1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại bán đảo sơn trà, thành phố đà nẵng hiện nay

97 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo “Tổng quan tài liệu về quản trị rừng ở Việt Nam” do Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung thực hiện ngày 18/1/2018 tại Hà Nội đã tổng quan với hơn 150tài liệu để khái quát k

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Ngô Tấn Sự

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH BẢO VỆ RỪNG 9

1.1 Một số khái niệm cơ bản 9

1.2 Nội dung của chính sách bảo vệ rừng 13

1.3 Các bước tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ rừng 17

1.4 Các chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ rừng 21

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ rừng 24 1.6 Kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại một số địa phương 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ RỪNG TẠI BÁN ĐẢO SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 35

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xă hội 35

2.2 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 42

2.3 Đánh giá chung về tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 66

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢTHỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ RỪNG TẠI BÁN ĐẢO SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 71

3.1 Quan điểm và mục tiêu trong thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 71

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 73

KẾT LUẬN 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

PCCC : Phòng cháy chữa cháy UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Hiện trạng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp tại Bán đảo

Bảng 2.2 Phân giao quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo chủ quản

Bảng 2.3 Diện tích rừng trong và ngoài quy hoạch lâm nghiệp

Bảng 2.4 Thống kê số lượng gỗ nhập khẩu tại các cơ sở kinh

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Thống kê số vụ cháy tại Bán đảo Sơn Trà giai đoạn

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rừng là tài nguyên quý giá của nước ta, vai trò của rừng không chỉ đóng vai trò cơ sở cho phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng bởi rừng là yếu tố tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, bảo tồn nguồn nước, làm giảm ô nhiễm không khí và giữ vững an ninh quốc phòng Hơn nữa, trước diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu hiện nay, vai trò của rừng càng đặc biệt quan trọng Vì thế, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ngày càng được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam

Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương, có diện tích rừng giàu tài nguyên, có giá trị lớn về đa dạng sinh học với 57.195,5 ha, gồm: 31.116,7 ha rừng đặc dụng; 8693,8 ha rừng phòng hộ; 17.385 ha rừng sản xuất và 2.729,9

ha rừng tự nhiên và rừng trồng sử dụng khác ngoài quy hoạch 3 loại rừng Tại

Đà Nẵng, ngoài ý nghĩa kinh tế, rừng còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch Song, do vị trí rất gần

so với trung tâm đô thị của Thành phố nên tình trạng rừng bị xâm hại cũng xảy ra thường xuyên, đây hiện là vấn đề bức xúc, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành Chính vì vậy, bảo vệ rừng tại Đà Nẵng hiện nay, cần phải có sự quan tâm, chú trọng đúng mức của các cấp, các ngành chức năng và cộng đồng xã hội, đồng thời phải có giải pháp tích cực để ngăn chặn, xử lý kịp thời

và có hiệu quả những vi phạm về bảo vệ rừng theo luật định

Trong những năm qua, các cấp chính quyền từ Trung ương đến thành phố Đà Nẵng đã triển khai, tổ chức thực hiện nghiêm túc và hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ rừng tại bán đảo Sơn Trà

Trang 10

(nơi được ví như là “lá phổi xanh của thành phố Đà Nẵng”) Hệ thống văn bản chính sách trong lĩnh vực bảo vệ rừng không ngừng được hoàn thiện, tạo một hành lang pháp lý cho việc thực hiện chính sách có hiệu quả Tuy vậy, chính sách bảo vệ rừng khi thực thi trên thực tế vẫn gặp nhiều hạn chế, nguồn lực phân tán và chưa đủ mạnh, chưa đáp ứng được yêu cầu và sự đòi hỏi của

xã hội Đúng vậy, những năm trở lại đây, tình hình vi phạm các quy định bảo

vệ rừng tại Bán đảo Sơn Trà diễn biến rất phức tạp và gây ra hậu quả rất nghiêm trọng Bán đảo Sơn Trà đang chịu tác động nghiêm trọng của một số hoạt động như du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng, săn bắt động vật hoang dã, khai thác tài nguyên rừng một cách đáng báo động Rừng được giao nhưng khâu quản lý bảo vệ chưa được chặt chẽ; công tác quản lý rừng giữa các cơ quan chức năng đang có sự chồng chéo, đó là giữa Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn, UBND phường Thọ Quang và Ban quản lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng; tình trạng tìm cách “lách luật” nhằm chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, mà điển hình là hiện tượng có hàng chục dự án kinh tế du lịch với vài trăm nền móng biệt thự đang mọc lên bất thường ở Bán đảo Sơn Trà theo kiểu phân lô, bán nền… đã đặt ra những thách thức và mâu thuẩn trong quản lý và phát triển rừng nơi đây; cũng như làm ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái và tình hình an ninh, trật

tự và sự phát triển về kinh tế - xã hội của thành phố

Xuất phát từ thực tế trên tác giả lựa chọn đề tài“Thực hiện chính sách

bảo vệ rừng tại Bán đảo Sơn trà, thành phố Đà Nẵng hiện nay” làm đề tài

nghiên cứu với mong muốn góp phần ngăn ngừa và khắc phục những hệ lụy

do con người gây ra làm tổn hại đến tài nguyên rừng nhìn từ phương diện của khoa học chính sách

Trang 11

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua, vấn đề bảo vệ rừng luôn nhận được sự quan tâm không chỉ của những nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách, hay người dân

mà còn đặc biệt thu hút sự quan tâm của những người làm công tác khoa học trong đó có những người làm khoa học chính sách và quản lý Liên quan đến lĩnh này trong những năm qua đã có nhiềubài viết trên các tạp chí, báo, nhiều luận văn, luận án, các đề tài khoa học và các công trình nghiên cứu Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi xin kể đến một số công trình trực tiếp

có liên quan mà đề tài có tham khảo sau đây:

Luận án Tiến sĩ ngành Điều tra quy hoạch rừng: “Đánh giá quản lý rừng

bền vững và giám sát thực hiện sau khi được cấp chứng chỉ rừng tại công ty

2016, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Luận án đã tập trung nghiên cứu làm sang tỏ những vấn đề lý luận về quản lý rừng bền vững và giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật đối với lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay cũng như xây dựng hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh đối với pháp luật quản lý bảo vệ rừng

Luận án Tiến sĩ Luật kinh tế “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong

2012, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Luận án tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng, áp dụng pháp luật trên thực tế, đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luât trong lĩnh vực bảo vệ rừng

Luận văn Thạc sĩ Luật học “Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà

Tuấn, năm 2012, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Tác giả

đã phân tích, nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với lĩnh

Trang 12

vực bảo vệ rừng và đưa các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi, hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng

Luận văn Thạc sĩ Luật học “Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ

viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về bảo vệ rừng, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng

Trong tài liệu Hội Thảo tại Hà Nội, “Định hướng nâng cao hiệu quả

đã đề xuất những định hướng nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng: “Tăng

cường công tác tuyên truyển đến đông đảo người dân; thực hiện thường xuyên và định kỳ hoạt động tuần tra, kiểm soát; thanh tra, giám sát để phát hiện các vụ việc vi phạm để xử lý ”

Báo cáo “Tổng quan tài liệu về quản trị rừng ở Việt Nam” do Trung Tâm

Phát Triển Nông Thôn Miền Trung thực hiện (ngày 18/1/2018 tại Hà Nội) đã tổng quan với hơn 150tài liệu để khái quát khá tổng hợp bức tranh về các vấn đề: Sở hữu và tiếp cận tài nguyên rừng; Lâm nghiệp cộng đồng và các bài học kinh nghiệm; Những việc đã làm được và chưa làm được về quản trị rừng trong các hoạt động khác nhau của ngành lâm nghiệp Việt Nam hiện nay… Trong đó, một số điểm lưu ý xác định trong quản trị rừng ở Việt Nam: (1) Với chính sách, trách nhiệm giải trình chưa tốt khi mà còn có nhiều quy định không rõ ràng, chồng chéo và dễ bị thay đổi; (2) Sự tham gia đã được đưa vào chính sách, nhưng mới ở dạng quan điểm, thiếu quy định cụ thể để làm cho sự tham gia sẽ được thực thi đúng Tính minh bạch trong chính sách còn thấp khi chưa có các quy định về công khai thông tin và sự tham gia của các tổ chức

xã hội và các bên khác; (3) Thông tin về quy hoạch mặc dù đã được công khai, nhưng chưa đầy đủ chi tiết để giúp xã hội tham gia giám sát thực hiện

Trang 13

quy hoạch Ở cấp trung ương, quy hoạch được xây dựng dựa vào nguồn lực được phân bổ, trong khi đó quy hoạch ở địa phương thường nhằm mục đích thu hút ngân sách Nhà nước; (4) Thiếu công bằng trong tiếp cận tài nguyên rừng, thiếu minh bạch, sự tham gia trong chính sách và quá trình lập quy hoạch và ra quyết định

Tại Hội thảo quốc gia về quản lý rừng do Bộ Nông nghiệp và PTNT tổ

chức tại Đà Nẵng, “Báo cáo khoa học về "Hệ thống quản lý rừng ở Việt Nam

hệ thống các chính sách quản lý rừng ở Việt Nam và đề xuất các chính sách bảo vệ rừng tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế “Bảo vệ tài nguyên rừng bằng pháp luật

hình sự ở Việt Nam” của Bạch Xuân Hòa, năm 2014, Khoa Luật Đại học quốc

gia Hà Nội Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của sự cần thiết quy định các tội phạm liên quan đến việc bảo vệ tài nguyên rừng trong Bộ luật hình sự Việt Nam Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng, góp phần quan trọng để bảo đảm cho nền kinh tế quốc gia phát triển toàn diện và bền vững

Một số bài viết như “Thành công và bất cập trong thực hiện chính sách

sách quản lý, bảo vệ rừng để phát triển vốn rừng ở vùng Đông Bắc Việt Nam: Thực trạng và những vấn đề đặt ra”của tác giả Trần Công Tuấn (2015)[42],

“Tăng cường hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở tỉnh Quảng Nam

của tác giả Nguyễn Thị Mùi (2015)[23], đã đánh giá những kết quả quan trọng trong việc thực hiện chính sách bảo vệ rừng trong thời gian vừa qua, mặt được, mặt chưa được trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ rừng, tăng

Trang 14

cường hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng rong thời gian tới

Bài viết của nhóm tác giả: Nguyễn Thế Tiến, Phùng Chí Sỹ (2006)[38], Viện Kỹthuật nhiệt đới và Bảo vệ môi trường và Huỳnh Thị Minh Hằng, Viện

Môi trường và Tài nguyên- Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh "Các vấn đề về

bảo vệ rừng rong quá tŕnh đô thị hóa- công nghiệp hóa ở thành phố Đà Nẵng", Tạp chí phát triển Khoa học&Công nghệ, tập 9, Môitrường và Tài

nguyên - 2006, sau khi phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên, đặcđiểm kinh tế

xã hội của quá tŕnh đô thị hóa và công nghiệp hóa, cùng với kết quảkhảo sát diễn biến phát triển rừng ở thành phố Đà Nẵng, các tác giả đưa ramột số các giải pháp khống chế và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình đô thịhóa

và công nghiệp hóa ở thành phố Đà Nẵng;

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên, về phần lý luận chỉ mới đề cập đến những quy định của pháp luật về bảo vệ rừng, vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước nhưng chưa đề cập đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ rừng Riêng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ khi thực hiện chính sách bảo vệ rừng theo các văn bản của Nhà nước cho đến nay chưa

có công trình nghiên cứu nào đánh giá về tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đặc biệt tại tại Bán đảo Sơn Trà – lá phổi xanh của thành phố, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tại địa phương nói riêng và cả nước nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc thực hiện chính sách bảo vệ rừng, đồng thời đánh giá tình hình thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại Bán đảo

Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

Trang 15

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Phân tích và hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách bảo

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian nghiên cứu: đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ rừng từ năm 2014 đến năm 2018

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tại Bán đảo Sơn Trà, Tp Đà Nẵng

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện với phương pháp luận liên ngành, lấy phương pháp luận ngành chính sách công làm chủ đạo Bên cạnh đó, luận văn có vận dụng phương pháp luận của các chuyên ngành lân cận là xã hội học và luật học Luận văn đặc biệt chú trọng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách phápluật của Nhà nước về thực hiện chính sách bảo vệ rừng

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp thu thập thông tin từ các tài liệu văn bản Luật, văn bản dưới Luật (Nghị định, Thông tư); các công trình nghiên cứu,các báo cáo, tài liệu thống kê

- Phương pháp thống kê: là phương pháp thu thập, tổng hợp các số liệu

Trang 16

về tình hình thực hiện chính sách bảo vệ rừng nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu Tác giả sử dụng phương pháp này chủ yếu để phân tích thực trạng và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tại chương 2

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng nhằm đánh giá tính hiệu quả, khả thi, thống nhất, toàn vẹn của chính sách khi thực thi trên thực tế

6 Ý nghĩa của luận văn

6.1 Ý nghĩa về mặt luận

Luận văn góp phần cung cấp những luận cứ từ thực tiễn giúp làm rõ cơ

sở lý luận của chính sách bảo vệ rừng tại Việt Nam từ nghiên cứu trường hợp bảo vệ rừng tại bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

6.2 Ý nghĩa về thực tiễn

Luận văn cung cấp những luận cứ lý luận và thực tiễn cho việc thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, đồng thời vận dụng tốt các chính sách bảo vệ rừng góp phần duy trì và bảo vệ bền vững tài nguyên rừng

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến chính sách bảo vệ rừng của Việt Nam nói chung và của bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng nói riêng

7 Kết cấu luận văn

Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách bảo vệ rừng

Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

Trang 17

Năm 1930, Morozov đã đưa ra khái niệm: “Rừng là một tổng thể cây gỗ,

có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ

Năm 1952, M.E.Tcachencođã định nghĩa: “Rừng là một bộ phận của

cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và cả vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình, chúng có mối

Năm 1974, LS.Melekhop cho rằng: “Rừng là sự hình thành phức tạp của

Ở Việt Nam, tại kỳ họp thứ 6, khóa XI, Quốc Hội nước ta đã ra luật số 29/2004/QH11, Luật bảo vệ và phát triển rừng ngày 03 tháng 12 năm 2004,

trong đó nêu rõ: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng,

động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có

độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng”

Trang 18

Những định nghĩatrên đượcđưa ra vào các thời điểm khác nhau song đã phản ánh được những đặc trưng cơ bản của rừng Từ những định nghĩa trên

đây , tác giả xin đưa ra khái niệm về rừng như sau: “Rừng là một hệ sinh thái

bao gồm các yếu tố thực vật rừng tự nhiên hoặc do con người trồng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh trên đất trồng rừng, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc thực vật đặc trưng là những thực vật chính chiếm ưu thế; động vật rừng sống hoang dã trong rừng; vi sinh vật rừng; quần xã thực vật rừng phải có một diện tích đủ lớn để tạo ra hoàn cảnh rừng đặc trưng và những yếu tố tự nhiên, môi trường do rừng tạo ra khác với hoàn cảnh bên ngoài, độ khép tán của quần xã thực vật phải lớn hơn 0,1”

1.1.2 Bảo vệ rừng

Để quản lý rừng bền vững, nhất thiết phải thực hiện bảo vệ rừng “Bảo

vệ rừng là tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng hiện có, bao gồm thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh học

Cũng theo tác giả Nguyễn Huy Dũng (2005) bảo vệ rừng bao gồm các hoạt động sau:

Thứ nhất, phải thực hiện tốt công tác tổ chức phòng ngừa và ngăn chặn

kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng như: phá rừng, đốt rừng, lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản; xuất nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng; săn bắn động vật rừng, chăn thả gia súc vào rừng trái quy định của pháp luật

Thứ hai, cần thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; phòng, trừ

sâu bệnh hại cho cây rừng

Thứ ba, hàng năm thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi

phạm theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng[8]

Trang 19

Nguyên tắc về bảo vệ rừng của Việt Nam cũng đã được quy định tại Điều 9, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, theo đó:

- Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm phát triển bền vững

về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch,

kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định

- Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm nguyên tắc quản lý rừng bền vững; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng; kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng, làm giàu rừng với bảo vệ diện tích rừng hiện có; kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và ngư nghiệp; đẩy mạnh trồng rừng kinh tế gắn với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng

- Việc bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất Việc giao, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng và đất phải tuân theo các quy định của Luật này, Luật đất đai và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm ổn định lâu dài theo hướng xã hội hoá nghề rừng

- Bảo đảm hài hoà lợi ích giữa Nhà nước với chủ rừng; giữa lợi ích kinh

tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên; giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; bảo đảm cho người làm nghề rừng sống chủ yếu bằng nghề rừng

- Chủ rừng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng rừng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của chủ rừng khác

Trang 20

1.1.3 Chính sách bảo vệ rừng

Chính sách là một thành tố, công cụ của quản lý Chính sách công là

thành tố của quản lý nhà nước, được hiểu “là một tập hợp biện pháp được thể

chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo

sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của

họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó

Chính sách công cũng có thể được hiểu “là một tập hợp các quyết định

chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể

đã xác định” [17]

Từ các quan niệm trên, chính sách công được hiểu theo nghĩa rộng: là kết quả của việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị với mục tiêu, giải pháp, công

cụ nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế, xã hội và phục vụ người dân

Chính sách bảo vệ rừng là chính sách công Như vậy, có thể định nghĩa

chính sách bảo vệ rừng là tập hợp các quyết định của Nhà nước nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về bảo vệ rừng nhằm thực hiện các mục tiêu bảo vệ rừng cho phát triển bền vững của đất nước

1.1.4 Thực hiện chính sách bảo vệ rừng

Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành của chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực Tổ chức thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng, là bước thực hiện hoá chính sách vào đời sống xã hội

Trang 21

Như vậy thực hiện chính sách bảo vệ rừng là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của chính sách và pháp luật về bảo vệ rừng đi vào cuộc sống, trở thành những hành động thực tế, hợp pháp của các chủ thể nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật về bảo vệ rừng; bảo vệ, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về bảo

vệ rừng bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững; giữ gìn cảnh quan môi trường sống cho các loài sinh vât

Chính sách bảo vệ rừng được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống tổ chức quản lý rừng cùng với sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp và các cộng đồng trong xã hội

Các hình thức tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ rừng rất đa dạng, phong phú, bao gồm từ các hình thức mang tính hành chính của quản lý nhà nước cho đến tuyên truyền, vận động, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng

1.2 Nội dung của chính sách bảo vệ rừng

Chính sách bảo vệ rừng hiện hành bao gồm nhiều loại chính sách, tuy nhiên trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến 5 chính sách bảo vệ rừng sau đây:

1.2.1 Chính sách phòng cháy, chữa cháy rừng

Chính sách PCCC là một trong những chính sách quan trọng được Nhà nước hết sức chú trọng và quan tâm, nhiều văn bản của Chính phủ đã quy

định rất cụ thể các nội dung để thực hiện chính sách PCCC

Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều văn bản liên quan đến chính sách PCCC được ban hành thường xuyên liên tục được bổ sung, hoàn thiện nhằm đảm bảỏ nhiều phương án cũng như giải pháp thực hiện PCCC Cụ thể:

Thực hiện Nghị định số 09/2006NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ quy định về PCCCR; Chỉ thị 270/CT- TTg ngày 12/2/2010 của

Trang 22

Thủ Tướng chính phủ về việc triển khai các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng; Chỉ thị 3767/CT-BNN-KL ngày 18/11/2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng, nhất là Chỉ thị số 07/CT-UBND ngày 30/5/2013 của UBND Thành phố Đà Nẵng về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng phát triển rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng có thể xảy ra trên địa bàn

Nhìn chung, các văn bản này tập trung vào triển khai và tăng cường thực hiện các biện pháp cấp bách về PCCC nhằm hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng có thể xẩy ra, hạn chế thấp nhất thiệt hại về tài nguyên rừng UBND thành phố Đà Nẵng đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ đọa kịp thời yêu cầu UBND quận Sơn trà phối hợp với Hạt kiểm lâm Quận xây dựng các Phương

án PCCC rừng tại Bán đảo Sơn trà, mua sắm trang thiết bị phục vụ khi có sự

cố cháy rừng xảy ra; phân công các đội tuần tra ứng phó trong những tình huống thời tiết khô nóng khắc nghiệt và xử lý kịp thời khi cháy rừng xảy ra có hiệu quả Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên các biển báo hiệu cấp dự báo cháy rừng, yêu cầu các chủ rừng tham gia ký kết không để xảy ra cháy rừng

1.2.2 Chính sách quản lý lâm sản

Xác định lâm sản là nguồn tài nguyên có ý nghĩa quan trọng về kinh tế

và sự đa dạng sinh học, những năm qua Chính phủ đã ban hành nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác quản lý lâm sản Nhờ đó, các lâm sản trên địa bàn được bảo vệ, nạn phá rừng, khai thác trái phép tài nguyên rừng từng bước được đẩy lùi, các tuyến đường được kiểm soát chặt chẽ, không có điểm nóng

về khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản, các vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng sớm được phát hiện, xử lý đúng quy định

Trang 23

1.2.3 Chính sách thanh tra, kiểm tra xử phạt vi phạm hành chính

Để bảo đảm thực hiện có hiệu qủa các chính sách bảo vệ rừng thì hoạt động kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật có ý nghĩa hết sức to lớn Đây là giải pháp đảm bảo cho chính sách về bảo vệ rừng được thực hiện có hiệu quả

Công tác kiểm tra, thanh tra xử phạt vi phạm hành chính đối với việc thực hiện chính sách pháp luật về bảo vệ rừng được tiến thành thường xuyên

và có định kỳ do Hạt kiểm lâm phối hợp với các đơn vị có liên quan thành lập các Đoàn đến kiểm tra tại các đơn vị, cơ sở, doanh nghiệp

Ngoài ra việc giám sát việc thực hiện pháp luật còn được tiến hành thường xuyên bởi các cơ quan Đảng, Mặt trận, đoàn thể Tăng cường hoạt động giám sát của quần chúng nhân dân đối với việc thực hiện pháp luật về bảo vệ rừng, người dân cũng là một trong những phương tiện giám sát hiệu quả các vụ vi phạm xảy ra báo cáo, kịp thời nắm bắt tình hình, báo cáo cơ quan có thẩm quyền kịp thời giải quyết, xử lý

1.2.4 Chính sách kiểm tra truy quét chống chặt phá rừng

Chính sách kiểm tra truy quét chống chặt phá rừng là một trong những chính sách bảo vệ rừng Chính sách này thường được Hạt Kiểm lâm chủ động thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng, UBND phường tiến hành tuần tra, kiểm tra rừng, tập trung tại các vùng trọng điểm có dấu hiệu tác động vào rừng trái phép

Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm Quận đã tăng cường tuần tra chốt chặn trên các tuyến đường giao thông trên nhằm ngăn chặn kịp thời các đối tượng xâm nhập trái phép vào rừng, các hành vi khai thác lâm sản ngoài gỗ, bẫy bắt động vật hoang dã trái phép, kiểm tra việc thực hiện cam kết đối với các đơn vị, cá nhân trong công tác bảo vệ rừng – PCCC - Vận chuyển, mua bán, cưa xẻ gỗ nhằm giáo dục, nhắc nhỡ các đối tượng này không hoạt động trái pháp luật

Trang 24

trong lĩnh vực bảo vệ rừng

1.2.5 Chính sách tuyên truyền giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng

Chính sách tuyên truyền giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng là một nội dung quan trọng của chính sách bảo vệ rừng Cụ thể: Tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Nghị định 157/2013/NĐ-

CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT ngày 04/01/2012 và Thông tư số 42/2012/TT-BNN PTNT ngày 28/8/2012 của Bộ Nông nghiệp và PTNT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01 về hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản; Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; Chỉ thị số 29/2011/CT-UBND ngày 29/8/2011 của UBND thành phố về tăng cường thực hiện các biện pháp để quản lý, bảo vệ và phát triển các loài ĐVHD trên địa bàn thành phố; Chỉ thị số 3837/CT-BNN-TCLN ngày 07/11/2012 của Bộ NN&PTNT về việc tăng cường quản lý gây nuôi, mua bán, sử dụng ĐVHD; công văn số 743/VP-CNN-M ngày 20/11/2012 UBND thành phố về việc tăng cường quản lý về tình hình buôn bán các loài động vật hoang dã; Chỉ thị số 396/CT-BNN-TCLN ngày 15/01/2015 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về tăng cường công tác quản lý các cơ sở nuôi ĐVHD nguy hiểm; Công văn số 8915/BNN-TCLN ngày 05/11/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc tăng cường công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng và các văn bản khác có liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và động vật hoang dã cho những đối tượng dân cư sống gần rừng, sản xuất thuỷ sản, sản xuất muối dưới tán rừng, các cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản, các nhà hàng quán ăn kinh doanhtrên địa bàn

Trang 25

Phát huy hiệu quả thông qua các bảng tuyên truyền Luật bảo vệ và phát triển rừng, bảng quy ước bảo vệ rừng trong cộng đồng dân cư dọc các tuyến đường và các khu dân cư tập trung; thường xuyên duy tu, sửa chữa và phát quang xung quanh nơi đặt các bảng tuyên truyền để nhân dân địa phương và

du khách dễ quan sát, tìm hiểu và thực hiện

1.3 Các bước tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ rừng

1.3.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ rừng

Tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ rừng là quá trình phức tạp lại diễn

ra trong thời gian dài, do đó cần phải xây dựng kế hoạch Đểthực hiện một cách hiệu quả chính sách bảo vệ rừng, trước hết cần phải tiến hành xây dựng

kế hoạch thực hiện một cách chi tiết, cụ thể, rõ ràng, từ kế hoạch tổ chức điều hành, kế hoạch chuẩn bị các nguồn lực để thực hiện, kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa phương; nhưng phải đảm bảo tuân thủ theo đúng quan điểm, mục tiêu, yêu cầu của chủ thể ban hành Nội dung của kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ rừng phải phù hợp, xác với tình hình thực tế của địa phương trên cơ sở Luật bảo vệ và phát triển rừng và các văn bản hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Khi xây dựng kế hoạch thực hiện, phải quy định cụ thể thời gian, lộ trình triển khai thực hiện; đồng thời xác định rõ các bên tham gia, có sự phân công, phân định rõ trách nhiệm cho từng cơ quan, tổ chức, từng cán bộ, công chức, tránh chồng chéo nhiệm vụ giữa cơ quan này với cơ quan khác; đặc biệt là phải đảm bảo cung cấp đủ nguồn lực tài chính, con người, cơ sở vật chất, các công

cụ, phương tiện thực hiện, đảm bảo việc triển khai thực hiện diễn ra thuận lợi, mang lại hiệu quả cao

1.3.2 Phổ biển, tuyên truyền chính sách bảo vệ rừng

Đây là bước quan trọng, giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người

Trang 26

dân tham gia hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách bảo vệ rừng, về tính đúng đắn của chính sách bảo vệ rừng để họ tự giác thực hiện Đồng thời, giúp cho cán bộ công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách bảo vệ rừng nhận thức đầy đủ tính chất, quy mô, tầm quan trọng của chính sách để họ tích cực tìm kiếm các giải pháp thực hiện

Để thực hiện tốt công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ rừng, cần phải đào tạo đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên có trình độ chuyên môn, có phẩm chất tốt và có năng lực truyền thông; đầu tư trang thiết bị, Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ rừng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú như hội thảo, tập huấn, huấn luyện, họp nhóm, tham quan, khảo sát .hay tiếp cận truyền thông qua những buổi biểu diễn lưu động, tham gia hội diễn, các chiến dịch, tham gia các lễ hội, các ngày kỷ niệm Nội dung tuyên truyền, phổ biến giáo dục phù hợp với các thành phần, đối tượng tham gia; gắn nghĩa vụ và trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân trong công tác bảo vệ rừng nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mọi cá nhân, tổ chức trong việc bảo vệ rừng

1.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo vệ rừng

Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo vệ rừng là việc cơ quan tổ chức thực hiện chính sách xem xét chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, cá nhân có liên quan để phân công, phân nhiệm một cách cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ, khoa học và hợp lý, xác định cơ quan nào đóng vai trò chủ trì, cơ quan nào có chức năng phối hợp, tránh trường hợp nêu chung chung, nhằm đảm bảo trong suốt quá trình thực hiện chính sách diễn ra suôn sẻ, thuận lợi, không bị chồng chéo, thiếu sót hoặc bị tắc nghẽn

Việc phân công, phối hợp trong thực hiện chính sách là một trong những vấn đề vướng mắc và yếu ở nước ta hiện nay Có những chính sách khi ban hành

Trang 27

xong không thể triển khai thực hiện do sự phân công, phân nhiệm cho các cơ quan chủ quản và cơ quan phối hợp thực hiện không rõ ràng hoặc chồng chéo, không có sự thống nhất giữa các cơ quan chủ quản và cơ quan phối hợp nên xảy

ra tình trạng đùn đẩy, né tránh hoặc ôm đồm dẫn đến không ai làm hoặc làm nửa vời không đến nơi, đến chốn Vì vậy, để việc tổ chức thực hiện chính sách bảo

về rừng có hiệu quả, trước tiên phải có sự thống nhất cao về quan điểm, về mục tiêu, về chương trình, kế hoạch thực hiện của cả hệ thống chính trị, từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo đến công tác tuyên truyền, vận động; công tác cung ứng nguồn lực tài chính

1.3.4 Thực hiện chính sách bảo vệ rừng

Thực hiệnchính sách bảo vệ rừng là hoạt động nhằm bảo đảm cho chính sách BVMT tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế Để duy trì được chính sách bảo vệ rừngđòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và cán bộ phụ trách ở các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở phải hiểu rõ chính sách, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để chính sách được thực thi tốt Các tổ chức, cá nhân (chủ thể chấp hành chính sách) phải có trách nhiệm tham gia thực thi chính sách một cách tích cực để duy trì chính sách Vì vậy, các cơ quan và người thực hiện chính sách phải thường xuyên dự báo tình hình

để có những tham mưu, đề xuất với Nhà nước có những giải pháp phù hợp, sử dụng những công cụ quản lý Nhà nước cần thiết để tác động kịp thời giúp cho chính sách được duy trì ổn định, lâu dài, bảo vệ quyền, lợi ích cho đối tượng thụ hưởng

1.3.5 Điều chỉnh, chính sách bảo vệ rừng

Điều chỉnh, bổ sungchính sách bảo vệ rừng là hoạt động được thực hiện bởi

cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo hướng điều chỉnh chính sách bảo vệ rừng ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tiễn phát triển của xã hội của địa phương Theo quy định cơ quan nào ban hành chính sách thì cơ quan

Trang 28

đó có quyền điểu chỉnh, bổ sung chính sách.Vì vậy, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể tiến hành điều chỉnh, bổ sung chính sách phù hợp với tình hình thực tế giúp cho các đối tượng chính sách có cuộc sống ổn định Tuy nhiên,

việc điều chỉnh, bổ sung phải phù hợp không được làm thay đổi mục tiêu chính

sách, nếu thay đổi mục tiêu chính sách, coi như chính sách thất bại

1.3.6 Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách bảo vệ rừng

Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách bảo vệ rừngphải được tiến hành thường xuyên, qua đó, giúp cho các cơ quan quản lý về rừng nắm rõ được tình hình thực thi chính sách, nội dung nào thực hiện thuận lợi, nội dung nào còn vướng mắc để kịp thời bổ sung hoàn thiện chính sách bảo

vệ rừng Đồng thời, chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách bảo vệ rừng

Kiểm tra còn giúp phát hiện và kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp trên các vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng để các đối tượng vi phạm điều chỉnh hành vi và tạo tính răn đe các đối tượng khác nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách

1.3.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ rừng

Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ rừng

là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo điều hành và chấp hành chính sách của các cơ quan và cá nhân liên quan được phân công thực hiện chính sách, cũng như hiệu quả, lợi ích mang lại cho xã hội, cho đối tượng hưởng lợi từ chính sách Sau thời gian triển khai thực hiện các chính sách bảo vệ rừng, các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường từ trung ương đến địa phương tiến hành xem xét đánh giá, tổng kết về chỉ đạo điều hành và chấp hành chính sách bảo

vệ rừng của các đối tượng thực thi chính sách Xem xét, đánh giá việc thực thi

Trang 29

của các đối tượng tham gia thực thi chính sách bảo vệ rừng (đối tượng được thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp) Thước đo để đánh giá kết quả thực thi chính sách bảo vệ rừng là: ý thức chấp hành các quy định về cơ chế, biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian

1.4 Các chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ rừng

Chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trong đó có bảo vệ rừng, trước hết là các cơ quan Nhà nước (Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, Bộ tài nguyên và Môi Trường, bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp) được quy định cụ thể tại chương I Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004

Chương I, Luật Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, cụ thể:

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi cả nước

Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi cả nước

Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ trưởng, Thủtrưởng cơ quan ngang bộ được quy định tại Điều 38 Luật bảo vệ và phát triển rừng:

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ chỉ đạo UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bảo đảm việc thực hiện các quy định về bảo vệ rừng theo quy định của Luật này; tổ chức dự báo nguy cơ cháy rừng; xây dựng lực lượng chuyên

Trang 30

ngành phòng cháy, chữa cháy rừng

- Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và quy định của Luật này; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

- Bộ Quốc phòng có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện công tác bảo vệ rừng tại các vùng biên giới, hải đảo và vùng xung yếu về quốc phòng, an ninh; huy động lực lượng tham gia chữa cháy rừng, cứu hộ, cứu nạn; tham gia đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

- Bộ Văn hoá - Thông tin có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn chỉ đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc tổ chức quản lý, bảo vệ rừng trong các khu rừng đặc dụng có liên quan đến di sản văn hoá

- Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc tổ chức quản lý, bảo vệ đa dạng sinh học, môi trường rừng

- Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc bảo vệ rừng:

Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ rừng của Ủy ban nhân dân các cấp được quy định cụ thể tại điều 38, Chương III, Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004:

UBND các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ và

Trang 31

phát triển rừng tại địa phương theo thẩm quyền Chính phủ quy định tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên ngành về lâm nghiệp từ trung ương

đến cấp huyện và cán bộ lâm nghiệp ở những xã, phường, thị trấn có rừng

Trách nhiệm và nghĩa vụ của Kiểm Lâm được quy định tại Chương VII, Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004:

Kiểm lâm là lực lượng chuyên trách của Nhà nước có chức năng bảo vệ rừng, giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Chủ tịch UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, bảo đảm chấp

hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

Trách nhiệm và quyền của các Chủ rừng:

Chủ rừng có trách nhiệm chung sau:

Bảo toàn vốn rừng và phát triển rừng bền vững; sử dụng rừng đúng mục đích, đúng ranh giới đã quy định trong quyết định giao, cho thuê rừng và theo quy chế quản lý rừng; Tổ chức bảo vệ và phát triển rừng theo quy hoạch, kế hoạch, dự án, phương án đã được phê duyệt; Định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật này; Giao lại rừng khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng hoặc khi hết thời hạn sử dụng rừng; Thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật; Thực hiện quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật; không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan

Chủ rừng có các quyền sau:

Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; Được sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng và thời hạn giao đất, cho thuê đất; Được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp kết hợp theo quy chế quản lý rừng, trừ rừng đặc dụng; Được hưởng thành quả lao động, kết quả

Trang 32

đầu tư trên diện tích được giao, được thuê; bán thành quả lao động, kết quả đầu tư cho người khác; Được kết hợp nghiên cứu khoa học, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng; Được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại; Được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp đối với rừng được giao, được thuê

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chính sách bảo

vệ rừng

1.5.1 Ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên

Là một quần xã sinh vật bao gồm: cây rừng, đất rừng, thú rừng…nên rừng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ các nhân tố tự nhiên Chính vì vậy, các chính sách bảo vệ rừng cũng chịu ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên Cụ thể: Dựa trên đặc điểm tự nhiên như yếu tố địa lý, đất đai, nguồn nước…đồng thời phụ thuộc vào từng loại rừng (như rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng ngập mặn, rừng trồng ven biển…) của từng địa phương thì Nhà nước thực hiện xây dựng các chính sách cụ thể và phù hợp Bên cạnh đó, tại những nơi có thời tiết cực đoan như khô hạn, nắng nóng nhiều dễ dẫn đến việc cháy rừng thì Nhà nước cần phải ban hành thêm các luật, các thông tư, chỉ thị…liên quan đến quy định phòng cháy, chữa cháy rừng Do đó, điều kiện tự nhiên của địa phương chính là tiền đề, là căn cứ tác động đến các chính sách bảo vệ rừng

1.5.2 Ảnh hưởng của nhân tố con người

Nhân tố con người cũng có tác động lớn đến chính sách bảo vệ rừng Thực vậy, nhân tố con người bao gồm trình độ học thức, trình độ văn hóa, ý

Trang 33

thức trách nhiệm, khả năng hiểu biết…của con người về các vấn đề xung quanh Do đó, tại những nơi có trình độ dân trí cao, người dân có ý thức tốt sẽ góp phần đưa các chính sách lâm nghiệp của Nhà nước được thực hiện có hiệu quả và ngược lại

1.5.3 Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế - xã hội

Tình hình kinh tế -xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến các chính sách bảo vệ rừng Để các chính sách được thực thi có hiệu quả thì cần phải có nguồn kinh phí nhất định phục vụ cho việc tổ chức, kiểm tra, giám sát…Do đó, việc đảm bảo kinh tế vững mạnh sẽ góp phần giúp các nhà lập chính sách đưa ra nhiều chính sách khuyến khích việc bảo vệ rừng Không nhưng thế, yếu tố kinh tế của hộ gia đình cũng góp phần tạo nên ý thức trong việc thực hiện chính sách Bởi lẽ, nếu kinh tế hộ gia đình khá, họ sẽ thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách bảo vệ rừng; ngược lại, nếu kinh tế hộ còn nhiều khó khăn sẽ khiến cho người dân bất chấp các quy định của Nhà nước trong việc khai thác trái phép tài nguyên rừng, khiến cho công tác bảo vệ rừng ngày càng khó khăn, phức tạp

1.5.4 Ảnh hưởng của các nhân tố môi trường sinh thái

Môi trường sinh thái cótác động không nhỏ đến chính sách bảo vệ rừng Thực vậy, môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện tự nhiên, nhân tạo bao quanh con người, có tác động tới đời sống, sự tồn tại, phát triển của con người như: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, cây cối, sông, biển, hồ, động thực vật, các khu dân cư, khu sản xuất… Ảnh hưởng của môi trường sinh thái rất quan trọng và trực tiếp đến cuộc sống của con người và xã hội Môi trường sinh thái góp phần làm nên một cuộc sống tốt nếu nó được bảo tồn,hoặcsẽ suy yếu nếu không được chúng ta bảo vệ haytrực tiếp gâytổn hại bởi sự tác động tiêu cực qua đời sống của con người (gây ô nhiễm môi trường) Giữa con người và môi trường sinh thái có một mối quan hệ tương tác với nhau và ảnh

Trang 34

hưởng trực tiếp lẫn nhau Con người và môi trường sinh thái sẽ cùng nhau tồn tại nếu con người biết hỗ trợ bằng cách chăm sóc và bảo vệ môi trường sinh thái để cuộc sống trở nên tốt đẹp Các loài vật sống trên trái đất đều chịu ảnh hưởng của môi trường sinh thái Chính môi trường thuận lợi đã tạo ra sự sống

và các loài nhờ đó mà sinh sôi và phát triển

Trong xã hội hiện đại con người ngày càng tác động nhiều đến môi trường, làm biến đổi môi trường sinh thái một cách nghiêm trọng.Và, khi môi trường bị hủy hoại thì con người sống trong đó cũng phải chịu những ảnh hưởng tiêu cực khó lường

Ví dụ: nếu con người trồng nhiểu cây cối, bảo vệ rừng thì cây cối sẽ điều hòa không khí, lọc các khí thải độc hại mà con người thải ra, làm cho khí hậu trong lành Cây cối còn chống sự ô nhiễm các nguồn nước, chống lũ lụt, chống được hiệu ứng nhà kính, Ngược lại, nếu con người chỉ biết khai thác, tận diệt tài nguyên rừng thì con người hứng chịu những hậu quả do chính hoạt động của con người gây ra như các chất thải của con người ra ngoài môi trường sẽ làm ô nhiễm ngay chính môi trường sống của con người Chính vì thế chính sách bảo vệ rừng nhất thiết phải quan tâm sâu sắc đến mối quan hệ mật thiết giữa con người và môi trường sinh thái

1.5.5 Ảnh hưởng của các nhân tố khác

Các nhân tố khác cũng ảnh hưởng đến chính sách bảo vệ rừng Các nhân

tố này bao gồm: các chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách ngành và các chương trình của nhà tài trợ Cụ thể: Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước bao gồm: các luật, thông tư trong việc cải cách hành chính, cải cách doanh nghiệp, các chương trình giao đất nông nghiệp,…cũng góp phần tác động đến sản xuất đầu vào, đầu ra ngành lâm nghiệp, tác động đến chính sách bảo vệ rừng Không những thế, các thông tư của Bộ Nông nghiệp, của Tổng cục Lâm nghiệp cũng góp phần tạo việc làm, giúp lâm nghiệp phát triển Đồng thời,

Trang 35

các nhà tài trợ nước ngoài như các tổ chức WB, ADB…cũng là nơi hỗ trợ cả tài chính và kỹ thuật góp phần tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành Lâm nghiệp nói chung và tác động tích cực đối với chính sách bảo vệ rừng nói riêng

1.6 Kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại một số địa phương

1.6.1 Kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo vệ rừng ở huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn

Huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn là một huyện miền núi vùng cao, trong đó: Phía Nam giáp với thị xã Bắc Kạn, phía Đông giáp với huyện Na Rì, phía Bắc giáp với Ngân Sơn, Ba Bể; phía Tây giáp với huyện Chợ Đồn Chính vì vậy, Bạch Thông là huyện phản ánh tương đối đầy đủ những đặc điểm chính của Bắc Kạn cả về điều kiện tự nhiên và xã hội Huyện Bạch Thông với chiều dài hơn 30Km chạy theo Quốc lộ 3 với tổng diện tích tự nhiên là 545,62km2 với dân số 32.216 người, huyện lỵ là thị trấn Phủ Thông cách thành phố Bắc Kạn 18 km về hướng bắc

Tài nguyên thiên nhiên của huyện Bạch Thông khá phong phú, trong đó rừng và khoáng sản là nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn nhất Trong rừng có nhiều loại gỗ quý như: Nghiến, lim, sến, táu cùng các loài thú và các loại lâm sản quý khác Đất cũng là một nguồn tài nguyên quý của huyện Bạch Thông Đất ở Bạch Thông chủ yếu là các loại đất feralit rất thích hợp cho việc phát triển các loại cây công nghiệp như: Mía, lạc, đậu tương, hồi, quế… và các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế như cam, quýt…

Hiện nay, diện tích đất lâm nghiệp của huyện Bạch Thông có trên 36.428ha (66,78%); trong đó diện tích trồng rừng tập trung thực hiện được 20 542,6ha, diện tích trồng rừng phân tán là 11,65ha Từ phong trào nông dân thi đua, sản xuất nông - lâm nghiệp giỏi, trên địa bàn huyện Bạch Thông ngày

Trang 36

càng xuất hiện nhiều hộ dân làm giàu từ mô hình kinh tế VAC, kinh tế đồi, rừng… góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, khai thác tốt thế mạnh của từng vùng, hình thành các đơn vị sản xuất hàng hóa phù hợp với thị trường tiêu thụ, mang lại hiệu quả kinh tế cao Trong những năm gần đây, diện tích rừng trồng mới của huyện tăng qua các năm: năm 2015, toàn huyện thực hiện được 914,24 ha rừng trồng mới, trong đó: Diện tích trồng rừng Dự

án 147 thực hiện 739,24 ha/700 ha, đạt 105,6% kế hoạch

Có được kết quả trên là do các chính sách quản lý, bảo vệ rừng đã được ban lãnh đạo tỉnh, đặc biệt là chi cục lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn, hạt kiểm lâm huyện Bạch Thông rất quan tâm

Cụ thể: Chi cục đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành trong công tácbảo vệ rừng, kết quả là trên 95% diện tích rừng đã được bàn giao đất và thuộc quản lý của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng Đồng thời, với chính sách tạo điều kiện cho phát triển, huyện đã thu hút được nhiều các chương trình, dự án đầu tư cả trong và ngoài nước cho việc bảo vệ rừng, từ đó góp phần tăng diện tích, chất lượng rừng ngày càng được nâng cao

Không những thế, UBND tỉnh Bắc Kạn, UBND huyện Bạch Thông còn thực hiện chỉ đạo các sở, ban ngành rà soát diện tích đất, rừng chưa giao; đồng thời thực hiện cấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các cá nhân trong huyện Ngoài ra, với đề án “Bốn tại chỗ”, công tác bảo vệ, quản lý, phát triển rừng, phòng cháy rừng được thực hiện quyết liệt tại cơ sở Thực hiện giao trách nhiệm trực tiếp cho chủ tịch UBND các xã trong huyện, lực lượng kiểm lâm và hạt kiểm lâm chịu trách nhiệm chính trong việc tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân quản lý rừng Đồng thời ban này còn trực tiếp tổ chức ký cam kết, xây dựng các buổi nói chuyện với người dân về chính sách bảo vệ rừng Với cách làm như vậy đã khiến cho công tác bảo vệ rừng ngày càng chặt chẽ, hiệu quả Từ đó góp phần phát triển rừng nói riêng, kinh tế xã hội

Trang 37

huyện Bạch Thông nói chung ngày càng vững mạnh

1.6.2 Kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo vệ rừng ở huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

Huyện Ba Chẽ nằm giữa tỉnh Quảng Ninh có huyện lỵ là thị trấn Ba Chẽ nằm cách thành phố Hạ Long khoảng 50 km về hướng bắc; phía Bắc giáp với Lạng Sơn, phía tây giáp với tỉnh Bắc Giang và phía đông giáp với huyện Tiên Yên Huyện Ba Chẽ có diện tích 608 km2 với dân số là 21.819 người với trên 4.900 hộ dân, trong đó, dân tộc thiểu số là trên 3.800 hộ dân

Hiện nay, huyện có 10 dân tộc anh em sinh sống, bao gồm Dao, Tày, Kinh, Hoa, Sán Dìu, Sán Chỉ, Cao Lan, Mường, Thái phân bổ rải rác tại 75 thôn, khu phố; dân tộc thiểu số chiếm 80% dân số Mật độ dân số bình quân

34 người/km2, trình độ dân trí không đồng đều

Huyện Ba Chẽ có tổng diện tích đất tự nhiên là 60.855,56 ha, trong đó đất lâm nghiệp 56.685,7 ha; đất phi nông nghiệp 1.474 ha; đất chưa sử dụng 2.695,86 ha Với tiềm năng thế mạnh về đất rừng hiện nay của huyện Ba Chẽ rất phù hợp với điều kiện để đẩy mạnh phát triển sản xuất lâm nghiệp Rừng

tự nhiên ở Ba Chẽ phát triển rất phong phú về chủng loại

Xác định lâm nghiệp là trọng tâm để phát triển, Ba Chẽ đã tập trung phát huy các tiềm năng, lợi thế để vươn lên Sáu tháng đầu năm 2015, với các chính sách thiết thực, huyện đã huy động người dân và doanh nghiệp mở rộng trồng rừng mới được 2.997,3ha, bằng 92,2% kế hoạch, bằng 95% so cùng kỳ Đáng chú ý là từ năm ngoái đến nay, huyện đã phát triển thêm hơn 100ha ba kích tím, trên 50ha vùng trồng chè hoa vàng; trên 20ha vùng trồng thanh long ruột đỏ; gần 50ha tre măng Các sản phẩm nông nghiệp được gắn liền với đổi mới bao bì, mẫu mã nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp để tiến tới xây dựng sản phẩm OCOP Hiệu quả được minh chứng là từ hội chợ OCOP, Ba Chẽ đã đạt doanh thu 560 triệu đồng, cao nhất so với các địa phương của tỉnh

Trang 38

22 Nhờ thực hiện quyết liệt các giải pháp phát triển, 6 tháng đầu năm, Ba Chẽ

đã thu ngân sách đạt hơn 5,8 tỷ đồng, đạt 58,6% kế hoạch phấn đấu của huyện, đạt 66,7% kế hoạch tỉnh giao, so với cùng kỳ đạt 123,2%

Để có được kết quả trên là do nhiều yếu tố Trước hết, UBND huyện cũng đã sớm giao chỉ tiêu kế hoạch vốn sản xuất lâm nghiệp và thực hiện đầu

tư rừng phòng hộ, đồng thời thực hiện hỗ trợ trồng rừng sản xuất cho người dân Chính sách này còn được cụ thể tại từng xã, thôn…trong huyện nên các địa phương, đơn vị đã chủ động trong công tác giao kế hoạch, bố trí lực lượng, chuẩn bị tốt các điều kiện sản xuất tại các xã, thôn trong đầu năm Đồng thời, chi cục lâm nghiệp còn thực hiện phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường chỉ đạo, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, quản lý và điều tiết nguồn giống, quản lý, chất lượng cây giống, thực hiện giải quyết khó khăn tại cơ sở, thực hiện lập hồ sơ xử lý các trường hợp sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích Các công ty lâm nghiệp còn phải xây dựng phương án huy động nguồn vốn, đẩy mạnh liên doanh, liên kết trồng rừng để hoàn thành

kế hoạch được giao

Ngoài ra, chi cục lâm nghiệp tỉnh Quảng Ninh còn phối hợp với hạt Kiểm lâm huyện Ba Chẽ trong việc đôn đốc, hướng dẫn các địa phương trong huyện giải quyết các vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành công tác giao rừng trồng, gắn với giao đất lâm nghiệp trong khuôn khổ chương trình 327 và 661 trên toàn địa bàn huyện

1.6.3 Kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo vệ rừng ở huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng

Huyện Thông Nông là một huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Cao Bằng, huyện cách Trung tâm tỉnh lỵ 50 km theo đường tỉnh

lộ 204; Phía Bắc tiếp giáp với huyện Nà Po, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; phía Nam giáp với huyện Hòa An và Nguyên Bình; phía Đông giáp với huyện

Trang 39

Hà Quảng; phía Tây giáp với huyện Nguyên Bình và huyện Bảo Lạc

Hiện nay, diện tích đất lâm nghiệp của toàn huyện là 31.722,31 ha, trong

đó huyện đã trực tiếp giao 29.501,75 ha cho người dân quản lý và sử dụng đất

để trồng rừng (chiếm 93% diện tích toàn huyện) Theo chủ trương của Nhà nước, huyện đã thực hiện triệt để việc giao đất, giao rừng cho người dân Qua

đó, ngành lâm nghiệp đã và đang chuyển dần từ quản lý Nhà nước sang cá thể với mục tiêu là xây dựng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất theo hướng nông lâm kết hợp Hàng năm, huyện xây dựng được 300- 450 ha rừng tập trung, đưa tỷ lệ độ che phủ rừng lên mức 51,2%

Bên cạnh đó, huyện còn thành lập ban quản lý rừng đặc dụng Với chính sách phát triển rừng bền vững, tháng 6/2013, phòng lâm nghiệp huyện còn phối hợp với Phân viện Điều tra quy hoạch Đông bắc bộ tiến hành điều tra xác định các giá trị tài nguyên hiện có; xác định các phân khu chức năng; lập quy hoạch trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; đề xuất các giải pháp thực hiện

Trên cơ sở đó, Ban Quản lý Khu rừng đặc dụng xây dựng dự án đầu tư

để kêu gọi và thu hút các tổ chức trong và ngoài nước đầu tư phát triển rừng đặc dụng tại địa phương Hạt kiểm lâm còn thực hiện phân công cán bộ kiểm lâm thay nhau chốt chặn trong rừng nhằm chấn áp các vụ lâm tặc, quặng tặc Hạt cũng được Chi cục lâm nghiệp tỉnh Cao Bằng đầu tư các cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, trang thiết bị, phương tiện hỗ trợ cho việc quản lý, bảo vệ rừng Đồng thời hạt cũng thực hiện cấp kinh phí hỗ trợ công tác khoán bảo vệ

và phát triển rừng cho người dân sống gần rừng cũng như hỗ trợ phát triển kinh tế cộng đồng

Để bảo vệ rừng, hạt kiểm lâm đã phối hợp với các lực lượng chuyên trách: Công an, Kiểm lâm, tài nguyên và môi trường, chính quyền xã, thị trấn… và duy trì 2 trạm chốt chặn trong khu rừng Điều này khiến cho việc

Trang 40

quản lý, bảo vệ rừng ngày càng đạt hiệu quả cao, hàng năm, số lượng lâm tặc hoành hành ít đi, rừng và thú rừng được bảo vệ ngày càng tốt hơn; số lượng rừng trồng mới tăng lên hàng năm

Chi cục lâm nghiệp phối hợp với địa phương đã giao cho từng xã, thôn trong huyện trong việc tăng cường đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, chủ động các nguồn giống Đồng thời thực hiện quản lý chất lượng cây giống, đề xuất giải quyết các khó khăn tại các cơ sở trên địa bàn huyện, thực hiện lập hồ

sơ xử lý các trường hợp sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích

Hạt kiểm lâm huyện Thông Nông đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chính sách về phát triển lâm nghiệp và bảo vệ rừng Huyện đã trích một phần kinh phí của địa phương để sử dụng cho nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng Việc quan tâm và triển khai thực hiện tốt chính sách của Nhà nước, của địa phương về quản lý, bảo vệ rừng dẫn đến hiệu quả rừng của địa phương ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lương

1.6.4 Bài học rút ra cho thành phố Đà Nẵng trong việc thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại bán đảo Sơn Trà

Qua thực tế tình hình thực hiện các chính sách quản lý, bảo vệ rừng ở các huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn; huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh và huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho trong việc thực hiện chính sách bảo vệ rừng tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng như sau:

Thứ nhất, ban lãnh đạo của thành phố cần đẩy mạnh công tác tuyên

truyền, phổ biến Luật Bảo vệ và phát triển rừng tới các xã, thôn và người dân trong toàn quận Các chính sách cần tuyên truyền phải cụ thể hóa các chủ trương, chính sách bảo vệ rừng, giao rừng, cho thuê rừng đến mọi tầng lớp nhân dân, để nhân dân tham gia bảo vệ, quản lý rừng, nhận rừng, thuê rừng quản lý, sử dụng hiệu quả

Ngày đăng: 05/07/2019, 13:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w