1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách phát triển kinh tế xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số huyện nam giang, tỉnh quảng nam

95 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 871,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, nhìn cách tổng quát trong toàn tỉnh và so sánh giữa vùng đồng bằng, thành thị với miền núi thì vùng DTTS và miền núi vẫn còn rất nhiều khó khăn; nhất là CSHT chưa đáp ứng được n

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

A VÔ TÔ PHƯƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

A VÔ TÔ PHƯƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá

nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Minh Đức

Các số liệu sử dụng trong luận văn có trích dẫn nguồn rõ ràng, không sao chép của người khác Các kết luận nghiên cứu trong Luận văn được đúc kết từ cơ sở

lý luận đến thực tiễn của vấn đề luận văn cần giải quyết

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./

TÁC GIẢ

A Vô Tô Phương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 9

1.1 Mục tiêu thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS 9 1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của việc thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS 13 1.3 Các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS 18 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS 21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KTXH ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM 24

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, KTXH huyện Nam Giang có liên quan đến việc thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS 24 2.2 Tình hình tổ chức thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS tại huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam 29 2.3 Đánh giá chung những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong việc thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS tại huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam 53

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KTXH ĐỐI VỚI VÙNG DTTS

TỪ THỰC TIỄN HUYỆN NAM GIANG TỈNH QUẢNG NAM 60

3.1 Nhu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS từ thực tiễn huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam 60 3.2 Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS từ thực tiễn huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam 61 3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS từ thực tiễn huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam 63

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

đình đồng bào DTTS

PL

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển KTXH vùng dân tộc là một trong những vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, chú trọng Điều này không chỉ nhằm chăm lo, cải thiện cuộc sống cho đồng bào tốt hơn, mà còn hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và hạnh phúc Để thực hiện mục tiêu to lớn trên, trong những năm qua, bên cạnh những chính sách phát triển chung, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quyết sách, chủ trương lớn về phát triển KTXH, bảo đảm an ninh - quốc phòng vùng miền núi và đồng bào dân tộc Cụ thể như: Chương trình phát triển KTXH các

xã ĐBKK, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc; Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo, cùng với nhiều chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục khác Nhờ đó, sự nghiệp phát triển vùng dân tộc đã đạt được những thành tựu quan trọng về mọi mặt, từng bước

ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển KTXH vùng DTTS nói riêng và cả nước nói chung

Đối với tỉnh Quảng Nam, có địa bàn miền núi chiếm hơn 80% tổng diện tích

tự nhiên toàn tỉnh Đây là địa bàn cư trú từ lâu đời của đồng bào thiểu số: Cơtu, Xơ Đăng, Cadong, Ba Noong, Ve, Tà riềng và Co, với 102.190 người, chiếm hơn 7% dân số toàn tỉnh 113/233 xã được công nhận là miền núi, từ năm 1999 có 63 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn; có 12 xã biên giới ở hai huyện Tây Giang, Nam Giang với 142 km đường biên giới Việt - Lào Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm ban hành nhiều cơ chế, chính sách để phát triển KTXH vùng DTTS Các chính sách, chương trình, dự án cụ thể đã được ban hành và thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển chung của vùng cũng như giải quyết những vấn đề bức xúc của đời sống của nhân dân Điển hình như: Chương trình phát triển KTXH các xã ĐBKK, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc; chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo, Quyết định số 2085/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển KTXH vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017-2020, Nghị quyết 55/2012/NQ-HĐND ngày 19/9/2012 của HĐND tỉnh về phát triển KTXH khu vực miền núi, Nghị quyết 05-

Trang 8

NQ/TU ngày 17/8/2016 của Tỉnh ủy về phát triển KTXH miền núi gắn với định hướng thực hiện một số dự án lớn vùng tây giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025, Nghị quyết số 12/2017/NQ-HĐND ngày 19/04/2017 về phát triển KTXH miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017-2020, định hướng đến 2025, cùng với nhiều chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục khác như Nhờ đó, KTXH miền núi Quảng Nam, vùng DTTS đã thu được những thành tựu quan trọng

về mọi mặt, từng bước ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Trong đó, tập trung phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, góp phần thực hiện chương trình MTQG về xóa đói giảm nghèo bền vững và xây dựng NTM đạt hiệu quả Đối với huyện Nam Giang, tỉnh quảng Nam, các số liệu so sánh

từ năm 2013 đến 2018 cho thấy: giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 62,67% xuống 44,34%; thu nhập bình quân đầu người từ 7,14 triệu lên 9,5 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ xã có điện từ 90,3% lên 99,7%; thôn văn hóa từ 45,6% lên 75% Đây là cố gắng lớn của

cả hệ thống chính trị từ huyện đến xã, thôn, sự đồng lòng, hưởng ứng, vào cuộc của người dân miền núi nói chung, đồng bào DTTS nói riêng

Tuy vậy, nhìn cách tổng quát trong toàn tỉnh và so sánh giữa vùng đồng bằng, thành thị với miền núi thì vùng DTTS và miền núi vẫn còn rất nhiều khó khăn; nhất là CSHT chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển chung, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người còn rất thấp, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn quá cao…Trong đó, có nhiều nguyên nhân như điều kiện tự nhiên khó khăn, khắc nghiệt; ý thức và trình độ phát triển của các dân tộc thấp dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đầu tư, hỗ trợ chưa được phát huy có hiệu quả thật sự, người dân chưa hiểu sâu, nắm kỹ để hưởng thụ một cách có hiệu quả, còn tư tưởng ỷ lại, nền sản xuất còn lạc hậu, chất lượng lao động thấp, đại bộ phận người dân còn sản xuất nương rẫy và trình độ dân trí thấp khó chuyển giao và áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, năng lực chỉ đạo, tổ chức thực hiện và tri thức của đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ xã, thôn chưa ngang tầm, bên cạnh đó kết quả triển khai thực hiện cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước kém hiệu quả

Đây là những vấn đề đang đặt ra cần được nghiên cứu một cách khoa học, ở góc độ lý luận và thực tiễn và cũng là yêu cầu khách quan đặt ra trong quá trình

Trang 9

thực hiện Quyết định số 2085/QĐ-TTg về việc phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển KTXH vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017-2020, Nghị quyết 05-NQ/TU ngày 17/8/2016 của Tỉnh ủy về phát triển KTXH miền núi gắn với định hướng thực hiện một số dự án lớn vùng tây giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025, Nghị quyết số 12/2017/NQ-HĐND ngày 19/04/2017 về phát triển KTXH miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017-2020 Từ những lý do nêu trên, tôi

lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng

DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam” để nghiên cứu làm Luận văn Thạc sĩ,

chuyên ngành Chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trên quan điểm đề tài, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách phát triển KTXH vùng DTTS , cụ thể như :

Trong cuốn Phát triển kinh tế- xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo

hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1998) của tác giả Lê Du Phong và Hoàng

Văn Hoa đã đề cập, phân tích tình hình phát triển KTXH vùng dân tộc và miền núi, mối quan hệ dân tộc trong quá trình xây dựng đất nước theo hướng CNH-HĐH Nội dung chính sách dân tộc được đề cập mang khía cạnh chung nhất, góp thêm định hướng chính sách phát triển cho vùng dân tộc và miền núi, nhất là trong quá trình chuyển đổi kinh tế hướng vào thị trường

Năm 2002, Ủy ban Dân tộc xuất bản cuốn Miền núi Việt Nam, thành tựu và

phát triển những năm đổi mới, của Trần Văn Thuật, Nguyễn Lâm Thành, Nguyễn

Hữu Hải Đây là cuốn sách viết về miền núi và vùng dân tộc với đầy đủ nội hàm, khía cạnh như: đặc điểm tự nhiên, văn hóa, xã hội, đặc điểm dân tộc và phong tục tập quán; đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam; những vấn đề về phát triển, chính sách phát triển miền núi, xóa đói, giảm nghèo; bảo vệ môi trường; văn hóa và phát triển Một số luận điểm mới được đề cập như: tiếp cận nghèo đói dưới góc độ xã hội, xử lý mối quan hệ giữa văn hóa truyền thống của các dân tộc và văn hóa, văn minh hiện đại

Năm 2005, “ Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam”, của TS

Lê Ngọc Thắng, Nhà xuất bản Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Nội dung cuốn sách tác giả trình bày một cách hệ thống các vấn đề lý luận về dân tộc, vấn đề dân

Trang 10

tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc; các quan điểm cơ bản của vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta Đồng thời tác giả trình bày một cách hệ thống chính sách dân tộc của các nhà nước phong kiến, thực dân đế quốc, tư bản và một số nước khác trên thế giới Qua đó tác giả so sánh

để thấy được tính sáng tạo, đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và yếu kém trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, tác giả đề ra định hướng chính sách dân tộc, đặc biệt là chính sách trên lĩnh vực văn hóa trong thời gian tới

Trong cuốn Thực trạng phát triển các dân tộc ở Trung bộ và một số vấn đề

đặt ra (2012) của Bùi Minh Đạo, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa Tác giả trên cơ

sở khảo sát thực địa từ năm 2007 - 2010 tại các tỉnh Trung Bộ làm sáng tỏ thực trạng phát triển các dân tộc của vùng, từ đó đề xuất những giải pháp góp phần phát triển bền vũng các dân tộc Trung bộ

Ngoài ra dưới góc độ là các công trình nghiên cứu cụ thể về thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số có thể kể đến các công trình như:

- Luận văn “Thực hiện chính sách dân tộc ở vùng núi phía Bắc nước ta trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2003) - Luận văn tốt nghiệp

lớp cao cấp lý luận chính trị của Bế Thu Hương

- Luận án “Thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2006) - Luận án Tiến sĩ Triết học của

Nguyễn Thị Phương Thủy

- Luận án “Chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt

Nam” (2014) - Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Lâm Thành

Phần lớn các công trình tập trung phân tích thực trạng của việc ban hành và thực hiện chính sách dân tộc, các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường cụ thể ở vùng dân tộc Từ đó đề ra giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng việc thực hiện chính sách dân tộc trong thời gian tới Có thể nhận định rằng, các nghiên cứu này rất có giá trị để luận văn tham khảo cách tiếp cận trong giải quyết vấn đề, sử dụng các thông tin được chắt lọc ra từ kết quả đã nghiên cứu để đối chứng, so sánh trong quá trình phân tích, đánh giá tình hình cụ thể

Trang 11

Tuy nhiên, đối với tỉnh Quảng Nam hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra hệ thống cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng về tình hình triển khai thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS Quảng Nam nói chung và huyện Nam Giang nói riêng, hơn nữa các công trình nghiên cứu trên chưa đề cập sâu đến việc thực hiện chính sách phát triển vùng DTTS Do đó, luận văn sẽ kế thừa và phát triển những nghiên cứu trước đó và tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách phát triền kinh tế- xã hội đối với vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách phát triển vùng DTTS ở Việt Nam Đánh giá thực trạng công tác thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam Chỉ ra những khó khăn, hạn chế, bất cập hiện nay và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thứ nhất; Nghiên cứu những vấn đề lý luận thực hiện chính sách phát triển

KTXH đối với vùng DTTS ở nước ta

- Thứ hai; Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác thực hiện chính sách phát

triển KTXH đối với vùng DTTS từ thực tiễn huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, phân tích một số nội dung cơ bản trong quá trình thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

- Thứ ba; Tổng hợp các quan điểm chỉ đạo của Đảng, cơ chế chính sách Pháp

luật của Nhà nước đối với phát triển KTXH miền núi, vùng DTTS Qua đó xác định mục tiêu, định hướng và đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chính sách phát triển KTXH vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, bao gồm các chương

Trang 12

trình mục tiêu của Chính phủ về phát triển KTXH miền núi; Quyết định số 2085/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển KTXH vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017-2020; Nghị quyết 05-NQ/TU ngày 17/8/2016 của Tỉnh ủy Quảng Nam về phát triển KTXH miền núi gắn với định hướng thực hiện một số dự án lớn vùng tây giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025; Nghị quyết số 12/2017/NQ-HĐND ngày 19/04/2017 về phát triển KTXH miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017-2020

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung, chú trọng các vấn đề liên quan đến công tác thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam; bao gồm các nội dung cơ bản:

- Thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

- Thực hiện chính sách tín dụng đối với hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS

- Thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM

- Thực hiện chính sách về sắp xếp, bố trí dân cư gắn với xây dựng NTM

- Thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS

Về thời gian: Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, giai đoạn từ năm 2014 đến năm

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khai thác

Trang 13

thông tin từ các báo cáo của HĐND, UBND huyện, các văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện, các tư liệu, văn bản luật và văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Nhà nước, thu thập thông tin trên mạng internet, một số sách, báo, tạp chí và công trình nghiên cứu khác có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu định tính: Thông qua việc nghiên cứu tổng quan các tài liệu, công trình nghiên cứu, số liệu, tình huống nghiên cứu có liên quan đến

đề tài luận văn để khám phá kiến thức, tìm hiểu cơ sở lý luận.Thông qua tổng hợp, phân tích đánh giá về thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài này có ý nghĩa lý luận, góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển KTXH ở vùng DTTS tại huyện Nam Giang nói riêng, tỉnh Quảng Nam nói chung; qua đó đánh giá thực tiễn việc thực hiện chính sách phát triển KTXH tại huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết thực hiện chính sách công là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của Nhà nước thành hiện thực Tổ chức thực hiện chính sách phát triển KTXH là trung tâm kết nối các khâu trong chu trình chính sách thành một

hệ thống Hoạch định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách đóng vai trò quyết định, từ đó góp phần hoàn thiện việc thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS tại huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những kết quả nhiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nhiên cứu, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện công tác phát triển KTXH tại huyện Nam Giang nói riêng và các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam nói chung

Kết quả nghiên cứu đưa ra các giải pháp thực hiện phù hợp hơn, việc thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS đem lại hiệu quả thiết thực, giúp các

cơ quan, đơn vị trực thuộc huyện và UBND các xã, thị trấn thực hiện tốt chức năng

Trang 14

hành pháp của mình để các chính sách của Nhà nước đã ban hành được thực hiện hiệu quả, góp phần vào sự nghiệp phát triển KTXH ở địa phương

7 Cơ cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, danh mục tài liệu tham khảo; bố cục luận văn theo 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Mục tiêu thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách phát triển KTXH vùng DTTS

Việt Nam là một quốc gia dân tộc thống nhất gồm 54 dân tộc cùng sinh sống Các dân tộc ở Việt Nam có đặc trưng sau : Một là, các dân tộc ở Việt Nam có truyền thống đoàn kết gắn bó xây dựng quốc gia dân tộc thống nhất Đây là đặc điểm nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam Trong lịch sử dựng nước

và giữ nước của dân tộc ta, do yêu cầu khách quan dân tộc ta đã phải sớm đoàn kết thống nhất chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm Vấn đề đoàn kết thống nhất đã trở thành giá trị tinh thần truyền thống quý báu của dân tộc, là sức mạnh để dân tộc

ta tiếp tục xây dựng và phát triển đất nước; Hai là, các DTTS ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ trên địa bàn rộng lớn, chủ yếu là miền núi, biên giới, hải đảo; Ba

là, các dân tộc ở nước ta có quy mô dân số và trình độ phát triển KTXH giữa các dân tộc không đều nhau; Bốn là, mỗi dân tộc ở Việt Nam đều có sắc thái văn hoá riêng, góp phần làm nên sự đa dạng, phong phú, thống nhất của văn hoá Việt Nam

Trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn có quan điểm nhất quán:

“Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam"

Mục tiêu trọng tâm về các chính sách phát triển KTXH vùng DTTS hiện nay là: Khắc phục sự cách biệt về trình độ phát triển KTXH giữa các dân tộc; nâng cao đời sống đồng bào các DTTS, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, kì thị, chia rẽ dân tộc, lợi dụng vấn đề dân tộc để gây mất ổn định chính trị - xã hội, chống phá cách mạng; thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm cho tất cả các dân tộc ở Việt Nam đều phát triển,

ấm no, hạnh phúc

Trang 16

Văn kiện Đại hội X chỉ rõ quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà

nước ta hiện nay là: "Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu

dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ

sở vùng DTTS Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người DTTS Cán bộ công tác ở vùng DTTS và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận Chống các biểu hiện kì thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc”

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển chủ trương, đường lối của Đảng đối với vùng dân tộc, miền núi; quyết

tâm thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải đưa miền núi nhanh chóng

tiến kịp với miền xuôi” Văn kiện Đại hội XII đã xác định: Tiếp tục hoàn thiện các

cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng DTTS, nhất là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm

lo xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp

Trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ta

Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển KTXH vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017-2020, Nghị quyết 05-NQ/TU ngày 17/8/2016 của Tỉnh ủy Quảng Nam về phát triển KTXH miền núi gắn

Trang 17

với định hướng thực hiện một số dự án lớn vùng tây giai đoạn 2016 - 2020, Nghị quyết số 12/2017/NQ-HĐND ngày 19/04/2017 của HĐND tỉnh Quảng Nam về phát triển KTXH miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017-2020, định hướng đến 2025 … đã đề ra những nội dung cơ bản của chính sách phát triển KTXH vùng DTTS trong giai đoạn hiện nay là:

- Hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt phân tán cho hộ dân tộc thiểu số nghèo; hộ nghèo ở xã khu vực III, thôn, bản đặc biệt khó khăn

- Bố trí sắp xếp ổn định dân cư cho hộ dân tộc thiểu số còn du canh du cư

- Hỗ trợ vay vốn tín dụng ưu đãi

- Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất và dân sinh, trong đó tập trung đầu tư xây dựng đường giao thông từ huyện đến trung tâm các xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã; Công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa trên địa bàn xã gồm trạm chuyển tiếp phát thanh xã, nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng, khu thể thao xã, thôn;Công trình y tế đạt chuẩn;Công trình giáo dục đạt chuẩn;Công trình phục vụ nước sinh hoạt cho người dân

-Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo góp phần tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người dân trên địa bàn, trong đó tập trung hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp: Tập huấn, chuyển giao kỹ thuật; giống cây trồng, vật nuôi; thiết bị, vật tư, dụng cụ sản xuất; phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, thú y…; Hỗ trợ thông qua khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất

- Xây dựng và nhân rộng mô hình tạo việc làm công thông qua thực hiện đầu

tư các công trình hạ tầng quy mô nhỏ ở thôn, bản để tăng thu nhập cho người dân;

mô hình sản xuất nông, lâm kết hợp, tạo việc làm cho người nghèo gắn với trồng và bảo vệ rừng; mô hình giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu

- Chính sách xã hội tập trung vào các vấn đề giáo dục - đào tạo, văn hoá, y tế… nhằm nâng cao năng lực, tạo tiền đề và cơ hội để các dân tộc có đầy đủ các điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào;

- Chính sách liên quan đến quốc phòng - an ninh, nhằm củng cố các địa bàn

Trang 18

chiến lược, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và quan hệ dân tộc

Trên quan điểm chủ trương, đường lối của Đảng, Chính sách phát triển KTXH của Nhà nước Có thể nói mục tiêu trọng tâm phát triển KTXH vùng DTTS trong giai đoạn hiện nay là:

- Tiếp tục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS và miền núi, tạo việc làm, phát triển sản xuất tăng thu nhập Bảo đảm những điều kiện sống

cơ bản về lương thực, nhà ở, nước sinh hoạt, học hành và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

- Đảm bảo an sinh xã hội; nâng cao nhận thức, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng vùng DTTS và miền núi có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH, từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế hợp lý, tổ chức các hình thức sản xuất phù hợp, tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh việc dạy nghề và giải quyết việc làm, định canh, định cư

- Sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai và lao động, tập trung nguồn lực đầu

tư cho hạ tầng kỹ thuật, khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường sinh thái

- Quản lý phát triển rừng, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu; Tích cực giao đất, giao rừng cho hộ đồng bào DTTS nghèo thiếu đất ở, đất sản xuất; thu hẹp dần khoảng cách với các vùng đồng bằng, góp phần giảm nghèo bền vững, hạn chế phân tầng xã hội, bất bình đẳng trong phát triển, rút ngắn khoảng cách chênh lệch phát triển với khu vực đồng bằng và đô thị

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, triển khai hiệu quả Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới

- Phát triển xã hội và văn hóa, tập trung vào mục tiêu phát triển con người, trau dồi những kiến thức, kỹ năng, thay đổi tập tục và thói quen cá nhân, nâng cao khả năng thích ứng của người dân trước những tác động mới xuất phát từ yêu cầu của phát triển Xây dựng xã hội cộng đồng ổn định, thống nhất về tâm lý xã hội, dân chủ, phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển Bảo tồn và phát huy được những giá trị văn hóa truyền thống và tiếp thu có chọn lọc nền văn hoá văn minh của nhân loại

Trang 19

1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của việc thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của việc thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS

Để xác định được đặc điểm, vai trò của việc thực hiện chính sách phát triển

KTXH đối với vùng DTTS , cần làm rõ một số khái niệm sau :

Thứ nhất, Khái niệm dân tộc:

Khái niệm dân tộc được rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu, bàn luận, và

cho đến nay vẫn còn tồn tại những ý kiến khác nhau Theo cách nhìn nhận chung

nhất, dân tộc thường được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, dân

tộc là quốc gia - dân tộc, chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành dân một nước,

có lãnh thổ quốc gia, quốc ngữ chung và nền kinh tế, văn hóa thống nhất gắn bó với nhau bởi các lợi ích chính trị, kinh tế, văn hóa …như dân tộc Việt Nam, dân tộc Pháp, dân tộc Đức, dân tộc Nhật, dân tộc Nga…

Theo nghĩa hẹp, dân tộc là tộc người, chỉ một cộng đồng người có mối liên

hệ chặt chẽ, bền vững, phương thức sinh hoạt kinh tế chung, văn hóa và ngôn ngữ riêng, xuất hiện sau bộ tộc Theo nghĩa này, nước ta có dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Mường, dân tộc HMông, dân tộc Dao, dân tộc Ê đê, dân tộc Khmer, dân tộc

Cơ Tu, dân tộc Tà Riềng, dân tộc Ve…Với nghĩa hẹp, dân tộc - tộc người sẽ là một

bộ phận của dân tộc - quốc gia

Như vậy nội hàm khái niệm về dân tộc cần được hiểu theo hai nghĩa, dân tộc

là cộng đồng tộc người và dân tộc hiểu theo nghĩa rộng là cư dân của một quốc gia Thực chất hai vấn đề không giống nhau, nhưng có liên quan mật thiết hữu cơ với nhau Khi nói đến dân tộc Việt Nam không thể không nói đến 54 dân tộc đang sinh sống ở nước ta hoặc ngược lại, khi nói đến các dân tộc ở Việt Nam, không thể không nói đến cộng đồng dân tộc Việt Nam Trong phạm vi nhiên cứu của luận văn, khái niệm dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là tộc người hay còn gọi là DTTS

Thứ hai, Khái niệm về Dân tộc thiểu số và Vùng Dân tộc thiểu số

Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/01/2011 về Công

tác Dân tộc, đã xác định khái niệm về DTTS, vùng DTTS như sau:

“Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên

Trang 20

phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “Dân tộc đa số là

dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia”

Như vậy, Khái niệm Dân tộc thiểu số là thể hiện trong mối tương quan về số

lượng dân số giữa các nhóm dân tộc trong một quốc gia Nếu như dân tộc đa số là dân tộc chiếm số lượng đông nhất, trên 50% dân số trong một quốc gia thì ngược lại, DTTS là các dân tộc chiếm số dân ít hơn so với dân tộc đông nhất, tức là các dân tộc còn lại Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, gồm 54 dân tộc anh em Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 86% dân số, được gọi là dân tộc đa số 53 dân tộc còn lại chiếm 14% dân số, được gọi là các DTTS, cư trú chủ yếu tập trung ở những vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo

Khái niệm vùng dân tộc thiểu số “Vùng Dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các Dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Đồng thời, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

của Chính phủ đã xác định “Dân tộc thiểu số rất ít người” là dân tộc có số dân dưới

10.000 người

Thứ ba, Khái niệm chính sách công

Để hiểu nội hàm các khái niệm về chính sách phát triển KTXH, chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS, trước hết cần tìm hiểu khái niệm về chính sách công Theo tài liệu học tập chương trình cao học ngành chính sách công của Học viện khoa học xã hội thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, thuật ngữ

chính sách công được hiểu như sau: “Chính sách công là tổng thể chương trình

hành động của chủ thể nắm quyền lực công, nhằm giải quyết các vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định”

Từ cách hiểu như trên, nhà nước luôn là chủ thể chủ yếu ban hành chính sách công Nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước, đối với nước ta bao gồm Quốc hội, Chính phủ, các bộ và chính quyền địa phương các cấp Nội hàm của chính sách công được hiểu là tổng thể các chuẩn mực, biện pháp mà Nhà nước sử dụng để quản lý xã hội Hay nói cách khác, chính sách là thể hiện tập hợp các nội dung định hướng chính trị của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Trang 21

bao gồm mục tiêu, biện pháp và công cụ thực hiện mục tiêu và được thể hiện ở các hình thức: Hiến pháp, Luật, văn bản quy phạm Pháp luật (Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn )

Thứ tư, Khái niệm chính sách phát triển KTXH

Theo Tổ chức văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), có thể hiểu chung nhất: Chính sách phát triển kinh tế là tổng thể các nguyên tắc hoạt động, cách thức thực hiện, phương pháp công cụ quản lý và nguồn lực NSNN làm cơ sở và tạo lập môi trường cho sự phát triển kinh tế

Thực tiễn tại nước ta và từ khái niệm về chính sách công nêu trên, có thể hiểu chính sách KTXH là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công

cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của xã hội

Thứ năm, Khái niệm chính sách phát triển KTXH vùng DTTS

Từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu nội hàm của chính sách phát triển KTXH vùng DTTS là một trong hệ thống các chính sách của Nhà nước ta, nhằm phát triển KTXH, bảo đảm an ninh quốc phòng, giải quyết những vấn đề phát triển của vùng DTTS , giải quyết vấn đề đặt ra đối với các cư dân sinh sống ở đó, bao gồm cả người Dân tộc và người Kinh, vừa giải quyết vấn đề dân tộc, nhất là quan hệ dân tộc thông qua công tác dân tộc và CSDT, là những vấn đề mà chính sách chung quốc gia chưa tiếp cận giải quyết được

Như vậy, xét trên khía cạnh mục tiêu chính sách Chính sách phát triển

KTXH vùng DTTS là chính sách công do Nhà nước ban hành, bao gồm thực hiện tổng hợp những chính sách hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho khu vực mang tính đặc thù là vùng có đông đồng bào DTTS sinh sống cùng dân tộc đa số, thường gắn với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khó khăn và ĐBKK

Trên cơ sở lý luận về các khái niệm, mục tiêu liên quan đến việc thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS Có thể rút ra đặc điểm của việc thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS, như sau:

Một là, Thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS ở nước

Trang 22

ta là quá trình đưa chính sách vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc chính quyền địa phương các cấp ban hành các văn bản, chương trình, kế hoạch, Nghị quyết thực hiện chính sách và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách của Nhà nước đã ban hành

Hai là, Thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS ở nước ta

là một trong những giai đoạn quan trọng của chu trình chính sách công Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó năng lực quản lý điều hành của chính quyền địa phương các cấp, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức Nhà nước là yếu tố đóng vai trò quyết định

Ba là, Các biện pháp thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS ở nước ta thực chất là một trong các công cụ quản lý của Nhà nước, được Nhà nước sử dụng để khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công, quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với sự phát triển KTXH ở địa phương

Bốn là, Việc thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS nhằm giải quyết những vấn đề mang tính cấp thiết về sản xuất, đời sống, văn hóa, giáo dục, y tế nhằm cải thiện các điều kiện cho người dân, nhất là người nghèo đồng bào DTTS

Năm là, Thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS luôn thay đổi theo thời gian, bởi những quyết định sau có thể có những điều chỉnh so với các quyết định trước đó, hoặc do có những thay đổi để đạt được mục tiêu chính sách

đã định hướng ban đầu

1.2.2 Vai trò thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS

Thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS là một giai đoạn rất quan trọng của chu trình chính sách, bởi sự thành công của một chính sách phụ thuộc vào kết quả của thực hiện chính sách Thực tiễn trong quá trình thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS có ba khả năng xảy ra: (1) Chính sách tốt

và thực hiện tốt dẫn đến thành công; (2) Chính sách tốt, nhưng thực hiện kém hiệu quả dẫn đến thất bại; (3) Chính sách không sát thực tế và thực hiện kém hiệu quả tất yếu sẽ dẫn đến thất bại

Như vậy, thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS có vị trí đặc biệt

Trang 23

quan trọng trong chu trình chính sách công của Nhà nước ban hành, nó là giai đoạn hiện thực hóa mục tiêu chính sách của Nhà nước đã đề ra Vai trò của thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS được thể hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất, Từng bước hiện thực hóa mục tiêu của chính sách đã được ban hành Các mục tiêu chính sách phát triển KTXH vùng DTTS chỉ có thể đạt được thông qua quá trình thực hiện, bởi thực hiện chính sách bao gồm các hoạt động có

tổ chức được chính quyền địa phương các cấp, các cơ quan liên quan và các đối tác

xã hội hướng tới đạt được các mục tiêu và mục đích đã xác định trong chính sách Trong quá trình thực thi, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thiết lập các văn bản, hoặc chương trình, kế hoạch, xây dựng dự án để hiện thực hóa các mục tiêu và mục đích chính sách và tiến hành các hoạt động để thực hiện các văn bản, chương trình, dự án đó

Thứ hai, Thực hiện chính sách giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện hơn Thông qua thực hiện chính sách, chính quyền địa phương các cấp thực hiện đưa ra những đề xuất điều chỉnh kế hoạch, phương pháp thực hiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội đối với từng vùng DTTS và rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất cấp có thẩm quyền xây dựng, ban hành chính sách tốt hơn trong tương lai

Thứ ba, Chính sách phát triển KTXH vùng DTTS định hướng cho phát triển, dẫn dắt hoạt động của các chủ thể trong vùng DTTS theo mục tiêu đã định Vai trò này của chính sách cực kỳ quan trọng, nó giúp cho sự phát triển kinh tế - chính trị -

xã hội của vùng DTTS bảo đảm tính thống nhất, xuyên suốt trong nội bộ vùng và trong sự cân đối, thống nhất với sự phát triển của quốc gia Thể hiện trong các nội dung:

- Chính sách vừa là công cụ, vừa là đòn bẩy, kích thích và tạo động lực mạnh

mẽ cho phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của vùng DTTS Đặc biệt là những chính sách gắn liền với lợi ích kinh tế, chính trị, nguyện vọng xã hội, nguyện vọng của người dân, của vùng và cả nước

- Vai trò điều tiết của chính sách hỗ trợ cho định hướng và kích thích của chính sách, tức là khuyến khích những vấn đề mà Chính phủ ưu tiên, hạn chế những nội dung không ưu tiên và điều tiết lợi ích giữa các nhóm, khu vực trong vùng và

Trang 24

trong toàn xã hội Vai trò điều tiết của chính sách, đặc biệt trong phân phối lợi ích thể hiện rõ bản chất của thể chế chính trị nhà nước, quan điểm ưu tiên phát triển đối với vùng DTTS

- Chính sách phát triển KTXH vùng DTTS của Nhà nước ban hành sẽ cung cấp các nguồn lực, cơ sở vật chất giúp cho các vùng, các hộ gia đình có thêm điều kiện thuận lợi, tư liệu và tài nguyên cho sản xuất và các mục đích sử dụng khác Sự trợ giúp này tập trung cho những vấn đề về nguồn lực, nhất là đất đai, giao thông, điện, hạ tầng thương mại - dịch vụ - thị trường, để thúc đẩy sản xuất và phát triển KTXH

Thứ tư, Giáo dục để giúp cho người dân nâng cao dân trí, có thêm những kiến thức, thông tin, kinh nghiệm cần thiết về tiến bộ kỹ thuật, khoa học công nghệ, thương mại, dịch vụ và những cải tiến phục vụ cho sản xuất cũng như các hoạt động đời sống hàng ngày Trợ giúp giáo dục với trọng tâm chính là phát triển nguồn nhân lực nhằm tạo ra lực lượng lao động được đào tạo có chuyên môn sâu hơn đáp ứng yêu cầu của công cuộc phát triển KTXH vùng DTTS nói riêng và cả nước nói chung

1.3 Các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS

Chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS là chính sách đặc thù nằm trong tổng thể các chính sách phát triển quốc gia Việc thực hiện tốt các chính sách này sẽ giúp cho quốc gia đạt được các mục tiêu phát triển chung của đất nước Chính sách được triển khai bởi các cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp và đồng bào thuộc vùng DTTS Để tổ chức điều hành có hiệu quả công tác thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS cần tuân thủ các bước tổ chức thực hiện cơ bản sau đây:

1.3.1 Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với chính quyền địa phương các cấp và các đối tượng thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực hiện hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách, để họ tự giác thực hiện theo

Trang 25

yêu cầu quản lý của nhà nước Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách công nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách đã ban hành

1.3.2 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện

Sau khi chính sách được Nhà nước ban hành, chính quyền địa phương các cấp phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bao gồm những nội dung cơ bản sau:

- Kế hoạch về tổ chức, điều hành;

- Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực, ngân sách;

- Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện;

- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách;

- Xây dựng nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; phân công trách nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia: tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách

1.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách

Muốn tổ chức thực hiện chính sách công có hiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực hiện chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách

Hoạt động phân công, phối hợp cần được thực hiện theo lộ trình, có kế hoạch

cụ thể nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách phát triển KTXH ở địa phương

1.3.4 Duy trì chính sách

Đây là những hoạt động nhằm bảo đảm cho chính sách tồn tại được và phát

huy tác dụng trong môi trường thực tế Muốn vậy phải có sự đồng tâm, hợp lực của

chính quyền địa phương các cấp và các cơ quan liên quan

Nếu việc thực hiện chính sách gặp phải những khó khăn, vướng mắc thì các

cơ quan nhà nước sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi

Trang 26

trường thuận lợi cho việc thực hiện chính sách Đồng thời các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt

ra

1.3.5 Điều chỉnh chính sách

Điều chỉnh chính sách được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền

để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình kinh tế tại địa phương Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách Nhưng trên thực tế, việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế, chính sách diễn ra rất năng động, linh hoạt, vì thế chính quyền địa phương các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn là không làm thay đổi mục tiêu chính sách phát triển KTXH vùng DTTS

1.3.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách

Nhiệm vụ này được tiến hành thông qua các khâu cơ bản như: qua báo cáo của địa phương, của ngành liên quan nhằm tìm hiểu xem các hoạt động có được triển khai như kế hoạch hay không; qua kiểm tra, giám sát thực tế nhằm tìm hiểu xem các hoạt động dự trù được triển khai như thế nào tại thực tiễn thông qua các chuyến đi giám sát tại địa bàn

Kiểm tra, theo dõi sát sao tình hình tổ chức thực hiện chính sách, vừa kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách, vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách, giúp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách phát triển KTXH vùng DTTS đã đề ra

1.3.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm

Đánh giá, tổng kết trong bước tổ chức thực hiện chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực hiện chính sách Ngoài ra, còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và người dân trong việc tham gia thực hiện chính sách

Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương các cấp, chúng ta cần xem xét, đánh giá việc thực hiện của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách công bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích

Trang 27

trực tiếp và gián tiếp từ chính sách, nghĩa là tất cả các thành viên xã hội với tư cách

Thứ nhất, Yếu tố khách quan

Yếu tố khách quan là những yếu tố xuất hiện và tác động đến tổ chức thực hiện chính sách từ bên ngoài, tác động của chúng đến quá trình thực hiện chính sách lại rất lớn Những yếu tố khách quan chủ yếu bao gồm :

- Tính chất của vấn đề chính sách có tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn đề bằng chính sách như nếu vấn đề chính sách đơn giản, liên quan đến ít đối tượng chính sách thì công tác tổ chức thực hiện sẽ thuận lợi hơn các vấn đề phức tạp

có quan hệ lợi ích với nhiều đối tượng trong xã hội

- Môi trường thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS chứa đựng các thành phần vật chất và phi vật chất tham gia thực hiện chính sách như các nhóm lợi ích có được từ chính sách trong xã hội; các điều kiện vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế; tình hình chính trị; trật tự xã hội Khi một xã hội ổn định, ít biến động sẽ đưa đến sự ổn định về hệ thống chính sách, cũng góp phần thuận lợi cho thực hiện chính sách, sự tham gia của các nhà đầu tư vào quá trình xây dựng KTXH ở địa phương sẽ hiệu quả hơn, thu hút được nhân tài vào làm việc tại vùng DTTS Ngược lại, nó sẽ kìm hãm, ngăn trở các hoạt động này, dẫn đến thực hiện chính sách phát triển KTXH kém hiệu quả Do đó, bộ máy chính quyền địa phương phải giữ vững,

ổn định tình hình trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi, môi trường thông thoáng thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển, tạo môi trường thu hút vốn đầu tư, thu hút cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, có tinh thần trách nhiệm cao vào tham gia thực hiện chính sách phát triển KTXH ở vùng DTTS

- Tiềm lực của nhóm đối tượng chính sách được thể hiện trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội về cả quy mô và ý thức, trình độ, nguồn lực của người dân và chất lượng hoạt động công vụ của bộ máy chính quyền địa phương tham gia

Trang 28

vào quản lý điều hành phát triển KTXH ở vùng DTTS Do đó, trong quá trình thực hiện chính sách phát triển KTXH ở vùng DTTS phải quan tâm xem xét nâng cao chất lượng hoạt động công vụ của bộ máy chính quyền địa phương, nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong quá trình tham gia thực hiện chính sách phát triển KTXH ở vùng DTTS

- Đặc tính của đối tượng chính sách Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển KTXH ở vùng DTTS cần quan tâm đến những tính chất đặc trưng như tính tự giác, tính kỷ luật, tính sáng tạo, lòng quyết tâm, tính truyền thống của đồng bào DTTS Do đó chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị xã hội ở địa phương cần biết cách khơi gợi hay kiềm chế nó để có được kết quả tốt nhất cho quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển KTXH ở địa phương

Thứ hai, Yếu tố chủ quan

Các yếu tố chủ quan thuộc về bộ máy chính quyền địa phương các cấp, do cán bộ, công chức chủ động chi phối quá trình thực hiện chính sách được coi là những yếu tố chủ quan Các yếu tố này bao gồm:

- Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS

Tổ chức thực hiện chính sách là giai đoạn đưa chính sách vào cuộc sống, từ khâu hướng dẫn, thông tin, phân công trách nhiệm, chuẩn bị các điều kiện tài chính, nhân lực cần thiết bảo đảm thực hiện đúng mục tiêu, tiến độ yêu cầu qui định trong chính sách Trước khi triển khai phạm vi rộng, đối với một số chính sách có thể làm thí điểm Do đặc điểm tự nhiên và dân cư, tổ chức thực hiện chính sách ở vùng dân tộc thiểu số có nhiều điểm khác biệt với khu vực nông thôn đồng bằng Những yếu

tố về thời gian, môi trường sống và phong tục, tập quán, cách thức thông tin tuyên truyền chính sách, nguồn lực thực hiện chính sách cần được chú trọng Các khu vực dân cư khác nhau có những cách tiếp cận khác nhau, cần được cụ thể hóa phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương

- Năng lực thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS của cán bộ,

công chức trong bộ máy quản lý nhà nước

Đây là yếu tố đóng vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách Năng lực thực hiện của cán bộ, công chức là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí như: đạo đức công vụ, năng lực thiết kế tổ chức, năng lực thực tế, năng lực phân

Trang 29

tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS

- Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS

Đây là yếu tố có vị trí quan trọng để cùng với các yếu tố khác giúp quá trình

thực hiện chính sách hiệu quả Để thực hiện có hiệu quả chính sách phát triển KTXH vùng DTTS thì chính quyền địa phương phải bố trí ngân sách, nguồn vốn tham gia của các Doanh nghiệp trong và ngoài nước, và sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện các chương trình mục tiêu của Chính phủ, của Tỉnh để thực hiện chính phát triển KTXH vùng DTTS đạt hiệu quả

- Sự đồng tình ủng hộ của người dân là nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành công của chính sách phát triển KTXH vùng DTTS Đây

là vấn đề hết quan trọng, do đó chính quyền địa phương phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân ủng hộ thực hiện Như vậy, một chính sách muốn được triển khai thực hiện tốt vào đời sống xã hội cần phải có sự đồng tình, ủng hộ của

nhân dân

Tiểu kết luận Chương 1

Chính sách phát triển KTXH vùng DTTS là bộ phận cấu thành của chính sách Nhà nước, có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách quốc gia, thể hiện vai trò kết nối cùng các chính sách khác nhằm tạo ra động lực để thúc đẩy vùng DTTS phát triển một cách bền vững nhằm đạt mục tiêu về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng vùng DTTS

Nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS là công việc hết sức cần thiết để vận dụng, thực hiện có hiệu quả các chính sách của Nhà nước đã ban hành

Chương 1 đã tập trung làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước Việt Nam về chính sách phát triển KTXH vùng DTTS, đồng thời phân tích đặc điểm, vai trò, các bước tổ chức thực hiện, những yêu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thực hiện chính sách phát triển KTXH vùng DTTS ở nước ta Qua hệ thống lý luận của chương 1 sẽ là cơ sở để phân tích các vấn đề thực trạng tại chương 2 và những đề xuất giải pháp ở chương 3

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KTXH ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI

HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, KTXH huyện Nam Giang có liên quan đến việc thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS

có chung đường biên giới với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, là huyện có tầm quan trọng, xung yếu về chính trị, an ninh quốc phòng của tỉnh và cả nước, là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc anh em với nhiều truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc

Về khí hậu và thuỷ văn, huyện Nam Giang có địa hình phức tạp, tài nguyên thiên nhiên khá phong phú và đa dạng, trên 90 % diện tích là đồi, núi, có hệ thống sông, suối dày đặc Khí hậu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm trên 25°C, lượng mưa khá lớn, trung bình 2000mm-2500mm nhưng phân bố không đều trong năm, chủ yếu tập trung vào từ tháng 9 đến tháng 11, chiếm 70% lượng mưa trong cả năm Huyện có nguồn thuỷ năng lớn, hiện nay đã có 4 công trình thuỷ điện đã được xây dựng và đi vào hoạt động, bao gồm: Thuỷ điện Sông bung 4, Thuỷ điện Sông bung 5, Thuỷ điện Sông bung 2, Thuỷ điện Đắc Pring, ngoài ra có Nhà máy xi măng Xuân Thành và các Doanh nghiệp đầu tư sản xuất khai thác mỏ vật liệu xây dựng … hàng năm đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách địa phương Tuy nhiên, với lượng mưa khá lớn, nhưng phân bố không đều trong năm, chính vì vậy thường dễ gây xói mòn đất, lũ quét đối với các địa bàn, thôn, xã có độ dốc cao

Về tài nguyên đất, tổng diện tích đất tự nhiên là 184.659,54 ha, trong đó: đất

Trang 31

sản xuất nông nghiệp 161.060 ha, chiếm 87% (bao gồm : Đất sản xuất nông nghiệp

24.288 ha, đất lâm nghiệp : 136.761 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản : 11,54 ha); đất phi

nông nghiệp có 3.796 ha, chiếm 2%; đất chưa sử dụng là 19.803 ha, chiếm 11%

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Theo niên giám thống kê năm 2017, tổng dân số toàn huyện có 24.889 người, trong đó dân tộc kinh 4.870 người, đồng bào DTTS là 20.019 người, chiếm 80,4 % dân số toàn huyện; bao gồm: dân tộc Cơ Tu 14.384 người, dân tộc Gié-Triêng 5.195 người và các Dân tộc khác sinh sống trên địa bàn là 440 người Phong tục tập quán của đồng bào nhiều đời nay gắn liền với bản, làng, rừng núi, nương rẫy, hẻo lánh, xa xôi với những đặc điểm văn hoá rất riêng Do địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, phương thức sản xuất còn lạc hậu, chất lượng nguồn lao động còn thấp, trình độ chuyên môn và tay nghề kỹ thuật còn hạn chế, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp (mới đạt 35%) và trình độ dân trí còn hạn chế đang là rào cản lớn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương

SƠ ĐỒ PHÂN VÙNG LÃNH THỔ VÀ ĐỊNH HƯỚNG TỔNG THỂ KTXH

HUYỆN NAM GIANG – TỈNH QUẢNG NAM

Nguồn: Đề án Quy hoạch phát triển KTXH huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

Trang 32

Nguồn nhân lực, tổng dân số trong độ tuổi lao động là 15.697 người, trong

đó lao động nam: 7.621 người; lao động nữ: 8.076 người Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động khá cao, trong đó có nhiều lao động trẻ, đây là lợi thế rất quan trọng trong phát triển KTXH Tuy nhiên, chất lượng lao động thấp, phần lớn chưa qua đào tạo ngành nghề, số lao động có tay nghề, kỹ thuật chuyên môn cao còn ít, số lao động chưa có việc làm vẫn còn nhiều Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề không đáng kể, đào tạo chậm, khả năng thu hút chất xám từ nơi khác đến không cao Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn

Công tác giảm nghèo, kết quả từ năm 2013 đến cuối năm 2018 tỷ lệ hộ

Nguồn: Báo cáo kết quả giảm nghèo của UBND huyện Nam Giang

nghèo đã giảm được 18,33%, tương ứng giảm được 527 hộ nghèo Tỷ lệ hộ nghèo tại thời điểm 30/11/2018 là 44,34%, tỷ lệ hộ cận nghèo là 5,63%, tỷ lệ hộ nghèo trong các năm qua tuy có giảm bình quân 3,66%/năm, nhưng huyện là một trong các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh Quảng Nam Công tác xoá đói, giảm nghèo đang đứng trước tình thế hết sức khó khăn, phức tạp Kết quả công tác giảm nghèo, giai đoạn năm 2014 đến năm 2018 được thể hiện trong bảng 1.1

Lĩnh vực giáo dục, trong những năm qua đội ngũ giáo viên ở các cấp học tăng cả về số lượng và chất lượng; số lượng học sinh huy động ra lớp qua các năm luôn duy trì ở mức cao Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học ngày một tốt hơn

Trang 33

Đến nay, toàn huyện có 27 trường học các cấp, trong đó có 1 trường dân tộc nội trú, 2 trường trung học phổ thông, 1 trung tâm giáo dục thường xuyên và 11 trường hoạt động theo mô hình trường phổ thông dân tộc bán trú dành riêng cho

con, em đồng bào DTTS sinh sống trên địa bàn

Công tác Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân: Chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày một nâng cao, cơ sở vật chất, trang thiết bị khám, chữa bệnh được đầu tư nâng cấp; đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường, 100 % các

xã đều có trạm y tế Toàn huyện hiện nay có 01 trung tâm y tế với 57 giường bệnh, hiện có 12/12 trạm y tế xã, tổng số cán bộ y tế hiện có là 137 người, trong đó có 21 Bác sĩ 21 Các chính sách về y tế được triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời đến các đối tượng người nghèo, cận nghèo, đồng bào DTTS trên địa bàn huyện

Lĩnh vực văn hóa, thể dục thể thao: Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, được quan tâm; văn hóa dân tộc truyền thống đã từng bước được phục hồi và phát huy Nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội ngày một văn minh, tiến bộ; các hủ tục lạc hậu dần bị xóa, nhiều nét đẹp tinh hoa văn hóa của đồng bào DTTS được kế thừa và phát triển Tuy nhiên, tại nhiều thôn thuộc các xã vùng cao đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào vẫn còn hạn chế, người dân ít được tiếp cận các thông tin và các dịch vụ văn hóa

Về tăng trưởng và phát triển KTXH:

Trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền địa phương huyện đã thực hiện nhiều cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển KTXH vùng DTTS Kết quả KTXH huyện Nam Giang đã thu được những thành tựu quan trọng

về mọi mặt, từng bước ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Giá trị sản xuất các ngành đều đạt và vượt chỉ tiêu Tỉnh giao hành năm

Kết quả giá trị sản xuất các ngành kinh tế chủ yếu, giai đoạn năm 2014 đến năm 2018 thể hiện trong bảng 1.2 Thể hiện trên các lĩnh vực, như sau:

- Lĩnh vực nông, lâm nghiệp: Tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp giai đoạn 2014-2018 đạt 1.286 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 11,35%/năm, thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch tỉnh và huyện giao hàng năm Tuy nhiên sản xuất nông, lâm nghiệp còn những hạn chế, yếu kém, biểu hiện là chậm quy hoạch vùng chuyên canh, chưa khai thác tối đa lợi thế, tiềm năng của địa

Trang 34

phương; chuyển dịch cơ cấu cây trồng còn chậm, chất lượng một số nông sản hàng hóa chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Phương thức canh tác đa phần còn còn lạc hậu; chăn nuôi gia súc là lợi thế của vùng nhưng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; cơ bản vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, còn phụ thuộc nhiều điều kiện tự nhiên

Nguồn: Niên gián thống kê huyện Nam Giang

- Lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Kết quả, tổng giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2014-2018 đạt 6.935,6 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 53,83%/năm, thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch tỉnh và huyện giao hàng năm Đây là một sự nỗ lực, cố gắng lớn của các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp tăng đột biến

do kết quả sản xuất của các công trình thuỷ điện và nhà máy xi măng Xuân Thành

đã đóng góp lớn vào sự phát triển KTXH ở địa phương

- Lĩnh vực Thương mại, dịch vụ: Tổng giá trị sản xuất ngành thương mại, dịch vụ giai đoạn 2014-2018 đạt 2.503 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 31,92%/năm, thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch tỉnh và huyện giao hàng năm

- Về thu, chi NSNN: Tổng thu NSNN trên địa bàn huyện giai đoạn từ 2014 đến 2018 là 2.519,8 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 456,4 tỷ đồng, mới đảm bảo được

Trang 35

18,5 % tổng chi ngân sách địa phương, số còn lại ngân sách tỉnh phải bổ sung cân đối 1.591,9 tỷ đồng để đảm bảo cân đối thu chi ngân sách địa phương Tổng chi NSNN trên địa bàn huyện giai đoạn 2014 đến 2018 là 2.460,4 tỷ đồng, trong đó chi thường xuyên 969,7 tỷ đồng, chi đầu tư phát triển 731,4 tỷ đồng Kết quả thu, chi NSNN giai đoạn năm 2014 đến năm 2018 thể hiện trong bảng 1.3

Tóm lại, Điều kiện tự nhiên và đặc điểm KTXH của huyện có nhiều thuận lợi

về phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp và khai thác tài nguyên lâm, khoáng sản Tuy nhiên do trình độ dân trí còn thấp, phương thức sản xuất còn lạc hậu, địa hình đồi núi cao, tình hình thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra, làm ảnh hưởng lớn đến mọi mặt về KTXH của địa phương Tuy được Đảng và Nhà nước quan tâm bằng nhiều chính sách đầu tư, thông qua nhiều chương trình phát triển KTXH, xóa đói, giảm nghèo, nhưng đến nay tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn rất cao, là một trong hai huyện

có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh Quảng Nam, hiện tượng tái nghèo vẫn tiếp diễn trong các năm qua

2.2 Tình hình tổ chức thực hiện chính sách phát triển KTXH đối với vùng DTTS tại huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

2.2.1 Chương trình đầu tư xây dựng CSHT

Thực hiện Luật đầu tư công và các cơ chế chính sách về đầu tư CSHT vùng DTTS, trong thời gian qua Quốc hội, Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND-UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách đặc thù ưu tiên về đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật cho miền núi, vùng đặc biệt khó khăn Việc ban hành chính sách, phân bổ nguồn lực của cấp trên về địa phương đã được chính quyền địa phương huyện tổ chức thực hiện tương đối đồng bộ, đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần thúc đẩy KTXH tại địa phương ngày một phát triển Kết quả việc thực hiện đầu tư xây dựng CSHT ở địa phương, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Tình hình tổ chức thực hiện và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng

Căn cứ vào Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX, căn cứ vào kế hoạch vốn tỉnh Quảng Nam giao hàng năm, HĐND-UBND huyện Nam Giang đã xây dựng Nghị quyết; Chương trình hành động và Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 làm căn cứ để các cấp, các ngành triển khai thực hiện kế hoạch

Trang 36

phát triển KTXH 5 năm 2011-2015 và 2016-2020

Trong quá trình thực hiện, UBND huyện được UBND tỉnh giao nhiệm vụ chủ đầu tư các chương trình, dự án đầu tư công Cơ quan thực hiện dự án là Ban quản lý dự án đầu tư huyện, ngoài ra huyện đã thành lập các ban quản lý dự án như chương trình 135 để tham mưu, giúp việc cho UBND huyện trong quá trình quản lý

và triển khai thực hiện các chương trình, dự án đầu tư công Trong quá trình thực hiện, chính quyền địa phương huyện đã thực hiện đúng quy trình đầu tư công theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 của Quốc Hội; Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 của Quốc Hội, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 của Quốc Hội; Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về Quản lý dự án đầu tư xây dựng Do đó các chương trình, dự án đầu tư công trong thời gian qua đã phát huy hiệu quả, bảo đảm sự công khai, minh bạch, góp phần tạo

đà thúc đẩy phát triển KTXH tại địa phương Trong quá trình thực hiện, Ban quản

lý dự án đầu tư huyện đã tiến hành lựa chọn đơn vị tư vấn, thiết kế đảm bảo năng lực Việc lựa chọn này được coi là khâu quan trọng đầu tiên trong việc quản lý và nâng cao chất lượng dự án Công tác phối hợp giữa ban quản lý dự án huyện với đơn vị tư vấn thiết kế tiến hành lập dự án theo phương châm thường xuyên cập nhật

và áp dụng các tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật hiện hành Công trình được thiết kế phải đảm bảo các tiêu chí, phát huy tối đa công năng sử dụng, thiết kế hiện đại, đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, thẩm mỹ, tiết kiệm Việc lựa chọn nhà thầu thi công cũng được Ban quản lý dự án đầu tư huyện hết sức coi trọng, do đó ngay trong hồ sơ mời thầu nêu rõ yêu cầu đơn vị tham gia đấu thầu phải cam kết huy động đầy đủ thiết bị thi công gói thầu, yêu cầu nhân sự phải đáp ứng về số lượng, trình độ năng lực, kinh nghiệm thực hiện các hợp đồng tương tự Bên cạnh đó, đơn

vị cũng luôn quan tâm tới công tác tư vấn xây dựng công trình, thí nghiệm, kiểm định chất lượng công trình và công tác an toàn vệ sinh môi trường tại các công trình, dự án

Thứ hai, Kết quả thực hiện và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

Tổng mức đầu tư phát triển trong 5 năm 2014-2018 là 731 tỷ đồng Trong đó,

cơ cấu nguồn vốn các chương trình mục tiêu được nêu tại bảng 1.4 Kết quả đầu tư xây dựng CSHT giai đoạn 2014-2018 đã đạt được như sau:

Trang 37

- Về giao thông: Mạng lưới GTNT của huyện được quan tâm đầu tư, nhất là các tuyến đường quan trọng, phá thế chia cắt giữa các xã, tạo kết nối giao thương giữa các xã, thị trấn trong việc tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, phát triển thị trường và khai thác tốt hơn các tiềm năng lợi thế của từng địa phương Trong 5 năm qua, ngoài việc đầu tư, nâng cấp các tuyến liên xã, huyện đã đầu tư, xây dựng mới các tuyến đường GTNT Đến nay, 100% xã đều có đường ô tô đến trung tâm xã Tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều khó khăn như các tuyến đường liên thôn, các tuyến đường đến các vùng sản xuất của người dân còn rất hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu

để khai thác tiềm năng, lợi thế về phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp tại địa phương

- Thủy lợi: Toàn huyện có 70 công trình thủy lợi, phục vụ diện tích tưới nước

ổn định là 241 ha, trong đó nhu cầu đáp ứng là 340 ha, còn 99 ha còn phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên, diện tích canh tác được tưới còn chiếm tỷ lệ thấp, hệ thống các kênh mương chưa được đầu tư đồng bộ, những năm gần đây, do biến đổi khí hậu, tình hình lũ, lụt, nắng hạn kéo dài trên diện rộng đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân

- Điện, nước sinh hoạt: Hệ thống lưới điện quốc gia đã phủ hầu hết các xã, thị trấn trong huyện, tỷ lệ hộ gia đình được dùng điện lưới đạt 94%, góp phần thay đổi đáng kể đời sống văn hóa, tinh thần và bộ mặt nông thôn trên địa bàn Các công trình điện lưới trên địa bàn các xã được quan tâm đầu tư mới, tuy nhiên còn một số thôn chưa có điện như: thôn A Xoò xã La Êê, thôn Côn Zốt xã Chơ Chun; cụm dân

cư Pê Ta Poóc thôn 48, xã Đắc Đring Đối với hệ thống nước sinh hoạt, trong 5 năm (2014 – 2018) đã đầu tư 25 tỷ đồng xây dựng 11 công trình cấp nước sinh hoạt cho các hộ gia đình Đến năm 2018, tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước sinh hoạt hợp

vệ sinh khu vực miền núi đạt 85%

- Y tế, Giáo dục: Đầu tư xây dựng mới 5 Trạm y tế xã, gồm các xã Đắc Tôi, Zuôich, Tà Bhing, Tà Pơơ, Chà Vàl Tất cả đang phát huy hiệu quả, chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh các công trình trạm

y tế được đầu tư kiên cố, vẫn còn 04 trạm chưa được đầu tư, xuống cấp trầm trọng như Đắc Pre, Đắc Pring, La Dêê, La Êê Mạng lưới trường, lớp học ngày càng nâng cao, tuy nhiên Tuy nhiên, nhiều trường đã xuống cấp hoặc thiếu một số hạng mục

và chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng của ngành Đến nay có 9 trường mẫu giáo, tiểu

Trang 38

học, THCS đạt chuẩn quốc gia

- Trung tâm hành chính huyện: Bằng nhiều nguồn vốn khác nhau của Tỉnh

hỗ trợ và các nguồn vốn khác của huyện, chính quyền địa phương đã cơ bản xây dựng xong hệ thống giao thông, điện nước và các trụ sở làm việc của các khối Đảng, Nhà nước Phấn đấu đến cuối năm 2020 xây dựng xong trung tâm hành chính huyện tại thị trấn Thạnh Mỹ

- Chợ, cụm công nghiệp: Bằng nguồn vốn của Tỉnh hỗ trợ, huyện đã và đang đầu tư xây dựng CCN tại Thôn Hoa, tổng diện tích 44 ha, tổng mức đầu tư dự kiến

85 tỷ đồng, năm 2018 đã bố trí 12 tỷ đồng xây để triển khai công tác quy hoạch và mặt bằng xây dựng Chợ, đã và đang đầu tư xây dựng mới chợ Thạnh Mỹ, tổng mức đầu tư trên 20 tỷ đồng từ nguồn vốn khai thác quỹ đất và nguồn ngân sách huyện đầu tư

Thứ ba, Đánh giá chung việc thực hiện và sử dụng vốn đầu tư xây dựng

cơ sở hạ tầng

- Ưu điểm đạt được: chính quyền địa phương huyện đã chỉ đạo, tập trung

nguồn lực đầu tư một số dự án, công trình trọng điểm, tạo động lực thúc đẩy phát triển KTXH vùng DTTS, như: cải tạo, nâng cấp các tuyến đường huyện tới trung tâm các xã giáp biên giới Lào, các tuyến đường liên thôn, liên xã, đưa điện lưới quốc gia ra tới các thôn vùng đặc biệt khó khăn, thực hiện các dự án đập, kiên cố hóa kênh mương nội đồng, đường ra khu sản xuất tập trung, các dự án cấp nước tập trung cho các xã, thị trấn, bố trí xắp xếp dân cư Xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020, Huyện có quyết định phân công nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị giúp đỡ các xã nghèo, vùng biên giới xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi phục vụ dân sinh, hỗ trợ phát triển sản xuất Nhờ sự quan tâm đầu tư của tỉnh, diện mạo vùng DTTS của huyện đã có nhiều đổi mới; CSHT các xã đặc biệt khó khăn, xã vùng khó khăn từng bước được đầu tư, cải thiện Bên cạnh đó, các chính sách an sinh xã hội cơ bản được đảm bảo, chương trình giảm nghèo bước đầu đạt một số kết quả tích cực; đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện, ổn định và nâng cao hơn trước

- Hạn chế, tồn tại: Hạ tầng kinh tế chưa đồng bộ đặc biệt là hệ thống giao

thông liên thôn, liên xã chưa phục vụ tốt nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân

Trang 39

dân, hạ tầng xã hội thiếu về số lượng và hiệu quả sử dụng không cao; hạ tầng nông thôn nhiều nơi chậm phát triển, chưa đồng bộ, nhất là các xã vùng cao Nhu cầu vốn đầu tư rất lớn trong khi nguồn vốn đầu tư hằng năm cho huyện còn thấp, nguồn thu ngân sách địa phương eo hẹp phần lớn phụ thuộc vào ngân sách cấp trên Chương trình nông thôn mới, kiên cố hoá GTNT, kênh mương và một số CTMT khác theo

cơ chế huyện phải đối ứng 20% vốn ngân sách địa phương và phần đóng góp nhân dân, tuy nhiên vùng đồng bào DTTS còn nghèo, do đó việc đóng góp nguồn lực để xây dựng CSHT rất hạn chế, địa phương không có nguồn thu do đó khó cân đối ngân sách để đối ứng, vì vậy một số dự án khó triển khai thực hiện Chưa thực hiện lồng ghép các nguồn vốn chương trình mục tiêu của Quốc gia, 100 % vốn đầu tư xây dựng CSHT là vốn từ NSNN, chưa thu hút được vốn từ các Doanh nghiệp, nguồn thu từ khai thác quỹ đất để đầu tư CSHT rất thấp so với tiềm năng hiện có

- Nguyên nhân của những hạn chế: chính quyền địa phương chưa thực hiện

lồng ghép các nguồn vốn chương trình mục tiêu của Quốc gia, dẫn đến quy mô công trình hạn chế, một số công trình chưa phát huy hiệu quả, nợ đọng trong đầu tư xây dựng khá cao so với nguồn lực ngân sách dành cho đầu tư phát triển hàng năm của huyện, tiến độ đầu tư một số dự án trọng điểm vẫn còn chậm như các hạng mục xây dựng trung tâm hành chính huyện, chợ Thạnh Mỹ, đường giao thông Zuôih-Lăng; chính quyền địa phương chưa thực hiện công tác quy hoạch đất đai để khai thác quỹ đất tạo nguồn cho đầu tư phát triển, dẫn đến 100 % vốn đầu tư xây dựng CSHT là vốn từ NSNN, chưa thu hút được vốn từ các Doanh nghiệp, nguồn thu từ khai thác quỹ đất để đầu tư CSHT rất thấp so với tiềm năng hiện có

2.2.2 Thực hiện tín dụng đối với hộ nghèo, hộ DTTS vùng đặc biệt khó khăn

Chính sách tín dụng là một trong những công cụ đòn bẩy kinh tế của Nhà nước nhằm giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội Ở nước ta hiện nay chính sách tín dụng do NHCSXH Việt Nam thực hiện, với 20 chương trình từ nguồn vốn của Chính phủ và một số tổ chức quốc tế để cung cấp tín dụng ưu đãi cho các hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách, trong đó, đối tượng được

Trang 40

quan tâm nhất là hộ đồng bào DTTS Kết quả tình hình thực hiện chính sách tín dụng đối với hộ nghèo, hộ DTTS ở huyện trong các năm qua, thể hiện như sau:

Thứ nhất, Tình hình tổ chức, thực hiện chính sách tín dụng đối với hộ nghèo, hộ DTTS vùng đặc biệt khó khăn

Trong quá trình thực hiện, NHCSXH huyện Nam Giang đã thực hiện nhiều chương trình chính sách tín dụng đối với đồng bào DTTS, như: cho vay hộ nghèo,

hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo; cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ - Giai đoạn 2; cho vay đi làm việc ở nước ngoài đối với người lao động thuộc hộ nghèo, người DTTS; cho vay hộ SXKD tại vùng khó khăn; cho vay thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn Hiện nay, chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ DTTS được thực hiện theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 30/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển KTXH vùng DTTS giai đoạn 2016 - 2020 Bên cạnh đó, NHCSXH còn thực hiện cho vay theo Nghị định số 75/NĐ-CP ngày 9/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ

và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào DTTS giai đoạn 2015-2020 Đây là các chính sách tín dụng rất thiết thực và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với đồng bào DTTS ở nước ta Trong quá trình thực hiện, Đảng bộ và chính quyền địa phương huyện đã chỉ đạo, thực hiện tốt các nội dung :

- Thành lập Hội đồng quản trị NHCSXH huyện, do phó Chủ tịch UBND huyện làm chủ tịch hội đồng quản trị, thực hiện các chức năng, giám sát việc thực hiện điều lệ, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, chỉ đạo việc gắn tín dụng chính sách với kế hoạch giảm nghèo bền vững và dự án phát triển KTXH tại địa phương để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ưu đãi

- Thành lập bộ máy thực hiện nhiệm vụ chuyên môn: NHCSXH huyện có hai phương thức cho vay: cho vay trực tiếp và cho vay ủy thác Trong hai phương thức này, cho vay ủy thác chiếm hơn 95% tổng dư nợ Cho vay ủy thác nghĩa là NHCSXH thực hiện ủy thác một số công đoạn trong quy trình cho vay cho bốn tổ chức chính trị - xã hội gồm Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 05/07/2019, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w