Chính sách giám sát và phản biện xã hội tuy đã có ở nước ta với những mức độ và hình thức khác nhau và chính thức được ghi nhận tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X năm 2006 “Xâ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
BÙI THỊ THIÊN KIM
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
BÙI THỊ THIÊN KIM
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Tống Đức Thảo Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong Luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng Những phát hiện đưa ra trong Luận văn là kết quả nghiên
cứu của chính tác giả Luận văn
Tác giả Luận văn
Bùi Thị Thiên Kim
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 8
1.1 Địa vị chính trị - pháp lý của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay 8 1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN 14 1.3 Nội dung, hình thức giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam 20 1.4 Các điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN 38
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 43
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên và dân số của quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng 43 2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng 44 2.3 Thực trạng thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng 54
Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM QUẬN NGŨ HÀNH SƠN HIỆN NAY 65
3.1 Quan điểm cơ bản 65 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN quận Ngũ Hành Sơn hiện nay 69
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) ra đời ngày 18 tháng 11 năm 1930 với tên gọi ban đầu là Hội Phản đế đồng minh - hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất, tổ chức liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức và các lực lượng yêu nước có mục tiêu chung là giải phóng dân tộc Ngày nay, MTTQVN được Hiến pháp Việt Nam năm 2013 và pháp luật ghi nhận là thành viên hệ thống chính trị nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tầng lớp nhân dân, MTTQVN trở thành một “điểm tựa” của chế độ dân chủ ở nước ta: Mặt trận vừa đại diện cho lợi ích của mọi tầng lớp nhân dân vừa là cơ sở của chính quyền nhân dân, là tổ chức dân vận của Đảng Ngày nay, trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, MTTQVN đã và đang phát huy vai trò của mình trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp một phần tích cực vào quá trình thực thi dân chủ ở nước ta hiện nay Với tiến trình dân chủ hóa ở nước ta hiện nay, Mặt trận Tổ quốc luôn khẳng định là phương thức hữu hiệu thực hành dân chủ, hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân Hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chính là cách thức hữu hiệu nhất khẳng định vai trò quan trọng mang tính quyết định đến chất lượng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Chính sách giám sát và phản biện xã hội tuy đã có ở nước ta với những mức độ và hình thức khác nhau và chính thức được ghi nhận tại Văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X (năm 2006) “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện
xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ” [11,
tr.135] Điều này thể hiện quan điểm thống nhất của Đảng ta về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và khẳng định vai trò chính thức của Mặt trận Tổ quốc trong việc phản biện xã hội đối với quyền lực nhà nước, đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
MTTQVN có vai trò và khả năng rất lớn trong việc thực hiện chức năng phản biện xã hội Tuy nhiên, thực tiễn triển khai hoạt động này trong nhiều năm qua cho thấy, Mặt trận còn tỏ ra lúng túng về nội dung, phương pháp thực hiện dẫn đến
Trang 6hiệu quả rất hạn chế, chưa ngang tầm vị trí pháp lý - chính trị của mình Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VII đã nhân định về hạn chế này: "Mặt trận chưa làm tốt vai
trò phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chưa đóng góp xứng đáng vào việc xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật; chưa tham mưu xây dựng cơ chế, cũng như chưa thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội" [13, tr.51]
Như vậy, có thể thấy rằng, hoạt động giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN là đòi hỏi cấp bách và tất yếu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền và nền dân chủ XHCN ở nước ta Nó thực sự là công cụ kiểm soát quyền lực của nhân dân Thực hiện tốt hoạt động phản biện xã hội, MTTQVN sẽ góp phần vào việc giải quyết nhiều vấn đề bức xúc vi phạm quyền lực của nhân dân hiện nay Phản biện xã hội của MTTQVN và các tổ chức chính trị - xã hội mà Nghị quyết Đại hội X của
Đảng nêu ra “là nhiệm vụ mới, rất quan trọng và nhạy cảm, cần được nghiên cứu
thận trọng và tổ chức triển khai có hiệu quả” như nhận định của Bộ Chính trị tại
Thông báo số 73 ngày 10 tháng 5 năm 2007
Đối với nước ta hiện nay, thực tế cho thấy, trong điều kiện duy nhất một Đảng cộng sản cầm quyền, có chế quyền lực nhà nước tập quyền xã hội chủ nghĩa không tổ chức theo nguyên tắc "Tam quyền phân lập" Những đặc điểm ấy của hệ thống chính trị nước ta đã đặt sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động của nhà nước nói riêng, nền dân chủ XHCN của chúng ta nói chung vào trạng thái phát triển không có đối trọng Trong bối cảnh đó không thể không nói đến nguy cơ chủ quan, tiềm ẩn mà Đảng phải đối mặt, đó
là lạm quyền và quan liêu, độc đoán, vi phạm dân chủ trong bộ mát Đảng và Nhà nước Đây cũng chính là một trong những lý do khiến cho bộ máy nhà nước ta tồn tại dai dẳng nhiều vấn đề bức xúc như nạn tham nhũng, tệ quan liêu cửa quyền của các cơ quan và công chức hành chính, tình trạng lãng phí ngân sách và tài nguyên quốc gia, tình trạng vi phạm dân chủ … Tình hình này đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu lại hệ thống kiểm soát quyền lực trong đó có vấn đề giám sát và phản biện xã hội
Hoạt động giám sát và phản biện xã hội tuy đã được các văn kiện của Đảng
và pháp luật của Nhà nước quy định nhưng nhìn chung chưa phát huy tác dụng góp phần kiểm soát quyền lực Bởi lẽ, vấn đề mấu chốt là hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bị nhà nước hóa, hành chính hóa nên thực sự chưa phát huy được vai trò tích cực, chưa thực sự khách quan và phản biện xã hội hiệu quả đối với tổ chức và hoạt động của Đảng và Nhà nước
Trang 7Vì vậy vấn đề cấp bách hiện nay là cần phải nghiên cứu lại hệ thống kiểm soát quyền lực, trong đó có vấn đề phản biện xã hội của MTTQVN Với vai trò là một tổ chức đại diện cho ý chí và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân , phản biện xã hội của MTTQVN sẽ tạo ra yếu tố "kiềm chế" thay cho cơ chế "đối trọng" trong hệ thống chính trị của nước ta Để thực hiện vai trò của yếu tố "kiềm chế" nhằm giới hạn quyền lực, tránh xu hướng lạm quyền, vi phạm dân chủ, đòi hỏi MTTQVN phải thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội của mình Đặc biệt, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Quận Ngũ Hành Sơn nằm về phía Đông Nam thành phố Đà Nẵng, cách trung tâm thành phố 8km; phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 12km, phía Tây giáp huyện Hòa Vang, Cẩm Lệ và quận Hải Châu, phía Bắc giáp quận Sơn Trà, phía Nam giáp Phường Điện Ngọc, Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; là quận có địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai khá đồng nhất về tính chất lí - hóa học, cấu tạo địa chất chủ yếu là cát; nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên chế độ nhiệt, lượng mưa, độ ẩm tương đối thuận lợi cho sự phát triển sản xuất cây lương thực và thực phẩm, nhiệt độ trung bình: 25,60C/năm, quanh năm nắng lắm mưa nhiều nhưng lượng mưa phân bổ không đồng đều, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và Tây Bắc khu vực Duyên hải miền Trung và các cơn bão đổ vào Quận có sông Cổ Cò chạy từ sông Hàn đến phía Nam giáp địa phận tỉnh Quảng Nam, nối Đà Nẵng với thành phố cổ Hội An theo chiều dài của quận gắn liền với núi đá vôi tạo thêm vẻ đẹp danh thắng Ngũ Hành Sơn; ruộng đồng, sông nước tạo nên nét dáng của làng quê Việt Nam, hội đủ các yếu tố phát triển du lịch sinh thái gắn với làng đá mỹ nghệ truyền thống tạo nên cảnh đẹp "Sơn thủy hữu tình và thơ mộng" Đối với quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, trong những năm qua, MTTQVN đã từng bước triển khai thực hiện hoạt động giám sát và phản biện xã hội Đặc biệt là từ khi có Luật MTTQ Việt Nam, hoạt động giám sát và phản biện xã hội là một nội dung mới, song MTTQ cũng đã có nhiều cố gắng trong tham gia các ý kiến vào việc hoạch định các chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nhiều ý kiến của MTTQ đã được các cấp uỷ Đảng, chính quyền tôn trọng tiếp thu, điều chỉnh, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nhân dân
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai hoạt động này trong nhiều năm qua cho thấy,
Trang 8mặc dù chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQ đã được đặt lên tầm hiến định, song đến nay vẫn còn tỏ ra lúng túng về nội dung, phương pháp thực hiện, dẫn đến hiệu quả rất hạn chế, chưa ngang tầm với vị trí chính trị pháp lý của mình Giám sát và phản biện xã hội là một nhiệm vụ mới, rất quan trọng, khó khăn và nhạy cảm, nhưng chưa có cơ chế phản biện xã hội cụ thể, chưa có quy định thật rõ về mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, chủ thể, đối tượng, nội dung giám sát và phản biện xã hội Do vậy chính sách giám sát và phản biện của MTTQVN của quận còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao, chưa thực sự phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội đáp ứng yêu cầu của quy định pháp lý cũng như thực tiễn phát triển đất nước nói chung và của
thành phố nói riêng Vì những lý do trên, tác giả chọn “Thực hiện chính sách giám sát
và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận Ngũ Hành Sơn, thành phố
Đà Nẵng” làm đề tài cho Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQ là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành chính sách công, chính trị học, luật học, triết học và các nhà chính trị, các nhà quản lý tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Trong thời gian vừa qua, có các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
- Đề tài KX 10 - 06/06 - 10, (2009) "Các hình thức và giải pháp thực hiện
giám sát xã hội và phản biện xã hội đối với hệ thống chính trị" (của PGS.TS Trần
Hậu làm chủ nhiệm),
- Luận văn tốt nghiệp Đại học Chính trị (2008), "Nâng cao hiệu quả phản
biện xã hội của MTTQ Việt nam" (Nguyễn Trọng Bình, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)
- Hoàng Văn Tuệ (2006), "Vấn đề phản biện xã hội với yêu cầu thực tế hiện
nay", (Tạp chí Triết học, số 4)
- Hoàng Hải (2007), "Về phản biện và giám sát xã hội", (Tạp chí Xây dựng
Đảng, số 9)
- Nguyễn Thọ Ánh (2012), Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật)
- Tống Đức Thảo (2009), “Tính tất yếu khách quan trong việc xây dựng xã
hội công dân ở nước ta hiện nay”, (Tạp chí Khoa học chính trị số 3)
- Tống Đức Thảo (2012), Tăng cường giám sát nhân dân đối với chính quyền
Trang 9nhà nước và các cơ quan dân cử, (Nhân dân điện tử, cập nhật 25 tháng 3)
- “Vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể chính trị - xã hội (qua thực tiễn huyện Mê Linh thành phố Hà Nội)”, Kỷ yếu đề
tài khoa học cấp cơ sở Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Hà Nội, 2009
Cuốn kỷ yếu tập hợp 3 bài viết tiêu biểu: “Quan niệm về giám sát và phản
biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội” của tác giả
Ngô Bích Ngọc và Nguyễn Xuân Thủy; “Những nhân tố tác động và những yêu cầu
đặt ra trong giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội” của tác giả Tô Duy Nghĩa; “Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân” của tác giả Ngô Bích Ngọc và Nguyễn Xuân Thủy
- “Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay”, luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hiền
Oanh, 2005
- “Thực hiện chức năng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”,
luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Thị Mộng Diễm, 2008
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước, luận văn
tiếp tục hướng nghiên cứu làm rõ chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm, tính chất của
chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN Trên cơ sở đó kiến nghị các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của thực hiện chính sách giám sát và phản biện
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn xác định các nhiệm
vụ cơ bản sau đây:
- Làm rõ địa vị pháp lý của MTTQVN, cơ sở pháp lý về thực hiện chính sách
Trang 10giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN, làm rõ địa vị pháp lý của MTTQVN quận Ngũ Hành Sơn
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN quận Ngũ Hành Sơn
- Đề xuất quan điểm và kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận
Luận văn vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về dân chủ và hoạt động của Mặt trận, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của nhân dân, của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc thực hiện giám sát và phản biện xã hội trong quá trình hình thành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, khoa học chính sách Cụ thể
là các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, trừu tượng hóa, so sánh, phương pháp định tính và định lượng để giải quyết mục tiêu và nhiệm vụ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn cung cấp cơ sở lý luận về phản biện xã hội, góp phần vào nghiên cứu, đổi mới hệ thống chính trị trong điều kiện một đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền, trong đó có việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ nói chung và hoạt động phản biện xã hội của MTTQ nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động phản biện xã hội của MTTQ quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng hiện nay
Trang 11- Luận văn góp phần nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của MTTQ trong tình hình mới, đặc biệt là vai trò của MTTQ trong quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội ở nước ta, trong đó có vai trò giám sát và phản biện xã hội
- Luận văn có thể dùng làm tài tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, học tập lý luận cho cán bộ Mặt trận và các đoàn thể trong việc thực hiện hoạt động giám sát và phản biện xã hội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp lý về thực hiện chính sách giám sát và
phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách giám sát và phản biện xã hội của
mặt trận tổ quốc Việt Nam quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng hiện nay
Chương 3 Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
giám sát và phản biện xã hội của mặt trận tổ quốc Việt Nam Quận Ngũ Hành Sơn hiện nay
Trang 12
Ngay khi Đảng vừa ra đời, một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho cách mạng Việt Nam là cần tập hợp các lực lượng yêu nước thành một tổ chức đoàn kết, thống nhất, phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để chiến thắng kẻ địch Ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (tên gọi từ tháng 10/1930) ra chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, một hình thức liên minh chính trị của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và các lực lượng yêu nước khác nhằm đánh đổ đế quốc, giành độc lập dân tộc, giải phóng đồng bào ta khỏi xiềng xích thực dân và phong kiến
Tháng 11/1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế Đông Dương Tháng 6/1938, đổi tên thành Mặt trận Thống nhất Dân chủ Đông Dương, gọi tắt
là Mặt trận Dân chủ Đông Dương Tháng 11/1939, với chủ trương tạm gác khẩu hiệu ruộng đất, Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản đế Đông Dương được thành lập
Ngày 19/05/1941, Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh, được thành lập với mục tiêu tập hợp các tổ chức yêu nước vào một Mặt trận thống nhất nhằm thực hiện nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc
Ngày 29/05/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Hội Liên Việt được thành lập, cùng với Mặt trận Việt Minh trở thành chỗ dựa vững chắc cho chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới ra đời, đối phó với thù trong giặc ngoài
Ngày 07/03/1951, Mặt trận Liên Việt được thành lập từ sự thống nhất của hai
tổ chức Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt, phát huy vai trò động viên sức lực của toàn Đảng, toàn dân làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử
Ngày 10/09/1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập tiếp tục sự nghiệp đoàn kết dân tộc của Mặt trận Việt Minh và Mặt trận Liên Việt, nhằm đấu
Trang 13tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai
Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập nhằm đoàn kết toàn dân thực hiện mục tiên kháng chiến chống chiến tranh xâm lược của Mỹ, đánh đổ Ngụy quyền tay sai ở miền Nam, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Ngày 20/04/1968, sau chiến thắng Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt Nam được thành lập nhằm tập hợp những lực lượng yêu nước ở thành thị miền Nam như trí thức, học sinh, sinh viên, công nhân, thương gia, làm tăng thêm sức mạnh cho khối Đại đoàn kết toàn dân chống Mỹ cứu nước
Từ ngày 31/01 đến ngày 04/02/1977, Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh đã thống nhất ba tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam; Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt Nam thành Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam
Trải qua các thời kỳ cách mạng với những hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã không ngừng phát triển và trưởng thành, đóng góp to lớn vào những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Mặt trận Dân tộc thống nhất ra đời vì yêu cầu liên minh để chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc và đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó từ sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Ngày nay, Mặt trận Tổ quốc là liên minh chính trị thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, là cơ sở chính trị của Đảng và chính quyền nhân dân, là nòng cốt của xã hội dân sự Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam là chỗ dựa vững chắc để đất nước tiến lên con đường công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hòa nhập với xu thế phát triển của thế giới
Điều 9 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 chỉ rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài”
Tính chất liên minh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thể hiện Mặt trận không phải là một đoàn thể, tổ chức của một giai cấp nào đó mà là liên minh chính trị - xã hội của tất cả các lực lượng chính trị - xã hội trong nước Liên minh chính trị - xã
hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm:
- Tổ chức chính trị: Đảng Cộng sản Việt Nam
- Các tổ chức chính trị - xã hội: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn
Trang 14Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân
Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam
- Ngoài ra, tham gia Mặt trận còn có: các tổ chức xã hội (Hội chữ thập đỏ Việt Nam, Hội người cao tuổi Việt Nam, Hội Người mù Việt Nam, Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam Hội Khuyến học Việt Nam, Hội Y học cổ truyền Việt Nam,
v.v ); Quân đội nhân dân Việt Nam - tiền thân là Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - là thành viên của Mặt trận Việt Minh, nay kế tục truyền thống đó, là
thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp,
tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Như vậy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không có hội viên, chỉ có các thành viên bao gồm các thành viên tổ chức và các thành viên cá nhân Hoạt động của Mặt trận được thể hiện qua hoạt động của các thành viên là chủ yếu Các thành viên
tham gia Mặt trận đều có địa vị bình đẳng và độc lập với nhau
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Điều này xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, xuất phát từ thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân Đây còn là vấn đề lịch sử, từ khi có Đảng là có Mặt trận Sau khi giành được chính quyền, Đảng, Nhà nước, Mặt trận là những bộ phận hợp thành hệ thống chính trị Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đều có chung mục đích
là phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà
nước và Mặt trận là mối quan hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau, vì mục tiêu chung
Mặt trận Tổ quốc với Đảng Cộng sản Việt Nam: Trong mối quan hệ giữa
Đảng và Mặt trận, Đảng vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận
Là thành viên, Đảng tham gia Mặt trận bình đẳng và có nghĩa vụ như mọi thành viên khác Đại diện cấp uỷ Đảng tham gia Uỷ ban Mặt trận có trách nhiệm sinh hoạt đầy đủ, thực hiện hiệp thương dân chủ và phối hợp thống nhất hành động Cấp uỷ Đảng phải giáo dục đảng viên gương mẫu thực hiện chương trình hành động chung đã được các tổ chức thành viên thoả thuận và tích cực tham gia công tác Mặt
trận tại khu dân cư
Để lãnh đạo Mặt trận, Đảng không thể ở ngoài hay đứng trên Mặt trận mà
phải ở trong Mặt trận, là một bộ phận của Mặt trận Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo
Mặt trận bằng cách đề ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân; bằng công tác
Trang 15tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tổ chức kiểm tra và bằng sự gương mẫu của đảng viên Đảng lãnh đạo Mặt trận thông qua Đảng đoàn Mặt trận, thông qua Đảng đoàn các tổ chức thành viên của Mặt trận và thông qua đại diện của cấp uỷ Đảng tham gia Uỷ ban Mặt trận cùng cấp Đảng chăm lo bồi dưỡng cán bộ và giới thiệu những Đảng viên ưu tú làm công tác Mặt trận Đảng lãnh đạo sự phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên, sự phối hợp giữa Mặt trận với chính quyền Sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận là vấn đề có tính nguyên tắc, đảm bảo cho Mặt
trận không ngừng được củng cố và mở rộng
Mặt trận Tổ quốc là cơ sở quần chúng của Đảng, góp phần phát huy sức mạnh
bộ máy tổ chức Đảng, tăng cường mối liên hệ chặt chẽ giữa Đảng và nhân dân Mặt trận phối hợp hành động của các tổ chức thành viên thực hiện tốt chủ trương, nghị quyết của Đảng; vận động nhân dân phát huy tính tích cực chính trị trong xây dựng
và bảo vệ Đảng; giám sát hoạt động của cấp ủy Đảng và đảng viên; góp phần xây dựng các chủ trương, nghị quyết của Đảng, đảm bảo tính đúng đắn, hiệu quả thực tiễn
trong chủ trương, chính sách của Đảng thông qua hoạt động phản biện
Mặt trận với chính quyền:
Quan hệ giữa Mặt trận với chính quyền là quan hệ hợp tác bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, phối hợp trong hoạt động Sự phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và Nhà
nước là một tất yếu và xuất phát từ nhu cầu tự thân của cả Mặt trận lẫn Nhà nước
Đối với Nhà nước, Mặt trận tham gia xây dựng, giám sát và bảo vệ Nhà nước,
góp phần phát huy sức mạnh tổ chức và hoạt động của Nhà nước:
- Vận động, tổ chức nhân dân thực hiện tốt quyền làm chủ của mình, tham gia xây dựng bộ máy nhà nước: bầu ra cơ quan dân cử; tổ chức hiệp thương với các
tổ chức thành viên, giới thiệu những người đủ tiêu chuẩn làm hội thẩm nhân dân của tòa án nhân dân các cấp; giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu
dân cử, cán bộ, công chức Nhà nước
- Tham gia vào hoạt động hành pháp của Nhà nước; phát huy sức mạnh của
hệ thống các cơ quan quản lý hành chính; tham gia xây dựng pháp luật, chính sách,
kế hoạch của Nhà nước: tổ chức tiếp xúc, lấy ý kiến nhân dân tham gia xây dựng Hiến pháp, sửa đổi bổ sung các văn bản luật và dưới luật, các chương trình, dự án, chính sách, kế hoạch, thông qua các kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Mặt trận tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong nhân dân, đấu tranh chống
tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của dân
- Vận động, tổ chức nhân dân tham gia các phong trào quần chúng, thực hiện
tốt các chương trình kinh tế - xã hội của đất nước
Nhà nước dựa vào Mặt trận và các đoàn thể để phát huy quyền làm chủ và
Trang 16sức mạnh có tổ chức của nhân dân, tôn trọng và tạo điều kiện để nhân dân trực tiếp hoặc thông qua đoàn thể của mình tham gia xây dựng, quản lý và bảo vệ Nhà nước Hoạt động của Nhà nước mang tính quyền lực từ trên xuống, hoạt động của Mặt trận mang tính chất vận động quần chúng từ cơ sở Nhà nước phối hợp với Mặt trận trong việc chăm lo lợi ích chính đánh của nhân dân, trong việc vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi các chương trình kinh tế - xã hội Nhà nước tạo
điều kiện để Mặt trận Tổ quốc hoạt động có hiệu quả Có thể nói, Mặt trận Tổ quốc
là thành viên chiến lược của hệ thống chính trị, trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Thiếu vắng Mặt trận, Đảng sẽ mất đi cơ sở quần chúng của mình, chính quyền nhà nước cũng mất đi cơ sở chính trị, các chủ thể trong hệ thống chính trị khi thực hiện các quan hệ chính trị sẽ trở nên phức tạp, thiếu ổn định, từ đó làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng và hoạt động quản lý của Nhà nước, hạn chế việc thực thi
dân chủ
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vì thế có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, cùng với các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện đoàn kết, tập hợp lực lượng; xây dựng đồng thuận xã hội; chăm lo lợi ích cho các tầng lớp nhân dân Mặt trận Tổ quốc không chỉ là phương thức tổ chức qua đó nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình, mà còn là môi trường để nhân dân thực hành quyền làm chủ Trong những điều kiện cụ thể, Mặt trận thay mặt và đại diện nhân dân đấu tranh với các biểu hiện vi phạm dân chủ
1.1.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam
Về nguyên tắc tổ chức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp, pháp luật và Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa
các thành viên
Các thành viên gia nhập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên cơ sở tự nguyện, tán thành Điều lệ Mặt trận, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp xem xét, công nhận Quan hệ giữa các thành viên trong Mặt trận là hợp tác, bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau để cùng thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước và các chương trình của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trong sinh hoạt và hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các thành viên đều có quyền trình bày ý kiến của mình, cùng trao đổi,
bàn bạc, hiệp thương dân chủ để đạt sự nhất trí, không dùng mệnh lệnh, áp đặt
- Khi phối hợp và thống nhất hành động, các tổ chức thành viên của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tuân theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời vẫn giữ
Trang 17tính độc lập của tổ chức mình
- Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là tổ chức thành viên, vừa lãnh đạo Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam
Về cơ cấu tổ chức:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tổ chức theo cấp hành chính, từ trung ương tới cơ sở Ở mỗi cấp hành chính đều có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Dưới
cấp xã còn có Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ quan chấp hành giữa hai kỳ đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ở trung ương có Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Thường trực Ủy ban
trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ở địa phương có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương (gọi chung là cấp huyện); Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) Ở mỗi cấp có Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Ngoài ra, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã thành lập Ban công tác Mặt trận ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố,
khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác (gọi chung là khu dân cư)
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam
Tuy chưa có văn bản pháp luật nào quy định rõ ràng về chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tuy nhiên Điều 9 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa 2013 đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Ngoài
ra Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015 có quy định về Quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trên cơ sở đó, có thể khái quát về chức
năng cơ bản của Mặt trận Tổ quốc trên một số điểm sau:
- Đại diện lợi ích cho nhân dân, phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng và
bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho các tầng lớp nhân dân
- Tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tăng cường đồng thuận
xã hội
Trang 18- Tuyên truyền, thuyết phục, tổ chức, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhân dân
- Thực hiện giám sát và phản biện xã hội đối với các cơ quan và cán bộ trong
hệ thống chính trị
- Tham gia phát triển tình hữu nghị hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân
dân các nước trong khu vực và trên thế giới
Với vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ như vậy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
là tổ chức rất phù hợp để thực hiện phản biện xã hội Phản biện xã hội được xem là một trong những chức năng cơ bản và quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, qua đó góp phần giúp Mặt trận Tổ quốc hoàn thành nhiệm vụ do Đảng và nhân dân giao phó, trở thành cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là nơi đại diện cho tiếng nói của nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết
toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN
1.2.1 Quan niệm về phản biện và phản biện xã hội
Để hiểu về chức năng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trước hết cần làm rõ hai thuật ngữ “phản biện” và “phản biện xã hội”
Phản biện đã được đề cập đến từ lâu trong các cuộc hội thảo, trong các tài liệu, văn bản, trong hoạt động chính trị - xã hội và trong nghiên cứu khoa học Đặc biệt, phản biện xã hội là chủ đề được nói đến nhiều trong thời kỳ Đảng, Nhà nước
có chủ trương mở rộng dân chủ và tạo cơ chế để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia giám sát và phản biện xã hội Đó là khi người dân ngày càng ý thức được quyền làm chủ của mình và đòi hỏi thực hiện dân chủ thực sự
Tuy nhiên, nếu “phản biện” là một thuật ngữ đã khá phổ biến, nhất là trong hoạt động khoa học, thì “phản biện xã hội” lại là khái niệm chưa xuất hiện trong từ điển tiếng Việt
Trước hết, nói về phản biện, tuy là đã xuất hiện từ lâu và khá phổ biến song cũng có rất nhiều cách hiểu về khái niệm này
Theo âm Hán Việt, phản là phê phán cái đã có, biện là nói có lập luận Từ điển Hán Việt của tác giả Trần Văn Chánh giải thích: phản có các nghĩa: chuyển biến, lật lại, đảo ngược, trái lại, nghĩ lại, xét lại; biện có nghĩa là tranh luận, giải thích Từ điển Hán Việt của Thiều Chiểu cũng nói: phản biện là tranh luận theo cái nhìn ngược lại Như vậy, theo nghĩa Hán Việt thì phản biện là tranh luận với những
Trang 19ý kiến có trước bằng cách lập luận theo chiều hướng ngược lại Cách định nghĩa này đơn thuần xét trên phương diện ngữ nghĩa học
Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên thì phản biện là “đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình đó được đưa ra bảo vệ để lấy học vị trước hội đồng chấm thi” [55, tr.342]
Từ điển bách khoa Việt Nam cũng đưa ra cách hiểu:
Phản biện là nhận xét và đánh giá về một công trình khoa học Người (hay
cơ quan) phản biện nhận định về tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài, nội dung và hình thức thể hiện của công trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết luận, đóng góp, hạn chế cuối cùng đánh giá chung là đạt hay không đạt những yêu cầu
đề ra, xếp loại [48, tr.407]
Cách hiểu như trên đã chỉ ra các dấu hiệu của phản biện, nhưng mới chỉ giới hạn hoạt động này trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, trong khi có nhiều lĩnh vực khác chúng ta cũng dùng khái niệm phản biện Điều đó phản ánh một thực tế là ở Việt Nam vấn đề phản biện chưa được nhìn nhận một cách thực sự khoa học và đầy đủ
Theo quyết định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, phản biện được hiểu là “hoạt động cung cấp các thông tin, tư liệu, cùng các ý kiến phân tích đánh giá tính khả thi và các kiến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án đối với mục tiêu và các điều kiện ràng buộc ban đầu hoặc thực trạng đặt ra”
Theo cách giải thích trong “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại
hội X của Đảng” thì phản biện là “nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công
trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau” [8, tr.182] Đây chỉ là cách hiểu đơn giản nhất về thuật ngữ này bằng cách so sánh với những thuật ngữ tương đồng khác, mà chưa làm rõ nội hàm chủ yếu của nó
Tác giả Nguyễn Trần Bạt thì cho rằng:
Phản biện là một hành vi xác định tính khoa học của hành động của con người, xuất hiện khi con người chuẩn bị hành động Phản biện làm mỗi hành vi được tiến hành trên cơ sở một sự xác nhận có chất lượng khoa học đối với nó Nếu không có phản biện nghĩa là con người mặc nhiên hành động mà không đếm xỉa đến
sự xác nhận của xã hội về tính phù hợp, đúng đắn của hành động đó Phản biện trong một xã hội dân chủ là một loại “phản hành động” chứ không phải “phản động” Nó xuất hiện song song cùng với các hành động, nó xuất hiện đối lập với tất
cả các hành động [2, 28/02/2007]
Tác giả Lê Đức Tiết lại đưa ra quan niệm:
Trang 20Phản biện là việc dùng chứng cứ, lập luận để bác bỏ chứng cứ, lập luận đã được đưa ra trước đó hoặc dùng chứng cứ lập luận để bác bỏ lại sự phản biện đã nêu
ra sau đó Về mặt triết học, phủ định sự khẳng định hoặc phủ định sự phủ định chính là sự phản biện Phản biện được thực hiện bằng hai dạng hành động cơ bản là biện luận và phản biện hoặc chứng minh hoặc chứng minh ngược lại [43, tr.42]
Có thể thấy, tùy vào điều kiện, quan hệ và lĩnh vực cụ thể mà người ta xác định loại hình và các mức độ của phản biện, đưa ra những cách hiểu về phản biện
Dưới góc độ chính trị học, tôi đồng tình với cách hiểu về phản biện như sau:
Là một phạm trù triết học chính trị dùng để chỉ sự nhận xét, khẳng định và phê phán của một cá nhân hoặc tổ chức đối với tất cả các quan điểm, chủ trương, chính sách của một cá nhân hay tổ chức khác Đó là hoạt động đưa ra các lập luận, chứng cứ, phân tích, đánh giá về một vấn đề nào đó mang tính góp ý, bổ sung, đặt lại vấn đề hoặc phản bác một phần hoặc cả dự án, cả quyết định hay công trình nào
đó [40, tr.16]
Phản biện nói chung không phân biệt lĩnh vực và không giới hạn đối tượng phản biện Chúng ta có thể cụ thể hóa hoạt động phản biện đối với bất kỳ vấn đề gì, với bất kỳ ai Đó là sự phủ định của phủ định nhằm đạt tới chân lý của tri thức con người trong đời sống nhân loại [40, tr.17]
Phản biện xã hội là hoạt động phổ biến trong xã hội hiện đại Ở nước ta, phản biện xã hội là hoạt động đã tồn tại trong nhiều năm dù chúng ta chưa gọi tên
nó là “phản biện xã hội” Cho đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, khái niệm “phản biện xã hội” mới được chính thức ghi nhận trong Văn kiện Đảng
Nói về phản biện xã hội, cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau, chủ yếu được xây dựng trên cơ sở nội hàm khái niệm phản biện Tuy nhiên, có thể thấy, phản biện xã hội thường được nói đến như là một khái niệm chính trị, phản biện xã hội hướng tới các lực lượng lãnh đạo và quản lý xã hội, hướng tới các chủ thể thực thi quyền lực của nhân dân
Trong cuốn “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng”,
phản biện xã hội được hiểu là:
Sự phản biện nói chung, nhưng có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của
xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung toàn xã hội của Đảng, Nhà nước
và các tổ chức liên quan [8, tr.182-183]
Các tác giả cho rằng:
Phản biện xã hội là phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của
Trang 21nhân dân Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định
và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Phản biện xã hội là nhu cầu cần thiết và là đòi hỏi bắt buộc của quá trình lãnh đạo và điều hành đất nước Việc lãnh đạo các cấp đối thoại trực tiếp với nhân dân, các đại biểu dân cử tiếp xúc lắng nghe ý kiến cử tri, việc chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội và Hội đồng nhân dân, lấy ý kiến nhân dân về dự thảo văn kiện, dự án và chính sách kinh tế -
xã hội của Đảng và Nhà nước, việc trưng cầu ý dân qua các phương tiện thông tin đại chúng đều là những cách phát huy tốt phản biện xã hội [8, tr.182]
Tác giả Lê Thị Mộng Diễm đưa ra quan niệm về phản biện xã hội:
Là hoạt động bày tỏ ý kiến, chính kiến, đánh giá, nhận xét, phê bình, bình luận, tranh luận, thảo luận, thẩm định của xã hội, thường thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các cá nhân tiêu biểu đối với quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị của Đảng cầm quyền và các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ của toàn xã hội, làm cho các quyết sách chính trị phản ánh đúng quy luật khách quan, đáp ứng lợi ích của các đối tượng chịu sự tác động của quyết sách chính trị [7, tr.19]
Tác giả Nguyễn Thọ Ánh nêu ngắn gọn:
Phản biện xã hội là hoạt động của một chủ thể xã hội dùng các luận chứng khoa học để nhận xét, đánh giá, nêu quan điểm để cơ quan có thẩm quyền xem xét khi ban hành các quyết sách chính trị [1, tr.36]
Nhưng cũng cần lưu ý rằng, thực chất của hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành của các chủ thể quyền lực là ban hành các quyết sách chính trị Quá trình này bao gồm cả khâu dự thảo và điều chỉnh (sửa đổi, bổ sung) các quyết sách chính trị
Vì vậy, phản biện xã hội bao hàm cả quá trình khởi thảo, hoạch định lẫn quá trình xem xét, đánh giá và đề xuất quan điểm, ý kiến trong quá trình thực thi các quyết sách chính trị
Các quan niệm về phản biện xã hội nêu ra trên đây hầu như đều giới hạn hoạt động phản biện xã hội trong quá trình hoạch định và tổ chức thực thi các quyết sách chính trị, bao gồm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch, dự án, đề án, các biện pháp điều hành của Nhà nước Phản biện xã hội là phản biện đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Nếu vậy, phản biện xã hội vô hình chung đã trở thành phản biện chính sách, đơn thuần trở thành một khâu trong chu trình chính sách Do đó, nên chăng, quan niệm về phản biện xã hội cần được mở rộng hơn: không chỉ được tiến hành đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mà còn bao hàm cả công tác tổ chức và cán bộ, bao hàm tất cả những hành vi, hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
Trang 22quyền Phản biện xã hội là phản biện đối với tất cả những vấn đề thuộc về các chủ thể thực thi quyền lực của nhân dân có liên quan đến lợi ích chung của xã hội, đến quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân
Khi phản biện, người phản biện phải hội tụ đầy đủ các luận cứ thực tiễn, khoa học Mục đích của phản biện xã hội là bằng những căn cứ khoa học và thực tiễn
để làm sáng tỏ bản chất của vấn đề, những ưu điểm, hạn chế, đảm bảo lựa chọn được phương án hợp lý, khả thi và tối ưu nhất
Góp ý, bổ sung là để hoàn thiện hơn Khi góp ý, bổ sung thì không đòi hỏi người góp ý phải có đủ căn cứ thực tiễn, khoa học để chứng minh Bên được góp ý,
bổ sung cũng không nhất thiết phải chấp nhận Ở một phương diện nào đó, có thể coi góp ý, bổ sung là mức độ thấp của phản biện xã hội
Cốt lõi của phản biện là xem xét vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau để có cái nhìn tổng thể, toàn diện và khách quan; từ nhiều cách làm khác nhau để tìm ra cách làm hợp lý nhất, đạt được kết quả tốt nhất; đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các lợi ích: lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân
Trong phản biện không phải lúc nào người phản biện cũng giữ vai trò là người phản bác mà có trường hợp người phản biện ủng hộ, tán thành Phản biện xã hội bao hàm các khả năng: có chấp nhận, có bổ sung, có đồng tình, hoặc phản bác Phản biện có thể dẫn đến phản bác Nhưng phản bác cũng chỉ là một khả năng, một tình huống có thể xảy ra trong phản biện Có thể coi phản bác là mức độ cao nhất của phản biện
Phản biện, kể cả trong trường hợp dẫn tới phản bác, vẫn là một hoạt động có tính chất xây dựng Phản biện xã hội hướng đến việc lựa chọn được phương án xã hội chính xác nhất, phục vụ mục tiêu xã hội
Còn phản đối, chống đối, phản kháng xảy ra khi có mâu thuẫn gay gắt hoặc đối kháng về quyền lợi Phản kháng thường hướng đến sự đả kích, gạt bỏ phương
án, do có sự khác biệt về mục tiêu giữa hai phía Phản kháng không dừng lại ở việc đối chọi về lập luận, ý kiến mà có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức như: biểu tình, tẩy chay, bất hợp tác, bao vây, hoặc những biện pháp cực đoan khác
Tác giả Nguyễn Trần Bạt cũng nhấn mạnh rằng phản biện không phải là chống đối mà trái lại khất lần phản biện mới tức là khuyến khích chống đối Tác giả khẳng định rằng:
Phản đối, chống đối không phải là công việc của phản biện Lẽ phải đơn thuần cũng không phải đối tượng của phản biện Phản biện là tìm ra các ranh giới, các mức độ hợp lý của cái gọi là lẽ phải [3, 08/06/2011]
Dư luận xã hội:
Trang 23Dư luận xã hội có thể hiểu là tập hợp ý kiến, thái độ có tính chất đánh giá, bình luận của xã hội nói chung đối với những vấn đề có tính chất thời sự liên quan đến lợi ích chung, thu hút sự quan tâm của nhiều người và được thể hiện trong các nhận định hoặc các hành động thực tiễn của họ
Phản biện xã hội và dư luận xã hội đều thể hiện dưới những ý kiến đánh giá, nhận xét của các nhóm xã hội đối với những vấn đề nhất định trong đời sống xã hội Tuy nhiên dư luận xã hội có thể nảy sinh đối với tất cả những gì liên quan đến lợi ích cộng đồng; còn phản biện xã hội theo nghĩa cụ thể chỉ hướng tới những hoạt động của lực lượng lãnh đạo và quản lý xã hội
Dư luận xã hội thể hiện tính quần chúng rộng lớn và thường nghiêng về các giá trị đạo đức, văn hóa - xã hội chung của cộng đồng Trong khi đó, phản biện xã hội mang ý nghĩa chuyên môn khoa học về những lĩnh vực đặc thù
Dư luận xã hội thường chú trọng đến việc bày tỏ thái độ (tán đồng hoặc phản đối) của công chúng trước sự kiện; còn phản biện xã hội nghiêng về phân tích, lập luận, dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn để đưa ra nhận định khách quan, nhằm tư vấn cho các cơ quan công quyền
Phản biện khoa học là loại hình phản biện được thực hiện khi tiến hành nghiệm thu các công trình nghiên cứu khoa học Phản biện khoa học và phản biện
xã hội đều đòi hỏi tính khách quan, khoa học, nhưng nội dung, mục tiêu, cơ chế hoạt động khác nhau
Phản biện khoa học nhằm vào các phát minh, sáng kiến khoa học Phản biện
xã hội nhằm vào các quyết sách chính trị, các hành vi chính trị
Mục đích của phản biện khoa học là khẳng định tính đúng đắn của các lý thuyết, phát minh khoa học, đảm bảo hành động phù hợp với quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội
Phản biện xã hội mặc dù cũng coi trọng tính khách quan, nhưng còn có thuộc tính xã hội Mục đích của phản biện xã hội là đảm bảo quyền lợi tối đa và lợi ích hài hoà của Tổ quốc và nhân dân
Tuy nhiên, ranh giới giữa phản biện khoa học và phản biện xã hội cũng tương đối mong manh Trong phản biện xã hội, có thể sử dụng các tiêu chí của phản biện khoa học, kết quả phản biện khoa học để tăng sức thuyết phục
Từ những luận giải trên cho thấy, phản biện xã hội theo nghĩa rộng được thể hiện ở toàn bộ cách thức nhìn nhận, đánh giá, nhận xét từ phía xã hội đối với hoạt động của các chủ thể thực thi quyền lực Trên cơ sở đó, xin được đưa ra cách hiểu
về phản biện xã hội như sau:
Phản biện xã hội là hoạt động của các lực lượng xã hội đưa ra lập luận,
Trang 24phân tích, chứng minh trên cơ sở khoa học và thực tiễn, từ đó rút ra nhận xét, đánh giá, bày tỏ quan điểm, đề xuất kiến nghị đối với các vấn đề thuộc nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan; nhằm thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ nhân dân trong xây dựng Đảng và Nhà nước, đảm bảo lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân
Phản biện xã hội có thể được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau: từ cá nhân, tổ chức, tập thể, các giới, các hội, các nhóm lợi ích, các tầng lớp xã hội, v.v Đặc biệt là vai trò phản biện của báo chí, của các nhà khoa học, của đội ngũ trí thức, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân Trong
đó, Mặt trận Tổ quốc là một chủ thể phản biện xã hội đặc biệt quan trọng
1.3 Nội dung, hình thức giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam
1.3.1 Khái niệm phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
1.3.1.1 Khái niệm
Phản biện xã hội được thực hiện thông qua nhiều kênh khác nhau, bởi những chủ thể khác nhau, và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một trong số đó Nhưng Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam là chủ thể phản biện xã hội đặc biệt quan trọng Tuy phản
biện xã hội có thể được thực hiện bằng nhiều cách, nhưng để phản biện diễn ra một cách chuyên nghiệp và khoa học, nhất thiết phản biện phải được thực hiện trong một tổ chức nhất định và những ý kiến phản biện cần phải được thống nhất từ trong những tổ chức đó trước khi đưa ra công khai đối thoại với Nhà nước Ở Việt Nam,
tổ chức được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện phản biện xã hội
chính là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Là tổ chức lớn nhất của đông đảo quần chúng nhân dân, nên chỉ có Mặt trận
Tổ quốc mới có thể thực hiện tốt công việc phản biện, giúp Đảng và Nhà nước chống tham nhũng, chống đói nghèo, chống tụt hậu có hiệu quả và làm trong sạch
bộ máy nhà nước [40, tr.88]
Nói về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, theo các tác giả Thang Văn
Phúc, Nguyễn Minh Phương, trong cuốn “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay” thì đây là hoạt
động “yêu cầu Mặt trận đứng ở vị trí người dân để bình luận, nhận xét, đánh giá quá trình hoạch định và thực thi các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến lợi ích của người dân [32, tr.356]
Còn theo tác giả Trần Ngọc Nhẫn thì phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc là: Việc góp ý của Mặt trận đối với dự thảo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của
Trang 25người dân; đến tổ chức và cán bộ; đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội để khẳng định tính đúng đắn của dự thảo, đồng thời kiến nghị những điểm sơ hở, thiếu sót để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, tiếp thu và trả lời chủ thể phản biện
xã hội nhằm góp phần đảm bảo cho các chủ trương, chính sách, pháp luật khi được ban hành sát thực tiễn, hợp lòng dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội và sớm đi vào cuộc sống [30, tr.30]
Theo khoản 2 Điều 1 Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị): Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
Theo Quy chế này thì phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ
áp dụng đối với quá trình hoạch định, xây dựng dự thảo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
Tại khoản 1 Điều 32 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015 cũng nêu:
Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án (gọi chung là dự thảo văn bản) của cơ quan Nhà nước
Như vậy, theo quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới ban hành
2015 thì phạm vi đối tượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc thậm chí còn hẹp hơn, chỉ bao gồm dự thảo văn bản của cơ quan Nhà nước
Rõ ràng, về mặt pháp lý, quan niệm về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay là tương đối hẹp
Trên cơ sở cách hiểu về phản biện xã hội đã nêu trước đó, đồng thời xét trong thực tiễn, quan niệm này cần được mở rộng hơn Phải phản biện cả trong quá trình chuẩn bị khởi thảo, cả trong quá trình thực thi chứ không phải chỉ phản biện trong thời điểm hình thành tư tưởng, đường lối Trên thực tế thời gian qua đã chứng minh nhiều chủ trương, chính sách sau khi đã ban hành và áp dụng trong thực tiễn rồi vẫn được đưa ra phản biện và đã được thay đổi
Trở lại với tinh thần của Đại hội X của Đảng về “Xây dựng quy chế giám sát
và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng
Trang 26và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ” [10, tr.135], chúng ta nên hiểu là không chỉ việc hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách mà cả trong vấn đề nhân sự, trong công tác tổ chức và cán bộ cũng cần tiếng nói của Mặt trận
Chính vì vậy, phải xác định rõ ràng khái niệm phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam để xây dựng những nội dung liên quan, chứ không nên để tình trạng mỗi người hiểu khái niệm phản biện một cách khác nhau
Như thế, tác giả xin được đưa ra quan niệm về phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam như sau:
Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc là hoạt động bày tỏ ý kiến, quan điểm, đánh giá, nhận xét, bình luận, phê bình, tranh luận, thảo luận, thẩm định của Mặt trận đối với các vấn đề thuộc nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan; nhằm thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ nhân dân trong xây dựng Đảng và Nhà nước, đảm bảo lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân
Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc được thể hiện cụ thể là:
- Chỉ ra những chủ trương, chính sách, pháp luật và công việc điều hành mà Đảng, Nhà nước sắp hoặc đã ban hành nhưng chưa sát thực tế, chưa làm được hoặc làm chưa tốt, chỉ ra những việc làm chưa hợp lòng dân
- Cung cấp thông tin thực tế về những vấn đề cần điều chỉnh trong các kế hoạch, chương trình, dự án kinh tế - xã hội nhằm bảo vệ lợi ích của cộng đồng, lợi ích chung toàn xã hội
- Đề xuất sửa đổi chủ trương, chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tế cuộc sống, đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý, khả thi và hiệu quả cao
- Tổ chức thảo luận lấy ý kiến các chuyên gia, nhà quản lý hoặc đại biểu của quần chúng về những vấn đề bức xúc trong xã hội Tập hợp ý kiến kiến nghị với Đảng, Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nghiên cứu giải quyết những vấn đề bức xúc liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng, thiết thực của các tầng lớp nhân dân
Trong thực tế, do nội dung hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước rất rộng lớn, mà điều kiện của Mặt trận lại có hạn, nên hiện nay, hoạt động phản biện
xã hội của Mặt trận Tổ quốc chủ yếu chỉ tập trung vào quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, nhằm đánh giá, nhận xét, thẩm định, nêu kiến nghị đối với dự thảo, dự án, đề án của cơ quan Đảng và Nhà nước Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu nhận thấy có vấn đề phát sinh thì Mặt trận phản biện dưới hình thức kiến nghị, khuyến cáo với cơ quan có thẩm quyền Cũng cần thấy rằng, hoạt động phản
Trang 27biện xã hội chủ yếu được tiến hành đối với các cơ quan Nhà nước - vốn là trung tâm, trụ cột của hệ thống chính trị, chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý, điều hành xã hội
Hơn nữa, theo ông Nguyễn Văn Pha, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc tuy đã được tiến hành từ lâu, nhưng rất khó để có thể phân định rạch ròi đâu là góp ý, kiến nghị, đâu là phản biện xã hội mà thể hiện đan xen trong các hoạt động giám sát và công tác dân nguyện của Mặt trận Do vậy, đánh giá hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc vẫn chủ yếu là đánh giá về hoạt động góp ý, kiến nghị Mặt trận đối với Đảng và Nhà nước về dự thảo chủ chương, chính sách, pháp luật đã và đang thực hiện trong nhiều năm qua Đó có thể coi là những hoạt động có tính chất bước đầu của phản biện xã hội [31, tr.8]
1.3.1.2 Những đặc điểm cơ bản của phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tính chất phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Đối tượng của phản biện xã hội là các nội dung hoạt động, chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền; chính sách, pháp luật của Nhà nước Do đó phản biện xã hội là hoạt động có tầm vóc, quy mô rộng lớn, có tác động đến nhiều người,
có tầm ảnh hưởng rộng rãi trong toàn xã hội
- Bản chất của phản biện xã hội là quá trình xem xét, đánh giá, phân tích, lập luận để đi đến nhận thức chân lý
- Đặc biệt, phản biện xã hội có tính tích cực xã hội - vì cuộc sống tốt đẹp hơn;
“không ai biểu dương một hoạt động là mang tính xã hội khi nó không nhằm tới mục tiêu tiến bộ” [40, tr.21] Mục đích cuối cùng của phản biện xã hội là nhằm thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ của toàn xã hội, làm cho các quyết sách chính trị phản ánh đúng quy luật khách quan, đáp ứng lợi ích của các đối tượng chịu sự tác động của quyết sách chính trị
Tính xã hội đồng nghĩa với tính nhân dân: phản biện phải đứng trên lập trường của nhân dân, đại diện cho quyền lợi hợp pháp và nguyện vọng chính đáng
Trang 28của nhân dân, bảo đảm lợi ích của toàn xã hội và yêu cầu của đất nước Phản biện
xã hội phản ánh quan điểm, nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích của các tầng lớp xã hội khác nhau Vì thông qua phản biện, các tầng lớp nhân dân bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình đối với lực lượng lãnh đạo và quản lý xã hội, cho nên phản biện chính là tiếng nói của nhân dân, xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích của nhân dân,
và vì thế nó mang tính xã hội sâu sắc
Phản biện xã hội khác với phản biện của các cơ quan quyền lực nhà nước chính là ở tính xã hội của nó Phản biện xã hội là phản biện của các lực lượng xã hội
ở ngoài Nhà nước, phản biện của nhân dân, của xã hội, phản biện từ phía bên ngoài vào quyền lực nhà nước Còn phản biện của các cơ quan quyền lực nhà nước mang tính quyền lực, là sự phản biện ở bên trong hệ thống chính trị
Tính khách quan còn thể hiện ở sự phù hợp với quy luật khách quan khi phản biện; ở sự nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, đa chiều; đồng thời đòi hỏi cả chủ thể phản biện và chủ thể nhận phản biện được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, nói rõ sự thật trên tinh thần xây dựng
Tính khoa học:
Phản biện là tranh luận một cách khoa học chứ không phải là tìm câu trả lời
có đồng ý hay không đồng ý theo dạng thăm dò dư luận xã hội Phản biện xã hội của Mặt trận phải dựa trên những phân tích, lập luận chặt chẽ có cơ sở khoa học và thực tiễn nhất định, có tính thuyết phục cao, có sự tham vấn của các chuyên gia, từ
đó đưa ra được căn cứ xác đáng để luận chứng cho quan điểm của mình Mục đích tối cao của nó là đi đến cái hợp lý, cái tiến bộ Muốn vậy, chủ thể phản biện phải có tri thức, có trình độ, am hiểu chủ trương, chính sách, pháp luật, sâu sát thực tiễn và
có liên hệ mật thiết với nhân dân
Mặt khác, quá trình phản biện xã hội phải được tổ chức với một cơ chế thực
sự khoa học, theo trình tự, thủ tục nhất định có tính pháp lý, có sự ràng buộc về quyền và trách nhiệm của các bên trong hoạt động phản biện xã hội
Tính xây dựng:
Trang 29Phản biện xã hội là hoạt động thể hiện tính tự giác chính trị cao độ, với “tinh thần vì cộng đồng, vì sự phát triển chung của xã hội bằng việc đưa ra nhận xét, đánh giá, kiến nghị với mong muốn vươn tới tính hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của các thiết chế chính trị” [28, tr.33]
Phản biện xã hội nhằm chỉ ra được những điểm hợp lý, những điểm chưa hợp
lý, những điểm cần bổ sung, sửa đổi, những điểm cần bãi bỏ, từ đó đảm bảo tính đúng đắn trong tổ chức và hoạt động, đảm bảo lợi ích thiết thực, cụ thể của các tầng lớp nhân dân Phải giám định được mức độ đúng/ sai, phù hợp/ không phù hợp, khả thi/ không khả thi, từ đó đề xuất, tư vấn cho cơ quan có thẩm quyền lựa chọn được phương án hợp pháp và hợp lý tối đa Tuy có thể điều chỉnh, bổ sung phương án hiện tại hoặc đề xuất phương án khác, nhưng vẫn hướng đến mục tiêu xã hội chung, thống nhất, vì lợi ích chung Phản biện là để đóng góp, xây dựng, hướng tới sự hoàn thiện, hoàn chỉnh của đối tượng được phản biện, chứ không phải để phản bác hay chống đối Đó chính là phản biện trên tinh thần xây dựng
Nguyên tắc phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Để phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện có chất lượng, hiệu quả và đúng định hướng, phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định:
- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Điều lệ các đoàn thể chính trị - xã hội
Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc muốn có hệ thống, khoa học và tính pháp lý cao thì phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ Mặt trận các đoàn thể chính trị - xã hội
Ngoài ra, phản biện thực hiện tràn lan, tùy tiện, “chín người mười ý” hoặc không dựa trên cơ sở pháp luật sẽ dẫn đến hệ quả xấu, đi ngược lại định hướng, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, thậm chí phản biện có thể bị lợi dụng vì mục đích xấu Do đó phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, tính hợp hiến và hợp pháp
- Bảo đảm sự tham gia của thành viên, hội viên, đoàn viên và nhân dân Bảo đảm sự tham gia của thành viên, hội viên, đoàn viên và nhân dân là để đảm bảo hoạt động phản biện của Mặt trận diễn ra thực chất, phát huy được sức mạnh và trí tuệ to lớn của tập thể
Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội với các cơ quan, tổ chức có liên quan; không làm trở ngại các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận phản biện
- Bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan và tính xây dựng Phản biện xã hội phải dựa trên cơ sở phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
đó là vấn đề có tính nguyên tắc, là điều kiện cốt yếu để ý kiến phản biện được nảy
Trang 30sinh, được bộc lộ và được lắng nghe Dân chủ tạo điều kiện để nhân dân được nói lên tiếng nói của mình Tự do, dân chủ là tiền đề thực hiện phản biện thực chất, tránh hình thức Tuy nhiên, đảm bảo tự do, dân chủ, nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật và trên tinh thần xây dựng
Thông tin về đối tượng phản biện phải được công khai đầy đủ, đồng thời Mặt trận cũng phải tự nghiên cứu, tìm hiểu tình hình để đảm bảo độc lập, khách quan trong phản biện Mọi thông tin phản biện phải đảm bảo minh bạch, rõ ràng Với nguyên tắc minh bạch, với sự tranh luận mở và thủ tục giải trình, phản biện xã hội
sẽ giúp giải quyết ngay từ ban đầu những thắc mắc, bất đồng, ngăn chặn sự phản kháng dù là tự phát
- Tôn trọng các ý kiến khác nhau, nhưng không trái với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các thành viên, đoàn viên, hội viên, lợi ích quốc gia, dân tộc
Ðể thực hành phản biện xã hội với ý nghĩa tích cực, tôn trọng các ý kiến khác nhau, nhưng đồng thời phải lấy lợi ích của cộng đồng làm mục đích, "không thể chấp nhận phản biện nhằm gây mơ hồ, làm lạc hướng nhận thức chung, tiến công vào nguyên tắc tổ chức và hệ thống chính trị của xã hội" [42, 12/03/2013]
Do đó phải đặc biệt đảm bảo tính Đảng trong phản biện: Phản biện xã hội phải đảm bảo lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc; thể hiện lập trường giai cấp công nhân, tất cả vì lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, phòng chống mọi biểu hiện lợi dụng phản biện để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Chủ thể giám sát và phản biện xã hội
Chủ thể phản biện xã hội ở đây là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bao gồm:
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến cơ sở;
- Các tổ chức xã hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Các hội đồng tư vấn thuộc Mặt trận: các hội đồng tư vấn trên các lĩnh vực: văn hóa, các vấn đề xã hội, đối ngoại và kiều bào, kinh tế, dân tộc, khoa học - giáo dục, tôn giáo, dân chủ pháp luật;
- Các cá nhân tiêu biểu, nhà khoa học, nhân sĩ, trí thức hoạt động trong các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc hoặc các chuyên gia được Mặt trận hay các tổ chức thành viên mời tư vấn
Đối tượng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Theo các quy định pháp luật hiện hành, đối tượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc là các văn bản dự thảo về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa,
Trang 31xã hội của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
+ Đối với cấp uỷ đảng, đó là: Dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng; Nghị quyết chuyên đề; đề án nhân sự Đại hội; dự kiến giới thiệu nhân sự thuộc thẩm quyền quản lý của cấp uỷ đảng ra ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; dự kiến cán bộ chủ chốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị -
xã hội cùng cấp
+ Đối với Quốc hội, Hội đồng nhân dân: Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp;
dự thảo quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước (trừ lĩnh vực thuộc bí mật quốc gia); dự án Luật, Pháp lệnh; dự thảo Nghị quyết trước khi ban hành; dự kiến
cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; dự kiến người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân
+ Đối với Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp: Dự án Luật, Pháp lệnh do Chính phủ chủ trì, soạn thảo; dự thảo Quyết định, các chương trình phát triển kinh
tế - xã hội; dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân
Tuy nhiên, như đã phân tích, đối tượng phản biện của Mặt trận Tổ quốc không chỉ là các dự thảo văn bản, quyết sách chính trị, không chỉ liên quan đến quá trình hoạch định, xây dựng dự thảo mà cần được mở rộng hơn Do đó, đối tượng phản biện của Mặt trận Tổ quốc có thể là:
- Hệ thống đường lối, chủ trương, quan điểm lãnh đạo của Đảng cho từng giai đoạn; hệ thống pháp luật, chính sách của Nhà nước nhằm thể chế hóa, pháp chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, quan điểm đó; những chương trình, kế hoạch, dự án,
đề án, quyết định có ảnh hưởng lớn đến đời sống cộng đồng Chúng có thể gọi chung là các quyết sách chính trị của Đảng và Nhà nước
- Quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước trong thực tiễn
- Vấn đề tổ chức và cán bộ, các hành vi, hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền
Phạm vi phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Về phạm vi đối tượng:
Trong thực tiễn hiện nay, do nội dung hoạt động của cơ quan Đảng và Nhà nước là rất rộng lớn, điều kiện của Mặt trận Tổ quốc lại có giới hạn, không thể đồng thời thực hiện đầy đủ tất cả mọi vấn đề, nên phạm vi phản biện xã hội của Mặt trận
Trang 32chủ yếu hướng vào phản biện các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân, đến tổ chức bộ máy và cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị, đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận
Về phạm vi quyền hạn, trách nhiệm:
- Mặt trận Tổ quốc: Chủ trì phản biện xã hội đối với các các vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Các đoàn thể chính trị - xã hội: Chủ trì phản biện xã hội đối với các vấn đề
có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, hội viên, tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của đoàn thể mình; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện nhiệm vụ phản biện xã hội
Nội dung phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Đối với dự thảo văn bản của các cấp ủy Đảng và chính quyền:
+ Sự cần thiết, tính cấp thiết của văn bản dự thảo
+ Sự phù hợp của văn bản dự thảo với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; thực tiễn của đơn vị, địa phương
+ Tính đúng đắn, khoa học và khả thi của văn bản dự thảo
+ Dự báo tác động, hiệu quả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của văn bảo dự thảo; bảo đảm hài hòa giữa các lợi ích
- Đối với quá trình tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong thực tiễn:
+ Tính đúng đắn trong tổ chức thực hiện: thực hiện đúng nội dung, yêu cầu, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm và các quy định của pháp luật
+ Tính tích cực đối với đời sống xã hội: đánh giá tính đúng đắn, hiệu quả, giá trị thực tiễn của chủ trương, chính sách
+ Trên cơ sở đánh giá, thẩm định, phát hiện thiếu sót, sai lầm (nếu có), đưa ra kiến nghị: tiếp tục triển khai, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ, đề xuất các biện pháp, ý tưởng để thực hiện tốt chủ trương, chính sách
- Đối với công tác tổ chức và cán bộ cũng như hành vi, hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền:
+ Phát hiện những mặt còn yếu kém, những điều chưa làm tốt, chỉ rõ những hành vi sai phạm, những vấn đề cần xem xét, điều chỉnh
+ Kiến nghị những biện pháp để xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cấp chính quyền, đảm bảo phục vụ tốt nhất lợi ích của nhân dân, của đất nước
Phương pháp phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Động viên nhân dân góp ý kiến phản biện với Mặt trận Tổ quốc
Trang 33Nhân dân thể hiện ý kiến của mình, chính thức hoặc phi chính thức, thông qua dư luận, phản ánh trên phương tiện thông tin đại chúng, viết bài đăng trên diễn đàn hoặc gửi văn bản kiến nghị cơ quan chức năng, thông qua hội họp, tiếp xúc cử tri, qua cơ quan đại diện của mình Mặt trận động viên nhân dân tham gia ý kiến, tiếp nhận ý kiến của nhân dân gửi đến Mặt trận; tổ chức tiếp xúc, lắng nghe ý kiến nhân dân qua các hội nghị nhân dân, hội nghị những người tiêu biểu trong các dân tộc, tôn giáo; thu thập, lắng nghe ý kiến của nhân dân qua các cuộc tiếp xúc cử tri, trên các diễn đàn, các phương tiện thông tin đại chúng, v.v
- Tổ chức để các hội đồng tư vấn và cộng tác viên là chuyên gia trên các lĩnh vực thực hiện phản biện
- Thông qua hoạt động thực tiễn của mình và tổng hợp ý kiến của các thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để góp ý, kiến nghị với các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền
Thông qua các chương trình nghiên cứu, khảo sát do các cơ quan, tổ chức của Mặt trận tiến hành để nắm bắt tình hình Khi cần thiết, tổ chức đối thoại trực tiếp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với cơ quan, tổ chức được phản biện
Tổ chức hội nghị phản biện xã hội các cơ quan lãnh đạo trực thuộc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ban Chấp hành các đoàn thể chính trị - xã hội từng cấp
Tổ chức lấy ý kiến phản biện (thông qua tổ chức, cá nhân, đoàn viên, hội viên) trong hệ thống của tổ chức, đoàn thể mình hoặc gửi dự thảo văn bản được phản biện đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để lấy ý kiến phản biện
Mặt trận Tổ quốc, thông qua tham dự kỳ họp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, thảo luận, kiến nghị, đóng góp ý kiến, thay mặt đề xuất các ý kiến, nguyện vọng của nhân dân với các cấp chính quyền
Thông qua công cụ báo chí, truyền thông của Mặt trận như báo Đại đoàn kết, tạp chí Mặt trận, v.v để kêu gọi và thực hiện phản biện xã hội đối với chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước
Quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động phản biện xã hội hiện nay
- Xây dựng nội dung, kế hoạch phản biện xã hội
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo gửi dự thảo văn bản và các thông tin, tài liệu cần thiết
- Thực hiện các hình thức phản biện xã hội
- Xây dựng văn bản phản biện và gửi kết quả phản biện đến cơ quan, tổ chức
có dự thảo văn bản được phản biện và cơ quan, tổ chức hữu quan để giải quyết
Trang 34Chịu trách nhiệm về những nội dung phản biện của mình Bảo đảm bí mật nội dung thông tin phản biện theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có văn bản dự thảo (nếu có)
- Yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo trả lời bằng văn bản đối với kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trường hợp cơ quan, tổ chức được phản biện không tiếp thu kết quả phản biện, thì có quyền kiến nghị lên cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp hoặc cơ quan tổ chức có thẩm quyền xem xét, quyết định
Quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo dự thảo văn bản được phản biện
- Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên hữu quan thực hiện phản biện đối với dự án, đề án thuộc thẩm quyền xây dựng, ban hành của
cơ quan, tổ chức mình từ khi khởi thảo dự án, đề án
- Cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung phản biện theo yêu cầu và cấp kinh phí từ dự án, đề án để chủ thể thực hiện phản biện xã hội
- Cử người có trách nhiệm tham dự hội nghị phản biện xã hội hoặc tham gia đối thoại khi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam yêu cầu
- Tiếp thu kết quả phản biện và trả lời bằng văn bản đối với kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc, trường hợp không tiếp thu kiến nghị thì phải giải trình; báo cáo ý kiến phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành văn bản
1.3.2 Khái niệm giám sát, mối quan hệ giữa giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc
Trong thực tế tồn tại giám sát của ba lực lượng cơ bản: Giám sát của Đảng
- giám sát việc thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng; giám sát của cơ quan Nhà nước - giám sát việc thực thi pháp luật của cá nhân, tổ chức, việc thực hiện quyền tự do, dân chủ của nhân dân; và giám sát xã hội của cá nhân, tổ chức, lực lượng trong xã hội - giám sát lực lượng lãnh đạo chính trị, lực lượng thực thi quyền lực của nhân dân, cán bộ, công chức, Đảng viên và các thành viên của xã hội trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
và quyền dân chủ, quyền con người của nhân dân
Giám sát là việc theo dõi, quan sát, là hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để hướng hoạt động của đối tượng chịu giám sát đi đúng quỹ đạo, đạt mục đích, hiệu quả đã xác định trước
Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám sát mang tính xã hội, tính nhân dân Mặt trận vận động nhân dân tham gia giám sát, phối hợp cùng cơ quan quyền lực nhà nước giám sát hoặc độc lập tổ chức các hoạt động giám sát theo chức
Trang 35năng, nhiệm vụ của mình với cơ chế theo dõi, phát hiện, nhận xét, phản biện và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết
Giám sát của Mặt trận Tổ quốc khác với giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước - là giám sát có tính quyền lực Chẳng hạn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quyền đình chỉ thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, pháp luật và Nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội hủy bỏ các văn bản đó; bãi bỏ Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nếu Hội đồng nhân dân đó gây tổn hại nghiêm trọng đến đến lợi ích nhân dân Hội đồng nhân dân có quyền bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp trái với Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của mình; quyết định giải tán Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp nếu Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích nhân dân
Hiện nay, khi so sánh giám sát với phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, phạm vi giám sát của Mặt trận được quan niệm là rộng hơn phạm vi phản biện xã hội của Mặt trận Hoạt động giám sát được tiến hành đối với tất cả mọi hoạt động của các cấp ủy Đảng, các cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức, đảng viên Còn phản biện xã hội được quan niệm chủ yếu tập trung vào quá trình hoạch định và thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc luôn tồn tại song song, đi liền với nhau, đều hướng tới việc kiểm soát quyền lực và thực thi dân chủ Giữa chúng có mối quan hệ hai chiều, gắn bó chặt chẽ, không tách rời nhau
Giám sát là tiền đề của phản biện, là khởi đầu cho quy trình phản biện, là điều kiện cần để đẩy mạnh chất lượng hoạt động phản biện Vì thông qua giám sát
mà phát hiện sai lệch hoặc những vấn đề mới, làm nảy sinh nhu cầu phản biện Không thực hiện được giám sát xã hội thì không thể có căn cứ để tổ chức phản biện
xã hội tốt Do đó có giám sát tốt mới tiến hành phản biện được Hơn nữa, kết quả phản biện xã hội được tiếp thu, xử lý đến đâu thì chỉ có thông qua giám sát mới được ghi nhận và kiểm chứng
Ngược lại, phản biện cũng liên quan đến giám sát, là cơ sở xuất phát của hoạt động giám sát, hỗ trợ giám sát Trong giám sát cũng có đánh giá, nhận xét, thẩm định nhằm nêu kiến nghị, tức là trong giám sát đã bao chứa phản biện, phản biện trở thành một công đoạn của quá trình giám sát
Trang 361.3.3 Tính tất yếu khách quan của việc thực hiện giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Có thể khẳng định, thực hiện chức năng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay là tất yếu khách quan vì những lý do sau đây:
- Một là, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một phương thức kiểm soát quyền lực của nhân dân
Trong xã hội dân chủ, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước đại diện thực hiện quyền lực đó Tuy nhiên, “bất kể một Chính phủ nào dù có nhân đạo đến đâu, thì quyền lực luôn đi liền với tham nhũng, quyền lực tuyệt đối dẫn đến tham nhũng tuyệt đối” [40, tr.35] Vì vậy, để đảm bảo quyền lực nhân dân ủy nhiệm được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả thì cần phải có
sự kiềm chế và cân bằng quyền lực để ngăn chặn sự lạm quyền
Ở nhiều nước tư sản áp dụng thuyết phân chia quyền lực, đặc biệt là học thuyết phân quyền của Môngtexkiơ, thực hiện nguyên tắc kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực Tuy nhiên, sự phân quyền này chỉ là cơ chế kiểm soát quyền lực từ bên trong, giữa các nhánh quyền lực với nhau, chưa đủ khách quan
Do đó cần thiết phải có cơ chế kiểm tra, giám sát từ bên ngoài - từ phía xã hội đối với bộ máy quyền lực nhà nước
Hiện nay tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam về bản chất vẫn mang tính tập quyền xã hội chủ nghĩa, song trên thực tế đã vận dụng những hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền, nhấn mạnh khía cạnh phân công quyền lực: Quyền lực nhà nước
là thống nhất, có sự phân công phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Tuy vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là phỏng theo mô hình Xô viết - tập trung quyền lực nhưng thiếu cơ chế cân bằng và kiểm soát quyền lực [38, tr.209-212]
Kiểm soát quyền lực ở nước ta được thực hiện thông qua giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp) cùng với hoạt động kiểm tra của Đảng, thanh tra của Chính phủ làm thành hệ thống kiểm soát quyền lực từ bên trong hệ thống chính trị Tuy nhiên, bên cạnh hệ thống kiểm soát quyền lực từ bên trong, hệ thống kiểm soát quyền lực từ bên ngoài cũng giữ một vị trí quan trọng Do đó, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, bao gồm cả kiểm soát bên trong hệ thống chính trị và kiểm soát từ bên ngoài vào hệ thống chính trị là vấn
đề quan trọng, để đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, hạn chế sự tha hóa quyền lực, vi phạm dân chủ, đặc biệt trong điều kiện chỉ có một Đảng duy nhất cầm quyền như ở nước ta hiện nay Với chế độ một đảng cầm quyền, các chủ trương, chính sách thường bị nhìn nhận là sản phẩm tư duy của một cực, rất dễ rơi vào chủ
Trang 37quan, duy ý chí Vì thế, để ngăn ngừa bệnh quan liêu, độc đoán, mất dân chủ thì sự phản biện của nhân dân, thông qua đại diện của nó là Mặt trận Tổ quốc các cấp và các đoàn thể nhân dân trở nên vô cùng cần thiết
Như vậy, nhìn từ phương diện kiểm soát quyền lực, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở nước ta thực chất là một trong những phương thức kiểm soát quyền lực từ phía xã hội, nhân dân, từ bên ngoài đối với Đảng và Nhà nước
- Hai là, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam góp phần hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn đời sống, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của các tầng lớp nhân dân
Phản biện xã hội là một hoạt động khách quan, là nhu cầu tự nhiên của chủ thể hoạch định chính sách cũng như đối tượng chịu sự tác động của chính sách Bởi
lẽ, chủ trương, chính sách là sản phẩm của tư duy, mà mọi sản phẩm của tư duy do những chủ thể nhất định sáng tạo ra đều không thể tránh khỏi những thiếu sót, phiến diện Do đó, thông qua phản biện xã hội, từ nhiều góc nhìn, từ nhiều cách tiếp cận khác nhau mà đánh giá vấn đề được toàn diện, nhiều chiều, từ đó tìm ra được phương án tối ưu Sai lầm, thiếu sót vì thế sẽ được giảm thiểu tối đa, khả năng ban hành được những chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống
xã hội sẽ cao hơn Nếu không tổ chức phản biện xã hội thì các nhà chính trị sẽ không thấy được sự xuất hiện của những yếu tố mới trong đời sống xã hội Mà các nhà chính trị thì phải luôn luôn biết rằng trong xã hội đang có cái gì manh nha xuất hiện, cái gì trong chúng có lợi, cái gì có hại, phải tạo ra khoảng không gian để cho tất cả mọi thứ xấu tốt bộc lộ ra khi nó chưa kịp gây hại, thậm chí ngay cả khi nó chưa kịp làm lợi Các nhà chính trị đôi lúc không nhìn thấy tất cả các loại hoa trái ở ngoài đời vì họ nhìn cuộc sống thông qua những bức ảnh mà những người thợ chụp ảnh mang đến Mỗi người chụp một kiểu, người chụp quất, người chụp đào, người chụp cúc mang đến, cho nên, cuộc sống bị "xé lẻ" để đem đến cho các nhà chính trị Các nhà chính trị nhìn thấy những bức hình lẻ của cuộc sống chứ không nhìn thấy tổng thể, do đó, chính sách bao giờ cũng phản ánh hoặc cúc, hoặc đào, hoặc quất mà không phải giải pháp cho cả khu vườn Khi giải pháp mà không phải cho cả khu vườn mà chỉ cho đào hoặc quất thì chúng ta chỉ có thể có quất hoặc đào thôi và đấy chính là tính phi biện chứng của các giải pháp có tính chất chính sách Phản biện làm cho tất cả các loại hoa trái đều xuất hiện và không những chỉ xuất hiện bằng hình mà nó còn nói tiếng nói của nó Tất cả những tiếng rì rào khác nhau ấy tạo ra một dàn âm thanh mà ở đấy nhà chính trị nhận ra rằng khu vườn ấy thiếu gì và nó cần thêm cái gì [3, 08/06/2011]
Hơn nữa, trong mỗi xã hội bao giờ cũng có các nhóm lợi ích khác nhau, với
Trang 38những kỳ vọng khác nhau vào chủ trương, chính sách của nhà cầm quyền Một chủ trương, chính sách, quyết định được ban hành không phải lúc nào cũng có thể đáp ứng vẹn toàn lợi ích cho các nhóm xã hội khác nhau, thậm chí có thể dẫn đến xung đột, mâu thuẫn về lợi ích Việc thực hiện phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc sẽ làm bộc lộ ra những khác biệt, những xung đột ấy, từ đó tạo ra cơ hội để trao đổi, thương lượng, điều hòa xung đột, nhằm đi đến một phương án hợp lý nhất
Phản biện tạo ra một giai đoạn đệm cho quá trình hành động tự nhiên của các nhóm lợi ích, đó là giai đoạn thảo luận và thỏa thuận Phản biện làm cho các hành vi chính trị, kinh tế, xã hội ít chủ quan hơn, tức là sự xung đột của các nhóm lợi ích đã được điều chỉnh thông qua thảo luận và thoả thuận Nói cách khác, phản biện làm cho những cuộc xung đột trên thực tế trở thành cuộc xung đột của thảo luận, tức là biến sự xung đột lợi ích trong hành động thành các xung đột lợi ích trong thảo luận Phản biện góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, văn hóa, chính trị, làm cho các khuynh hướng đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn và gần với đời sống con người hơn [2, 28/02/2007]
Và rõ ràng là: “Cùng với việc chấp nhận phản biện xã hội là quá trình hình thành văn hóa lắng nghe các ý kiến, dung hòa lợi ích và văn hóa giải trình của nhà hoạch định chính sách” [28, tr.34]
Như vậy, phản biện xã hội giúp cho người lãnh đạo, quản lý nhận ra “khoảng cách” giữa chính sách với lợi ích, nhận thức và nguyện vọng của nhân dân; góp phần khắc phục những khiếm khuyết của các kiến tạo chính sách - thể chế, làm giảm thiểu rủi ro, sai lầm của chủ trương, chính sách, pháp luật do vấn đề được nhìn nhận toàn diện, đa chiều, phát huy trí tuệ cộng đồng; biến những cuộc xung đột lợi ích trên thực tế trở thành xung đột của thảo luận, để cuối cùng dẫn đến một sự thống nhất và đồng thuận cao trong triển khai hành động
Vì những lẽ đó, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có ý nghĩa
to lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động quản lý của Nhà nước nói riêng và đời sống chính trị - xã hội nói chung
Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, nghị quyết, quan điểm Để đường lối, chủ trương của Đảng đề ra đúng đắn, phản ánh được ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân thì Đảng phải lắng nghe tiếng nói của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc góp phần quan trọng vào công tác xây dựng Đảng, nhằm hạn chế những thiếu sót, sai lầm có thể xảy ra, nhất là trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, tránh chủ quan, duy ý chí trong xác định đường lối, tránh sa vào đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, cửa quyền
Trang 39Nhà nước thực hiện sự quản lý của mình đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua việc ban hành chính sách, pháp luật, chương trình, dự án, đề án, kế hoạch cụ thể Trong bối cảnh xã hội dân chủ, việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước không chỉ là việc của riêng Nhà nước, mà còn phải tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân tham gia, đóng góp tiếng nói Và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc là một công cụ hữu hiệu để thực hiện điều đó
Tóm lại, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc tạo điều kiện để Đảng và Nhà nước lựa chọn được phương án hợp lý nhất, góp phần đảm bảo các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với thực tiễn khách quan, đem lại hiệu quả cao, đáp ứng được nhu cầu, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân và được nhân dân ủng hộ trong quá trình thực hiện
- Ba là, thực hiện tốt phản biện xã hội sẽ giúp phát huy vai trò của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị cũng như đời sống xã hội
Trước hết, cần thấy rằng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có tiềm năng và lợi thế
để thực hiện tốt phản biện xã hội, bởi lẽ:
+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vị trí chiến lược trong hệ thống chính trị, có đầy đủ cơ sở chính trị và pháp lý để thực hiện phản biện xã hội một cách chính thống và chuyên nghiệp nhất, có vị thế, có tiếng nói trước Đảng và chính quyền
+ Mặt trận Tổ quốc có hệ thống tổ chức rộng lớn từ trung ương tới cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận thiết lập mối liên hệ rộng rãi, chặt chẽ với các tầng lớp nhân dân, lắng nghe nhân dân, sâu sát với cuộc sống của nhân dân, trở thành cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân
+ Tại Việt Nam, với mạng lưới rộng khắp và thành phần đa dạng, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam có điều kiện thuận lợi để tập hợp các lực lượng xã hội, thu hút đông đảo nhân sĩ, trí thức, chuyên gia trong nước và người Việt định cư ở nước ngoài, huy động các tổ chức quần chúng tham gia công tác phản biện xã hội một cách tập trung nhất và có chất lượng nhất Nhờ đó, Mặt trận Tổ quốc có thể phát huy sức mạnh trí tuệ của cộng đồng, làm cho hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận mang tính khách quan, khoa học và có sức ảnh hưởng đối với quyết sách chính trị của Đảng và Nhà nước Vì vậy, không ai có thể thay thế Mặt trận Tổ quốc làm tốt hơn công tác phản biện xã hội
+ Chức năng phản biện xã hội của Mặt trận còn do luật định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được trao quyền phản biện xã hội, được tạo điều kiện tối đa để thực hiện phản biện xã hội
Thông qua phản biện xã hội, sẽ góp phần nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng
Trang 40của nhân dân; xây dựng, tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc; phát huy quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng đồng thuận xã hội; nâng cao năng lực, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân,
vì Nhân dân ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
Chính vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thể hiện rõ hơn, cao hơn
là thông qua phản biện xã hội Phản biện xã hội vừa thể hiện vai trò tham chính, vừa thể hiện trách nhiệm xã hội trước nhân dân của Mặt trận Nếu không thực hiện tốt phản biện xã hội thì vai trò tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc, đại diện tiếng nói nhân dân của Mặt trận cũng sẽ trở nên mờ nhạt, uy tín của Mặt trận trong hệ thống chính trị cũng như trong đời sống xã hội và trước nhân dân cũng suy giảm
Vì thế, có thể khẳng định phản biện xã hội là chức năng cơ bản, quan trọng hàng đầu của Mặt trận; cũng là lý do tồn tại của Mặt trận Chỉ có dân thông qua Mặt trận, thực hiện quyền giám sát và phản biện xã hội mới có thể giúp Đảng và Nhà nước chống tham nhũng, chống đói nghèo, chống tụt hậu có hiệu quả, mới có thể làm trong sạch bộ máy Nhà nước và đảm bảo trong Đảng không còn "vùng cấm" và
Đặc biệt, thông qua phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc mà phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước Thông qua phản biện xã hội, nhân dân sẽ có điều kiện tốt hơn để thực hiện quyền giám sát hoạt động của cơ quan công quyền Thông qua quyền phản biện, nhân dân tự bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mình Thông qua phản biện xã hội, quyền Hiến định của nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội trở thành hiện thực chứ không chỉ tồn tại về mặt lý thuyết Phản biện là cách động viên mọi người hăng hái phát huy sáng kiến, tích cực đóng góp vào công tác quản lý Nhà nước, quản lý
xã hội Đó là cách mở rộng dân chủ để thực hiện dân chủ thực sự đối với nhân dân
Do đó, thực hiện phản biện xã hội một cách rộng rãi, hiệu quả chính là nhằm xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Phản biện xã hội chính là một hình thức cao của cơ chế dân chủ thảo luận Hình thức thảo luận còn bị hạn chế do tính giới hạn trong nhận thức của các chủ thể,