Các công trình nghiên cứu triển khai có liên quan tới BVMT và sức khỏe môi trường trong những năm qua đã cung cấp những kiến thức cơ bản và các cách tiếp cận về hoạt động bảo vệ môi trườ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ THANH VINH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ THANH VINH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nêu trong luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác,
số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác và trung thực
Vậy tôi kính đề nghị Học viện Khoa học xã hội xem xét cho phép tôi được bảo
vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Hồ Thanh Vinh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 7
1.1 Một số khái niệm cơ bản 7
1.2 Quy định các bước thực hiện những chính sách để bảo vệ môi trường 11
1.3 Chủ thể và các bên liên quan thực hiện chính sách bảo vệ môi trường 15
1.4 Khái quát về chính sách bảo vệ môi trường của Việt Nam và chính sách bảo vệ môi trường của thành phố Đà Nẵng 22
Kết luận Chương 1 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 29
2.1 Khái quát về quận Ngũ Hành Sơn và đặc điểm môi trường của Quận 29
2.2 Tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường tại quận Ngũ Hành Sơn thời gian qua 36
2.3 Những thành tựu và hạn chế đặt ra trong thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn 52
Kết luận Chương 2 65
CHƯƠNG 3 NHÓM GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 66
3.1 Xây dựng chính sách bảo vệ môi trường phù hợp với thực tiễn 66
3.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ trong thực hiện chính sách bảo vệ môi trường 69
3.3 Tăng cường phối hợp giữa các chủ thể trong thực hiện chính sách về bảo vệ môi trường 70
3.4 Phát huy nguồn lực kinh tế thực hiện chính sách bảo vệ môi trường 71
3.5 Tuyên truyền, giáo dục nhận thức về bảo vệ môi trường 72
Trang 53.6 Xây dựng các đề án về bảo vệ môi trường tại Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
và triển khái phương án thu gom chất thải 74Kết luận Chương 3 79
KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT: Bảo vệ môi trường
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa UBTV.QH Ủy Ban Thường vụ Quốc hội TP.ĐN Thành phố Đà Nẵng
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
TNMT: Tài nguyên môi trường
MT: Môi trường
ĐVTN: Đoàn viên thanh niên
CCB: Cựu Chiến Binh
CLB: Câu lạc bộ
TN&MT: Tài nguyên và môi trường XNMT: Xí nghiệp môi trường
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Các tuyến đường của làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước bị ô
nhiễm
35
Hình 2.2 Nông dân trồng rau trên đất đã được quy hoạch 35
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Hệ thống tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở
quận
38
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ thể hiện nguồn ngốc phát sinh chất thải rắn 57
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, để tồn tại trong cuộc cạnh tranh kinh tế thị trường quyết liệt của khu vực và toàn cầu, Việt Nam phải thực hiện cách mạng công nghiệp 4.0, và công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Quá trình đó đã gây sức ép lớn tới môi trường; giải pháp đặt ra là chúng ta phải có sự kết hợp chặt chẽ quá trình phát triển với bảo vệ môi trường, coi lợi ích môi trường là một yếu tố phải cân nhắc tới khi hoạch định các chính sách phát triển
Cùng với sự phát triển kinh tế, các đô thị, các ngành sản xuất kinh doanh và dịch vụ ngày càng được mở rộng và phát triển nhanh chóng, nó đã tạo ra một số lượng lớn chất thải làm biến đổi một số thành phần môi trường sẽ gây tác động đáng
kể đối với các hệ sinh thái và sự tồn tại, phát triển của đời sống con người Vì vậy, vấn đề bảo vệ môi trường luôn là một trong những nhiệm vụ trọng yếu và cấp bách của mỗi quốc gia nhất là ở các quốc gia đang phát triển Để bảo vệ môi trường, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp giải quyết các vấn đề môi trường Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các sự cố và thảm họa về môi trường ở Việt Nam diễn ra ngày càng nghiêm trọng về quy mô, mức độ tàn phá môi trường
Thành phố Đà Nẵng được xem là thành phố đáng sống, hàng năm thành phố
Đà Nẵng thu được một khoảng ngân sách lớn từ ngành du lịch do du khách, trong nước, ngoài nước đến tham quan nghĩ dưỡng ở nơi đây Khách sạn, nhà hàng, các khu buôn bán hàng mỹ nghệ truyền thống mọc lên ồ ạt san sát các bãi tắm ven biển Thế nhưng, dường như giữa sự đầu tư về môi trường du lịch chưa thỏa đáng và cân bằng với sự xả thải, ô nhiễm gây ra từ các nhà hàng, khách sạn; bên cạnh đó làng nghề truyền thống với tiếng ồn, bụi và nước thải gây ô nhiễm nặng
Quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tập trung cao độ trong công tác chỉnh trang đô thị, giải tỏa đền bù xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong chiến lược
mở rộng về phía Đông Nam của thành phố Đà Nẵng Quận đang trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng tỷ trọng “Tiểu thủ công nghiệp - dịch
Trang 9vụ - du lịch” Hạ tầng kỷ thuật của các dự án trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn đang
được ở giai đoạn nước rút, nhanh trên toàn địa bàn theo đó là tiếng ồn, bụi và nước thải ô nhiễm, trong đó có một vài dự án triển khai chậm tiến độ kéo dài nhiều năm dẫn đến cây cỏ, rác thải, giá hạ - xà bần và nước tù đọng làm ô nhiễm môi trường; các khu tái định cư mới hình thành làm tăng nguồn rác thải sinh hoạt…, đã có những tác động tiêu cực đến chất lượng sức khỏe người dân, đồng thời làng nghề truyền thống sản xuất đá mỹ nghệ Non Nước đang gây ô nhiễm môi trường
Những năm qua quận Ngũ Hành Sơn xây dựng kế hoạch, phương án và đưa ra các giải pháp để Ngũ Hành Sơn trở thành quận môi trường như mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận, nhiệm kỳ 2015 – 2020 Với các yêu cầu về chất lượng môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí trên toàn Quận được bảo đảm, tạo sự an toàn về sức khỏe và môi trường cho người dân, nhà đầu tư, du khách trong và ngoài nước khi đến Ngũ Hành Sơn Do đó phải khắc phục những hạn chế
và xây dựng Đề án bảo vệ môi trường với giải pháp, mục tiêu cụ thể nhằm từng bước vững chắc trở thành “Quận môi trường” được Thành phố, Trung ương và công đồng Quốc tế công nhận
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên, tôi chọn thực hiện nghiên cứu đề tài
“Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” nhằm góp phần khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường của quận
Ngũ Hành Sơn trong thời gian đến
2 Các nghiên cứu có liên quan
Những công trình, đề tài viết với chủ đề bảo vệ môi trường luôn được cộng đồng quan tâm tham khẩu với mục đích tìm ra những nguyên nhân và hậu quả và làm rõ bản chất và hiện tượng của vấn đề bảo vệ môi trường nhằm khơi dậy sự quan tâm của mọi tầng lớp nhân dân về vấn đề cấp thiết hiện nay Từ đó có thể đưa ra ý kiến và cùng nhau bàn luận tìm ra những giải pháp hiệu quả thiết thực hơn góp phần vào việc BVMT sống của quận Ngũ Hành Sơn chúng ta ngày càng xanh, sạch, đẹp
và trong lành hơn; có thể nêu một số công trình liên quan đến luận văn như:
Trang 10Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 1866/QĐ-TTg ngày 08/10/2010 về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng đến 2020
Tập trung khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của thành phố để phát triển kinh
tế - xã hội nhanh, bền vững gắn với đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp và nâng cao chất lượng tăng trưởng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật của vùng và cùng với các thành phố lân cận hình thành hành lang kinh tế Bắc - Nam Kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững Đồng thời tổ chức thực hiện tốt các cam kết
thiên niên kỷ của Việt Nam
Bài viết Nguyên Chương và Trần Như Quỳnh “Phương pháp xếp hạng chỉ số hài lòng của người dân đối với chất lượng cung cấp dịch vụ của quận, huyện trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng”, tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội, Đà Nẵng, 21, 2011
Bài viết TS Lê Dân: “Đánh giá mức dộ hài lòng về dịch vụ hành chính công tại thành phố Đà Nẵng: tình hình thực hiện và một số kiến nghị”, tạp chí, Sinh hoạt
lý luận, số 1 (98), 2010
Bài viết PGS,TS, Nguyễn Đăng Thành Phó Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh “Đánh giá chính sách công ở Việt Nam” là xem xét, nhận định về giá trị các kết quả đạt được khi ban hành và thực thi một chính
sách công, tạp chí Cộng Sản, 3/2019
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Lệ Quyên tại Đại học Đà Nẵng “Quản lý Nhà nước
về môi trường tại thành phố Đà Nẵng” Quản lý Nhà nước về môi trường tại thành phố Đà Nẵng đã kết hợp được với các tổ chức, đoàn thể và các ngành chức năng trong công tác bảo vệ môi trường đưa ra một cái nhìn tổng quát về thực trạng QLMT ở Tp.Đà Nẵng, phân tích những thành tựu và hạn chế của công tác QLNN
về MT Từ đó đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác BVMT góp phần xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành “Thành phố mơi trường” trong tương lai
Trang 11Luận văn Thạc sĩ Hồ Thị Như Ngọc tại Đại học Đà Nẵng “Xây dựng mô hình quản lý chất thải rắn nông thôn theo hướng bền vững tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng”
Luận văn Thạc sĩ Lê Công Toàn tại Đại học Đà Nẵng “Đánh giá hiện trạng hệ thống thoát nước và đề xuất giải pháp quy hoạch hệ thống thoát nước quận Sơn Trà – TP Đà Nẵng thích ứng với biến đổi khi hậu” Để đối phó với xu thế BĐKH hiện nay, với những diễn biến ngày càng phức tạp của thời tiết, các quận của TP Đà Nẵng trong đó có quận Sơn Trà, cần có các giải pháp đồng bộ và cụ thể mang tính khả thi cao Đó là các giải pháp quy hoạch, chuẩn bị kỹ thuật, cũng như nguồn vốn đầu tư lớn để nâng cấp và xây mới hệ thống bảo vệ đô thị như đê sông, đê biển, hồ chứa…phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của thành phố
Các công trình nghiên cứu triển khai có liên quan tới BVMT và sức khỏe môi trường trong những năm qua đã cung cấp những kiến thức cơ bản và các cách tiếp cận về hoạt động bảo vệ môi trường và phương pháp thu tập dữ liệu, thông tin về
bảo vệ môi trường để xây dựng đề tài “Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu chính sách về bảo vệ môi trường với mục đích là làm rõ những
cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường, nhằm nâng cấp cơ quan quản lý nhà nước đủ sức thực hiện tốt các nhiệm vụ chung của thành phố Đà Nẵng, phục vụ hiệu quả công tác bảo vệ môi trường quận Ngũ Hành Sơn
- Mục đích chính của bảo vệ môi trường trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn là: Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường ở những nơi, những vùng đã bị suy thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở làng nghề, khu đô thị góp phần phát triển kinh tế xã hội bền vững, nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ mội trường của Việt Nam
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan về tình hình, cơ sở lý luận nhà nước về môi trường và xác định rõ nôi dung, nhiệm vụ của thành phố Đà Nẵng và địa bàn quận Ngũ Hành Sơn
Thu tập, xử lý và phân tích các tài liệu về chính sách bảo vệ môi trường trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn để xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bảo vệ môi trường của quận ngày một tốt hơn
Phát huy kết quả đạt được và chỉ ra các nguyên nhân hạn chế về chính sách, đề xuất nhóm giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là: Các vấn đề lý luận về chính sách bảo vệ môi trường quận Ngũ Hành Sơn hiện nay; văn bản của thành phố, quận về bảo vệ môi trường; Thực tiễn xây dựng, áp dụng chính sách về bảo vệ môi trường Luận văn đã phân tích nội dung các chính sách về bảo vệ môi trường của Quận hiện nay, tìm hiểu thực trạng áp dụng các chính sách này trên thực tiễn từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản cho việc hoàn thiện các chính sách về bảo vệ môi trường ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn có phạm vi nghiên cứu về những chính sách chủ yếu về bảo vệ môi trường, làm rõ vai trò điều chỉnh chính sách đối với việc bảo vệ môi trường ở quận Ngũ Hành Sơn hiện nay Luận văn không đi sâu vào các vấn đề kinh tế xã hội có liên quan đến môi trường mà chỉ lấy vấn đề này làm cơ sở để xác định vị trí, vai trò của chính sách trong việc bảo vệ môi trường ở quận Ngũ Hành Sơn, TP ĐN Phạm
vi thời gian của những vấn đề được nghiên cứu trong luận văn được giới hạn trong các năm 2014 đến năm 2018
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trong quá trình nguyên cứu, cùng với việc vận dụng các phương pháp luận nghiên cứu khoa học như: duy vật lịch sử, duy vật biện chứng luận văn chú trọng
sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ cho các lý thuyết liên quan đến chính sách công, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng chính sách công nói chung, chính sách bảo vệ môi trường nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp những vấn đề thực tiễn trong việc vận dụng các lý thuyết
về chính sách công, quy trình phân tích chính sách công để xem xét giữa lý thuyết
và thực tiễn thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng để từ đó nâng cao hiệu quả của chính sách trong những năm tiếp theo
7 Kết cấu luận văn
Luận văn được kết cấu trong ba chương sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
- Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
- Chương 3: Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
Trang 14CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Môi trường
Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần vật chất bao quanh sự vật có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật, vật thể hay sự kiện Môi trường sống của con người là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, kinh tế - xã hội bao quanh có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của từng cá nhân, từng cộng đồng Môi trường sống của loài người là tất cả những gì có và đang diễn ra trong vũ trụ và thái dương hệ Môi trường sống của con người được chia theo mục đích, nội dung nghiên cứu như:
- Môi trường thiên nhiên: bao gồm các yếu tố thiên nhiên như: Vật lý, hóa học (được gọi chung là môi trường vật lý) và sinh học tồn tại khách quan, ít chịu sự chi phối của con người
- Môi trường xã hội: gồm các mối quan hệ tương tác giữa con người với con người
- Môi trường nhân tạo: gồm các yếu tố vật lý, hóa học và xã hội do con người tạo ra và chịu sự chi phối của con người
Các thành phần của môi trường luôn tồn tại ở dạng vận động, chuyển hóa trong tự nhiên, diễn ra theo chu trình và thường ở dạng cân bằng Sự cân bằng này
đã đảm bảo cho sự sống phát triển ổn định Khi bị mất cân bằng do xảy ra các sự cố, môi trường sống sẽ vận động và tạo sự cân bằng mới Điều đó sẽ tác động đến con người và sinh vật ở phạm vi toàn cầu hay từng khu vực
Trong môi trường thiên nhiên, trái đất là bộ phận ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất tới con người Về mặt vật lý trái đất được phân chia thành:
- Môi trường đất (Thạch quyển) Bao gồm lớp đất sâu chừng 60 – 80 km trên lục địa và trên đáy đại dương là 2 – 8 km Thành phần hóa học và tính chất vật lý của nó tương đối ổn định và có ảnh hưởng đến sự sống
Trang 15- Môi trường nước (Thủy quyển) là phần nước của võ trái đất bao gồm biển,
hồ, sông, suối, nước ngầm và băng tuyết
- Khí quyển (môi trường khí) là lớp không khí trên bề mặt trái đất
- Sự cố môi trường, là tai biến hay rủi ro do biến đổi bất thường củ thiên nhiên hay do quá trình hoạt động của con người làm suy thái môi trường nghiêm trọng
- Ô nhiểm môi trường, là biến đổi môi trường theo hướng bất lợi cho cuộc
sống của con ngươi và hệ sinh quyển, mà sự ô nhiểm đó chính là do hoạt động của con người gây ra với quy mô, phương thức và mức độ khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp tác động làm thay đổi mô hình, thành phần hóa học, tính chất vật lý và sinh học của môi trường
Vậy “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Điều 1, Luật Bảo
vệ Môi trường của Việt Nam)
1.1.2 Bảo vệ môi trường
Mỗi người có các định nghĩa “bảo vệ môi trường” ở các mức độ và hàm ý khác nhau, từ nghĩa hẹp nhất như phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường, ví
dụ như ngăn chặn và loại bỏ các vấn đề ô nhiễm nước, không khí, chất thải, tiếng
ồn, đất đai; đến việc tích cực bảo vệ nguồn tài nguyên hiện có khỏi thiệt hại từ bàn tay con người, mỗi người có mỗi định nghĩa khác nhau
Nhưng tổng hợp lại, công việc bảo vệ môi trường bao gồm cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực Khía cạnh tiêu cực ý chỉ “phòng ngừa ô nhiễm môi trường” một cách thụ động; tức lấy sự ô nhiễm đã có thông qua các công cụ khoa học và công nghệ để giảm thiểu tác động đến môi trường hoặc để ngăn chặn xảy ra Nhưng khía cạnh tích cực hay còn gọi là bộ phận “bảo tồn thiên nhiên”, chỉ sự kiểm soát các hoạt động quy hoạch, bảo vệ các nguồn tài nguyên quý hiếm, xây dựng các vườn quốc gia, khu bảo tồn và thu hút sự tham gia của cộng đồng và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng khác để đạt được việc bảo vệ và bảo tồn tài nguyên môi trường
Trang 16Các nguyên tắc bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 4 Luật bảo vệ môi trường năm 2014, trong đó nguyên tắc bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa
vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được đặt lên hàng đầu, qua đó nhấn mạnh hoạt động bảo vệ môi trường cần sự chung tay, góp sức của toàn xã hội
và mỗi cá nhân phải có ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường sống của mình; Phải có những đóng góp tài chính để bảo vệ môi trường khi tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được thụ hưởng từ thành phần môi trường; Nếu xảy ra sự cố và suy thoái môi trường phải bồi thường, khắc phục thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khi gây ô nhiễm môi trường
1.1.3 Chính sách bảo vệ môi trường
Chính sách công là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để: Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư; Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn Nói cách khác chính sách công là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước
Qua nghiên cứu và vận dụng chính sách công ở Việt Nam, có thể thấy: Đây là vấn đề là khá mới ở nước ta, vì trước đây vẫn có quan niệm về tài sản công, sử dụng nguồn lực công, nhưng theo quan niệm, theo nhận thức công hữu, sở hữu công cộng, của chung đất nước, của toàn dân Do nhận thức chưa đúng đắn, chưa đầy đủ
về chính sách công theo quan niệm mới, hiện đại nên trên thực tế việc tổ chức thực thi chính sách quản lý còn nhiều yếu kém, lãng phí Vì vậy, cần phải làm rõ nội hàm chính sách công, cả từ khái niệm, các phạm trù, nội dung, các đặc điểm, các yếu tố tác động, chi phối chính sách công Nghiên cứu về chính sách công ở Việt Nam cần đặt trong bối cảnh đang trong quá trình chuyển đổi, vừa xóa cũ, vừa tiếp thu cái mới, tính đan xen giữa cơ hội và thách thức như một tất yếu, có thành, có bại, do đó phải có niềm tin, có định hướng cơ bản về vấn đề nghiên cứu, đặc biệt là chính sách
Trang 17trên lĩnh vực môi trường
Chính sách môi trường của Nhà nước là Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Tuyên truyền, giáo dục kết hợp với biện pháp hành chính, kinh tế và biện pháp khác để xây dựng
kỷ cương và văn hóa bảo vệ môi trường Bảo tồn đa dạng sinh học; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch và năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải
Ưu tiên xử lý vấn đề môi trường bức xúc, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường nguồn nước; chú trọng bảo vệ môi trường khu dân cư; phát triển
hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường; bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sách với tỷ lệ tăng dần theo tăng trưởng chung; các nguồn kinh phí bảo vệ môi trường được quản
lý thống nhất và ưu tiên sử dụng cho các lĩnh vực trọng điểm trong bảo vệ môi trường
Ưu đãi, hỗ trợ về tài chính, đất đai cho hoạt động bảo vệ môi trường, cơ sở sản xuất, kinh doanh thân thiện với môi trường Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về bảo vệ môi trường Phát triển khoa học, công nghệ môi trường; ưu tiên nghiên cứu, chuyển giao và áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường; áp dụng tiêu chuẩn môi trường đáp ứng yêu cầu tốt hơn về bảo vệ môi trường Gắn kết các hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên với ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh môi trường
1.1.4 Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Chính sách bảo vệ môi trường được thực hiện bởi sự kết hợp giữa nhiều biện pháp khác nhau như: biện pháp chính trị, biện pháp kinh tế, biện pháp khoa học-công nghệ, biện pháp giáo dục và biện pháp pháp lý Nhưng các biện pháp đó chỉ được thực hiện dựa trên quy định của pháp luật; nói cách khác, pháp luật là cơ sở để thực thi các biện pháp đó một cách có hiệu quả trên thực tế bởi pháp luật được sử
Trang 18dụng để tác động trực tiếp tới hành vi của người gây ô nhiễm môi trường nhằm hạn chế những tác động xấu mà họ có thể gây ra cho môi trường cũng như khuyến khích
họ thực hiện các hành vi có lợi hơn cho môi trường
Như vậy, bảo vệ môi trường là tất yếu, phù hợp với các yêu cầu khách quan của đời sống xã hội Bảo vệ môi trường có thể được thực hiện dựa trên sự kết hợp của nhiều biện pháp khác nhau, song không thể thiếu công cụ pháp luật Đây là công cụ bảo đảm tính thống nhất, là cơ sở, nền tảng cho mọi hoạt động khác để bảo
1.2 Quy định các bước thực hiện những chính sách để bảo vệ môi trường
Đây là một trong những vấn đề đáng được quan tâm nhất để bảo vệ môi trường của Tổ chức, cá nhân và các chủ thể trong thực hiện BVMT gồm có “7 bước bảo vệ môi trường” –
Trang 19Một là, Kế hoạch bảo vệ môi trường: theo luật bảo vệ môi trường 2014, của
Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, kế hoạch môi trường là tên gọi mới nhằm thay thế cho cam kết bảo vệ môi trường (theo luật môi trường 2005), được áp dụng kể từ ngày 01/01/2015
- Đây là bước có tính pháp lý ràng buộc trách nhiệm giữa chủ thể bảo vệ môi trường đối với cơ quan môi trường và là một quá trình phân tích, đánh giá và dự báo các ảnh hưởng đến môi trường của dự án trong giai đoạn thực hiện và hoạt động Từ
đó có thể đề xuất được các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường trong từng giai đoạn hoạt động cũng như thực thi chinh sách
- Lập kế hoạch bảo vệ môi trường để đáp ứng được những vấn đề sau:
+ Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường
+ Kiểm tra, đánh giá và dự báo trước các tác động của dự án đến môi trường,
từ đó có các biện pháp nhằm hạn chế - xử lý các tác động xấu đến môi trường, thực hiện công tác bảo vệ môi trường
Hai là, Tuyên truyền chính sách bảo vệ môi trường
Tăng cường hơn nữa sự phối hợp, thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên, đặc biệt là các cơ quan thông tin tuyên truyền, đẩy mạnh công tác tuyên truyền tạo nên sức mạnh tổng hợp của lực lượng thông tin, làm cho các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ về bảo vệ môi trường đến với mọi người dân, đến với từng địa bàn dân cư,…qua đó, tạo được sự đồng thuận mạnh mẽ của nhân dân đối với nhiệm vụ bảo vệ môi trường
Vận động toàn dân tham gia bảo vệ môi trường Qua các phương tiện thông tin đại chúng, hướng dẫn, tổ chức để nhân dân nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi theo hướng tích cực bảo vệ môi trường, phòng chống suy thoái, ô nhiễm và sự cố môi trường: Trong sản xuất kinh doanh, các công trình xây dựng phải áp dụng các biện pháp hạn chế, phòng ngừa, phải thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, phải có thiết bị kỹ thuật để xử lý chất thải, bảo đảm tiêu chuẩn môi trường…Nhìn chung, con người phải biết ứng xử với môi trường bằng phương châm lấy phòng
Trang 20ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính, tích cực xử lý ô nhiễm, suy thoái môi trường, bảo tồn thế giới tự nhiên; tránh thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm, tránh những hành vi tiêu cực dẫn đến vi phạm những qui định về bảo vệ môi trường
Phối hợp lồng ghép nhiệm vụ bảo vệ môi trường với các phong trào, các cuộc vận động như cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư nhằm gắn công tác bảo vệ môi trường với phát triển bền vững; góp phần động viên, tôn vinh, nhân rộng các mô hình, các gương điển hình bảo vệ môi trường để nâng cao chất lượng, cảnh quan môi trường khu dân cư và giáo dục để người dân có ý thức, kiến thức sống thân thiện với môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đấu tranh khắc phục các tập tục, thói quen xâm hại đến môi trường, tài nguyên; đồng thời, phê phán mạnh mẽ các hành vi, thói quen, tập quán sinh hoạt lạc hậu gây tác hại đến môi trường
Ba là, thực hiện chính sách bảo vệ môi trường của các chủ thể
Để tăng cường trách nhiệm và tính tích cực của cộng đồng trong quản lý môi trường cần phải có sự phân cấp quản lý rõ ràng hơn và có sự chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng Sự chia sẻ trách nhiệm này cần được thể chế hóa trong hệ thống Luật Bảo vệ môi trường, trong cơ cấu hệ thống quản lý nhà nước đối với môi trường Sự phân cấp nhiệm vụ, yêu cầu bảo vệ môi trường trên từng địa bàn cần được tập trung
và bao quát, tạo thuận lợi cho sự chủ động của địa phương, cơ sở, cũng như phát huy sức mạnh, lợi thế, năng lực, trách nhiệm của từng cấp, từng cơ sở Đồng thời, việc phân cấp cần đồng bộ, đầy đủ về cả kinh phí, quyền hạn, quyền lợi trong tổ chức triển khai các hoạt động bảo vệ môi trường được phân cấp tương ứng
Cần phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chủ thể, các ngành, các cấp và huy động các tầng lớp nhân dân cùng BVMT, vì môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, của dân tộc và nhân loại Vấn đề bảo vệ môi trường luôn là một trong những nhiệm vụ trọng yếu và cấp bách của mỗi quốc gia nhất là ở các quốc gia đang phát triển Cùng với sự phát triển kinh
Trang 21tế, các đô thị, các ngành sản xuất kinh doanh và dịch vụ ngày càng được mở rộng và phát triển nhanh chóng, nó đã tạo ra một số lượng lớn chất thải làm biến đổi một số thành phần môi trường sẽ gây tác động đối với các hệ sinh thái và sự tồn tại, phát triển của đời sống con người, do đó cần tăng cường các chính sách bảo vệ môi trường ở nước ta
Bốn là, Duy trì chính sách bảo vệ môi trường
Để chính sách tồn tại ngoài duy trì công cụ quản lý Nhà nước, cần phải thực hiện tốt quy chế dân chủ trong triển khai thực hiện chính sách BVMT, tổ chức tốt công khai thông tin về ô nhiễm và tình hình tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp với các đối tượng có liên quan như người dân, các tổ chức xã hội, người tiêu dùng, người đầu tư để gây sức ép với doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường Hoạt động công khai thông tin về môi trường của doanh nghiệp có thể được thực hiện thông qua các hình thức phát hành ấn phẩm có liên quan tối 3 chất lượng môi trường nói chung, môi trường công nghiệp nói riêng Sử dụng hiệu quả các kênh thông tin điện tử, báo chí, đài phát thanh, truyền hình để phổ biến kiến thức về bảo vệ môi trường, trách nhiệm về quyền lợi của tổ chức, doanh nghiệp, của người dân trong công tác bảo vệ môi trường
Năm là, Điều chỉnh chính sách bảo vệ môi trường
Trên cơ sở mức độ hưởng lợi của cộng đồng từ các chính sách môi trường cũng ảnh hưởng rất nhiều đến sự tham gia của cộng đồng Vì vậy, để đảm bảo cho các quy định về quản lý nhà nước đối với môi trường được thực thi thì các quy định
đó phải cụ thể, gắn bó, sát với thực tế cuộc sống của cộng đồng Cộng đồng phải biết rõ trách nhiệm và quyền lợi của mình khi tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường và cơ quan ban hành chính sách phải điều chỉnh chính sách cho phù hợp với mục tiêu
Trang 22Sáu là, Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Giám sát hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và công khai kết quả thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường của các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp trên địa bàn quản lý Xây dựng cơ chế giám sát của người dân, của cộng đồng đối với doanh nghiệp trong việc thực thi các cam kết về môi trường và duy trì thường xuyên các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm Hình thành các kênh thông tin giữa người dân và các nhà chức trách địa phương để kịp thời thông báo về các trường hợp vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
Bảy là, Đánh giá việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Với quan điểm “BVMT là đầu tư phát triển”, trong những năm qua, chính sách BVMT đã có những chuyển biến tích cực, công tác chi thường xuyên cho sự nghiệp BVMT được tăng dần hàng năm, kinh phí đầu tư phát triển cho công tác BVMT cũng được quan tâm bố trí cao hơn Đồng thời, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích, thúc đẩy nguồn vốn xã hội hóa cho công tác BVMT, huy động nguồn đầu tư từ các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân và bước đầu hình thành hệ thống dịch vụ môi trường ngoài công ích
Cùng với đó, hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về BVMT cũng được tăng cường triển khai trong thời gian này, với nhiều chương trình khoa học công nghệ cấp quốc gia, cấp Bộ và thành phố góp phần thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ trong lĩnh vực BVMT Do đó chính sách bảo vệ môi trường ngày đi vào thực tiễn, sát với tình hình thực tế của mỗi địa phường, của các ngành, các lĩnh vực đời sống – xã hội
1.3 Chủ thể và các bên liên quan thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Đối với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, quan tâm chỉ đạo việc điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm lồng ghép các yêu cầu BVMT; Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về BVMT cho ngành TN&MT, nhất là các địa phương, cấp quận, cấp phường; Nâng
Trang 23cao năng lực điều phối, thống nhất quản lý nhà nước về môi trường trên phạm vi cả nước; Chỉ đạo nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy xã hội hóa hoạt động BVMT
Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chỉ đạo các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư tích cực tham gia các hoạt động BVMT, giám sát hoạt động BVMT đối với cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân
1.3.1 Chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT bảo đảm thống nhất, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu BVMT Đồng thời, rà soát chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các Bộ, ngành liên quan đến công tác BVMT, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương Ban hành các văn bản triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 tại địa phương; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, quán triệt và triển khai các nội dung của Luật vào thực tiễn địa phương, đặc biệt là những nội dung mới Kiện toàn tổ chức và tăng cường năng lực cho các cơ quan chuyên môn về BVMT tại địa phương; chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tuyển chọn cán bộ có chuyên môn phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý môi trường
Bộ máy quản lý nhà nước về BVMT hiện nay được khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Hệ thống quản lý nhà nước về môi trường hiện nay ở nước ta
Trang 24- Chính phủ thống nhất quản lý, chỉ đạo điều hành thực hiện Chương trình, Đề
án, Kế hoạch bảo vệ môi trường trong cả nước
- Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và có trách nhiệm sau: Chủ trì xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án quốc gia về bảo vệ môi trường Chủ trì xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; ban hành văn bản hướng dẫn kỹ thuật theo thẩm quyền Chủ trì giải quyết hoặc đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giải quyết các vấn đề môi trường liên ngành, liên thành phố Chỉ đạo, hướng dẫn và xây dựng hệ thống quan trắc môi trường quốc gia, thông tin môi trường và báo cáo môi trường; chỉ đạo, tổ chức đánh giá hiện trạng môi trường quốc gia và địa phương Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện theo thẩm quyền hoạt động xây dựng, thẩm định, phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường; thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường; kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện theo thẩm quyền việc cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, an toàn sinh học; quản lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm; cải thiện và phục hồi môi trường Xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện chính sách, chương trình, mô hình thử nghiệm về sản xuất và tiêu thụ bền vững, thân thiện với môi trường; hướng dẫn, chứng nhận sản phẩm, cơ sở thân thiện với môi trường; chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động cải thiện sức khỏe môi trường Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Chỉ đạo và hướng dẫn việc lồng ghép nội dung về bảo vệ môi trường trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia, chiến lược quốc gia về tài nguyên nước và quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh; chiến lược tổng thể quốc gia về điều tra cơ bản, thăm dò, khai thác,
Trang 25chế biến tài nguyên khoáng sản Xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá, theo dõi tình hình thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc; truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường Trình Chính phủ việc tham gia tổ chức quốc tế, ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc
tế về môi trường; chủ trì hoạt động hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường
- Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ:
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng, ban hành thông tư, thông tư liên tịch về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực bộ, ngành quản lý Phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường thuộc phạm vi quản lý của mình; hằng năm báo cáo Chính phủ các hoạt động quản
lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thuộc bộ, ngành quản lý
- Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của UBND thành phố
có trách nhiệm sau:
Xây dựng, ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chương trình, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường; Tổ chức thực hiện pháp luật, chiến lược, chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ về bảo vệ môi trường; Xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường của địa phương phù hợp với quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia; Tổ chức đánh giá và lập báo cáo môi trường Truyền thông, phổ biến, giáo dục chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường; Tổ chức thẩm định, phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, hướng dẫn và tổ chức kiểm tra xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường theo thẩm quyền; Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường theo thẩm quyền; Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về môi trường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và quy định của pháp luật có liên quan; phối hợp với Ủy ban nhân
Trang 26dân cấp thành phố liên quan giải quyết các vấn đề môi trường liên thành phố, tỉnh; Chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc để xảy ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn
- Ủy ban nhân dân cấp quận có trách nhiệm sau: Ban hành theo thẩm quyền quy định, chương trình, kế hoạch về bảo vệ môi trường; Tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ về bảo vệ môi trường; Xác nhận, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường theo thẩm quyền; Hằng năm, tổ chức đánh giá và lập báo cáo công tác bảo vệ môi trường; Truyền thông, phổ biến, giáo dục chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường; Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về bảo
vệ môi trường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và quy định của pháp luật có liên quan; Phối hợp với Ủy ban nhân dân quận có liên quan giải quyết các vấn đề môi trường liên quận; Chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Ủy ban nhân dân cấp phường; Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp thành phố nếu để xảy ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn
- Ủy ban nhân dân cấp phường có trách nhiệm sau: Xây dựng kế hoạch, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn; vận động nhân dân xây dựng nội dung bảo vệ môi trường trong hương ước; hướng dẫn việc đưa tiêu chí về bảo vệ môi trường vào đánh giá khu dân cư và gia đình văn hóa; Xác nhận, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường theo ủy quyền; kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của hộ gia đình, cá nhân; Phát hiện
và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp trên trực tiếp; Hòa giải tranh chấp về môi trường phát sinh trên địa bàn theo quy định của pháp luật về hòa giải; Quản lý hoạt động của tổ dân phố và tổ chức tự quản về giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường trên địa bàn; Hằng năm, tổ chức đánh giá và lập báo cáo công tác bảo vệ môi trường; Chủ trì, phối hợp với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ trên địa bàn tổ chức công khai thông tin về bảo vệ môi trường của cơ sở sản
Trang 27xuất, kinh doanh, dịch vụ với cộng đồng dân cư; Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp quận nếu để xảy ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn
- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư
Đại diện cộng đồng dân cư trên địa bàn chịu tác động môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quyền yêu cầu chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ cung cấp thông tin về bảo vệ môi trường thông qua đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản; tổ chức tìm hiểu thực tế về công tác bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thu thập, cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp; có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước
có liên quan cung cấp kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với cơ sở; có quyền tham gia đánh giá kết quả bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật
1.3.2 Các bên liên quan khác trong thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Các tổ chức xã hội là nền tảng vững chắc giúp Đảng, Nhà nước trong việc quản lý các lĩnh vực của nền kinh tế trong đó có lĩnh vực quản lý môi trường Trong thời gian vừa qua, các tổ chức xã hội của quận Ngũ Hành Sơn đã tham gia một cách tích cực, hiệu quả, thu hút đông đảo sự tham gia của cộng đồng vào công tác BVMT Mỗi tổ chức xã hội đều có những mô hình và cách làm riêng, dựa trên chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức xã hội Do vậy, cần phải phát huy vai trò, thế mạnh của mỗi tổ chức xã hội trong công tác BVMT
- Trách nhiệm và quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Vai trò, vị trí của MTTQ Việt Nam ngày càng được nâng cao với những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuyên truyền, vận động các tổ chức thành viên và nhân dân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường Trong
xu thế mở rộng dân chủ như hiện nay, mở rộng chức năng của Mặt trận là nhiệm vụ quan trọng, vì Mặt trận là tổ chức liên minh chính trị, tập hợp các tầng lớp nhân dân, giai cấp dân tộc cùng xây dựng và bảo vệ đất nước, đây là một lợi thế mà các
Trang 28tổ chức khác không thể có được Mặt trận cần tăng cường giám sát, phản biện, trong đó tập trung vào những vấn đề nóng, người dân đang bức xúc nhất là công tác bảo vệ môi trường
Trách nhiệm và quyền của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp:
+ Thanh niên quận Ngũ Hành Sơn xung kích bảo vệ môi trường Với thông
điệp “Mỗi người góp một tay, vì màu xanh của thành phố biển thân yêu”, những năm qua, tuổi trẻ Ngũ Hành Sơn đã triển khai phát động thường xuyên phong trào thanh niên chung tay bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu hiệu quả, thiết thực gắn với các hoạt động trọng tâm
+ Hội Liên hiệp Phụ nữ quận Ngũ Hành Sơn Thường xuyên phát động các
phong trào bảo vệ môi trường và tuyên truyền giáo dục cho hội viên phụ nữ về pháp luật môi trường thông qua các phong trào
vận động gia đình và bà con nhân dân giữ gìn vệ sinh môi trường, không đổ nước thải, rác thải hoặc vứt xác súc vật ra đường, làm nòng cốt trong phong trào Ngày chủ nhật xanh - sạch - đẹp và trong các hoạt động ra quân bảo vệ môi trường, thực
hiện “Năm văn hóa, văn minh đô thị”
tổng dọn vệ sinh và vận động nhân dân chung tay góp sức bảo vệ môi trường bằng
việc làm cụ thể của các hội viên
+ Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các quy định của pháp luật đã xác định những lĩnh vực có sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội,
xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư, ranh giới của sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật có liên quan tới sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong hoạt động BVMT
Trang 29Để bảo đảm vai trò của tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư, các quy định cần tuân thủ những những nguyên tắc như: bảo đảm quyền của cộng đồng, công bằng và hợp lý trong BVMT và phát triển bền vững
1.4 Khái quát về chính sách bảo vệ môi trường của Việt Nam và chính sách bảo vệ môi trường của thành phố Đà Nẵng
1.4.1 Chính sách bảo vệ môi trường của Việt Nam
Ở Việt Nam, quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1216/QĐ-TTg, ngày 05 tháng 9 năm 2012 về việc phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Trong văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định: “Trong 5 năm tới bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô và không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh Phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu; phát triển kinh tế tri thức, kinh tế xanh Phát triển kinh tế phải gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”
"Chính sách môi trường là những chủ trương, biện pháp mang tính chiến lược, thời đoạn, nhằm giải quyết một nhiệm vụ bảo vệ môi trường cụ thể nào đó, trong một giai đoạn nhất định" Chính sách môi trường cụ thể hoá Luật Bảo vệ Môi trường (trong nước) và các Công ước quốc tế về môi trường Mỗi cấp quản lý hành chính đều có những chính sách môi trường riêng Nó vừa cụ thể hoá luật pháp và những chính sách của các cấp cao hơn, vừa tính tới đặc thù địa phương Sự đúng đắn và thành công của chính sách cấp địa phương có vai trò quan trọng trong đảm bảo sự thành công của chính sách cấp Trung ương
Luật bảo vệ môi trường sửa đổi (Luật BVMT 2014) Luật xác định nhiệm vụ bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, các tổ chức, cá nhân phải chấp hành
Trang 30nghiêm chỉnh pháp luật về bảo vệ môi trường, nhằm bảo vệ sức khoẻ mọi người, đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành của đất nước cũng như góp phần bảo vệ môi trường khu vực và trên thế giới
Các khái niệm: về quy hoạch Bảo Vệ Môi Trường, khí nhà kính, ứng phó biến
đổi khí hậu, an ninh môi trường,…đã được bổ sung Các khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường, sức chịu tải của môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, phế liệu,… đã được chỉnh sửa, bổ sung, phù hợp với nội dung cơ bản của các khái niệm này Tuy nhiên, những giải thích từ ngữ chỉ áp dụng trong khuôn khổ của Luật Bảo Vệ Môi Trường 2014 Phần lớn các thuật ngữ chỉ mới là những khái niệm, không phải là những định nghĩa cơ bản, bất biến, nên vẫn có thể thay đổi theo sự phát triển của thực tiễn và nhận thức
Nguyên tắc bảo vệ môi trường: Luật Bảo Vệ Môi Trường 2014 quy định 08
nguyên tắc về Bảo Vệ Môi Trường (Luật Bảo Vệ Môi Trường 2005 có 05 nguyên tắc) Những nội dung đã được bổ sung như Bảo Vệ Môi Trường phải gắn kết với bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó biến đổi khí hậu, sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải; bảo vệ môi trường phải gắn kết với bảo đảm quyền của trẻ em, thúc đẩy giới và bảo đảm mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành Các chương, điều của Luật đã được xây dựng dựa trên các nguyên tắc này
Chính sách bảo vệ môi trường: Luật Bảo Vệ Môi Trường 2014 bổ sung chính
sách về nguồn vốn đầu tư, trong đó yêu cầu bố trí khoản chi riêng cho BVMT trong ngân sách với tỷ lệ tăng dần theo tăng trưởng chung; các nguồn kinh phí Bảo Vệ Môi Trường được quản lý thống nhất và ưu tiên cho các lĩnh vực trọng điểm trong BVMT (Khoản 5, Điều 5); gắn kết các hoạt động BVMT, bảo vệ tài nguyên với ứng phó biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh môi trường; nhà nước ghi nhận, tôn vinh cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có những đóng góp tích cực trong BVMT
Những điều mà pháp luật môi trường nghiêm cấm:
- Khai thác nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp hủy diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật
Trang 31- Khai thác, kinh doanh, tiêu thụ các loài thực vật, động vật hoang dã thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Phá hoại, khai thác trái phép nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Vận chuyển, chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng quy trình kỹ thuật về BVMT
- Thải chất thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước và không khí
- Đưa vào nguồn nước hóa chất độc hại, chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và tác nhân độc hại khác đối với con người và sinh vật
- Thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hóa vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường
- Gây tiếng ồn, độ rung vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường
- Nhập khẩu, quá cảnh chất thải từ nước ngoài dưới mọi hình thức
- Nhập khẩu, quá cảnh động vật, thực vật chưa qua kiểm dịch; vi sinh vật ngoài danh mục cho phép
- Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho con người, sinh vật và hệ sinh thái; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường
- Phá hoại, xâm chiếm trái phép di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên
- Xâm hại công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động BVMT
- Hoạt động trái phép, sinh sống ở khu vực được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là khu vực cấm do mức độ đặc biệt nguy hiểm về môi trường đối với con người
- Che giấu hành vi hủy hoại môi trường, cản trở hoạt động BVMT, làm sai lệch thông tin dẫn đến gây hậu quả xấu đối với môi trường
Trang 32- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vượt quá quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm của người có thẩm quyền để làm trái quy định về quản lý môi trường
Bảo vệ môi trường làng nghề BVMT làng nghề là một trong những vấn đề
bức xúc, khó khăn hiện nay Việc lạm dụng danh nghĩa làng có nghề, áp dụng công nghệ sản xuất thô sơ và lạc hậu, quản lý nhà nước có những điểm thiếu rõ ràng và chồng chéo là những nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm làng nghề Vì vậy, các quy định về BVMT làng nghề đã được viết lại theo hướng quy định rõ các điều kiện
về BVMT mà làng nghề, các cơ sở sản xuất thuộc ngành nghề được khuyến khích phát triển và các đối tượng khác trong làng nghề phải thực hiện Đồng thời, Luật BVMT 2014 quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp đối với BVMT làng nghề Luật giao Chính phủ quy định chi tiết Điều 70 về BVMT làng nghề
1.4.2 Chính sách bảo vệ môi trường của thành phố Đà Nẵng
1.4.2.1 Chủ trương bảo vệ môi trường của thành phố
Xuất phát từ ý tưởng xây dựng “Thành phố môi trường” của Thành ủy Đà Nẵng, UBND thành phố đã ban hành Đề án “Xây dựng Đà Nẵng - Thành phố môi trường” đến năm 2020 Đà Nẵng là địa phương điển hình trong cả nước có định hướng xây dựng thương hiệu môi trường Đề án đặt ra 23 tiêu chí bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, môi trường không khí, môi trường nước, quản lí chất thải rắn, cây xanh Qua 5 năm thực hiện, đến nay Đề án đã đạt được những kết quả nhất định
Theo mục tiêu của đề án, phấn đấu đến năm 2015, 90% chất lượng nước thải sinh hoạt, chất thải rắn của các quận nội thành, nước thải công nghiệp được thu gom và xử lí; 50% chất thải thu gom được tái chế, 50% người chết được mai táng bằng hỏa táng; 90% dân số nội thành và 70% dân số ngoại thành được sử dụng nước sạch Phấn đấu đến năm 2020, Đà Nẵng trở thành đô thị đủ năng lực để ngăn ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường, xử lí và khắc phục các sự cố môi trường dựa trên nền tảng ý thức của tất cả mọi người và cả hệ thống chính trị; tạo sự an toàn về
Trang 33sức khỏe và văn minh, một môi trường sống tốt cho người dân, nhà đầu tư và du khách, Đà Nẵng – TP đáng sống
1.4.2.2 Văn bản chính sách về bảo vệ môi trường của thành phố Đà Nẵng
Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc triển khai thi hành Luật bảo vệ môi trường năm 2014 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Chuyên đề "Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, các văn bản hướng dẫn có liên quan" được lựa chọn nhằm nâng cao hiểu biết cho doanh nghiệp về pháp luật bảo vệ môi trường, thông qua đó các cơ sở sản xuất kinh doanh nhận thức rõ về trách nhiệm cụ thể của mình và cách thức tuân thủ pháp luật, làm căn cứ cho việc triển khai trong thực tế
Ngày 23 tháng 6 năm 2014, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 (sau đây gọi tắt là Luật bảo vệ môi trường 2014) Luật bảo vệ môi trường 2014 được Chủ tịch nước ký lệnh công bố số 09/2014/L-CTN ngày 26 tháng 06 năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 Luật bảo vệ môi trường 2014 là công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm giữ gìn, bảo vệ môi trường phục vụ cho phát triển bền vững, bảo đảm quyền được sống và yêu cầu được sống trong môi trường trong lành của toàn thể nhân dân theo đúng tinh thần Hiến pháp 2013, thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Đồng thời hắc phục những hạn chế, bất cập của Luật bảo vệ môi trường năm 2005; bổ sung một số nội dung mới như tăng trưởng xanh, biến đổi khí hậu, an ninh môi trường ; hài hòa các quy định của Luật và các cam kết quốc tế về môi trường thể hiện tại các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã ký kết, tham gia và phù hợp với các đặc điểm của khoa học môi trường như coi phòng ngừa là chính, các yếu tố môi trường có mối liên kết hữu cơ với nhau, không chia cắt theo địa
giới hành chính
- Quyết định số 06/2004/QĐ-UB ngày 15/01/2004 của UBND thành phố Đà
Trang 34Nẵng Quy định về đảm bảo trật tự, an toàn giao thông và vệ sinh môi trường trong quá trình xây dựng các công trình trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Quyết định số 9780/QĐ-UB ngày 20 tháng 12 năm 2005 về việc phân cấp quản lý và xử lý ô nhiễm các hồ đầm trên địa bàn thành phố
- Đề án “Xây dựng Đà Nẵng - Thành phố Môi trường” ban hành kèm theo
Quyết định số 41/2008/QĐ-UBND của UBND thành phố Đà Nẵng ngày21/8/2008
- Quyết định số 23/2010/QĐ-UBND, ngày 10/8/2010 của UBND thành phố
Đà Nẵng Quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Kế hoạch số 8520/KH-UBND ngày 22/9/2014 của UBND thành phố Đà
Nẵng về "Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2015-2020"
- Quyết định số 19/2018/QĐ-UBND ngày 07 tháng 5 năm 2018 của Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ban hành Quy định về quản lý dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa thành phố Đà Nẵng
- Quyết định số 33/2018/QĐ-UBND ngày 01 tháng 10 năm 2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng về việc ban hành Quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
Ngoài ra, trong quá trình xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, thành phố luôn lồng ghép các nội dung về bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững, phấn đấu xây dựng Đà
Nẵng trở thành “Thành phố môi trường - Thành phố đáng sống”
Trang 35Kết luận Chương 1
Qua việc nghiên cứu đề tài “chính sách về bảo vệ môi trường ở Việt Nam” Hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về bảo vệ môi trường rất được Đảng và Nhà nước ta quan tâm kể từ khi đất nước tiến hành chuyển đổi sang
cơ chế thị trường, nhất là khi nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sau hơn 5 năm kể từ khi ban hành Luật Bảo vệ môi trường 2014 được ban hành, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống chính sách tương đối đồ sộ, toàn diện về bảo vệ môi trường, có tầm hiệu lực pháp lý đủ mạnh, cơ bản đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện nay
Do bảo vệ môi trường và xây dựng chính sách về bảo vệ môi trường là hoạt động phức tạp và về nhiều mặt còn mới mẻ đối với Việt Nam, hệ thống chính sách
về bảo vệ môi trường ở Việt Nam còn nhiều điểm bất cập, tồn tại Trước mắt, tiếp tục xây dựng nhiều chính sách Bảo vệ môi trường Về lâu dài cần nghiên cứu xây dựng nhiều chính sách thực hiện tốt Bộ Luật môi trường với phạm vi và đối tượng điều chỉnh rộng và bao quát hết các vấn đề về bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên để phù hợp với yêu cầu của đất nước
Để thành phố Đà Nẵng, quận Ngũ Hành Sơn hoàn thiện chính sách về bảo vệ môi trường, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất giữa tinh thần, quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 với các quy định pháp luật về môi trường đã ban hành trước đây nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, trong thời gian tới Quận Ngũ Hành Sơn cần xây dựng nhiều văn bản chính sách mới làm sao đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và thực tiễn của hệ thống chính sách về bảo vệ môi trường trên địa bàn Thành phố đôn đốc các cơ quan trực thuộc, các quận, huyện và xã, phường tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến Luật bảo vệ môi trường đến từ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhằm đưa Luật vào cuộc sống, làm cho thành phố ngày một phát triển, văn minh và ngày càng xanh, sạch, đẹp hơn, xứng đán với cái tên thành phố đán sống
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Khái quát về quận Ngũ Hành Sơn và đặc điểm môi trường của Quận
2.1.1 Quận Ngũ Hành Sơn
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của Quận
Quận Ngũ Hành Sơn nằm về phía Đông Nam thành phố Đà Nẵng, có tọa độ 16°04’ độ vĩ Bắc, 108°15’ độ kinh Đông; Quận Ngũ Hành Sơn có tổng diện tích tự nhiên là 39,11 km2, dân số 74.568 người (theo Niên giám thống kê Đà Nẵng năm 2014), Quận có 4 đơn vị hành chính gồm: phường Mỹ An, phường Khuê Mỹ, phường Hòa Hải và phường Hòa Quý Phía đông quận Ngũ Hành Sơn giáp biển Đông Tây giáp huyện Hòa Vang và quận Cẩm Lệ Bắc là giáp quận Sơn Trà Nam
là giáp huyện Điện Bàn - Quảng Nam Ngũ hành sơn có quần thể khu du lịch thắng cảnh Ngũ Hành Sơn, là địa bàn quan trong trong phòng thủ của quốc – an ninh, có làng nghề truyền thống thu hút khách du lịch và lực lượng lao động làng nghề góp phần lo lớn và phát triển khinh – xã hội của quận
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Cùng với sự phát triển năng động của thành phố, quận Ngũ Hành Sơn phát huy tiềm năng, lợi thế của đô thị trẻ gắn với biển và danh thắng Ngũ Hành Sơn để khẳng định vị thế, vững vàng hội nhập trong giai đoạn mới
Trước năm 1997, Ngũ Hành Sơn là một vùng ngoại ô của thành phố, kinh tế, văn hóa-xã hội còn khó khăn Đến nay, diện mạo đô thị của quận đã đổi thay với hàng loạt công trình, nhiều tuyến đường đô thị rộng mở mang dáng dấp của một đô thị hiện đại về phía đông nam thành phố
Trang 37Qua hơn 10 năm thực hiện Kết luận số 02-KL/TU của Ban Thường vụ Thành
ủy, quận Ngũ Hành Sơn đã tích cực và chủ động phối hợp với các ngành chức năng thực hiện tốt công tác quy hoạch đô thị, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của quận theo hướng xây dựng quận Ngũ Hành Sơn thành quận du lịch với kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, có không gian kiến trúc, cảnh quan phù hợp với môi trường sinh thái, điều kiện tự nhiên của quận Từ tiềm năng, lợi thế là quận ven biển với danh thắng Ngũ Hành Sơn nổi tiếng, hằng năm, Ban Chấp hành Đảng bộ quận ban hành nghị quyết tập trung lãnh đạo bằng các chuyên đề, đề án và các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp
và người dân vượt qua khó khăn, thách thức, tổ chức sản xuất, kinh doanh ổn định
Để bảo đảm mục tiêu xây dựng và phát triển quận Ngũ Hành Sơn trở thành khu đô thị văn minh, hiện đại phía đông nam thành phố, trong thời gian qua, quận
đã tổ chức công bố quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch 108 dự án và cơ bản khớp nối quy hoạch tổng thể trên địa bàn quận, góp phần thay đổi diện mạo đô thị của quận, thu hút các nhà đầu tư
Công tác xây dựng cơ bản luôn được chú trọng, giai đoạn 2015-2017 đã quản
lý và điều hành 290 công trình phụ vụ công cộng, dân sinh Nhờ vậy, các hoạt động kinh tế-xã hội và nhu cầu đi lại của nhân dân thuận lợi, góp phần thúc đẩy quá trình giao lưu, kết nối với các địa phương lân cận
Du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, trong những năm gần đây, hoạt độngngành dịch vụ của quận Ngũ Hành Sơn có những bước phát triển mạnh Trong giai đoạn 2015-2017, song song với công tác quảng bá du lịch, quận Ngũ
Trang 38Hành Sơn đầu tư nâng cấp, sửa chữa các hạng mục công trình tại Khu du lịch Ngũ Hành Sơn, cải thiện môi trường văn hóa, văn minh du lịch, nâng tầm tổ chức Lễ hội Quán Thế Âm, Lễ hội Vu Lan Đây là những giải pháp thiết thực để quận tập trung thu hút đầu tư phát triển du lịch, nhất là tạo sự tăng trưởng cao về thu hút du khách
và doanh thu du lịch cho địa phương Nhờ đó, tổng lượng khách du lịch giai đoạn 2015-2017 đến quận Ngũ Hành Sơn ước đạt hơn 3,5 triệu lượt Số lượng khách du lịch tham quan di tích thắng cảnh Ngũ Hành Sơn trong năm 2017 có tăng 23% so với năm 2016
Làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước nằm xen lẫn trong Khu du lịch thắng cảnh Ngũ Hành Sơn – Ngày 24/12/2018, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định
số 1820/CĐ-TTg xếp hạng di tích cấp quốc gia danh thắng Ngũ Hành Sơn (quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng) là di tích quốc gia đặc biệt, với quần thể 05 hòn núi: Kim Sơn, Hỏa Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn và Thổ Sơn cùng nhiều hang động, chùa chiền, đình, miếu…gọi chung là núi Ngũ Hành Sơn Núi không cao, sườn núi dốc đứng cheo leo, cây cỏ mọc nhiều trên sườn núi, đặc biệt là núi Ngũ Hành Sơn
có một loại đá cẩm thạch rất đẹp với nhiều màu: sáng đục, trắng sữa, hồng phấn, xám vân đỏ, nâu đen, xanh đậm
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được quận Ngũ Hành Sơn quan tâm thực hiện tốt đó là phối hợp thực hiện các dự án di dời, giải tỏa để tạo điều kiện cho người dân ổn định cuộc sống Đây cũng là giải pháp để tạo quỹ đất nhằm thu hút đầu tư, phát triển các dự án lớn trên địa bàn trên các lĩnh vực như: du lịch, công nghệ thông tin Nhờ đó, những năm qua, cùng với xây dựng nên vóc dáng, hình hài khu đô thị trẻ, quận Ngũ Hành Sơn vững vàng, tự tin trong hội nhập chung vào dòng chảy đô thị hóa, hiện đại hóa của thành phố
2.1.2 Đặc điểm môi trường của quận Ngũ Hành Sơn
Quận Ngũ Hành Sơn nằm trong khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và ảnh hưởng khí hậu ven biển của miền Trung Lượng mưa và độ ẩm trung bình tương đối thuận lợi cho phát triển sản xuất lương thực và thực phẩm Nhiệt độ
Trang 39trung bình là 25,60C, nhiệt độ cao tuyệt đối 40,90C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 15,50C Do đặc điểm địa hình có đồng bằng phía Tây và đèo Hải Vân chắn ngang nên khí hậu khu vực Đà Nẵng nói chung và quận Ngũ Hành Sơn nói riêng không bị khắc nghiệt như khí hậu phía Bắc đèo Hải Vân Ảnh hưởng của gió Tây Bắc không lớn Ngũ Hành Sơn có nắng ấm gần như quanh năm; chỉ mưa vào các tháng 9, 10 và
11, nhưng vì nằm trong khu vực gió mùa nên lượng mưa hàng năm của Ngũ Hành Sơn thường cao hơn một số nơi khác
Về chế độ thuỷ văn: Trên địa bàn Ngũ Hành Sơn có sông chảy qua, đó là sông
Cổ Cò, sông Hàn, (nhân dân địa phương thường gọi là sông Bãi Dài, sông Dài hay Trường Giang, còn trong các sách của triều Nguyễn thường ghi là Lộ Cảnh Giang)
và sông Vĩnh Điện Sông Hàn là hợp lưu của sông Vĩnh Điện, sông Cổ Cò và sông Cẩm Lệ tại tại khu vực ngã sông, nơi tiếp giáp giữa phường Hoà Cường của quận Hải Châu, xã Hoà Xuân của huyện Hoà Vang và phường Khuê Mỹ của Ngũ Hành Sơn và đổ nước ra Vũng Thùng, hình thành nên cảng sông Hàn và cảng biển Tiên
Sa Trên địa bàn Ngũ Hành Sơn, sông Cổ Cò tách thành hai nhánh là sông Cổ Cò và sông Cầu Biện Sông Cổ Cò hiện dài 3,5km, rộng 10m, Sông Cầu Biện dài 2km, rộng 20m, hiện tại bị lấp nhiều, một số đoạn đã bị chặn lại để nuôi trồng thuỷ sản Chế độ thuỷ triều của Biển Đông ở khu vực này là chế độ bán nhật triều; mỗi ngày lên xuống 2 lần với biên độ dao động khoảng 0,5m Độ nhiễm mặn do nước biển xâm thực tùy thuộc vào mùa mưa và lượng mưa hàng năm Lượng mưa càng lớn độ nhiễm mặn càng nhỏ, ngược lại, lượng mưa càng ít, độ nhiễm mặn càng lớn, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và dân sinh
Một là, Hiện trạng môi trường nước
Nước sông Trên địa bàn Ngũ Hành Sơn, sông Cổ Cò tách thành hai nhánh là
sông Cổ Cò và sông Cầu Biện Sông Cổ Cò hiện dài 3,5km, rộng 10m, bị bồi lấp nhiều, chưa có điều kiện để nạo vét nên đáy sông bị bồi lấp rất khó khăn cho ghe thuyền đi lại, nhất là vào mùa khô Sông Cầu Biện dài 2km, rộng 20m, hiện tại bị lấp nhiều, một số đoạn đã bị chặn lại để nuôi trồng thuỷ sản Chế độ thuỷ triều của
Trang 40Biển Đông ở khu vực này là chế độ bán nhật triều; mỗi ngày lên xuống 2 lần với biên độ dao động khoảng 0,5m Độ nhiễm mặn do nước biển xâm thực tùy thuộc vào mùa mưa và lượng mưa hàng năm Lượng mưa càng lớn độ nhiễm mặn càng nhỏ, ngược lại, lượng mưa càng ít, độ nhiễm mặn càng lớn
Nước biển ven bờ Quận Ngũ Hành Sơn có bờ biển dài hơn 11km, Vùng bờ
Ngũ Hành Sơn: Là bao gồm toàn bộ diện tích đất của quận quận Ngũ Hành Sơn và diện tích mặt nước biển tính từ đường bờ biển ra phía biển khơi đến vị trí cách đường bờ biển 6 (sáu) hải lý Với cát trắng mịn, sóng biển ôn hòa, nước ấm quanh năm Khách du lịch có thể tắm biển gần như suốt năm, nhưng thích hợp nhất là mùa
hè, khoảng từ tháng 5 đến tháng 8 dương lịch Chưa kể, do bờ biển không sâu, khách sẽ có cảm giác yên tâm vừa bơi lội vừa thư thái ngắm ngọn Ngũ Hành Sơn hùng vĩ và đảo Cù Lao Chàm ở phía xa Hội An Với độ mặn vào khoảng 60%
và không bị ô nhiễm, nước được đánh giá có độ an toàn cao Do vậy, nơi đây có nhiều nguồn động thực vật ven bờ và dưới bờ biển phong phú Đặc biệt, các loại rong tảo quí như rong câu chỉ vàng, rong câu chân vịt có giá trị xuất khẩu cao
Nước hồ Quận Ngũ Hành Sơn có từ 4 đến 5 hồ nước nằm lẫn các khu tái định
cư, sân gofl với mục đích gom nước thoát vào mùa mưa và nước thải sinh hoạt và điều hoàn ô nhiểm nguôn nước Trong tháng 5/2018 UBND TP Đà Nẵng vừa quyết định đầu tư hơn 275 tỷ đồng để nâng cấp, cải tạo Trạm xử lý nước thải tại quận Ngũ Hành Sơn với công suất 30.000 m3/ngày đêm Với công nghệ xử lý hiện đại, nước thải đầu ra sẽ đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt Thời gian thực hiện dự án từ nay đến năm 2020 "Hệ thống đi vào hoạt động sẽ cải thiện chất lượng nước thải sau xử lý và giảm thiểu mùi hôi tại khu vực",
- Nước ngầm, là nỗi ám ảnh đối với người dân tại các quận Sơn Trà, Ngũ
Hành Sơn (TP Đà Nẵng) Để có nước phục vụ sinh hoạt, hầu hết người dân đều phải làm giếng khoan để sử dụng chung với nước thủy cục Bên cạnh đó, nhiều nhà hàng, khách sạn ven biển cũng khai thác nước ngầm để sinh hoạt và xả thải nước ngầm trực tiếp ra biển trong quá trình xây dựng Việc khai thác nước dưới đất một