1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ việt nam anh hùng ở thành phố tam kỳ, tỉnh quảng nam

81 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 801,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để động viên tinh thần cho các Mẹ, phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Tam Kỳ nói riêng và ngành Lao động – Thương binh và Xã hội nói chung đã, đang và sẽ tiếp tục đẩy mạnh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

UNG THỊ MỸ NHÀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG Ở THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

UNG THỊ MỸ NHÀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG Ở THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công

Mã số : 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN MINH TUẤN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng của tôi Các số liệu,

tài liệu được trích dẫn trong luận văn theo nguồn đã công bố Kết quả nêu trong

luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

khác

Tác giả

Ung Thị Mỹ Nhàn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG 8

1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 8 1.2 Khái niệm, nội dung thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng 12 1.3 Những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng

mẹ Việt Nam anh hùng 20 1.4 Kinh nghiệm trong thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở một số tỉnh, thành phố và bài học kinh nghiệm cho thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG Ở THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM 29

2.1 Khái quát chung về thực trạng đời sống của mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ 29 2.2 Kết quả thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng

ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 38 2.3 Đánh giá chung 53

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG 59

3.1 Thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng

mẹ Việt nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 59 3.2 Chủ trương, định hướng trong việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 60 3.3 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện chính sách chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 62

KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số lượng Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh

Quảng Nam từ năm 2015 đến tháng 7 năm 2018 32

Bảng 2.2: Tình hình đời sống của Mẹ Việt Nam anh hùng hiện nay 34

Bảng 2.3: Tình trạng sức khỏe của Mẹ Việt Nam anh hùng hiện nay 35

Bảng 2.4: Tình trạng nhà ở của Mẹ Việt Nam anh hùng hiện nay 36

Bảng 2.5: Việc chi trả chế độ trợ cấp hàng tháng cho Mẹ Việt Nam anh hùng hiện nay (tại thời điểm tháng 7/2018) 47

Bảng 2.6: Kết quả chăm sóc sức khỏe cho Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam từ năm 2015 đến tháng 7 năm 2018 48

Bảng 2.7: Kết quả hỗ trợ cải thiện nhà ở cho Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn thành phố Tam Kỳ từ năm 2015 đến tháng 7 năm 2018 50

Bảng 2.8: Kết quả tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa cho Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn thành phố Tam Kỳ từ năm 2015 đến tháng 7 năm 2018 52

Trang 6

Kế thừa truyền thống quý báu đó của dân tộc ta, trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã viết nên những trang sử vẻ vang trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giành độc lập - tự do và thống nhất đất nước, với cách mạng tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; với chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đánh đổ ách thực dân, giải phóng một nửa giang sơn Và với ý chí "không có gì quý hơn độc lập tự do", nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ

và đã làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước cùng đi lên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trong khi những vết thương nặng nề của chiến tranh xâm lược gây ra chưa kịp hàn gắn, chúng ta lại phải chịu đựng những hy sinh, tổn thất mới trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc Và ngay trong xây dựng hoà bình, vẫn cũng những người con của dân tộc ta phải

hy sinh hoặc chịu thương tật để bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và sự phồn vinh của đất nước

Vì nền độc lập - tự do và sự thống nhất, phồn vinh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc ta, mà phần lớn là thanh niên đã hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc sống của mình cho đất

Trang 7

nước, đã ngã xuống trên chiến trường, hoặc khi trở về đã mang trên mình thương tật suốt đời Hàng triệu thân nhân liệt sĩ, những bậc ông bà, cha mẹ, những người chồng, người vợ và những người con đã không thể gặp lại những người thân yêu nhất của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "chính họ

đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi Họ chết cho Tổ quốc sống mãi …, tinh thần của họ luôn sống với non sông Việt Nam" Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn đó Các thế hệ người Việt Nam sẽ luôn luôn tự hào và nguyện sống xứng đáng với những hy sinh cao cả của các thế hệ cha anh

Nhằm mục đích ghi nhận và đền đáp công lao đóng góp hy sinh của những người có công và các gia đình chính sách, Đảng và Nhà nước ta đã tạo mọi điều kiện để bù đắp phần nào giá trị vật chất và tinh thần cho họ Chính

từ đó mà chính sách ưu đãi chăm sóc người có công ra đời, đặc biệt là chính sách chăm sóc phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng

Cuộc đời của mỗi Mẹ Việt Nam anh hùng là hiện thân của đức hy sinh

mà các thế hệ phải trân trọng Để đổi lấy cuộc sống thanh bình cho đất nước, những người thân yêu nhất của các Mẹ đã mãi mãi không trở về Có nỗi đau nào lớn hơn khi chồng, con của Mẹ đã bị giặc giết Để động viên tinh thần cho các Mẹ, phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Tam Kỳ nói riêng và ngành Lao động – Thương binh và Xã hội nói chung đã, đang và sẽ tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách chăm sóc phụng dưỡng đối với Mẹ Việt Nam anh hùng Việc thực hiện chính sách chăm sóc phụng dưỡng của thành phố đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tam Kỳ là một vùng quê giàu truyền thống cách mạng, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã có biết bao nhiêu người con của mảnh đất này đã hy sinh xương máu, cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng Và cũng đã có biết bao nhiêu bà mẹ đã khóc

Trang 8

thầm lặng lẽ tiễn con ra đi và đi mãi mãi

Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách chăm

sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam”, với hy vọng góp phần giải quyết những bất cập, hạn chế trong thực thi

chính sách người có công, để từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc người có công trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Những nghiên cứu, những bài viết về công tác chăm sóc người có công với cách mạng đã được những nhà nghiên cứu và độc giả hết sức quan tâm, với một sự biết ơn sâu sắc cùng với lòng mong muốn những Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngày càng có chất lượng cuộc sống cao hơn, những phẩm chất anh hùng, yêu nước được truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay

Đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu cũng như sách, báo, tạp chí viết về vấn đề này Năm 1993, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội đã xuất bản

cuốn Một số vấn đề chính sách xã hội ở nước ta hiện nay của tác giả Hoàng

Chí Bảo[9] Chính sách xã hội không ngừng thay đổi để phù hợp với đối tượng

áp dụng Đất nước ngày càng phát triển thì việc yêu cầu các chính sách phải xuất phát từ thực tiễn, gắn liền với lợi ích của đối tượng Chính sách đối với người có công được thay đổi qua các thời kỳ, sự thay đổi đó có những mặt tích cực và tiêu cực trong việc triển khai, thực hiện chính sách

Trong bài viết Pháp lệnh ưu đãi đối với người có công – Một đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, của tác giả Nguyễn Đình Liêu đăng trên tạp chí Lao động

xã hội, số 91 tháng 9/1994 tác giả đã đề cập đến những vấn đề chung nhất về

ưu đãi xã hội ở nước ta, chỉ ra những mặt tích cực cũng như những hạn chế còn tồn tại trong chính sách ưu đãi người có công với cách mạng của Nhà nước ta.[10] Pháp lệnh ưu đãi với người có công chính là căn cứ để thực hiện

Trang 9

những chính sách, những trợ cấp, chi trả hàng tháng, một lần, các mức ưu đãi

mà người có công xứng đáng được hưởng

Nguyễn Đình Liêu, Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công ở Việt Nam Luận án Phó tiến sỹ Luật học (1996) Luận án nêu lên những vấn đề cơ

bản như: Khái nhiệm Pháp luật ưu đãi người có công Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật này Thực trạng của pháp luật này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và việc hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công[12]

Nguyễn Đình Liêu, Trợ cấp ưu đãi xã hội trong hệ thống pháp luật Việt Nam (2002) Qua bài viết này, tác giả đã nêu lên khái quát sự phát triển của

mạng lưới an sinh xã hội ở Việt Nam, và đưa ra những bình luận sâu về vấn

đề trợ cấp ưu đãi xã hội trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần ổn định, từng bước nâng cấp đời sống đối tượng chính sách, hợp với lòng dân, đảm bảo sự công bằng trong việc thụ hưởng chế độ ưu đãi của người có công trong cộng đồng dân cư, công bằng giữa những người có công Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số hạn chế nhất định trong việc thực hiện chế độ chính sách với người có công hiện nay ở nước ta cũng như một số biện pháp nhằm thực hiện

có hiệu quả hơn chính sách ưu đãi xã hội trong hệ thống an sinh của nước ta.[11]

Không chỉ có sách và tạp chí, trong những năm qua, đã có rất nhiều đề tài, công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này Điển hình là các tác giả

như: Nguyễn Hiền Phương (2004), “Một số vấn đề về pháp luật ưu đãi xã hội”, Tạp chí Luật học số 4/2004 Qua nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra và

phân tích một số khái niệm và nội dung cơ bản của Pháp luật Ưu đãi người có công (Khái niệm người có công, tiêu chuẩn xác nhận người có công…) luận bàn và đánh giá về những thành tựu cũng như phân tích chỉ rõ những điểm còn hạn chế trong những chính sách với người có công (chế độ trợ cấp hàng tháng, ưu đãi về giáo dục, y tế, việc làm, tín dụng, nhà ở, đất đai…) Đồng

Trang 10

thời, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách ưu đãi với người có công.[13]

Nguyễn Thị Hằng, Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH, Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng, Tạp chí Cộng sản số 7/2005 Tác giả nêu những nét khái

quát thành tựu đạt được trong việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công trong 10 năm từ 1995 đến 2005, qua

đó đúc kết những kinh nghiệm và đề ra những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách ưu đãi xã hội.[14]

Nguyễn Duy Kiên – Phó Cục trưởng Cục Người có công, Bộ LĐTBXH,

Chính sách Người có công – là trách nhiệm của toàn dân, Tạp chí Tuyên giáo

số 7/2012 Qua bài viết này, tác giả đã khái quát một số thành tựu của chính

sách ưu đãi người có công trong những năm qua, đi sâu vào đánh giá tìm hiểu nguồn lực thực hiện chính sách ở nước ta Khẳng định nguồn lực của Nhà nước thông qua chế độ trợ cấp ưu đãi thường xuyên ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong việc ổn định đời sống của người có công với cách mạng, bởi đa phần họ là những người không hưởng chế độ lương hay bảo hiểm xã hội.[18]

Nguyễn Thị Thu Hoài, Chú trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với thương binh liệt sỹ và người có công với cách mạng từ năm

1991 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013 Luận văn đã đưa ra cái nhìn tổng thể những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với đối tượng người có công từ năm 1991 đến năm 1995 và những đổi mới trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước cùng những chủ trương chính sách ưu đãi cho phù hợp với tình hình mới trong giai đoạn 1996 đến 2010[17]

Các công trình nghiên cứu cũng như các sách, tạp chí trên đã góp phần

cơ bản về lý luận cho việc thực hiện chế độ ưu đãi cho người có công Đặt

Trang 11

nền móng rất quan trọng cho việc xây dựng, bổ sung và hoàn chỉnh pháp luật

ưu đãi người có công với cách mạng nói chung và đối với bà mẹ Việt Nam anh hùng nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu việc thực hiện chính sách chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức thực thi chính sách người có công;

- Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hiện chính sách chăm sóc phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ

- Đề xuất một số biện pháp trong tổ chức thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách chăm sóc phụng

dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Khách thể nghiên cứu: Các Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Về không gian: Thành phố Tam Kỳ

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu: Các tài liệu, các nghị định,

Trang 12

chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, các tài liệu có liên quan đến chính sách chăm sóc phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng, phân tích các tài liệu, văn bản, các thông tin đã thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau Phân tích và tổng hợp các thông tin trên cơ sở đó đưa ra các nhận xét, đánh giá

- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập các thông tin từ các nguồn như sách, báo, trên mạng internet, các báo cáo liên quan đến chính sách chăm sóc phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng Những thông tin thu thập được xử

lí theo yêu cầu của bài thực tập nhưng vẫn đảm bảo tính khách quan

- Phương pháp quan sát: Nhằm kiểm tra độ chính xác của những thông tin thu thập được trong thực tiễn

6 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn chính sách chăm sóc phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chính sách chăm sóc phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo

7 Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu

tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài gồm 3 chương

Chương 1: Những vẫn đề lý luận về thực hiện chính sách ưu đãi người

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG BÀ MẸ VIỆT NAM

1.1.2 Người có công với cách mạng

Dân tộc ta đã trải qua biết bao cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc và trong những cuộc đấu tranh đó đã có biết bao nhiêu người con của đất nước đã hy sinh xương máu, của cải và cả tính mạng của mình cho nền độc lập tự do ấy, họ luôn được nhân dân, Tổ quốc đời đời ghi nhớ và biết

ơn

Theo nghĩa rộng, Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc.[15]

Theo nghĩa hẹp, Người có công với cách mạng là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm

1945, trong các cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận.[15]

Người có công với cách mạng là người đã đóng góp công lao hoặc hy

Trang 14

sinh tính mạng, hy sinh một phần thân thể trong thời kỳ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận

Theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số UBTVQH13 ngày 16/7/2012, Người có công với cách mạng bao gồm:

04/2012/PL-Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945

Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

Liệt sĩ

Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến

Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh

Bệnh binh

Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế

Người có công giúp đỡ cách mạng [1]

Như vậy, người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền công nhận Người có công bao gồm người tham gia hoặc giúp

đỡ cách mạng mà hy sinh xương máu một phần hoặc một phần thân thể của mình hoặc cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và được các

Trang 15

cơ quan tổ chức có thẩm quyền công nhận

1.1.3 Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Tiêu chuẩn để đạt danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng như sau:

Có 02 con trở lên là liệt sĩ

Có 02 con mà 01 con liệt sĩ, 01 con là thương binh với thương tật từ 81% trở lên

Chỉ có 01 con mà người đó là liệt sĩ

Có 01 con liệt sĩ, chồng hoặc bản thân là liệt sĩ .[4]

1.1.4 Chương trình chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng

Phong trào chăm sóc người có công gồm 5 chương trình: nhà tình

nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa; chăm sóc thương bệnh binh nặng, bố mẹ liệt sĩ

cô đơn, con liệt sĩ mồ côi, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; xây dựng, cải tạo các công trình ghi công, mộ, nghĩa trang liệt sĩ; quỹ đền ơn đáp nghĩa

Chương trình chăm sóc phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng là một nội dung trong 5 chương trình chăm sóc người có công Chăm sóc phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng không chỉ là trách nhiệm mà còn thể hiện tình cảm thiêng liêng, sự kính trọng, tri ân sâu sắc của mọi tầng lớp nhân dân đối với sự hy sinh cao cả của các Mẹ, của những anh hùng đã ngã xuống cho độc lập, tự do Những tri ân hôm nay xoa dịu phần nào nỗi đau và thể hiện sự quan tâm, chăm lo đặc biệt đến các Mẹ, để các Mẹ được sống vui, sống khỏe lúc tuổi già

Phong trào chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức kinh tế - xã hội quan tâm bằng nhiều việc làm cụ thể như phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, phong trào “Nhà tình nghĩa”, tặng “ Sổ tiết kiệm”, “Phụng dưỡng suốt đời Bà

mẹ Việt Nam anh hùng”

Trang 16

1.1.5 Đặc điểm tâm lý của Mẹ Việt Nam anh hùng

Cũng như mọi người, các Mẹ Việt Nam anh hùng rất cần có một cuộc sống vật chất và tinh thần đầy đủ, no ấm và hạnh phúc Mặc khác Mẹ đã có nhiều cống hiến hy sinh, chịu nhiều thiệt thòi mất mát vì sự nghiệp chung của dân tộc, do đó Mẹ cần được mọi người tôn trọng, quan tâm chăm sóc, chia sẻ, động viên nhiều hơn để Mẹ vơi đi nỗi đau mất mát người thân

Các Mẹ Việt Nam anh hùng luôn có ý thức về quá khứ cống hiến của mình cho cách mạng, sự hi sinh cao cả, có tinh thần trách nhiệm giữ gìn những phẩm chất và truyền thống cách mạng Đại bộ phận các Mẹ luôn gương mẫu trong đời sống và công tác, thể hiện thái độ trung thành với chế độ

mà những người thân yêu nhất của mình đã đem xương máu, sức lực ra chiến đấu, bảo vệ

Khi hòa bình lập lại cho đến nay dù mang trong mình nỗi đau mất chồng, mất con nhưng các Mẹ vẫn nổ lực cố gắng vươn lên trong cuộc sống, với sức mạnh phi thường, các mẹ đã vượt qua nổi đau Sự mất mát người thân

là sự đau đớn nhất đối với những người mẹ, người vợ mà không gì có thể bù đắp được Mẹ rất cần sự quan tâm chia sẻ, động viên nhất là vào những dịp lễ, ngày tết bởi Mẹ cũng muốn sự đầm ấm hạnh phúc trong những ngày này Tìm hiểu kỹ đặc điểm, nhu cầu của các Mẹ có ý nghĩa rất quan trọng để đưa ra những giải pháp chăm sóc, hỗ trợ phù hợp, đem lại hiệu quả cao, nhằm

bù đắp phần nào những hy sinh cống hiến to lớn của các Mẹ đối với cách mạng và đất nước

1.1.6 Sự cần thiết chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng

Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc: "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa", ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chọn ngày 27-7 là Ngày Thương binh - Liệt sĩ để tỏ lòng "hiếu nghĩa bác ái" với thương binh,

Trang 17

bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng Đây là dịp để toàn Đảng, toàn dân ta ôn lại, tôn vinh và tỏ lòng biết ơn các anh hùng liệt sĩ, đồng chí, đồng bào đã hi sinh xương máu vì Tổ quốc, qua đó không ngừng phấn đấu làm được nhiều việc tốt trong lĩnh vực chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng, đặc biệt là những bà mẹ Việt nam anh hùng,

Chăm sóc người có công với nước là tình cảm và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội Đây là yếu tố thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần ổn định chính trị xã hội; thúc đẩy sự nghiệp đổi mới với tiến trình hội nhập và phát triển

1.2 Khái niệm, nội dung thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng

1.2.1 Khái niệm

Thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng là chu trình chính sách, quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách đến đối tượng chính sách, được hiện thực do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định nhằm đưa chính sách người có công vào cuộc sống qua các nội dung

cụ thể về nguyên tắc, tuân thủ theo một trình tự, thủ tục nhằm đạt đến mục tiêu của chính sách

Bà mẹ Việt Nam anh hùng là danh hiệu mà Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng hoặc truy tặng những phụ nữ Việt Nam có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế Danh hiệu này được ban hành theo Pháp lệnh ngày 29/8/1994, Pháp lệnh sửa đổi bổ sung số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nước CHXHCNVN và được quy định trong Luật thi đua khen thưởng năm 2003 [2]

Việc chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng luôn được các

Trang 18

cấp, các ngành, tổ chức đoàn thể và nhân dân trên địa bàn thành phố đặc biệt quan tâm Mỗi đơn vị, tổ chức, cá nhân đã có những việc làm ý nghĩa thể hiện

sự tri ân sâu sắc công lao của các mẹ đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Pháp lệnh số 26/2005/PL/UBTVQH11 ngày 29/6/2005 về ưu đãi người

Thông tư số 36/2015/TT-BLĐTBXH ngày 28/9/2015 hướng dẫn hồ

sơ, trình tự, thủ tục thực hiện chế độ ưu đãi trong giáo dục đào tạo với người có công với cách mạng và con của họ

Thông tư số 09/2013/TT-BXD ngày 1/7/2013 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ

về hỗ trợ người có công về nhà ở

Trang 19

Pháp lệnh 04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012 sửa đổi, bổ sung một

số điều của Pháp lệnh 26/2005/PL-UBTVQH11 về ưu đãi Người có công với cách mạng

Nghị định 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng Nghị định số 20/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 Quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với Người có công với cách mạng

Pháp lệnh 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012 sửa đổi, bổ sung một

số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”

Nghị định 56/2013/NĐ-CP ngày 22/05/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”

Thông tư hướng dẫn 16/2014/TT-BLĐTBXH ngày 30/7/2014 hướng dẫn một số nội dung xác nhận và thực hiện chế độ ưu đãi Người có công với cách mạng

Nghị định số 99/2018/NĐ-CP ngày 12/7/2018 Quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với Người có công với cách mạng

1.2.2.2 Việc thực hiện trợ cấp ưu đãi

Ưu đãi người có công với cách mạng là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, đó là sự đãi ngộ đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với người có công, là trách nhiệm và là sự ghi nhận, tôn vinh những cống hiến của họ đối với đất nước

Theo Điều 3 quy định về chế độ ưu đãi dành cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại Nghị định 56/2013/NĐ-CP, nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” Cụ thể:

Trang 20

“1 Bà mẹ được tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước“Bà mẹ Việt Nam anh hùng” được tặng Bằng, Huy hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng

2 Bà mẹ được truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” thì thân nhân thờ cúng bà mẹ được nhận Bằng, Huy hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng

3 Tổ chức lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” được quy định như sau:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà

mẹ Việt Nam anh hùng”;

b) Lễ tặng hoặc truy tặng được tổ chức trang trọng, tiết kiệm, có ý nghĩa giáo dục truyền thống; trang trí buổi lễ có dòng chữ: Lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”

4 Tổ chức lễ tang khi Bà mẹ Việt Nam anh hùng từ trần được quy định như sau:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức lễ tang với thành phần đại điện cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội; cơ quan, đơn vị phụng dưỡng và nhân dân nơi bà mẹ cư trú;

b) Lễ tang được tổ chức trang trọng, tiết kiệm phù hợp với phong tục, tập quán của địa phương; trang trí buổi lễ có dòng chữ: Lễ tang Bà mẹ Việt Nam anh hùng

5 Kinh phí tổ chức lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước

“Bà mẹ Việt Nam anh hùng” không quá 01 tháng lương tối thiểu chung cho

01 trường hợp; lễ tang Bà mẹ Việt Nam anh hùng không quá 02 tháng lương

Trang 21

tối thiểu chung cho 01 trường hợp”.[4]

Về chế độ ưu đãi được quy định tại Điều 23, Nghị định 31/2013/NĐ-CP, nghị định Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng

1.2.2.3 Việc thực hiện chăm sóc sức khỏe

Chăm sóc sức khỏe người có công là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo ra và phát triển một môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh cho các hoạt động chăm sóc người có công Ở mỗi địa phương đây là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể quần chúng, của từng công dân Đây cũng là trách nhiệm, nghĩa vụ, tình cảm của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển công tác đền ơn đáp nghĩa

Công tác chăm sóc sức khỏe người có công là đa dạng các hình thức chăm sóc, giúp đỡ Bên cạnh các chính sách chế độ của Nhà nước, phải phát triển rộng rãi các hình thức chăm sóc người có công ở cộng đồng để mọi người dân chủ động tham gia

Chăm sóc sức khỏe người có công còn là đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho sự nghiệp phát triển, khai thác các nguồn lực đang tiềm ẩn trong cộng đồng xã hội Cùng với tăng dần ngân sách Nhà nước, huy động và sử dụng có

Trang 22

hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo thêm điều kiện cho các hoạt động chăm sóc người có công phát triển cao hơn, có chất lượng hơn

Chăm sóc sức khỏe Người có công, huy động nguồn lực trong nhân dân không nên hiểu chỉ là biện pháp tạm thời, là giải pháp tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh nghiệm cho hoạt động này Sau này khi đất nước đã phát triển, ngân sách Nhà nước đã dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hóa, bởi

vì chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng là một chính sách lớn và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của đất nước

Như vậy cùng với hệ thống chính sách ưu đãi của Nhà nước, việc huy động toàn dân chăm sóc sức khỏe Người có công đã góp phần chăm lo tốt hơn đời sống mọi mặt của những Bà mẹ Việt Nam anh hùng và người có công đúng với quy định trong Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng: việc quan tâm chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần của người có công với nước và gia đình họ là trách nhiệm của Nhà nước và của toàn xã hội Theo quy định tại Thông tư số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 03/6/2014 về hướng dẫn chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình đối với người có công với cách mạng và thân nhân; quản lý các công trình ghi công liệt sĩ thì bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng chế độ điều dưỡng theo quy định mỗi năm một lần, được cấp thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh

1.2.2.4 Thực hiện xây dựng nhà tình nghĩa

Quy định về hỗ trợ sửa nhà cho mẹ Việt Nam anh hùng, Điều 3 thông

tư 09 xác định đối tượng được hỗ trợ về nhà ở như sau:

“Đối tượng được hỗ trợ nhà ở theo quy định tại Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

“1 Là người có tên trong danh sách người có công với cách mạng do Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận, huyện, thị xã, thành phố

Trang 23

thuộc tỉnh quản lý tại thời điểm Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành

2 Đang sinh sống và có đăng ký hộ khẩu thường trú trước ngày 15 tháng 6 năm 2013 (ngày Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành) tại nhà ở mà nhà ở đó có một trong các điều kiện sau:

a) Nhà ở bị hư hỏng nặng phải phá đi xây dựng lại nhà ở mới;

b) Nhà ở bị hư hỏng, dột nát cần phải sửa chữa phần khung – tường và thay mới mái nhà”

3 Mức hỗ trợ sửa nhà cho mẹ Việt Nam anh hùng

Mức hỗ trợ sửa nhà cho mẹ Việt Nam anh hùng được quy định tại thông tư số 09 và hướng dẫn áp dụng như sau:

Mức hỗ trợ về nhà ở từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả nguồn ngân sách trung ương và ngân sách địa phương):

40 (Bốn mươi) triệu đồng/hộ đối với trường hợp nhà ở hiện có bị hư hỏng nặng phải phá dỡ để xây dựng lại nhà ở mới

20 (Hai mươi) triệu đồng/hộ đối với trường hợp phải sửa chữa khung, tường và thay mới mái nhà ở hiện có.”

1.2.2.5 Phong trào vận động Quỹ đền ơn đáp nghĩa

Phát huy truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, trong những năm qua, triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực, tích cực vận động xây dựng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa bằng sự đóng góp tự nguyện với trách nhiệm và tình cảm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong, ngoài nước để cùng Nhà nước chăm sóc người có công với cách mạng theo tinh thần Nghị định số 45/2006/NĐ-CP ngày 28/4/2006 của Chính phủ Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động đã huy động được sức mạnh của toàn xã hội tham gia với một trách nhiệm và tình cảm sâu sắc Bằng những việc làm thiết

Trang 24

thực, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành nét đẹp trong đời sống văn hóa dân tộc Phong trào đã và đang phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu với nhiều hình thức phong phú như: nhà tình nghĩa; vườn cây tình nghĩa; áo lụa tặng bà; áo ấm tặng mẹ; giúp đỡ, chăm sóc thương binh, bệnh binh nặng, bố mẹ liệt sĩ già yếu, cô đơn, con liệt sĩ; phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng… Từ kết quả vận động xây dựng Quỹ đã góp phần hỗ trợ tu bổ nghĩa trang, đài tưởng niệm, xây dựng nhà bia ghi tên liệt sĩ, xây dựng và sửa chữa nhà ở, thăm hỏi người có công với cách mạng hoặc thân nhân gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khi ốm đau, khám, chữa bệnh và khi qua đời

1.2.2.6 Chương trình tặng sổ tiết kiệm

Sổ tiết kiệm được tặng với mục đích nhằm hỗ trợ cho Mẹ Việt Nam anh hùng về kinh phí để giải quyết các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống

Chương trình tặng sổ tiết kiệm được các cơ quan, đơn vị và cá nhân hưởng ứng thực hiện một cách tích cực Đây là Chương trình có ý nghĩa nhân văn thiết thực, góp phần động viên, chia sẻ và giúp đỡ những bà mẹ Việt Nam

có thêm điều kiện để vươn lên trong cuộc sống

1.2.2.7 Phong trào nhận phụng dưỡng

Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, nhiều đơn vị, cơ quan trên địa bàn

đã nhận phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Những việc làm này đã khơi dậy tình cảm, trách nhiệm của nhân dân đối với những người đã hy sinh

vì độc lập, tự do của Tổ quốc, động viên những người có công tiếp tục phấn đấu vươn lên cống hiến cho xã hội Phong trào phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã được các địa phương, đơn vị hưởng ứng nhiệt tình Đến nay, 100% Mẹ Việt Nam anh hùng còn sống đều đã được các đơn vị nhận phụng dưỡng suốt đời với mức trợ cấp từ 600.000 đồng/tháng trở lên Chất lượng phụng dưỡng ngày càng được nâng lên cả về biện pháp phối hợp và nội dung

Trang 25

chăm sóc Ngoài chính sách, chế độ ưu đãi của Nhà nước, hàng tháng các Mẹ còn được các cơ quan phụng dưỡng theo mức quy định của Nhà nước, đồng thời tổ chức thăm hỏi và tặng quà khi các mẹ ốm đau và các ngày lễ, Tết… Những nghĩa tình ấy đã kịp thời động viên về mặt tinh thần, giúp đỡ cải thiện đời sống vật chất, góp phần làm vơi đi những nỗi đau để các Bà mẹ Việt Nam anh hùng có cuộc sống tốt hơn

Việc nhận phụng dưỡng, chăm sóc suốt đời Bà mẹ Việt Nam anh hùng thể hiện sự tri ân của nhân dân đối với công lao to lớn và sự hy sinh thầm lặng của các mẹ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, đồng thời thể hiện tình cảm, trách nhiệm của các tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp đối với hoạt động “Đền

ơn đáp nghĩa” Đây là những hành động đẹp thể hiện tình cảm sâu sắc đối với những người đã hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước

1.3 Những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng

Để nâng cao công tác chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng thì các nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng

mẹ Việt Nam anh hùng cũng có sự ảnh hưởng nhất định

- Thể chế chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng: Chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội, thể hiện trong việc Nhà nước tổ chức nghiên cứu, hoạch định, ban hành hệ thống chính sách, chế độ và tổ chức thực hiện Chính sách này nhằm nâng cao và cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần cho những bà mẹ Việt Nam anh hùng, thể hiện sự quan tâm, biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với sự hy sinh, cống hiến của họ cho đất nước Việc tổ chức thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng phải thích hợp, đảm bảo chắc chắn và ổn định Chính sách

Trang 26

luôn được bổ sung, sửa đổi, cải thiện nhằm từng bước cải thiện đời sống của những bà Mẹ Việt Nam anh hùng Các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương, sự phối hợp kết hợp với các cấp, ngành có liên quan về việc chỉ đạo điều hành triển khai thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng, nên chính sách sẽ phù hợp với thực tiễn cuộc sống thì việc thi chính sách sẽ thuận lợi, khả thi Nếu chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng không phù hợp với thực tiễn thì dẫn đến việc rất nhiều khó khăn, thậm chí không khả thi, thiếu hiệu quả

- Môi trường thực hiện chính sách: Yếu tố liên quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng địa phương Những địa phương có vị trí thuận lợi, có điều kiện kinh tế xã hội phát triển, và có điều kiện tự nhiên thuận lợi, người dân nhận thức, hiểu biết tốt về chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng sẽ tác động thúc đẩy việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng thuận lợi Ngược lại, những địa phương

có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên không thuận lợi, điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển, người dân nhận thức, hiểu biết kém về chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng sẽ kìm hãm, ngăn trở các hoạt động này, dẫn đến thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng kém hiệu quả

- Nhận thức của xã hội và người dân: Cần tranh thủ sự đồng tình và ủng

hộ của người dân trong việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng Đây là vấn đề lớn, cần sự đóng góp của người dân, người dân vừa là trực tiếp tham gia thực hiện chính sách, vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích từ chính sách Nếu chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội về mục tiêu và biện pháp thừa hành thì nó sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân, được nhân dân ủng hộ trong việc thực hiện Nếu chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh

Trang 27

hùng không thiết thực với đời sống nhân dân, không phù hợp với điều kiện và trình độ hiện có của nhân dân thì sẽ không đồng tình và chính sách sẽ khó triển khai trong thực tiễn Tóm lại, chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng muốn được triển khai thực hiện tốt vào đời sống xã hội cần phải có sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân

- Nguồn lực thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng: Nguồn lực thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ngoài nguồn lực của nhà nước thì nguồn lực từ cộng đồng là một yếu tố rất quan trọng và ý nghĩa Thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của cộng đồng đối với người có công với cách mạng mà đặc biệt là các bà mẹ Việt Nam anh hùng

- Thể chế tổ chức bộ máy và cán bộ thực thi: Cần sự quan tâm đến năng lực cán bộ công chức thực hiện chính sách người có công với cách mạng, vì đây là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả của tổ chức thực hiện chính sách Các cán bộ, công chức khi được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách người có công với cách mạng, cần nêu cao tinh thần trách nhiệm và chấp hành tốt kỷ luật trong lĩnh vực này mới đạt hiệu quả thực hiện chính sách Đây là nhân tố quan trọng đối với mỗi cán bộ, công chức để thực hiện đưa chính sách vào cuộc sống Trong thực tế năng lực thiếu dẫn đến các cơ quan

có thẩm quyền đưa ra những kế hoạch dự kiến không sát thực tế, hiệu lực không có, nguồn lực huy động bị lãng phí, hiệu quả làm biến dạng chính sách trong quá trình tổ chức thực hiện Cán bộ, công chức có đạo đức, năng lực thực tế còn thể hiện ở thủ tục giải quyết giữa vấn đề trong quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với cá nhân và tổ chức trong xã hội

Trang 28

1.4 Kinh nghiệm trong thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở một số tỉnh, thành phố và bài học kinh nghiệm cho thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

1.4.1 Kinh nghiệm trong thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở một số tỉnh, thành phố

Kinh nghiệm trong thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Ngãi:

Quảng Ngãi hiện có khoảng hơn 180.000 người được xác nhận là người

có công (chiếm 13% dân số toàn tỉnh), trong đó, có hơn 37.000 liệt sĩ, 24.000 thương binh, 6.239 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 11.092 người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, gần 6.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị phơi nhiễm với chất độc hoá học Hiện

có hơn 50.000 người đang hưởng trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng Trong 5 năm qua, toàn tỉnh đã đóng góp xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” gần 10 tỷ đồng cùng với nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước, sự chung tay đóng góp của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, các nhà hảo tâm trong

và ngoài tỉnh đã hỗ trợ xây dựng, sửa chữa 3.981 căn nhà ở cho hộ gia đình người có công trên địa bàn tỉnh, với tổng số tiền huy động là trên 97,7 tỷ đồng, trong đó huy động các cơ quan, đơn vị, tổ chức, các nhà hảo tâm trên 8,7 tỷ đồng 479 Mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được các cơ quan, đơn vị nhận phụng dưỡng đến suốt đời, tặng nhà tình nghĩa, thường xuyên tổ chức thăm, tặng quà vào các dịp lễ, tết, chăm sóc lúc ốm đau; hầu hết các Mẹ đều

có nhà ở ổn định, vững chắc; các huyện Bình Sơn, Đức Phổ đã huy động để xây dựng công trình “Nhà ghi ơn Bà mẹ Việt Nam anh hùng” ghi tên các Mẹ Việt Nam anh hùng của huyện Cùng với đó, những người là bố, mẹ, vợ liệt sĩ già yếu cô đơn, thương binh, bệnh binh có thương tật, bệnh tật nặng, con liệt

sĩ mồ côi đặc biệt khó khăn được các hội, đoàn thể ở địa phương phân công

Trang 29

hội viên đến giúp đỡ, chăm sóc lúc ốm đau; trường hợp đặc biệt được đưa vào nuôi dưỡng, chăm sóc tại Trung tâm Điều dưỡng người có công với cách mạng tỉnh

Từ năm 2012 đến nay, bình quân mỗi năm tỉnh đã mua trên 35.672 thẻ bảo hiểm y tế phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh của người có công, với tổng số tiền trên 9.406 triệu đồng; tổ chức điều dưỡng cho trên 24 ngàn lượt người có công và thân nhân, với tổng số tiền trên 28,8 tỷ đồng/năm Phối hợp với Bệnh viện Chỉnh hình và phục hồi chức năng Đà Nẵng tổ chức trao tặng chân giả modula chất lượng cao cho các thương binh của tỉnh… Ngoài chính sách, chế

độ của Nhà nước quy định, hằng năm tỉnh trích ngân sách trên 35 tỷ đồng để

tổ chức đi thăm, tặng quà đối với hộ gia đình người có công nhân dịp lễ, tết cổ truyền dân tộc, ngày 27/7; tổ chức Lễ đặt vòng hoa, dâng hương tưởng niệm các liệt sĩ và thắp nến tri ân ở tất cả 116 nghĩa trang liệt sĩ trên địa bàn toàn tỉnh; tổ chức đưa người có công và thân nhân liệt sĩ đi viếng Lăng Bác và tham quan toàn tỉnh có 157/184 xã, phường, thị trấn được công nhận làm tốt công tác chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công, Các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng đã phát huy tinh thần cách mạng, là tấm gương điển hình, tiêu biểu cho ý chí vươn lên, tinh thần vượt khó, giúp nhau cùng phát triển và thành công trên nhiều lĩnh vực Nhiều thương binh, bệnh binh thể hiện rõ quyết tâm và nghị lực, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thương binh tàn nhưng không phế” Đến nay, đời sống của gia đình người có công ngày càng được cải thiện, hiện có 95% người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng nơi cư trú Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, xây dựng, tu sửa nghĩa trang, đền/đài tưởng niệm liệt sĩ cũng được tỉnh chăm lo chu đáo Từ năm 2012 đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức quy tập được 203 bộ hài cốt liệt sĩ Các hoạt động bàn giao, đón nhận và an táng hài cốt liệt sĩ trong các

Trang 30

nghĩa trang được thực hiện chu đáo, trang nghiêm, phù hợp với phong tục tập quán của từng địa phương và đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của thân nhân liệt sĩ Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” tỉnh đã xây dựng, nâng cấp gần 61 công trình ghi công liệt sĩ và hàng ngàn phần mộ liệt sĩ với tổng kinh phí trên 90,7 tỷ đồng, một số công trình trở thành công trình văn hoá có giá trị mỹ thuật, giáo dục truyền thống như Nghĩa trang liệt sĩ huyện

Ba Tơ, Đền tưởng niệm liệt sĩ huyện Sơn Tịnh Thực hiện lấy trên 200 mẫu sinh phẩm hài cốt liệt sĩ để giám định ADN xác định danh tính liệt sĩ Công tác quản lý chi trả trợ cấp đối với người có công và thân nhân của họ, ngành lao động - thương binh và xã hội từ tỉnh đến huyện, thành phố và xã, phường, thị trấn cơ bản thực hiện kịp thời, đảm bảo đúng kỳ, đủ số và đến tận tay người được hưởng trợ cấp Công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế

“một cửa” từng bước được thực hiện chặt chẽ, thông suốt, hiệu quả, giúp giải quyết các thủ tục, chế độ, chính sách cho người có công được nhanh chóng, tiết kiệm thời gian đi lại, không gây phiền hà đối với nhân dân Công tác thanh tra, kiểm tra, rà soát việc thực hiện các chế độ trợ cấp ưu đãi đối với người có công và thân nhân của họ luôn được các cấp, các ngành, địa phương chú trọng triển khai thực hiện thường xuyên

Có thể nói, để đạt được những kết quả trên trước tiên là các chính sách, chế độ trợ cấp ưu đãi đối với người có công mà Đảng và Nhà nước ban hành trong những năm qua đã được các ngành, các cấp trong tỉnh thực hiện nghiêm túc, hiệu quả; cùng với đó sự chung tay của cộng đồng, của nhiều tầng lớp nhân dân, của nhiều nhà hảo tâm theo đạo lý "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ người trồng cây" của dân tộc ta; hơn thế nữa sự tự thân cố gắng vươn lên của các đối tượng người có công đã quyết định sự thành công trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực chăm sóc đời sống người có công

Trang 31

Tuy nhiên, hiện vẫn còn một bộ phận người có công và thân nhân của họ còn gặp nhiều khó khăn về nhà ở, về sức khỏe, về việc làm, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; việc xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin; chế độ trợ cấp, phụ cấp dành cho người có công; cái tâm và cái tầm của đội ngũ làm công tác này là những vấn đề cần được quan tâm hơn nữa

1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Phải làm tốt công tác quán triệt, phổ biến đầy đủ và kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến các cấp ủy đảng, chính quyền

và người có công; đẩy mạnh công tác tuyên truyền về truyền thống đấu tranh cách mạng, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân, thường xuyên tham gia xây dựng, củng cố và phát triển phong trào đền ơn đáp nghĩa

để phong trào mang tính xã hội hóa ngày càng cao

Xây dựng chương trình hành động cụ thể với nội dung thiết thực theo hướng xã hội hóa và phải nằm trong chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, rút kinh nghiệm cho từng chương trình

Ngoài chính sách của Đảng và Nhà nước, sự hỗ trợ của toàn xã hội, phải phát huy sự phấn đấu, tự lực vươn lên của các đối tượng chính sách; phải lấy thôn, khối phố, xã, phường làm đơn vị để tổ chức phong trào và phải thường xuyên sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm nhân rộng mô hình

Đền ơn đáp nghĩa, thực hiện chính sách đối với người có công phải là một trong những nội dung của phong trào thi đua yêu nước, là chỉ tiêu xét khen thưởng hoàn thành nhiệm vụ kinh tế, xă hội, an ninh quốc phòng hằng năm của địa phương

Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, công tác quản lý nhà nước, sự phối hợp của mặt trận và các đoàn thể, các tổ chức xã hội trong cuộc vận động thực hiện phong trào đền ơn đáp nghĩa Tranh thủ sự hỗ trợ

Trang 32

giúp đỡ về vật chất và tinh thần của các cơ quan Trung ương, các tỉnh, thành phố, các doanh nghiệp, lực lượng vũ trang trong cả nước để chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương bệnh binh và người có công với cách mạng

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, luận văn đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận chung về thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng với các nội dung cơ bản như: khái niệm chính sách ưu đãi, khái niệm người có công cách mạng, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các chương trình chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng, Luận văn cũng đã chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng, đưa ra một số kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng

Luận văn cũng đã hệ thống các chủ trương, chính sách về chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng và cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với chính sách này nhằm mục đích ghi nhận và đền đáp công lao của các Mẹ

Để từ đó, làm nền tảng lý luận khẳng định rằng công tác này là tất yếu, phải được thực hiện thường xuyên, liên tục trên cơ sở mục tiêu, nguyên tắc

thực hiện cụ thể

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG Ở THÀNH PHỐ TAM KỲ,

TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Khái quát chung về thực trạng đời sống của mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thành phố Tam Kỳ

Tam Kỳ là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam, phía Bắc giáp huyện Thăng Bình và huyện Phú Ninh, phía Nam giáp huyện Núi Thành, phía Tây giáp huyện Phú Ninh, phía Đông giáp biển Đông Tam Kỳ là trung tâm kinh

tế, chính trị, văn hóa, khoa học của tỉnh Quảng Nam, là địa phương có bề dày truyền thống yêu nước và cách mạng

Hiện nay, thành phố Tam Kỳ gồm 13 đơn vị hành chính, trong đó có 09 phường gồm: An Mỹ, An Phú, An Sơn, An Xuân, Hòa Hương, Hòa Thuận, Phước Hòa, Tân Thạnh, Trường Xuân Và 4 xã gồm: Tam Ngọc, Tam Phú, Tam Thăng, Tam Thanh Với diện tích tự nhiên là 9.263,56 ha, dân số 109.888 người

Tam Kỳ thuộc vùng khí hậu duyên hải Do vậy, bão lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế- xã hội của địa phương Giao thông ở Tam Kỳ có nhiều thuận lợi Ngoài tuyến Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam chạy xuyên qua địa phương, Tam Kỳ còn có đường liên hiện: Tam Kỳ- Phú Ninh - Tiên Phước - Trà My, Tam Kỳ - Phú Ninh - Hiệp Đức Nhìn chung, các tuyến giao thông đường biển, đường bộ, đường sắt đã tạo điều kiện cho tam kỳ mở rộng việc tiếp xúc, giao lưu, phát triển kinh tế và văn hóa giữa các vùng miền trong và ngoài tỉnh

Các ngành kinh tế ở Tam Kỳ hiện nay đang phát triển theo hướng tăng

Trang 35

nhanh tỷ trọng thương mại, dịch vụ và công nghiệp giảm dần, tỷ lệ nông nghiệp giảm Những năm qua, cơ cấu kinh tế TP.Tam Kỳ chuyển dịch khá nhanh và tăng mạnh theo hướng thương mại - dịch vụ và công nghiệp Tốc

độ tăng trưởng hàng năm của hai ngành này luôn đạt từ 25 - 28%

Cụm công nghiệp Trường Xuân đã được đầu tư hoàn chỉnh một phần, cảng cá Tam Phú đã được đầu tư đi vào hoạt động ổn định và ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả Các lĩnh vực may mặc, chế biến đồ gỗ, cơ khí, điện máy tiếp tục phát triển Các làng nghề và sản phẩm truyền thống như: Trà, tàu thuyền, bún, chiếu cói tiếp tục phát triển ổn định Có những thương hiệu đã được khẳng định như: Trà Mai Hạc, bún Phương Hòa, chiếu cói Thạch Tân.vv Ở Tam Kỳ đã hình thành một số sản phẩm mới như tranh tre, có sức thu hút khách hàng Bước đầu đã hình thành một số vùng chuyên canh rau sạch, hoa, cây cảnh ở một số xã vùng ven của thành phố Nghề nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy, hải sản ở các xã ven biển phát triển khá mạnh

Trên địa bàn Thành phố Tam Kỳ còn có nhiều di tích lịch sử, văn hóa có

ý nghĩa giáo dục truyền thống và tạo sức hút đối với du khách trong và ngoài tỉnh như: Địa đạo Kỳ Anh, Tượng đài Chiến thắng Mậu Thân, Văn Thánh Khổng Miếu, khu di tích lịch sử Rừng cây mang tên Bác Hồ, Phủ đường Tam

Kỳ, di tích lịch sử cách mạng Chi bộ Đồng, tượng đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng, Khu di tích lịch sử Núi Chùa, Mộ cụ Thuyết v v Hiện nay, trên địa bàn Thành phố đã có 21 di tích được công nhận là di tích văn hóa, lịch sử cấp quốc gia và cấp tỉnh Đến Tam Kỳ, nhiều du khách đã thật sự bị thu hút bởi những điểm du lịch thật đẹp và thơ mộng như: Rừng Cừa, cây sưa vàng ven sông; bãi biển Tam Thanh, đồi An Hà, bãi sậy sông Đầm, v v

Các di tích lịch sử văn hoá là nguồn tài nguyên không chỉ cần được khai thác để thu hút du lịch, mà còn cần được bảo tồn, tôn tạo nhằm phát huy và gìn giữ giá trị Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên này còn nhằm xác định bản sắc

Trang 36

của đô thị, một điều quan trọng để nhận diện đô thị và tạo giá trị độc đáo cho

đô thị đó

Thành phố Tam Kỳ có tất cả 19 di tích văn hóa, lịch sử trong đó có 02 di tích văn hóa lịch sử cấp Quốc gia, 17 di tích cấp Tỉnh

Đáng chú ý ở thành phố là di tích quốc gia, di tích lịch sử Cách mạng Địa đạo Kỳ Anh tại xã Tam Thăng Bên cạnh đó, Tam Kỳ còn có một số điểm

di tích văn hóa đáng chú ý khác cần đầu tư khai thác như: Văn Thánh- Khổng Miếu, tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng, Chùa Sư nữ Diệu Quang, Chùa Đạo Nguyên, Tịnh xá Ngọc Ký, Tịnh đạo Ngọc Quang

Ngoài ra, điều kiện kinh tế - xã hội còn phát triển và thể hiện cụ thể ở nhiều lĩnh vực khác nhau:

Các hoạt động thương mại diễn ra sôi động, hàng hóa phong phú, đa dạng với nhiều chủng loại, đáp ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân Nhìn chung, giá cả một số mặt hàng thiết yếu (lương thực, thực phẩm) không tăng giá hoặc tăng không đáng kể so với năm trước

Sản lượng khai thác thủy sản trong năm 2017 đạt 350 tấn

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn là 108,7 tỷ đồng, đạt 169,4% chỉ tiêu của thành phố Thu ngân sách do thành phố quản lý thu là 31,028 tỷ đồng, đạt 123,6% chỉ tiêu HĐND thành phố giao

Hằng năm, đã kịp thời chi trả chế độ chính sách cho 40.317 lượt đối tượng với tổng số tiền là 52.589.856.000 đồng

Tiếp tục kiểm tra, chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính trong đội ngũ cán bộ, công chức từ thành phố đến xã phường

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố ổn định, không có diễn biến phức tạp Công tác ra quân tuần tra, kiểm soát nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông được tăng cường, nhờ vậy tình hình tai nạn giao thông giảm so với năm trước

Trang 37

Nhìn chung, kinh tế tiếp tục duy trì ổn định, thu ngân sách đạt khá tốt, một số chỉ tiêu có số thu đạt cao Đời sống nhân dân ổn định, đã hỗ trợ kịp thời tiền, lương thực cho các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội, không

có hộ nào thiếu đói

2.1.2 Quy mô, cơ cấu số lượng mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ

Mẹ Việt Nam anh hùng là đối tượng luôn được Nhà nước và các cấp chính quyền quan tâm, giúp đỡ nhằm đóng góp một phần nào đó vào quá trình đền đáp công ơn của những người đã anh dũng hy sinh thân thể, tính mạng của mình vì nền độc lập dân tộc Tam Kỳ là một vùng đất có nhiều người con

đã hy sinh xương máu, cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và cũng đã có biết bao bà mẹ đã khóc thầm lặng lẽ tiễn con ra đi và đi mãi mãi không trở về Chỉ với 13 xã, phường với dân số không quá nhiều nhưng thành phố có trên 430 Mẹ Việt Nam anh hùng, trong đó còn sống 25 Mẹ Trong cuộc sống đời thường họ gặp rất nhiều khó khăn, những người mẹ mất con, người vợ mất chồng cũng đang cố gắng sống vì cuộc sống mưu sinh nhưng những thiếu thốn cộng với sức khỏe yếu đã ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động trong sản xuất cũng như trong sinh hoạt của họ Qua kết quả tìm hiểu cho thấy:

Bảng 2.1 Số lượng Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn thành phố Tam

Kỳ, tỉnh Quảng Nam từ năm 2015 đến tháng 7 năm 2018

Từ trần

Tổng

số

Còn sống

Từ trần

Tổng

số

Còn sống

Từ trần

Tổng

số

Còn sống

Từ trần

Trang 38

Từ trần

Tổng

số

Còn sống

Từ trần

Tổng

số

Còn sống

Từ trần

Tổng

số

Còn sống

Từ trần

Nguồn: Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội thành phố Tam Kỳ)

Nhìn vào số liệu ở bảng 1, ta thấy đối tượng Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn thành phố Tam Kỳ khá đông Từ năm 2015 đến năm 2016 toàn thành phố có 422 Mẹ nhưng đã từ trần 396 Mẹ và đến nay chỉ còn sống 25

Mẹ Vậy việc giải quyết chế độ chính sách và công tác chăm sóc phụng dưỡng cho các Mẹ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế trên địa bàn thành phố Chính quyền địa phương cùng toàn thể nhân dân trong thành phố luôn cố gắng chăm lo cho các Mẹ để họ bớt đi phần nào khó khăn trong cuộc sống

2.1.3 Thực trạng đời sống của Mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ

Cùng với sự đổi mới và quan tâm sâu sắc đến sự nghiệp phát triển kinh

tế của Đảng và chính quyền nhân dân thành phố Tam Kỳ, trong những năm gần đây đời sống của đại bộ phận nhân dân nói chung và Mẹ Việt Nam anh hùng nói riêng đã từng bước được cải thiện và nâng cao

Thực trạng đời sống của Mẹ Việt Nam anh hùng hiện nay

Trang 39

Những Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn thành phố chủ yếu sống

cô đơn, trong tổng số 25 Mẹ còn sống thì có 06 Mẹ còn con cái nuôi dưỡng

Vì vậy các tổ chức đoàn thể, cá nhân luôn chú trọng phát triển mạnh công tác chăm sóc nhận phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng để cho các Mẹ bớt cô đơn, tin tưởng vào chính sách quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính quyền địa phương Bảng số liệu sau sẽ cho ta thấy rõ hơn về tình hình này:

Bảng 2.2: Tình hình đời sống của Mẹ Việt Nam anh hùng hiện nay

Nguồn: Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội thành phố Tam Kỳ

Từ bảng số liệu trên ta thấy, những Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên địa

Trang 40

bàn thành phố Tam Kỳ chủ yếu sống cô đơn: 19 mẹ, trong tổng số 25 Mẹ còn sống, chỉ có 06 Mẹ còn con cái nuôi dưỡng Do đó, việc đi lại, sinh hoạt, chăm sóc của các mẹ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Mất mát vì chiến tranh là vô vàn, song sự mất mát của những người mẹ là vết thương lòng khó lành nhất bởi các con của mẹ đã ra đi, hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Và nỗi mất mát ấy cứ theo mẹ suốt cả cuộc đời nhất là những người mẹ hiện đang sống cô đơn Vì vậy các tổ chức đoàn thể, cá nhân luôn chú trọng phát triển mạnh công tác chăm sóc nhận phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng để cho các Mẹ bớt cô đơn, tin tưởng vào chính sách quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính quyền địa phương

Thực trạng về sức khỏe hiện nay

Đa số các Mẹ là những người cao tuổi, sức khỏe yếu, hay đau ốm, cụ thể qua bảng sau:

Bảng 2.3: Tình trạng sức khỏe của Mẹ Việt Nam anh hùng hiện nay

Sức khỏe trung bình

Sức khỏe yếu

Ngày đăng: 05/07/2019, 11:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w