến Điểm chú ý là môi trường tự nhiên còn tương đối nguyên sơ, chưa bị hoặc ít bị can thiệp bởi con người và chúng được hiện hữu dưới hình thức là các vườn quốc gia, các khu dự trữ thiên nhiên hay các khu vực văn hóa lịch sử có gắn với không gian và tài nguyên thiên nhiên phong phú Trong DLST đề ra một nguyên tắc bất dịch: “hãy để thiên nhiên như nó vốn đã thế”, đó là quyết định thông minh nhất trong thỏa thuận cùng tồn tại giữa con người và thế giới tự nhiên Như vậy, DLST thường được thực hiện

ở các khu bảo tồn tự nhiên, các vườn quốc gia, ở những nơi có mật độ dân số thấp

và tài nguyên thiên nhiên phong phú, ở những khu vực có giá trị cao về môi trường

tự nhiên như: hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã phong phú

Thứ hai, du lịch sinh thái hỗ trợ tích cực cho công tác bảo tồn các đặc tính tự

Trang 16

nhiên, văn hóa, xã hội tại điểm tham quan

Các nhà kinh doanh DLST ngoài việc phải quan tâm nuôi dưỡng, quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên để nó tồn tại và hấp dẫn du khách, họ phải đóng góp tài chính cho chính quyền sở tại, những cơ quan quản lý các tài nguyên từ những khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh du lịch của mình Những nguồn tài chính này làm tăng thêm ngân sách cho các khu vực nơi tổ chức hoạt động DLST để bù đắp cho các khoản chi phí như: quản lý, trồng thêm cây xanh, tôn tạo, trùng tu… Bên cạnh đó, những tiêu chí và đòi hỏi cao hơn của DLST đối với công tác bảo vệ môi trường, giữ gìn các hệ sinh thái khiến các nhà kinh doanh du lịch sinh thái phải chuẩn bị kỹ lưỡng và đưa ra những yêu cầu cao hơn đối với những hướng dẫn viên

và với các khách du lịch mà mình phục vụ

Du khách của loại hình DLST thường là những người yêu mến, thân thiện với thiên nhiên, họ muốn đi du lịch là để được tìm hiểu và nghiên cứu những nơi họ đến Những hoạt động nghiên cứu, khám phá, tổng hợp của họ ít nhiều cũng có những đóng góp và giúp ích cho công tác bảo tồn các đặc tính tự nhiên, văn hoá, xã hội nơi họ đến tham quan Những du khách khi đến tham quan Nông Sơn họ có thể nghiên cứu như Lăng Bà Thu Bồn nằm bên tả ngạn dòng Thu Bồn ở thôn Trung An (xã Quế Trung), suối nước nóng Tây Viên (xã Sơn Viên), làng nghề chế tác trầm cảnh (xã Quế Trung), di tích Chiến thắng Nông Sơn – Trung Phước (Quế Trung), thủy điện Khe Diên, mỏ than Nông Sơn, Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voi…, mới thấy hết vẻ đẹp riêng về tự nhiên nơi vùng đất đầu nguồn Thu Bồn non nước hữu tình và những giá trị văn hóa – lịch sử nơi đây … hay du khách khi đi thăm quan về làng Đại Bình, nơi được mệnh danh là làng Nam Bộ thu nhỏ giữa đất miền Trung Đường làng Đại Bình xanh um, có hàng rào trồng bằng chè tàu hay sen núi xanh mướt được cắt tỉa đẹp mắt Dải đất của làng ôm trọn thành một “ốc đảo” quanh năm xanh tốt Các tổ chức, cá nhân sau khi tham gia vào các tour DLST họ được tận mắt chứng kiến cảnh quan môi trường, tài nguyên thiên nhiên nơi họ đến thăm và đặc biệt được giáo dục, được hiểu biết thêm về môi trường và tầm quan trọng của hệ sinh thái họ có thể đóng góp các nguồn lực tài chính, hỗ trợ về mặt kiến thức khoa

Trang 17

học, kinh nghiệm quản lý cho các rừng quốc gia, các khu dự trữ thiên nhiên phục vụ cho du lịch sinh thái

Cư dân địa phương có thu nhập từ việc tham gia du lịch sinh thái, từ đó sẽ hạn chế việc khai thác tài nguyên mang tính tiêu cực như: săn bắn động vật quý hiếm, chặt cây đốn củi, phá rừng làm rẫy… gây ảnh hưởng xấu tới các loài động, thực vật

có giá trị về thẩm mỹ và kinh tế cũng như môi trường sống xung quanh họ

Thứ ba, các hoạt động mang tính giáo dục, giảng giải nâng cao nhận thức về hệ sinh thái và môi trường sống là nội dung quan trọng của Du lịch sinh thái

DLST là một phương tiện tốt để truyền đạt thông tin vì nó có khả năng đưa con người tiếp cận trực tiếp và thấy rõ vai trò của thiên nhiên đối với đời sống con người DLST đẩy mạnh các hoạt động mang tính giáo dục về các hệ sinh thái và môi trường sống Các hoạt động giáo dục này bao gồm việc giảng giải về lịch sử, nguồn gốc hình thành, tập quán sinh hoạt, mối quan hệ tương tác qua lại giữa các loài động thực vật và vai trò của chúng trong thiên nhiên DLST hướng dẫn cách thức để những người làm du lịch và khách du lịch tiến hành hoạt động du lịch đúng cách với thái độ trân trọng, giữ gìn và bảo vệ môi trường sống Các hoạt động giáo dục, chỉ dẫn cách thức du lịch đúng đắn mà DLST thực hiện từ nhiều cách: phương pháp hướng dẫn, thuyết minh trực tiếp từ hướng dẫn viên tới khách du lịch, các tờ giới thiệu, tờ bướm thông tin về du lịch, các mô hình, mô phỏng, các phương tiện nghe nhìn

Thứ tư, dựa vào việc khai thác tiềm năng tự nhiên và nhân văn du lịch sinh thái mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư bản địa

Khi du lịch phát triển và mở rộng, nhiều địa phương đã thoát khỏi cảnh đói nghèo, người dân được tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng như: Điện thắp sáng, đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước và thông tin liên lạc Đối với DLST, những lợi ích được nó mang lại là khơi dậy và đánh thức những tiềm năng sẵn có để qua đó mang lại thu nhập đáng kể cho cư dân địa phương bằng các hoạt động dịch vụ du lịch như: phục vụ lưu trú, ăn uống, bán hàng lưu niệm và các dịch vụ bổ trợ khác Đồng thời, DLST luôn quan tâm đến việc tôn tạo cảnh quan thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững chính những hoạt

Trang 18

động này đảm bảo cho hệ thống rừng cây, hệ động thực vật được bảo đảm, làm giảm thiểu sự tác động của thiên nhiên đến đời sống của người dân bản địa như hạn chế được xói mòn, lũ quét và những thiên tai địch họa khác

Những người làm DLST đã nhận ra vấn đề, thấy được chính những người dân bản địa, họ sinh ra và tồn tại cùng với các hệ sinh thái và môi trường thiên nhiên xung quanh từ bao đời lại có được kiến thức truyền thống văn hoá quý giá của cha ông họ để lại về thiên nhiên và môi trường xung quanh, họ có văn hóa, phong tục tập quán riêng của dân tộc mình Do đó, phải quan tâm đến lợi ích của người dân bản địa là nhân tố động lực quan trọng thúc đẩy phát triển DLST bền vững

Một biện pháp mà DLST góp phần mang lại các lợi ích kinh tế, phát huy các giá trị văn hóa và xã hội của những người dân bản địa là: sử dụng những người dân bản địa làm các hướng dẫn viên du lịch tại những khu DLST Khuyến khích người dân gìn giữ và phát triển những nghề truyền thống của mình như dệt thổ cẩm, thêu ren, làm hàng thủ công mỹ nghệ, trồng các loại cây đặc sản của địa phương… để khách du lịch được chiêm ngưỡng, học hỏi và mua sắm các sản phẩm nơi họ đến tham quan Các lễ hội, phong tục tập quán cần được gìn giữ và phát huy vì đó là những nét đặc trưng riêng của vùng sinh thái du lịch, là điểm nhấn để thu hút khách tham quan DLST giúp người dân bản địa chủ động làm kinh tế cùng với việc gìn giữ bản sắc văn hóa của mình bằng việc cung ứng dịch vụ lưu trú trong hành trình của khách du lịch Rất nhiều điểm DLST người ta tổ chức cho khách lưu trú ngay trong nhà dân, du khách được ăn cùng mâm, ngủ cùng nhà với người dân địa phương, thậm chí còn tham gia vào một số công đoạn sản xuất hàng hoá truyền thống của địa phương, được thưởng thức các món ăn, tìm hiểu phong tục, tập quán lối sống cũng như sinh hoạt của cư dân; tiêu chí của DLST là khai thác tối đa nguyên liệu sẵn có tại địa phương để tạo ra dịch vụ và hàng hóa phục vụ khách du lịch chính những nguyên liệu địa phương cùng với các sản phẩm đặc thù là những nguyên nhân làm hấp dẫn du khách Theo đó DLST đã mang lại nhiều lợi ích cho người dân địa phương

Trang 19

1.1.4 Ý nghĩa của phát triển du lịch sinh thái

Góp phần bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển du lịch bền vững

Góp phần xoá đói giảm nghèo, cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương Góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng tiến bộ

Góp phần bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch sinh thái ở Nông Sơn

* Nhận thức của xã hội:

Du lịch và DLST được quan tâm và phát triển đúng với những gì mà nó vốn

có thì việc nhận thức và quan tâm đúng đắn là một vấn đề hết sức quan trọng

Về mặt kinh tế, Nông Sơn là một trong những địa phương ở tỉnh Quảng Nam

có quy mô nền kinh tế còn nhỏ, phát triển kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây khá cao, trung bình giai đoạn 2008-

2013 là 10,23%, giai đoạn 2013-2015 là 11,47% Về du lịch (trong đó có DLST) đã trở thành một trong những ngành quan trọng đóng góp vào phát triển Phát triển du lịch vừa đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, vừa góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội Nên hoạt động của DLST có mối quan hệ tương tác đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Bản thân du

lịch mang lại rất nhiều lợi ích cho các địa phương đón khách Về mặt xã hội, phát

triển du lịch và DLST sẽ tăng cường giao lưu, trao đổi sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia… Như vậy để du lịch thực sự góp phần vào việc bảo vệ thiên nhiên đòi hỏi phải có sự suy nghĩ và hành động đúng không những của những người làm du lịch mà còn là toàn xã hội Người dân, chính quyền địa phương và du khách cần phải nhìn thấy những lợi ích của DLST có thể mang lại thông qua những hoạt động và những cơ hội mà loại hình du lịch này tạo nên mà mục tiêu cơ bản của DLST là phát triển bền vững Nghĩa là: "Đảm bảo đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm cản trở đến việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai" [12]

Sẽ rất có tác dụng nếu như các đối tượng sau đây được tuyên truyền hiểu biết

và nhận thức sâu sắc về DLST: Những nhà lập kế hoạch và đầu tư; những các tổ

Trang 20

chức quản lý ở các khu bảo tồn, khu dự trữ sinh quyển…; các cán bộ điều hành của các công ty du lịch; các hướng dẫn viên du lịch, nhân viên khách sạn, nhà hàng; cư dân địa phương; khách du lịch.Đồng thời, để tạo điều kiện và kích thích loại hình du lịch này phát huy tác dụng của nó, vấn đề giáo dục cộng đồng sẽ góp phần hỗ trợ các mối quan hệ tích cực hai chiều của DLST và bảo tồn tự nhiên cũng như DLST và cộng đồng địa phương Cần phải làm cho tất cả các thành phần trong xã hội nhất là cư dân địa phương hiểu được những tác động tích cực của DLST đến địa phương

có thể tổ chức loại hình du lịch với những đặc trưng riêng, loại hình riêng để phục

vụ các nhu cầu và mục đích khác nhau của du khách Tài nguyên du lịch được xem

là tiền đề để phát triển du lịch sinh thái Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu DLST, loại hình du lịch gắn liền với thiên nhiên và môi trường nên nguồn tài nguyên lại càng quan trọng hơn và cũng có nguy cơ thường xuyên bị

đe doạ xâm hại và tàn phá Muốn phát triển DLST một cách bền vững thì một hoạt động mang tính nguyên tắc là việc khai thác phải đi đôi với việc bảo vệ và nuôi dưỡng tài nguyên, đảm bảo nguyên tắc sức chứa

* Dân cư và lao động trong lĩnh vực du lịch sinh thái:

Trang 21

Dân số huyện Nông Sơn có 32.026 người (nam 16.072 người, nữ 15.954 người) 100% dân số sống ở khu vực nông thôn Trong DLST, số lượng dân cư và chất lượng lao động vừa ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, vừa ảnh hưởng tới môi trường sinh thái Hệ sinh thái, môi trường tự nhiên sẽ rất dễ bị phá vỡ nếu mật

độ dân cư quá đông, trình độ dân trí thấp

Với DLST, sự tham gia của cư dân địa phương đóng một vai trò quan trọng Thực tế mối quan hệ giữa người dân bản địa và các tài nguyên thiên nhiên có lịch sử gắn bó lâu đời Ở nhiều nơi người dân địa phương sử dụng tài nguyên thiên nhiên như một kế sinh nhai của mình và họ biết cách để bảo vệ, kiểm soát việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên để tránh đi tình trạng tàn phá tài nguyên Nên ngoài kiến thức chuyên môn nghiệp vụ về du lịch, yếu tố quan trọng đối với một điểm DLST thành công hay không còn phụ thuộc vào lao động làm việc ở các đơn vị này có am hiểu

về môi trường sinh thái, có hiểu biết sâu rộng về hệ sinh thái động thực vật hy không cũng như khả năng MC thuyết minh giảng giải cho khách tham quan

* Môi trường luật pháp và cơ chế chính sách:

Xây dựng cơ chế, chính sách về quản lý một cách đồng bộ, khuyến khích việc khai thác các tiềm năng DLST đặc biệt là ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên thiên…phải được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp lý, từ các cơ quan quản lý nhà nước như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Tổng cục Du lịch…Thực tế, mặc dù nhiều nước, nhiều quốc gia vùng lãnh thổ có tiềm năng rất lớn về DLST nhưng sự nhìn nhận của các cấp lãnh đạo, những nhà hoạch định chính sách và đầu tư chưa thật sự sâu sắc, từ đó không có cơ chế, chính sách thích hợp để quy hoạch, tập trung đầu tư để phát triển du lịch do đó đã làm lãng phí nguồn tài nguyên thậm chí có thể bị lãng quên hoặc bị tàn phá do không có cơ quan đơn vị hay người quản lý các nguồn tài nguyên đó

Để DLST phát triển thì việc nhận ra thế mạnh và phát huy nó là một vấn đề cần được quan tâm Vấn đề này chỉ được giải quyết khi các nhà hoạch định chính sách, các cấp quản lý nhận thức rõ và đưa ra cơ chế, chính sách hợp lý để phát triển DLST chỉ phát triển khi nó có được một cơ chế chính sách hợp lý và pháp luật đồng bộ Đó

Trang 22

là nghiên cứu quy hoạch, đầu tư và khuyến khích đầu tư, cơ chế xúc tiến quảng bá, cơ chế phối hợp và phân chia một cách hài hòa lợi ích giữa người dân địa phương với các cơ quan quản lý, các công ty lữ hành Cơ chế mà qua đó hoạt động DLST tạo điều kiện cho người dân địa phương (có việc làm và thu nhập mà lợi ích của nó mang lại) sẽ nâng cao ý thức người dân trong bảo vệ môi trường, gìn giữ phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Các cơ chế chính sách và luật pháp cần hướng tới, đó là:

- Khuyến khích phát triển các nguồn lực du lịch về phương diện sức hấp dẫn thiên nhiên cũng như các điểm lịch sử, khảo cổ và văn hóa, chú trọng đến chất lượng cùng với hệ thống thông tin có hiệu quả và có nhận thức về khả năng thu xếp nơi nghỉ cho du khách

- Có sự điều phối để tạo ra sự hợp tác giữa tất cả các bên liên quan, nhấn mạnh đến việc thúc đẩy tinh thần trách nhiệm đối với hệ sinh thái và việc tổ chức các tour

sẽ không gây thiệt hại hay huỷ hoại môi trường

- Xây dựng nhận thức về loại hình du lịch mà có góp phần vào sự nghiệp bảo tồn và có sự hoàn trả thích hợp cho hệ sinh thái

- Triển khai lập kế hoạch, cải tiến và xây dựng nguyên tắc và quy định, tổ chức, quản lý hiệu quả du lịch sinh thái, từ đó có thể tạo nên sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa Chính phủ, khối tư nhân và người dân địa phương

- Có chính sách, cơ chế động viên cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp

vào quá trình và thu được lợi ích từ du lịch

* Hoạt động xúc tiến quảng bá:

Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá là một khâu quan trọng trong quá trình phát triển và xây dựng thương hiệu, hình ảnh của một sản phẩm hay điểm đến Đối với DLST, việc tuyên truyền quảng bá và hoạt động xúc tiến thương mại lại còn quan trọng hơn để du khách biết đến qua các kênh thông tin, các hoạt động quảng bá và xúc tiến thương mại Chương trình quảng bá, xúc tiến là phải là làm thế nào khuyến khích

du khách có ấn tượng và mong muốn được đi du lịch theo hình thức DLST

Có rất nhiều hình thức quảng bá hữu hiệu, nhưng tiết kiệm và hiệu quả nhất

đó là việc quảng bá trực tiếp ngay tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch Hơn

Trang 23

nữa, dịch vụ DLST nó chỉ xuất hiện khi có khách hàng, du khách đến sử dụng, tham quan… Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học - kỹ thuật, sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin, do đó có rất nhiều hình thức quảng bá xúc tiến phát triển du lịch Việc xây dựng, duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, môi trường cảnh quan thiên nhiên độc đáo hay thái độ phục vụ, hành vi ứng xử có văn hóa của nhân viên phục vụ, cộng đồng dân cư địa phương đó là những phương thức quảng bá hữu hiệu nhất

* Cơ sở hạ tầng:

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ DLST là toàn bộ phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hoá du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch Với DLST nó bao gồm các hoạt động nhằm cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu đi lại, ăn uống, lưu trú, mua sắm, giải trí, thông tin liên lạc, các hoạt động giảng giải, hướng dẫn, nghiên cứu thiên nhiên và văn hoá… của khách

du lịch Vì vậy phạm vi hoạt động kinh doanh rất rộng, bao gồm hệ thống các cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng, các điểm vui chơi giải trí, cho đến hệ thống giao thông vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc… Cơ sở hạ tầng là những hấp dẫn thứ cấp bổ sung cho tài nguyên thiên nhiên của khu du lịch DLST thông qua các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên… thường nằm ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn, vì vậy cần thiết phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để du khách đến được những điểm tham quan Tuy nhiên nếu việc quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng không hợp lý và khoa học thì sẽ dễ dẫn đến phá vỡ cảnh quan môi trường Vì vậy, việc lập quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng cho phù hợp, thân thiện với môi trường là quan trọng Xây dựng

cơ sở vật chất đảm bảo cho việc cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của khách tham quan cũng đồng thời với việc đảm bảo cho phát triển bền vững là yêu cầu quan trọng của DLST

1.2 Một số cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái

1.2.1 Một số khái niệm liên quan

Chính sách công luôn gắn liền với việc thực thi vai trò, chức năng của chính

Trang 24

quyền nhà nước Theo đó, chính sách công là những hành động do nhà nước quyết định lựa chọn nên làm hay không nên làm (quan niệm của E Anderson) Chính sách công là một giải pháp hành động hay không hành động của nhà nước để giải quyết một vấn đề công cộng (Kraft and Furlong) Chính sách công còn được hiểu là sự tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được Nhà nước ban hành để lựa chọn giải pháp hành động nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định Đối với tác giả xác định, chính sách công (theo nghĩa thông dụng) được hiểu

là những hành động ứng xử của Nhà nước thông qua các quyết định được lựa chọn

để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống thực tiễn nhằm thúc đẩy xã hội phát triển

Như vậy, thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách này tác động đến đối tượng thông qua tổ chức hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hiện thực hóa mục tiêu xác định của chính sách phát triển du lịch sinh thái trong thực tiễn cuộc sống theo nguyên tắc, và trình tự thủ tục nhất định

1.2.2 Chủ thế thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái

Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách là lực lượng đông đảo, bao gồm: các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội, doanh nghiệp và người dân hoặc các đối tượng của chính sách Ngày nay trong bối cảnh hội nhập và

mở cửa, ngoài các chủ thể chủ yếu tham gia thực thi chính sách nêu trên, quá trình thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái còn phải tính đến cả sự tham gia của các đối tác là những tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ quốc tế, tổ chức phi chính phủ Hơn nữa, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng với xu hướng xã hội hóa các hoạt động cung cấp dịch vụ, quá trình thực thi chính sách phát triển du lịch sinh thái còn có sự tham gia tích cực của các đối tác xã hội như: các doanh nghiệp, hiệp hội, người dân, tổ chức đào tạo, các tổ chức nghiên cứu

Dù rằng, có rất nhiểu chủ thể tham gia vào quá trình thực thi chính sách và các chủ thể này có mối quan hệ tương tác với nhau trong quá trình thực hiện chính

Trang 25

sách; số lượng chủ thể và vai trò của từng chủ thề tham gia tùy thuộc vào từng chính sách cụ thể và bốì cảnh của từng nước Tuy nhiên, có thể nhóm các chủ thể tham gia vào thực thi chính sách thành các nhóm sau: (1) Chủ thể thực thi là các

cơ quan nhà nước và nhân sự của các cơ quan đó - đây là chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện chính sách côn; (2) Chủ thể tham gia là các đối tác phi nhà nước (các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước); (3) Chủ thể tham gia với tư cách là đối tượng thụ hưởng chính sách (các cộng đồng dân cư, các nhóm dân số, thậm chí mọi người dân)

Trong số đó, chủ thể triển khai trước hết và quan trọng nhất là các cơ quan hành chính nhà nước cùng với các công chức của các cơ quan này

1.2.3 Quy trình thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái

Xuất phát từ vai trò quan trọng của sự chuyển hóa ý chí chủ thể chính sách thành chương trình hành động thực tiễn, nên hệ thống các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương các cấp cần chú trọng chỉ đạo công tác triển khai tổ chức thực thi chính sách Để tổ chức, điều hành có hiệu quả công tác thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái, cần tuân thủ các bước tổ chức thực hiện căn bản dưới đây:

* Bước 1: Xây dựng chương trình kế hoạch tổ chức điều hành thực hiện chính sách

- Việc lập chương trình kế hoạch tổ chức điều hành chính sách phát triển du lịch sinh thái phải bảo đảm về việc dự kiến cơ quan chủ trì, các cơ quan phối hợp

tổ chức thực hiện chính sách; số lượng và chất lượng đội ngũ nhân sự tham gia triển khai thực hiện; dự kiến cơ chế trách nhiệm và giải trình của cán bộ quản lý

và công chức thực hiện chính sách; dự kiến các cơ chế tác động giữa các cấp thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái

- Xác định kế hoạch chi tiết về dự kiến các nguồn lực phục vụ như: cơ sở vật chất kiến trúc, nguồn lực tài chính, trang thiết bị dụng cụ kỹ thuật để thực thi chính sách; các vật tư văn phòng phẩm

- Xác định thời gian tổ chức thực hiện như dự kiến: về thời gian duy trì hiệu

Trang 26

lực chính sách phát triển du lịch sinh thái; thời gian truyền thông/ tuyên truyền chính sách đến tổng kết và kinh nghiệm rút ra Từng khâu này đều phải có mục tiêu cụ thể và thời gian dự kiến thực hiện chương trình mục tiêu đó

- Thiết kế kế hoạch kiểm tra thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái:

dự kiến về tiến độ, phương thức kiểm tra/ giám sát tổ chức thực thihiện chính sách

- Dự kiến về cơ chế ràng buộc thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái, gồm: quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức tham gia tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật trong tổ chức thực hiện chính sách

Việc dự kiến kế hoạch thực thi chính sách phát triển du lịch sinh thái thuộc cấp quản lý điều hành nào thì do cấp đó xét và thông qua (Việc điều chỉnh kế hoạch

do cấp quản lý có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định) Sau khi có quyết định được duyệt, kế hoạch thực hiện chính sách mang giá trị pháp lý và yêu cầu mọi người phải tuân thủ chấp hành triển khai

* Bước 2: Tuyên truyền phổ biến chính sách phát triển du lịch sinh thái

Sau khi có chương trình kế hoạch thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái được thông qua, đó là căn cứ để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tổ chức triển khai thực hiện Khâu đầu tiên của quá trình này là phổ biến tuyên truyền, vận động người dân tham gia thực hiện chính sách này để giúp cho các đối tượng chính sách và người dân tham gia thực hiện hiểu rõ về mục tiêu, yêu cầu của chính sách; về tính khả thi của chính sách phát triển du lịch sinh thái và lợi ích của nó mang lại trong hoàn cảnh điều kiện nhất định để các đối tượng chính sách và người dân tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý củanhà nước

Đồng thời, tuyên truyền phổ biến chính sách giúp cho cán bộ, công chức có trách

nhiệm tổ chức thực hiện có ý thức, nhận thức đúng đắn, đầy đủ tính chất, trình

độ, quy mô của chính sách đối với thực tiễn đời sống xã hội để họ chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp hành động phù hợp trong việc thực hiện kế hoạch và mục tiêu chính sách phát triển du lịch sinh thái

Trang 27

Phổ biến, tuyên truyền, vận động người dân thực thi chính sách này cần thực hiện liên tục, thường xuyên (ngay cả khi chính sách đang thi hành), để củng

cố lòng tin của người dân và đối tượng chính sách vào chính sách và tích cực thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái Có nhiều hình thức phổ biến, tuyên truyền chính sách như: tiếp xúc trao đổi trực tiếp với các đối tượng tiếp nhận; tiếp xúc trao đổi gián tiếp (phương tiện truyền thông đại chúng)

* Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái

Để tổ chức thực hiện chính sách này đạt mục tiêu hiệu quả, điều kiện quan trọng là phải tiến hành phân công, phân vai, phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý ban ngành, chính quyền địa phương các cấp, phải tính đến đầy đủ các yếu tố tham gia thực hiện chính sách cũng như các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách

Muốn thực hiện có hiệu quả chính sách phát triển du lịch sinh thái, yêu cầu đặt

ra là phải có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành với chính quyền địa phương các cấp Cụ thể đó là sự phân công và phối hợp giữa: Chính phủ với Quốc hội; Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch với các bộ và cơ quan ngang bộ; Chính phủ với chính quyền địa phương; Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch với Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch (Sở Du lịch) cấp tỉnh; giữa HĐND với UBND cùng cấp; giữa Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch với các cơ quan chuyên môn khác thuộc UBND cấp tỉnh, Trong thực tiễn, chính sách phát triển du lịch sinh thái có thể tác động đến lợi ích của một bộ phận dân cư, nhưng kết quả tác động lại liên quan đến nhiều quá trình, nhiều yếu tố thuộc các bộ phận khác nhau, nên đòi hỏi khách quan là phải có sự phối hợp, phân vai giữa chúng nhằm đạt yêu cầu quản lý Yêu cầu các hoạt động phân công, phối hợp phải theo tiến trình thực hiện chính sách một cách chủ động, linh hoạt, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách phát triển du lịch sinh thái

* Bước 4: Theo dõi, đôn đốc và điều chỉnh trong thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái

Trang 28

Theo dõi để đôn đốc và điều chỉnh trong thực hiện chính sách này là hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức có thẩm quyền thực hiện bằng các kênh, những công cụ hữu ích để làm cho các chủ thể thực hiện nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách phát triển

du lịch sinh thái Trên thực tế, khi triển khai thực hiện chính sách chính sách phát triển du lịch sinh thái, không phải bộ phận nào cũng làm tốt, vì thế cần có hoạt động theo dõi đôn đốc để vừa thúc đẩy các chủ thể nỗ lực nhiều hơn để hoàn thành nhiệm vụ, vừa phát hiện sớm các triệu chứng bất thường để phòng chống các hành

vi vi phạm quy định trong thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái

Đối với việc điều chỉnh, bổ sung chính sách phát triển du lịch sinh thái là của

cơ quan có thẩm quyền phê duyệt chính sách Song trong thực tiễn, hoạt động này cần phải linh hoạt, chủ động đề xuất của cơ quan tham mưu chính sách và đội ngũ những người tổ chức thực thi chính sách phát triển du lịch sinh thái nhằm đạt đến mục tiêu chính sách phát triển du lịch sinh thái

* Bước 5: Tổng kết đánh giá quá trình thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái

Việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái được tiến hành liên tục, thường xuyên trong s u ố t thời gian duy trì chính sách Quá trình đó, người ta thường đánh giá từng phần, sơ bộ hay toàn bộ kết quả thực hiện chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ tổng thể được thực hiện sau khi kết thúc chính sách này Tổng kết đánh giá trong bước tổ chức thực hiện chính sách là để xem xét, kết luận trong chỉ đạo - điều hành và s ự t u â n t h ủ chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách phát triển du lịch sinh thái

Diện đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách phát triển du lịch sinh thái là các cơ quan nhà nước từ cấp Trung ương đến cấp xã Mặt khác, có thể mở rộng việc xem xét đến chức năng, vai trò của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách phát triển du lịch sinh thái Căn cứ cơ sở để xem xét đánh giá, tổng kết công tác chỉ đạo - điều hành thực thi chính sách này trong các cơ quan nhà

Trang 29

nước, đó là: kế hoạch được giao và những quy chế được xây dựng ở bước 1 quy trình này Đồng thời, cơ sở để xem xét đánh giá, tổng kết công tác chỉ đạo - điều hành thực thi chính sách còn kết hợp sử dụng các văn bản liên tịch giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội, hiệp hội du lịch, doanh nghiệp và các văn bản quy phạm pháp luật khác nhằm xem xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách của các tổ chức chính trị, hiệp hội du lịch, doanh nghiệp và xã hội với Nhà nước

Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá về kết quả chỉ đạo - điều hành của h ệ

t h ố n g các cơ quan nhà nước, thì còn xem xét, đánh giá việc thực thi của các nhóm đối tượng tham gia thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách, nghĩa là tất cả các thành viên xã hội với tư cách là công dân, doanh nghiệp Thước đo đánh giá kết quả thực thi của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng/ đồng thuận xã hội với mục tiêu chính sách, cũng như ý thức tuân thủ chấp hành các quy định

về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách ở từng điều kiện về thời gian và không gian

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Với mục tiêu làm rõ hệ thống cơ sở lý luận ở chương I làm cơ sở khoa học cho việc phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp và kiến nghị về thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái ở Nông Sơn, chương này đã thể hiện được một số nội dung

sau đây:

Làm rõ một số khái niệm của các tổ chức chuyên ngành trong nước và quốc tế

về du lịch sinh thái, phân tích những đặc điểm của du lịch sinh thái, phân biệt du lịch sinh thái với một số loại hình du lịch tương tự, ý nghĩa và sự cần thiết phải phát triển loại hình du lịch này; phân tích 6 nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển

du lịch sinh thái

Đặc biệt, chương 1 tập trung trình bày xác định một số cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái thông qua: (1) Xác định rõ khái niệm liên quan là chính sách và thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái; (2) Xác định

rõ các chủ thế thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái; (3) Làm rõ các bước của quy trình thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái Đây là chỗ dựa quan trọng đề nghiên cứu chương 2 và đề xuất giải pháp chương 3

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH

THÁI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN

2.1 Thực trạng phát triển tiềm năng du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Nông Sơn

2.1.1 Tiềm năng du lịch sinh thái ở huyện Nông Sơn

Nông Sơn là một huyện thuộc khu vực trung du và miền núi (năm 2008 được tách ra từ huyện Quế Sơn cũ), nằm phía Tây của tỉnh Quảng Nam, cách Tam Kỳ 53

km về phía Tây Bắc, cách Hội An 50 km, cách thành phố Đà Nẵng 55 km và cách khu di sản thế giới Mỹ Sơn chỉ một dãy núi còn nằm trên 2 tuyến tỉnh lộ ĐT 610 và

611 và một phần của tuyến đường Trường Sơn Đông (đi qua xã Quế Lâm) và tuyến đường thủy quốc gia – tuyến sông Thu Bồn Nông Sơn cách không xa các trung tâm

du lịch lớn và các tuyến du lịch xuyên Việt, con đường di sản miền Trung

2.1.1.1 Tài nguyên tự nhiên

Tài nguyên tự nhiên của Nông Sơn có những địa hình có thể trở thành tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái đó là: hầu hết các tài nguyên tự nhiên của Nông Sơn không chỉ có giá trị cho tham quan du lịch thuần tuý mà còn có giá trị lớn

về khoa học cho các nghiên cứu chuyên đề Điển hình trong số đó là Hòn Kẽm – Đá Dừng, suối nước nóng Tây Viên, Khu Bảo tồn Loài và sinh Cảnh Voi

Nông Sơn có cảnh quan địa hình khá đa dạng, đầy đủ các dạng địa hình của một lãnh thổ phân bố khu vực trung du miền núi, là địa bàn chuyển tiếp giữa khu vực đồng bằng ven biển và khu vực núi cao phía Tây Địa hình có dạng lòng chảo, ở trung tâm có độ cao chỉ 20-30m, càng đi về phía ranh giới của huyện độ cao tăng

dần lên đến 1000m Nông Sơn có 3 dạng địa hình chính:

- Dạng các dãy núi thấp thấp gồm các dãy phân bố ở phần rìa xung quanh cao

500-1000m (ranh giới tự nhiên giữa huyện Nông Sơn và các huyện xung quanh) Dãy núi Tây - Bắc chạy theo hướng tây – đông rất hiểm trở (phân chia giữa huyện Đại Lộc và huyện Nông Sơn) Dãy núi Chúa (ranh giới tự nhiên giữa huyện

Trang 32

Nông Sơn và huyện Duy Xuyên) chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam có độ cao

từ 700-922m, với đỉnh Hòn Tàu cao nhất Đặc điểm địa hình của dãy núi Chúa với nhiều vách núi dựng đứng rất hiểm trở

Dãy núi Phía Tây (dãy Hòn Kẽm – Đá Dừng) chạy theo hướng Bắc – Nam cao

từ 700 -800m, với đỉnh núi cao nhất 1.112m (nằm ở mốc ranh giới xã Quế Lâm, xã Phước Ninh và huyện Nam Giang) Đây là dãy núi cao và hiểm trở nhất ở Nông Sơn Sườn đông của dãy Hòn Kẽm – Đá Dừng có diện tích lớn và địa hình hiểm trở,

hệ sinh thái rừng đang còn giữ được nhiều tính nguyên sinh Đây là khu vực đang còn duy trì được đàn voi rừng duy nhất ở Quảng Nam

Dãy núi Phía Nam (ranh giới giữa Nông Sơn với các huyện Quế Sơn, Hiệp Đức và Phước Sơn) cao trung bình khoảng 400-500m Các đỉnh cao nhất khoảng 800-845m phân bố ở xã Quế Lộc và Quế Ninh Dãy núi này bị đứt gãy sông Thu Bồn chia thành 2 phần phía Đông và phía Tây Khu vực sát bờ sông độ cao của núi giảm xuống chỉ còn 150-200m Đi trên dòng sông Thu Bồn khi qua dãy núi này, hình thế của 2 dãy núi ở hai bên bờ giống như những con rồng đang cúi đầu xuống uốn nước của dòng sông Thu Bồn

Địa hình núi cao với các dãy núi đã gắn liền với sự tích, sự kiện và văn hóa vùng quê như dãy núi Hòn Tàu, Núi Chúa (còn gọi là Núi Ông, cao>750m), núi Cà Tang (Núi Bà), dãy Hòn Kẽm – Đá Dừng, Nhiều dãy – ngọn núi vẫn còn rừng nguyên sinh bao phủ tạo cảnh quan xanh tươi, có những ngọn núi có hình thù kỳ lạ như núi Chúa, núi Cà Tang (hay Gà Tang) Ở những đỉnh núi này có thể phóng tầm mắt quan sát ra một vùng rộng lớn, như lên đỉnh núi Chúa vào những ngày đẹp trời

có thể quan sát cả vùng Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn, Hội An Vào lúc sương mù

ẩn hiện, đỉnh núi Núi chúa hiện lên uy nghi, có hình dáng được ví như núi Phú Sĩ (Nhật Bản) ở Nông Sơn Dãy Hòn Tàu là nơi bắt nguồn của nhiều ngọn thác có giá trị du lịch như Đèo Le, suối Tiên, thác Đại An, bà Deo, hố Đá Bàn, Dãy núi Hòn Kẽm – Đá Dừng được xem là ranh giới tự nhiên của vùng núi Trường Sơn Nam đồ

sộ hùng vĩ và vùng trung du, đồng bằng ở phía Đông Đây cũng là ranh giới giữa huyện Hiệp Đức và huyện Nông Sơn Các dạng địa hình núi cao tạo ra cảnh quan

Trang 33

hết sức hùng vĩ, tạo ra các điểm nhấn khi quan sát cảnh quan ở huyện Nông Sơn

Với Hòn Kẽm – Đá Dừng (thắng cảnh tự nhiên nằm ở khu vực ranh giới giữa

xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức và xã Quế Lâm, huyện Nông Sơn) cách Hội An

>65km về phía Tây Nam; cách Tam Kỳ gần 65 km về phía Tây Bắc Việc tiếp cận Hòn Kẽm – Đá Dừng có thể thực hiện theo hai hướng và nhiều loại phương tiện kết hợp Hòn Kẽm – Đá Dừng, dưới tác động của kiến tạo tự nhiên và điều kiện thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa, sau hàng chục triệu năm, dòng chảy tự nhiên đã tạo nên một nhát xẻ chia cắt dãy núi này thành hai để tạo ra dòng chảy mang dòng nước và phù sa từ thượng nguồn về bồi đắp và tưới mát cho vùng đồng bằng ở hạ du Kết thúc khúc sông này là nơi có hai ngọn núi đồ sộ hai bên bờ sông chập vào nhau mà nhìn từ xa thì du khách không thể tưởng tượng được ở giữa là dòng sông Thu Bồn

chảy qua Hai dãy núi này được ví hai con rồng đang chầu tạo ra không gian cảnh

quan rất kỳ thú và đẹp mắt Đây cũng là dấu hiệu mở ra một hành trình mới của sông Thu Bồn – sông thảnh thơi, đủng đỉnh từ từ mang nước về với biển cả bao la

Với Núi Chúa cao >750m với hình thù rất kỳ lạ, cao hẳn lên so với các đỉnh

trên cùng một dãy núi Khi lên đỉnh núi Chúa du khách có thể phóng tầm mắt quan sát gần như toàn bộ vùng hạ lưu sông Thu Bồn từ Duy Xuyên, Hội An, Điện Bàn, Đại Lộc, vào dịp thời tiết đẹp có thể thấy được cả bán đảo Sơn Trà và Cù Lao Chàm Quan sát trên bản đồ địa hình và khảo sát thực tế cho thấy, dãy Hòn Tàu là một dãy núi lớn chạy từ phía Nam ra với hai nhánh núi: một nhánh hướng về Duy Xuyên và một hướng nhánh về huyện Nông Sơn có ngọn núi cao là Núi Chúa Suối thác Đại An được hình thành từ nguồn nước của dãy núi Hòn Tàu là nơi

có rừng nguyên sinh khá phát triển, nơi xuất phát của nhiều dòng suối thác có giá trị như suối nước mát Đèo Le, suối Tiên, suối Đại An, hố Đá Bàn, suối Bà Deo

Với Suối Ục Giô là một bộ phận của dòng suối chảy từ dãy núi cao xuống Hố

nước Ục Giô nằm ở vị trí khá thấp so với dòng suối dài hàng km, phía thượng nguồn của dòng suối có nhiều thác, hố nước như xai Ru Tây cách Ục Giô 400-500m Đoạn suối có hố Ục Giô dài 200m nước chảy xiết do địa hình dốc Ục Giô là

hố nước rộng và đẹp nhất, có độ sâu từ 0,3 -2m nước trong xanh, đáy hố có cát mịn,

Trang 34

sạch, gồm hố chính với diện tích 100-120 m2, các hố nhỏ 10-15 m2

Với Suối vàng có thể khai thác du lịch khoảng 120-150m, là một dòng suối tự

nhiên chảy ra từ các dãy núi lớn thuộc dãy Hòn Kẽm Địa hình suối khá dốc, nước chảy xiết với nhiều hồ nước lớn nhỏ, trong đó hồ nước lớn 150-170 m2 và sâu 0,3 -2m có dòng thác từ độ cao 3-4m đổ xuống, nước hồ trong xanh, đáy phủ lớp cát mịn, sạch, bao quanh hồ là những tảng đá có kích thước lớn, nhẵn thuận tiện cho du khách ngồi nghỉ, ngắm cảnh cũng như để đồ đặc, bày biện thức ăn,…Các hồ nước nhỏ có diện tích khoảng 30-40 m2, sâu dưới 1,5 m, có nước trong xanh sạch sẽ

Với Sông Thu Bồn: đoạn chảy qua địa phận Nông Sơn dài 37km Đây là dòng

sông được các nhà văn hóa ví là dòng sông văn hóa vì vai trò của nó đối với sự phát triển văn hóa của cả vùng lưu vực của dòng sông Trên suốt dòng sông có nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể hết sức đặc sắc, tạo nên nền văn hóa sông Thu Bồn Đối với Nông Sơn, sông Thu Bồn có vai trò lớn trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và điều hòa khí hậu, giao thông vận tải Đặc biệt, tuyến du lịch trên sông Thu Bồn đã kết nối các điểm du lịch ở Nông Sơn với Hội An, Duy Xuyên như Đại Bình, Hòn Kẽm – Đá Dừng, lễ hội bà Thu Bồn Tuyến du lịch đóng vai trò quan trọng, là kênh dẫn khách du lịch từ Hội An đến với Nông Sơn trong thời gian tới Đoạn sông qua huyện Nông Sơn là một bộ phân quan trong của tuyến du lịch văn hóa – trên dòng sông văn hóa Thu Bồn

Với Khu Bảo tồn Voi: Tháng 3/2017, tỉnh Quảng Nam đã phê duyệt đề án xác

lập khu bảo tồn loài và sinh cảnh voi thuộc xã Phước Ninh và Quế Lâm (huyện Nông Sơn) với diện tích gần 19.000 ha và vùng đệm gần 25.000 ha Việc thành lập khu bảo tồn nhằm bảo tồn và phát triển loài voi châu Á ở Việt Nam, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững tài nguyên động, thực vật hoang dã Đồng thời, đây sẽ là cơ hội phát triển du lịch sinh thái, khám phá, trải nghiệm thiên nhiên Hiện nay, qua theo dõi cho thấy khu vực này có quần thể voi từ 7 cá thể sinh sống, thỉnh thoảng xuất hiện ở thôn Cấm La, xã Quế Lâm Sự xuất hiện của đàn voi cho thấy vùng này có hệ sinh thái rừng và sinh vật khá đa dạng Việc bảo tồn tốt không gian sinh cảnh tạo điều kiện bảo vệ và cũng như đàn voi có cơ hội sinh sôi nảy nở

Trang 35

trong thời gian tới

- Dạng địa hình gò đồi thấp Đây là khu vực chuyển tiếp từ các dãy núi xung

quanh huyện đến thung lũng sông Thu Bồn và đồng bằng trung tâm huyện Địa hình

gò đồi có độ cao chủ yếu <100m Độ dốc của khu vực này thấp trung bình <15o nên lượng nước thường tập trung vào một số thung lũng tạo nên các dòng suối có lưu lượng tương đối lớn

- Dạng địa hình đồng bằng - thung lũng

Đồng bằng của Nông Sơn có diện tích rất nhỏ, phân bố tập trung chủ yếu ở 3

xã Sơn Viên, Quế Lộc và Quế Trung Địa hình đồng bằng có độ cao trung bình từ 20-25m Dãi đồng bằng nằm dọc theo tỉnh lộ ĐT610 nằm lọt giữa vùng đồi núi và trung du bao quanh tạo thành một dãi xanh biếc vào mùa lúa thì con gái và màu vàng óng khi lúa chín Địa hình đồng bằng khá bằng phẳng, trên cánh đồng xuất hiện những ngôi làng, những đồi bát úp tạo cảnh quan núi và đồng bằng xen kẻ khá đẹp mắt Đồng bằng ăn sát vào các dãy núi tạo thành một dải hoà quyện giữa núi rừng và đồng bằng tạo nên cảnh quan lạ mắt và hấp dẫn

Địa hình thung lũng sông chạy dọc theo sông Thu Bồn với >37 km Hai bên sông Thu Bồn là những bãi bồi phù sa đã hình thành nên làng mạc xanh mướt, những cánh đồng màu mỡ được người dân canh tác các nông sản, trong đó, làng Đại Bình được ví như báu vật không chỉ của Quảng Nam và cả miền Trung – làng trái cây Nam bộ giữa miền Trung đầy nắng – cát – gió Lào Dòng nước Thu Bồn đoạn qua Nông Sơn chảy lững lờ mang theo phù sa và văn hóa của miền núi phía Tây về làm mát dịu, làm xanh thêm cho những vùng đất nó đi qua Đi thuyền từ làng Đại Bình lên Hòn Kẽm – Đá Dừng du khách được chiêm ngưỡng cảnh quan làng quê sông nước xanh mướt, êm đềm, hiền hòa, gần gủi, như đưa mỗi người về với dòng sông tuổi thơ, về với ký ức, hoài niệm,…

Ngoài ra, với khá nhiều địa danh, cảnh quan tự nhiên khác, Nông Sơn có tiềm năng phát triển các điểm du lịch, loại hình du lịch như: Suối Huỳnh, Đá Đen; Phướng Ông, Phướng Bà (Phước Ninh) có điều kiện phát triển du lịch sinh thái tắm suối thác, thưởng thức đặc sản địa phương kết hợp với tham quan khu bảo tồn voi,

Trang 36

Hòn Kẽm – Đá Dừng,… Núi Cà Tang (Quế Ninh) có điều kiện phát triển du lịch leo núi ngắm cảnh quan sông núi Nông Sơn, Khu nghĩa trũng, rừng cấm, suối Ào Ào (Quế Trung) có điều kiện phát triển du lịch sinh thái rừng – suối – thác kết hợp với tham quan làng du lịch sinh thái Đại Bình Đập Bánh ít (Ninh Khánh 1, Quế Ninh); suối Đá Bàn, hố Thác Nai, suối Bà Deo (Đại An – Sơn Viên) có điều kiện phát triển

du lịch sinh thái tắm suối, tham quan cảnh quan thiên nhiên, thưởng thức đặc sản, trải nghiệm văn hóa địa phương

Mặt khác, điều kiện tự nhiên, địa hình, cảnh quan tạo điều kiện để Nông Sơn hình thành các trang trại sinh thái nông nghiệp hướng đến phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng gắn với các đặc sản địa phương như: thôn Đại An gắn với thác Đại An, thác Nai, suối Bà Deo; hồ Phước Bình gắn với căn cứ Hòn Tàu, núi Chúa; Ục Giô ở thôn Lộc Đông, hồ Hốc Hạ, hồ Ông Đà, khu vực phía Tây của làng Đại Bình; khu vực đồi núi ở xã Phước Ninh gắn với suối vàng; khu vực phía dưới của Hòn Kẽm – Đá Dừng,…Ngoài ra, Nông Sơn có tài nguyên rừng 33117,2 ha chiếm 80,2% diện tích tự nhiên gồm rừng tự nhiên và rừng trồng khá lớn, trong đó rừng tự nhiên 78,2% Hệ sinh thái rừng đặc dụng và rừng phòng hộ khá đa dạng với nhiều loại sinh vật có giá trị kinh tế như gõ, lim, lát, dỗi, chò chỉ, , Đặc biệt trên địa bàn xã Quế Lâm đã xác nhận có quần thể voi từ 7 cá thể sinh sống Hiện nay, các cơ quan chức năng đang xây dựng phương án lập khu bảo tồn voi trên địa bàn 3 huyện là Nông Sơn, Hiệp Đức, Phước Sơn, trong đó địa bàn huyện Nông Sơn có diện tích lên đến 19.000 ha Nhiều loại động vật rừng quý hiếm như chà vá chân xám, kỳ đà,… Với hệ tài nguyên tự nhiên đa dạng như vậy là một yếu tố tất quan trọng để phát triển du lịch sinh thái Nông Sơn

2.1.1.2 Các tài nguyên nhân văn

* Di tích lịch sử, cách mạng, tín ngưỡng tôn giáo

- Di tích chiến thắng Nông Sơn – Trung Phước: đặt tại thôn Nông Sơn (Quế Trung) nằm ở vị trí khá thuận lợi có thể bằng đường bộ và đường sông:

- Căn cứ cách mạng Hòn Tàu: là Đặc Khu ủy Quảng Đà trong 7 năm cuối cuộc chiến chống Mỹ

Trang 37

* Lễ hội, phong tục, tập quán

- Di tích dinh và lễ hội bà Thu Bồn: Di nằm bên bờ sông Thu Bồn Tiếp cận di

tích có thể bằng đường bộ và đường sông:

- Hát Tuồng xứ Quảng: Nông Sơn là một trong vùng đất lưu giữ môn nghệ

thuật diễn xướng độc đáo này với hình thức các câu lạc bộ tuồng ở các xã, thôn

* Cảnh quan làng nghề, làng quê

- Làng Đại Bình: là một làng trái cây duy nhất trên dải đất miền Trung mang

đặc trưng của vùng Nam bộ với các loại trái cây chính như sầu riêng, măng cụt, lòn bon, trụ,… Làng Đại Bình được hình thành từ phù sa của sông Thu Bồn qua hàng triệu năm bồi đắp, lắng đọng, được nước sông Thu Bồn tưới mát hàng năm nên đất đai màu mỡ, khí hậu trong lành, con người hiền hòa mến khách Các vườn cây trong làng quanh năm xanh tốt, vào mùa tháng 6-7-8-9 các vườn cây bắt đầu trĩu quả và mùa trái cây chính vụ là tháng 8-9 Hiện nay trong làng có hàng chục vườn cây của các hộ dân với diện tích khá lớn, sản lượng trái cây hàng năm khá lớn đã hình thành dịch vụ du lịch sinh thái nhà vườn tham quan thưởng thức trái cây Du khách đến đây

có thể thả mình đi bộ vãn cảnh không gian làng quê yên bình, tỉnh lặng với bến đò, sân đình, hàng chè tàu xanh mướt, những cây sầu riêng, mang cụt, trụ trĩu quả kheo mình chào đón du khách gần xa Du khách có thể ngắm nhìn, mân mê từng quả sầu riêng, quả trụ và thưởng thức Du khách có thể tham quan các ngôi nhà cổ, ngôi chùa, đình làng với kiến trúc cổ ghi dấu lịch sử hình thành và phát triển của làng Trong làng có 2 ngôi nhà cổ bằng gỗ, theo kiến trúc nhà vườn bình dị được xây dựng cách

đây cả trăm năm, nằm lọt giữa những vườn cây phong phú, sum xuê của làng

*Ẩm thực: Nông Sơn là vùng đất của Quảng Nam có văn hóa và sản phẩm ẩm

thực khá đặc sắc, như bê thu, cơm gà, mì Quảng (mì gà, tôm, thịt, ), bánh tráng cuốn thịt heo, cao lầu, Vùng đất Nông Sơn – Quế Sơn vốn nổi tiếng với gà Đèo

Le, trái cây Đại Bình, mít trộn,… Những ẩm thực đặc sắc đa dạng này cung cấp

phục vụ cho các thực khách khi đến tham quan vùng đất này

Bên cạnh những tài nguyên nhân văn trên, Nông Sơn còn có một số di tích lịch

sử và các giá trị văn hóa có tiềm năng phát triển du lịch như Am Tiên ở Dùi Chiêng

Trang 38

1, Phước Ninh; lăng Ông và Dùi Chiêng 1 ở Bình Yên (Phước Ninh); Chiến thắng Đại đội Nùng (Tứ Nhũ – Quế Lâm); Miếu Cậu (Phú Gia 1) Cấm Đông An (Đông An) xã Quế Phước; Hố Nhi (Mậu Long 2), Trại Tiệp và đạp bánh ít (Ninh Khánh 1)

xã Quế Ninh; Mộ ông Đà và Đập ông Đà (thôn Trung Nam, Quế Trung), Bia tưởng niệm sư đoàn 31, xã Quế Trung; di tích hố Lù (Trung Yên) xã Sơn Viên; căn cứ Tân tỉnh – Trung lộc (Lộc Tây 1 – Lộc Đông), mộ cụ Nguyễn Đình Hiến (Lộc Tây 2 xã Quế Lộc), Cồn Con (Trên sông Thu Bồn, thuộc xã Quế Lâm)

2.1.2 Thực trạng phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Nông Sơn

* Về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (Khách sạn, nhà hàng và hệ thống giao thông): Khảo sát thực tế cho thấy, do chưa được đầu tư đúng với tiềm năng vốn có

nên hệ thống cơ sở vật chất phục vụ du lịch phát triển chậm, quy mô nhỏ, chất lượng chưa đạt chuẩn Hiện trên địa bàn huyện có 5 nhà nghỉ với 16 buồng và 1 homestay – nhà nghỉ có 6 phòng (tại làng Đại Bình) Các nhà nghỉ chưa được xếp hạng và chất lượng dịch vụ thấp Cơ sở vui chơi giải trí phục vụ khách du lịch chưa phát triển Hệ thống biển chỉ dẫn điểm tham quan, bãi đỗ xe, công trình vệ sinh

công cộng tại các điểm du lịch hầu như không có

* Các cơ sở ăn, uống: Về số lượng hiện có 6 điểm phục vụ: Nhìn chung các cơ sở

ăn uống hiện nay còn nhỏ lẻ, chưa đủ khả năng phục vụ cho lượng lớn du khách; chất lượng phục vụ và khả năng chế biến món ăn phần lớn chưa đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật

và thẩm mỹ, chưa được quản lý chặt chẽ về vệ sinh an toàn thực phẩm

* Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải được kết nối phục vụ thuận tiện cho phát triển du lịch sinh thái ở huyện Nông Sơn

Mạng lưới đường bộ trên địa bàn huyện có 234,102km, chủ yếu là đường bê tông

và đường nhựa 13,45 km, còn lại là đường đất Trên địa bàn có các tuyến giao thông

chính như: Đường quốc lộ có đường Trường Sơn Đông đi qua địa bàn xã Quế Lâm dài

29,5 km Đường tỉnh lộ: có 2 tuyến là ĐT610 và ĐT611, trong đó tuyến ĐT610 kết nối huyện Nông Sơn với Duy Xuyên, Đại Lộc và thành phố Đà Nẵng, chiều dài 9km đã được nâng cấp nên có chất lượng khá tốt Đây là sẽ là tuyến du lịch kết nối Nông Sơn với

Mỹ Sơn, Hội An, Đà Nẵng Tuyến ĐT611 là tuyến giao thông chính của huyện kết nối

Trang 39

Nông Sơn với Quế Sơn, Hiệp Đức, Thăng Bình, Tam Kỳ, Hội An, Chiều dài tuyến qua địa phận Nông Sơn hơn 11km có chất lượng đường khá tốt với bề mặt là bê tông xi măng và nhựa Đây cũng là tuyến du lịch quan trọng kết nối với Đèo Le, Hội An,… Đường huyện có hai tuyến chính với tổng chiều dài 22,34 km gồm tuyến Nông Sơn – Quế Lâm 14,54 km, mặt đường được bê tông hóa, có chất lượng tương đối tốt Tuyến này có thể kết nối với thắng cảnh Hòn Kẽm – Đá Dừng Tuyến Quế Trung – Quế Phước

có chiều dài 7,8km, có chất lượng đường tương đối tốt Ngoài ra hệ thống đường xã và liên xã khá phát triển, tổng chiều dài 44,3km

Về giao thông đường thủy có tuyến trên sông Thu Bồn với chiều dài 37km, gồm có

2 luồng tuyến đò ngang (Trung Phước – Đại Bình, từ thôn 1 đi thôn 2 xã Quế Lâm) và 3 tuyến đò dọc (Trung Phước – Bến Dầu, Phú Thuận; Trung Phước – Hiệp Hòa, Trà Linh;

từ TT xã đi thôn 1 - Tứ Nhũ, Quế Lâm) Sau khi đường nối từ cầu Nông Sơn đi làng Đại Bình được hoàn thành thì đến đò ngang Trung Phước – Đại Bình có mức độ hoạt động giảm dần do bến đò này chủ yếu phục vụ khách thuê thuyền đi tham quan Hòn Kẽm –

Đá Dừng Kể từ khi cầu treo ở xã Quế Lâm được xây dựng việc thông thương giữa các thôn ở Quế Lâm thuận lợi hơn, nhất là khả năng tiếp cận với Hòn Kẽm – Ðá Dừng được

mở ra bằng đường bộ Trên địa bàn có 193 phương tiên vận tải bằng xe với 12 chiếc và dịch vụ vận tải taxi mới được khai trương với hàng chục đầu xe.vận tải bằng đường thủy

có 9 chiếc (Theo báo cáo của Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện năm 2018)

Như vậy, hệ thống cơ sở hạ tầng hiện nay đang được đầu tư đồng bộ với hệ thống các đường kết nối từ Nông Sơn đi các trung tâm du lịch như Đà Nẵng, Hội

An, Tam Kỳ, quốc lộ 1A bằng hệ thống đường tỉnh lộ ĐT 611, ĐT 610, đường Trường Sơn Đông, tuyến đường sông Thu Bồn Hệ thống cầu bắc qua sông Thu Bồn như cầu Nông Sơn, cầu treo Quế Lâm, hệ thống bến đò dọc bờ sông được quy hoạch, xây dựng sẽ góp phần tăng tính thuận lợi cho du khách Hệ thống giao thông nông thôn được bê tông hóa sẽ làm cho khách tiếp cận các điểm du lịch, các làng quê, làng nghề dễ dàng hơn Hệ thống thông tin liên lạc được phủ khắp địa bàn các

xã gồm truyền hình, sóng di động, internet, sẽ góp phần quảng bá cho du lịch Nông Sơn cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ khi khách đến tham quan Tuy nhiên, hệ

Trang 40

thống phương tiện gồm tàu, thuyền, xe phục vụ khách du lịch chưa đảm bảo các điều kiện cần thiết Các tuyến đường từ trung tâm huyện đi các xã đang có nguy cơ

bị xuống cấp ảnh hưởng đến độ an toàn và thời gian di chuyển của khách qu lịch Nhiều điểm du lịch chưa có hệ thống giao thông tiếp cận như suối thác Đại An, Ục Giô, khu bảo tồn voi,….đã làm giảm giá trị tài nguyên và khả năng khai thác thu hút

du khách

* Về hoạt động kinh doanh du lịch:

Về tổng thể, hoạt động kinh doanh du lịch đóng góp phần lớn vào giá trị sản xuất của ngành dịch vụ năm 2015 đạt 464,8 tỉ đồng (giá hiện hành) chiếm 31,12% trong cơ cấu giá trị sản xuất toàn huyện, tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ trong giai đoạn 2008 – 2015 là 12,99% -13,5% Tuy nhiên, do số lượng khách đến Nông Sơn ít, chủ yếu là đi cá nhân, gia đình, nhóm với số lượng nhỏ nên chưa thúc đẩy các hoạt động kinh doanh và dịch vụ phục vụ khách du lịch phát triển

Trên địa bàn hiện có 309 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và lưu trú có quy

mô nhỏ, trong đó có 5 cơ sở lưu trú (3 cơ sở lưu trú tận dụng nhà ở để kinh doanh) còn lại là cơ sở ăn uống Hiện nay, trên địa bàn có 915 cơ sở cá thể kinh doanh trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ - du lịch, trong đó, thương mại có 724 cơ sở, dịch vụ có 191 cơ sở với gần 1.108 người lao động

Trên thực tế là hệ thống cơ sở dịch vụ chuyên phục vụ du lịch chưa được hình thành chuyên nghiệp, quy củ (như nhà hàng, khách sạn, vui chơi giải trí) Thay vào

đó, các dịch vụ phục vụ khách du lịch được sử dụng với hệ thống dịch vụ phục vụ hoạt động kinh tế xã hội của địa phương như: quán ăn, nhà hàng, nhà nghỉ, khách sạn, các phương tiện giao thông, trạm xăng,… Do hoạt động du lịch mới phát triển

ở quy mô nhỏ, số lượng khách ít, chưa có các điểm kinh doanh du lịch rõ ràng (có bán vé, dịch vụ phục vụ khách du lịch) nên chưa có thống kê chính xác về doanh thu từ hoạt động du lịch Các điểm du lịch có khách tham quan như làng Đại Bình, Hòn Kẽm – Đá Dừng cũng chỉ mới bán trái cây, cho thuê thuyền tham quan mà chưa có nguồn thu cụ thể Dịch vụ lưu trú chưa phát triển Khách du lịch lên Nông Sơn chủ yếu đi về trong ngày Do đó, các chi phí của khách trong thời gian tham

Ngày đăng: 05/07/2019, 16:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w