Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Thời gian qua vấn đề quản lý NSNN nói chung, quản lý NSNN cấp huyện nói riêng đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả, với nhiều cách tiếp cận c
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG CÔNG SƠN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG CÔNG SƠN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỦY LAN
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đề tài “Thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước ở
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của
riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trương Công Sơn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 6
1.1 Một số vấn đề về chính sách công 61.2 Những vấn đề cơ bản về NSNN và thực hiện chính sách quản lý NSNN cấp huyện 81.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện 231.4 Kinh nghiệm về thực hiện chính sách quản lý NSNN huyện 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở HUYỆN THĂNG BÌNH 29
2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của huyện Thăng Bình 292.2 Thực trạng thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước ở huyện Thăng Bình từ năm 2014-2018 312.3 Nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách quản lý NSNN ở huyện Thăng Bình từ năm 2014-2018 51
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH TỈNH QUẢNG NAM 55
3.1 Quan điểm và mục tiêu 553.2 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đến năm 2020 573.3 Kiến nghị 69
KẾT LUẬN 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND Hội đồng nhân dân KBNN Kho bạc Nhà nước KT-XH Kinh tế - xã hội NSNN Ngân sách nhà nước NSĐP Ngân sách địa phương NSTW Ngân sách Trung ương TABMIS Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc UBND Uỷ ban nhân dân
XDCB Xây dựng cơ bản
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách Nhà nước (NSNN), là một trong những công cụ chính sách tài chính quan trọng trong điều tiết kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia Trong những năm qua, nhiều chính sách về quản lý NSNN đã có những bước đổi mới và đạt được một
số thành tựu đáng kể, đặc biệt từ khi Luật ngân sách nhà nước (mới) được Quốc hội khoá XIII kỳ họp thứ chín thông qua ngày 25/6/2015, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017 với mục tiêu với mục tiêu quan trọng nhằm: Quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia và điều hành NSNN hiệu quả để phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH); Xây dựng NSNN và nền tài chính công lành mạnh, góp phần thúc đẩy vốn và tài sản nhà nước, tiết kiệm chống lãng phí; Tăng tích lũy để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Đảm bảo các nhiệm vụ chính trị như an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, của đất nước
Ngân sách huyện là một bộ phận cấu thành NSNN, là công cụ tài chính để chính quyền cấp huyện thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong quá trình điều hành và quản lý KT-XH, an ninh quốc phòng tại địa phương Thời gian qua tại huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam vấn đề thực hiện các chính sách quản lý NSNN đã bước đầu đi vào nề nếp, cơ bản bám sát các quy định của Luật ngân sách nhà nước (mới) cũng như các Nghị định của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn của
Bộ Tài chính Tuy nhiên việc thực hiện chính sách quản lý NSNN còn có những hạn chế như: (i) Thu, chi NSNN vẫn còn thất thoát, lãng phí; (ii) Chưa có quan điểm rõ ràng về các khoản chi sai quy định; (iii) Chất lượng lập dự toán còn thấp, phải điều chỉnh nhiều khi tổ chức thực hiện; (iiii) Đội ngũ công chức, viên chức tổ chức thực hiện và quản lý NSNN còn hạn chế về chuyên môn, chậm đổi mới chưa bắt kịp nhu
cầu thực tế Vì thế đề tài "Thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước ở
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam hiện nay" có tính cấp thiết nghiên cứu nội
dung, các biện pháp tổ chức thực hiện góp phần đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách quản lý NSNN tại địa phương
Trang 72
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian qua vấn đề quản lý NSNN nói chung, quản lý NSNN cấp huyện nói riêng đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả, với nhiều cách tiếp cận cũng như các đề xuất khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng là đưa ra những giải pháp nhằm giúp cho công tác thực hiện chính sách thu chi và quản lý ngân sách có hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển theo từng giai đoạn của địa phương, cụ thể:
- Luận văn thạc sỹ “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công
tác quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên”, của tác giả Hà
Việt Hoàng, Đại học Thái Nguyên (2007) [14] Trong luận văn này, tác giả đã chỉ
ra được những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý NSNN tại tỉnh Thái Nguyên, như: Việc lập dự toán ngân sách hàng năm của các phường, xã, các đơn vị
dự toán thuộc các huyện còn chậm; Còn xảy ra tình trạng thất thu; Chi ngân sách còn nhiều bất cập đặc biệt đối với chi thường xuyên và chi cho đầu tư xây dựng cơ bản; Năng lực đội ngũ kế toán còn yếu Từ đó, tác giả đã đề ra giải pháp cơ bản, sát thực tế để hoàn thiện công tác quản lý NSNN
- Luận văn Thạc sỹ “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách Nhà nước
huyện Phù Cát ” của tác giả Phạm Văn Thịnh, Đại học Đà Nẵng (năm 2011) [31]
đã chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý NSNN tại địa phương, như: dự toán ngân sách hàng năm của các xã, thị trấn, các cơ quan, đơn vị dự toán còn chưa sát phải điều chỉnh nhiều lần; Q uản lý thu ngân sách còn lỏng, còn xảy ra tình trạng thất thu; Kiểm soát chi ngân sách còn chưa chặt chẽ, còn để
nợ đọng nhiều trong chi cho đầu tư xây dựng cơ bản qua các năm; Chế độ công khai tài chính đối với NSNN chưa được thực hiện nghiêm túc; Qua đó tác giả đề xuất các giải pháp khắc phục
- Luận văn Thạc sỹ “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách Nhà nước
huyện Đức Phổ”, của tác giả Huỳnh Cẩm Liên, Trường Đại học Đà Nẵng (năm
2011) [18] Luận văn này, tác giả chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong công tác
quản lý NSNN tại địa phương trong đó nhấn mạnh công tác thanh kiểm tra thường xuyên và đột xuất, từ đó đã đề ra những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý
Trang 83
NSNN, như: Tăng cường hiệu lực trong công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với quản lý NSNN cần đổi mới công cụ quản lý, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý; Quản lý tốt nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách, chi ngân sách tiết kiệm; Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách các cấp
- Với đề tài “Thực hiện chính sách về ngân sách nhà nước từ thực tiễn quận
Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng”, của tác giả Đinh Thị Mỹ Dung, Học viện khoa học
xã hội (năm 2016) [9], luận văn thạc sĩ này đã chỉ ra những vấn đề còn hạn chế, khó
khăn trong quá trình thực hiện chính sách thu chi ngân sách quận từ năm 2011 –
2015, như: Thực hiện chính sách lập dự toán thu, chi ngân sách; Thực hiện chính sách về chấp hành dự toán thu, chi ngân sách; Về thực hiện chính sách quyết toán ngân sách; Đồng thời nêu nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách thu chi ngân sách quận như bất cập trong quy định về thực hiện chính sách, trình độ chuyên môn của cán bộ còn hạn chế, sự phối hợp trong chỉ đạo và thực hiện chính sách, từ đó đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách về ngân sách nhà nước trên địa bàn quận đến năm 2020
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Thăng Bình lần thứ XX, nhiệm kỳ 2015- 2020 Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về các chính sách quản lý NSNN địa phương nhưng với mục đích nghiên cứu khác nhau, các tác giả đều đề cập đến các địa phương khác nhau nên không đưa ra những giải pháp cụ thể cho hoạt động thực hiện chính sách quản lý NSNN ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam hiện nay Vì thế vấn đề này vẫn là khoản trống, cần được tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Các đề tài nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều lĩnh vực quản lý NSNN Tuy nhiên, chưa có đề tài nào trực tiếp đề cập đến thực hiện chính sách quản lý NSNN ở huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam Từ đó cho thấy việc nghiên cứu đề tài này là vấn đề đang đặt ra, đòi hỏi phải nghiên cứu những điều kiện cuả huyện Trong phạm
vi luận văn này, tác giả muốn nêu lên một số vấn đề đã có, những kết quả về lý luận, kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung gần với
đề tài, đồng thời dùng các công cụ để phân tích và đề xuất các giải pháp để thực hiện chính sách quản lý NSNN có hiệu quả hơn trong thời gian đến
Trang 94
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ thực trạng thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam chỉ ra những mặt đã làm được, còn hạn chế, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số khái niệm về thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước nói chung và thực hiện chính sách quản lý ngân sách cấp huyện nói riêng
- Đánh giá thực trạng tình hình thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2014-2018 làm rõ những mặt
đã đạt được, rút ra một số tồn tại hạn chế và phân tích nguyên nhân
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước ở huyện Thăng Bình dưới góc độ khoa học chính sách công
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Thực hiện chính sách quản lý NSNN ở huyện Thăng Bình
- Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng từ năm 2014-2018 đề xuất các giải pháp cho năm 2020 và các năm tiếp theo
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các văn bản của Đảng và Nhà nước liên quan đến thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau, trên cơ
sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Các phương pháp
Trang 105
nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nhằm làm rõ cơ sở lý luận của nội dung
và quy trình thực hiện chính sách quản lý NSNN nói chung, thực hiện chính sách quản lý NSNN cấp huyện nói riêng, kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có để tổng kết kinh nghiệm và rút ra bài học cho vấn đề thực hiện chính sách quản lý NSNN cấp huyện
- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp và so sánh đối chứng: Luận văn
sử dụng số liệu thứ cấp của Bộ Tài chính, của Tỉnh Quảng Nam, kết hợp với phân tích tỷ lệ và so sánh đối chứng nhằm đánh giá thực trạng, rút ra những mặt đã làm được, những mặt còn hạn chế, làm rõ các nguyên nhân chủ quan, khách quan
- Phương pháp phân tích chính sách tổng hợp: Trên cơ sở khung lý thuyết phân tích thực trạng, luận văn làm rõ bối cảnh trong nước, quốc tế tác động đến thực hiện chính sách quản lý NSNN nói chung và đến huyện Thăng Bình nói riêng
để đề xuất các giải pháp hoàn thiện
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về lý luận, Luận văn góp phần bổ sung căn cứ về thực hiện chính sách quản
lý NSNN cấp huyện
Về thực tiễn, làm rõ thực trạng thực hiện chính sách quản lý NSNN tại huyện Thăng Bình, phân tích, đánh giá, rút ra các vấn đề cần quan tâm và đề xuất một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách quản lý NSNN cấp huyện nói chung và huyện Thăng Bình nói riêng cho thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thực hiện chính sách quản lý NSNN; Chương 2: Thực trạng hoạt động thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam;
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Trang 116
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Một số vấn đề về chính sách công
1.1.1 Chính sách công
a Khái niệm chính sách công
Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và bảo đảm cho xã
hội phát triển bền vững, ổn định [tr14, 12]
b Đặc điểm cơ bản của chính sách công
- Các cơ quan nhà nước là chủ thể ban hành chính sách công: Chính sách công do nhà nước ban hành, vì vậy có thể coi chính sách công là chính sách của nhà nước Nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước
- Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của chủ thể hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mà bao gồm những hoạt động tổ chức thực hiện các dự định nói trên
- Chính sách công gồm nhiều quyết định (bao gồm luật, các quyết định dưới luật Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền, thậm chí cả những tư tưởng của các nhà lãnh đạo thể hiện trong lời nói và hành động của họ) có liên quan với nhau, đó là một chuỗi các quyết định cùng hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài và mang tính lịch sử
- Tính hợp pháp là điểm khác biệt giữa chính sách công với các chính sách của các tổ chức trong khu vực tư nhân hay các đoàn thể xã hội
Trang 127
- Chính sách công là sản phẩm của quá trình thực thi quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền (thông qua bộ máy nhà nước); cho nên chính sách đó trước hết phải mang tính giai cấp (phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền) Song bên cạnh tính giai cấp, chính sách công còn đòi hỏi phải mang tính dân tộc (phù hợp với đặc điểm văn hóa, tâm lý, truyền thống dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng) và tính nhân
loại (phù hợp với các xu hướng phát triển tiến bộ của nhân loại) [tr14-16, 12]
1.1.2 Thực hiện chính sách công
Thứ nhất, Khái niệm thực hiện chính sách công
Thực hiện chính sách công là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với việc thành công hay thất bại của một chính sách Theo TS Lê Chi Mai "thực thi chính sách là giai đoạn biến các ý đồ chính sách thành những kết quả thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm đạt tới
những mục tiêu đã đề ra" [21]
Chủ thể thực hiện chính sách trước hết và quan trọng nhất là các cơ quan hành chính nhà nước, bởi vì đây chính là cơ quan có nhiệm vụ quản lý và tổ chức triển khai các công việc hàng ngày của Nhà nước Tuy nhiên, các cơ quan lập pháp
và tư pháp cũng như các tổ chức Đảng, đoàn thể cũng có vai trò quan trọng trong
việc huy động và tổ chức lực lượng tham gia triển khai chính sách [12]
Như vậy thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý tưởng của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng của Nhà nước Trong quá trình thực hiện chính sách, các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ và con người được đưa vào các hoạt động có tính định hướng để đạt được các mục tiêu đề ra
Thứ hai, Qui trình thực hiện chính sách công: Tổ chức thực hiện chính
sách là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách công thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách công So với các khâu khác trong chu trình chính sách công, tổ chức thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội Thực hiện chính sách công được thực hiện qua các bước:
Trang 138
- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
- Phổ biến, tuyên truyền chính sách
- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
- Duy trì chính sách
- Điều chỉnh chính sách
- Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
- Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm [12]
1.2 Những vấn đề cơ bản về NSNN và thực hiện chính sách quản lý NSNN cấp huyện
1.2.1 Ngân sách nhà nước
1.2.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước
Có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về NSNN ở mỗi giai đoạn lịch
sử, mỗi thời kỳ, ngoài ra khái niệm về NSNN còn phụ thuộc vào quan điểm, mục đích nghiên cứu, nhưng xét về hình thức biểu hiện bên ngoài thì NSNN là một bảng
dự toán thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoản thời gian nhất định, thường
là một năm hoặc một số năm Xét về nội dung vật chất, NSNN bao gồm những nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể, được định lượng
- Theo GS.TS Dương Đăng Chinh, thì “NSNN là phạm trù kinh kế và là
phạm trù lịch sử NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trên cơ sở luật định” [8]
Như vậy NSNN phản ánh toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước, với mục đích là đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng của nhà nước, trong một thời gian nhất định Hay nói một cách khác, ngân sách thường để chỉ tổng thể số thu và chi trong một thời gian (thường tính là một năm); là một bản tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó; nếu chủ thể đó là Nhà nước thì gọi là ngân sách nhà nước
Theo Luật NSNN năm 2015 thì “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản
Trang 149
thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong khoảng thời gian nhất định
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước” [điều 4, khoản 14; 5]
Từ các nghiên cứu trên có thể thấy: NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài
chính quốc gia bao gồm chủ yếu là các khoản thu và chi của nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ Phần thu được thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện các mục tiêu KT-XH; NSNN được lập và thực hiện trong một thời gian nhất định, thường là một năm và do cơ quan có thẩm quyền quyết định
Như vậy nội hàm của NSNN bao gồm:
Về nội dung: NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước
Về điều kiện: NSNN chỉ có hiệu lực khi và chỉ khi được cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền quyết định Cơ quan này là đại diện cho ý chí của nhân dân (Quốc hội)
Thời gian có hiệu lực: NSNN có hiệu lực trong vòng một năm (ở Việt Nam
từ 1/1 đến 31/12)
Mục đích: NSNN là để thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước
1.2.1.2 Nội dung và chức năng của Ngân sách nhà nước
Thứ nhất, Nội dung ngân sách Nhà nước
- Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; thu tiền bán, cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước; các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước; thu từ các hoạt động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; thu viện trợ của các tổ chức quốc tế không hoàn lại; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Thu ngân sách có các đặc điểm sau:
+ Thu NSNN được xây dựng trên nền tảng các khoản nghĩa vụ công dân, điển hình là thuế, các khoản phí, lệ phí, thu khác thuộc NSNN
+ Các khoản thu ngân sách không mang tính bồi hoàn trực tiếp, mà nhà nước
Trang 1510
sẽ dùng các khoản tiền thu được để tạo ra hàng hóa, dịch vụ và các hàng hóa này sẽ được chính người dân hưởng thụ Như vậy, các khoản thu nhập công sẽ được chuyển lại cho người dân một cách gián tiếp, phục vụ công cộng
+ Thu NSNN được gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước; nhà nước thu để thực hiện việc chi tiêu công mà không phải thu để tìm kiếm với mục đích lợi nhận
+ Thu NSNN gắn liền với các dịch vụ công như dịch vụ thu thuế, phí, lệ phí của các cơ quan nhà nước ủy quyền
- Chi ngân sách nhà nước:
Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi đầu tư phát triển; Chi dự trữ quốc gia; Chi cho an ninh quốc phòng; Chi thường xuyên bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; Chi trả nợ của Nhà nước; Chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật Trong quá trình phân phối, sử dụng thì ngân quỹ tập trung của nhà nước luôn hướng đến đảm bảo hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước; chi NSNN bao gồm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên; phạm vi và mức độ chi thường xuyên của NSNN gắn liền với cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước,
đó là các khoản chi tiêu mang tính ổn định đảm bảo cho duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước như: chi sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, đảm bảo
xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, chi cho sự nghiệp kinh tế, chi khác ngân sách,
Cơ quan quyền lực các cấp có thẩm quyền quyết định cơ cấu, nội dung, mức
độ của các khoản chi nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương mình Chi NSNN có đặc điểm sau:
+ Chi NSNN luôn hướng đến lợi ích chung của quốc gia và địa phương Với
đặc điểm này hướng đến mục tiêu duy trì ổn định và phát triển bền vững, vì lợi ích của nhân dân của toàn xã hội Do đó chi NSNN phải được kiểm soát nghiêm ngặt để tránh lạm dụng, tham ô, tham nhũng của những người quản lý, sử dụng NSNN
+ Các khoản chi NSNN phải tính đến hiệu quả mang tính tổng hợp và toàn
diện trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh
Trang 1611
quốc phòng, việc sử dụng một cách hiệu quả các khoản chi tiêu trong từng lĩnh vực được xem xét cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn Việc đánh giá hiệu quả phải thông qua đánh giá những lợi ích về KT-XH mà toàn xã hội được thụ hưởng
- Các khoản chi NSNN đều là các khoản cấp phát cho các đơn vị quản lý, sử
dụng và mang tính không hoàn trả hoặc hoàn trả không trực tiếp Hầu hết các khoản chi NSNN đều tương ứng với quy mô và khả năng thu NSNN từ các địa phương và
từ các đơn vị được giao nhiệm vụ thu
Từ các đặc điểm trên, phân loại chi ngân sách có vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách, phân bổ ngân sách giữa các lĩnh vực; tùy theo mục tiêu khác nhau, chi ngân sách có các cách phân loại khác nhau, cụ thể:
Phân loại theo ngành kinh tế, cách phân loại này được dựa vào chức năng của nhà nước đối với nền kinh tế và được phân chia thành các ngành như: nông nghiệp; công nghiệp xây dựng; giáo dục; y tế; an ninh quốc phòng;
Phân loại chi ngân sách được dùng nhiều nhất là phân theo nội dung kinh tế,
đó là các khoản chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên Chi đầu tư phát triển là các khoản chi được tiêu dùng cho tương lai, các khoản chi này đầu tư cho cơ sở vật chất kỷ thuật, có khả năng tạo nguồn thu, góp phần tăng trưởng kinh tế, ở huyện chủ yếu là chi đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội Chi thường xuyên là các khoản chi cho tiêu dùng hiện tại, chủ yếu chi tiêu dùng cho các tổ chức hành chính nhà nước và chi cho các sự nghiệp, các khoản chi này tác động ngắn hạn thường là trong năm ngân sách; đây là các khoản chi phục vụ chủ yếu cho chức năng quản lý nhà nước về điều hành xã hội như: sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, an ninh quốc phòng,
Thứ hai, Chức năng của ngân sách Nhà nước
- Chức năng phân bổ nguồn lực trong xã hội: Để tạo lập và sử dụng các
nguồn lực có hiệu quả, thông qua các biện pháp thu, chi và quản lý NSNN, Nhà nước thực hiện phân bổ nguồn lực vào những lĩnh vực địa bàn then chốt, có nhiều rủi ro, cần khuyến khích hoặc hạn chế phát triển; đồng thời có thể thu hút, lôi kéo sự tham gia phân bổ nguồn lực của các thành phần kinh tế và khu vực tư nhân
Trang 1712
- Chức năng phân phối lại thu nhập trong xã hội: Nhà nước thực hiện quá
trình phân phối và phân phối lại thu nhập dưới hình thức tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm hạn chế bớt sự phân hoá xã hội, sự bất bình đẳng về thu nhập đảm bảo sự công bằng hợp lý, làm cho nguồn thu nhập của xã hội được sử dụng một cách kịp thời, hiệu quả Thông qua công cụ thuế và công cụ chi tiêu Nhà nước sẽ thực hiện được các mục tiêu trên
- Chức năng giám đốc: Được hiểu là quá trình kiểm tra, giám sát, đôn đốc được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục cùng với quá trình vận động của các đối tượng được phân bổ và phân phối của NSNN Công cụ giám đốc của NSNN
là các nghiệp vụ thống kê, kế toán, kiểm toán, thanh tra, cân đối thu chi NSNN
1.2.1.3 Đặc điểm của ngân sách nhà nước
NSNN là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia, bao gồm những mối quan hệ tài chính chủ yếu giữa Nhà nước và công dân; Giữa nhà nước với doanh nghiệp; Giữa nhà nước với tổ chức xã hội; Giữa nhà nước với quốc tế Vì thế NSNN gồm những đặc điểm cơ bản sau:
- Hoạt động thu chi của NSNN luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định
- Hoạt động NSNN là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của nhà nước
- NSNN luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng
- NSNN cũng có những đặc điểm như các qũy tiền tệ khác, khác biệt của NSNN với tư cách là một qũy tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chia thành nhiều qũy nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định
- Hoạt động thu chi của NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu
Trang 18dự toán và quyết toán các nguồn thu, nhiệm vụ chi bằng tiền trong quá trình thực hiện chức năng của nhà nước trong thời gian nhất định thường là một năm
Thứ hai, Vai trò của ngân sách nhà nước
NSNN giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính và có vai trò quyết định
sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Vì thế, NSNN có các vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất, với chức năng phân phối, ngân sách có vai trò huy động nguồn tài
chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước và thực hiện sự cân đối thu chi tài chính của nhà nước
Thứ hai, NSNN là công cụ tài chính của nhà nước góp phần thúc đẩy sự tăng
trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế vĩ mô Nhà nước sử dụng NSNN như là công cụ tài chính để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường, giá cả cũng như giải quyết các nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn định KT-XH Muốn thực hiện tốt vai trò này NSNN phải có quy mô đủ lớn để nhà nước thực hiện các chính sách tài khóa phù hợp (nới lỏng hay thắt chặt) kích thích sản xuất, kích cầu để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội
Thứ ba, NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm khuyết của kinh
tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững
1.2.2 Ngân sách cấp huyện
1.2.2.1 Khái niệm Ngân sách nhà nước cấp huyện:
Như trên đã phân tích, NSNN để thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước nên tùy thuộc mô hình nhà nước mà có các hệ thống ngân sách khác nhau (Nhà nước liên bang hay Nhà nước đơn nhất) Hệ thống ngân sách Việt nam gồm hai cấp gồm:
Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương [điều 6; 5]
Trang 1914
Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho
cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa
phương [điều 4 khoản 13; 5] Hay nói cách khác: Ngân sách địa phương bao gồm
ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được trao quyền để quản lý toàn bộ ngân sách cấp địa phương
Ngân sách địa phương hiện nay gồm: Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi là ngân sách tỉnh);
Ngân sách cấp tỉnh gồm: Ngân sách của các huyện, thành phố thuộc tỉnh; ngân sách huyện, thành phố thuộc tỉnh (gọi là ngân sách huyện);
Ngân sách cấp huyện gồm: Ngân sách các xã, thị trấn;
Ngân sách xã, thị trấn (gọi là ngân sách xã)
Từ các nghiên cứu trên có thể đi đến kết luận: NSNN cấp huyện là toàn bộ
các khoản thu, chi của Nhà nước đã được HĐND, UBND cấp huyện quyết định, được dự toán và thực hiện trong khoảng thời gian một năm, để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ trên địa bàn huyện theo định hướng của tỉnh Hay nói
cách khác: NSNN cấp huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn huyện Ngân sách cấp huyện nằm trong
bộ phận ngân sách của tỉnh và thuộc hệ thống ngân sách địa phương
1.2.2.2 Vai trò ngân sách nhà nước cấp huyện
- NSNN cấp huyện là công cụ huy động nguồn tài chính để thực hiện chức năng Nhà nước tại địa phương và đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước cấp huyện
Vai trò này thể hiện bằng việc huy động, khai thác các nguồn tài chính từ mọi lĩnh vực, các thành phần kinh tế theo các hình thức bắt buộc hay tự nguyện; việc khai thác hay huy động các nguồn lực này cần được tính toán sao cho đảm bảo
sự hài hòa lợi ích giữa nhà nước với danh nghiệp, cư dân; giữa tiêu dùng và tiết kiệm Trên cơ sở đó nhà nước tiến hành phân bổ nguồn lực tài chính này để đáp ứng
Trang 2015
các nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước cấp huyện một cách hợp lý, đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả, duy trì và đảm bảo sức mạnh của bộ máy đảm bảo thực hiện đầy
đủ chức năng, nhiệm vụ KT-XH, an ninh quốc phòng trên toàn huyện
- NSNN cấp huyện là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định xã hội trong
toàn huyện
Vai trò này thể hiện thông qua NSNN huyện, HĐND và UBND sẽ định hướng đầu tư, xác định mục tiêu phát triển kinh tế trên địa bàn huyện theo đúng định hướng phát triển; thông qua nhiệm vụ chi ngân sách địa phương, nhà nước cấp huyện có thể tăng cường chi đầu tư cho kết cấu hạ tầng hay trong các lĩnh vực mà tư nhân không tham gia vì yếu tố lợi nhuận Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội, nâng cao đời sống dân cư trên địa bàn huyện
- NSNN cấp huyện đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng
và giải quyết các vấn đề xã hội trên địa bàn huyện
Vai trò này thông qua các khoản thu chi NSNN huyện sẽ thực hiện điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giảm những bất hợp lý trong phân phối, từng bước đảm bảo sự công bằng, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội Trên cơ sở NSNN huyện, chính quyền cấp huyện sẽ thực hiện cung cấp các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo, phòng chống các tệ nạn xã hội,
đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn huyện
1.2.3 Thực hiện chính sách quản lý NSNN cấp huyện
1.2.3.1 Thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
- Từ các nghiên cứu trên có thể đi đến kết luận về thực hiện chính sách quản
lý NSNN cấp huyện: Là quá trình tổ chức thực hiện các chính sách của UBND,
HĐND cấp huyện thông qua dự toán thu, chi được HĐND, UBND cấp huyện quyết định trong khoảng thời gian một năm, để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ trên địa bàn huyện theo định hướng của tỉnh
- Nguyên tắc thực hiện chính sách quản lý NSNN cấp huyện
+ Nguyên tắc một ngân sách duy nhất, mọi khoản thu chi của cấp huyện phải
Trang 2116
đưa vào một kế hoạch ngân sách thống nhất và được phản ánh đầy đủ, rõ ràng, trong
dự toán NSNN để HĐND và UBND huyện thông qua Không được bù trừ giữa các khoản thu chi hay dành một khoản thu nào đó để thực hiện việc trang trải cho một khoản chi nhất định Nguyên tắc này đảm bảo quyền lực của HĐND, UBND trong việc quyết định ngân sách một cách toàn diện, thống nhất và giám sát được tình trạng thiếu hụt ngân sách một cách kịp thời, để có biện pháp chỉ đạo, quản lý, điều hành phù hợp
+ Nguyên tắc đảm bảo cân đối ngân sách, nghĩa là kế hoạch ngân sách phải
đảm bảo được cân đối giữa thu và chi; cơ cấu thu chi giữa các khoản, các lĩnh vực; các cấp chính quyền phải đảm bảo sự hài hòa, hợp lý; các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ nguồn thu bù đắp Vì vậy, việc tính toán, cân nhắc nhu cầu chi tiêu ngân sách phải sát với khả năng thu ngân sách là cần thiết và rất quan trọng
+ Nguyên tắc niên độ, dự toán ngân sách địa phương cấp huyện phải được
HĐND phê chuẩn, UBND quyết định cho từng năm và sử dụng kinh phí đã được phê duyệt giới hạn trong niên độ ngân sách theo dự toán được duyệt Theo quy định hiện nay, một số nguồn kinh phí đã được chuyển nguồn từ năm trước sang năm sau như nguồn cải cách tiền lương, kinh phí thực hiện tự chủ, kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học, kết thúc năm ngân sách nguồn kinh phí này chưa dùng hoặc dùng không hết, hoặc nhiệm vụ còn dở dang, tức còn nhiệm vụ chi nhưng hết niên
độ, được chuyển nguồn sang năm sau để tiếp tục thực hiện
+ Nguyên tắc chuyên dụng, thông qua việc phân bổ các chỉ tiêu theo phân
loại mục lục ngân sách và các đơn vị sử dụng Khi thực hiện huy động cũng như chi tiêu phải theo đúng nội dung thu, chi trong dự toán ngân sách đã được phê duyệt cho đối tượng và mục đích sử dụng Nguyên tắc này có thể được thay đổi theo yêu cầu quản lý, đảm bảo thực hiện quyền giám sát việc sử dụng ngân sách của HĐND
và quyền quản lý, điều hành của UBND huyện
+ Nguyên tắc bù đắp tổng thể, cả các khoản thu được dùng là nguồn thu
dùng chung cho các nhiệm vụ chi, không phân biệt đó là những nhiệm vụ chi nào Nguyên tắc này đảm bảo cho việc quản lý, điều hành ngân sách được linh hoạt; bất
Trang 2217
kỳ khoản chi nào khi được quyết định chi sẽ không phụ thuộc vào một hay nhiều nguồn thu cụ thể nào đó
+ Nguyên tắc hiệu năng, trong phạm vi dự toán đã được HĐND, UBND
quyết định, các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách phải tổ chức quản lý, sử dụng một cách có trách nhiệm trước tiền thuế của nhân dân, đảm bảo kinh tế, hiệu quả, hiệu lực và thực hiện kỷ luật tài chính đối với các khoản thu chi
+ Nguyên tắc công khai, minh bạch, quá trình tạo lập và sử dụng ngân sách
được công khai, minh bạch tạo điệu kiện thuận lợi cho cộng đồng giám sát, kiểm soát các quyết định về thu chi ngân sách đảm bảo tính hiệu quả, hạn chế những bất cập, thất thoát, lãnh phí trong quản lý, sử dụng ngân sách
+ Nguyên tắc dân chủ, trong chu trình ngân sách từ khâu lập dự toán, chấp
hành dự toán đến khâu quyết toán ngân sách cần có sự tham gia của xã hội và người dân để làm cho hoạt động ngân sách được minh bạch, lành mạnh hơn, các thông tin
về ngân sách được chính xác và trung thực; một ngân sách thực sự tốt là ngân sách
đó phản ánh được lợi ích tối thượng của các bộ phận, tầng lớp nhân dân trong thực hiện chính sách quản lý NSNN
1.2.3.2 Nội dung và quy trình thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
Thứ nhất, Nội dung thực hiện chính sách quản lý NSNN cấp huyện
Cũng như NSNN nói chung, NSNN cấp huyện có hai nội dung chính là thu
ngân sách và chi ngân sách tại địa bàn huyện
- Thực hiện chính sách thu ngân sách nhà nước cấp huyện có các nội dung:
Thu NSNN đó là các khoản thuế, phí, lệ phí, thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước, thu tiền bán, cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước; các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước; thu từ các hoạt động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng thuộc ngân sách huyện; thu viện trợ của các
tổ chức quốc tế không hoàn lại; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; thu kết dư ngân sách năm trước; thu chuyển nguồn ngân sách năm trước; thu bổ sung
từ ngân sách cấp trên Tuy nhiên, nguồn thu chính là của ngân sách cấp huyện
Trang 2318
thường là thu thuế Việc thực chính sách thu thuế, phí, lệ phí cấp huyện phải đảm bảo tính hiệu quả, công bằng, tính ổn định, thuận tiện, đầy đủ và kịp thời
- Thực hiện chính sách chi ngân sách nhà nước cấp huyện: Là hoạt động
được gắn với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà cấp huyện đảm nhận trong từng thời kỳ, đồng thời cũng là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN cấp huyện với các phương pháp, công cụ chuyên ngành để tác động đến quá trình chi NSNN trên địa bàn huyện nhằm đảm bảo các khoản chi này đúng chế độ chính sách do nhà nước quy định và phục vụ tốt nhất việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của huyện trong từng giai đoạn, từng năm
Hai cơ quan có chức năng thực hiện chính sách chi NSNN cấp huyện là cơ quan tài chính cấp huyện (Phòng Tài chính - Kế hoạch) và Kho bạc nhà nước huyện được phân quyền quản lý chi Cơ quan tài chính cấp huyện có nhiệm vụ thực hiện quản lý việc phân bổ, chấp hành và quyết toán NSNN theo đúng nội dung, mục đích, chế độ đã được nhà nước quy định; còn Kho bạc nhà nước huyện kiểm soát chi nhằm đảm bảo việc sử dụng NSNN theo đúng chế độ hiện hành Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này là thực hiện chính sách về chi NSNN được xem xét trong phạm vi quyền hạn, chức năng của cơ quan quản lý tài chính ngân sách tức là Phòng tài chính – kế hoạch cấp huyện
Để đảm bảo quá trình thực hiện chính sách quản lý chi NSNN cấp huyện tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu thực tế, đúng chính sách, chế độ của nhà nước, thì quá trình phân bổ, sử dụng các khoản chi NSNN hằng năm phải được thực hiện theo quy trình: lập danh mục các nhiệm vụ cần chi và phân bổ chi NSNN theo tiến
độ thực hiện nhiệm vụ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Thực hiện chính sách chi NSNN cấp huyện thực chất là xác định và giám sát quá trình thực hiện các nhiệm vụ cần chi của huyện, đảm bảo mối quan hệ hợp lý giữa các khoản chi cho các nhiệm vụ, bên cạnh đó giám sát việc sử dụng thực tế NSNN Để thực hiện việc này, cơ quan tài chính thực hiện các chính sách và công
cụ đặc thù như mục lục ngân sách, định mức phân bổ, chế độ chi tiêu, dự toán và quyết toán NSNN,
Trang 2419
Nội dung cơ bản của thực hiện chính sách quản lý chi NSNN cấp huyện:
gồm hai nội dung chủ yếu là thực hiện chính sách chi đầu tư phát triển và thực hiện chính sách chi thường xuyên
- Thực hiện chính sách chi đầu tư phát triển, là quá trình sử dụng một phần vốn đã tập trung vào NSNN để xây dựng, phát triển các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH không có khả năng thu hồi vốn nhằm đảm bảo cho các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-XH Chi đầu tư phát triển ở cấp huyện chủ yếu là chi đầu tư công cho các công trình đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) các kết cấu hạ tầng KT-XH có đặc điểm là các khoản chi tích lũy; quy mô,
cơ cấu chi NSNN không cố định và phụ thuộc vào kế hoạch phát triển KT-XH của huyện trong từng thời kỳ
- Thực hiện chính sách chi thường xuyên, là đảm bảo cho sự hoạt động của
các cơ quan nhà nước, đảng, đoàn thể chính trị - xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự
an toàn xã hội, thực hiện nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội và các nhiệm vụ thường xuyên khác thuộc lĩnh vực mà nhà nước phải đảm nhận
Thứ hai, Quy trình thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước cấp
huyện bao gồm các bước: Xây dựng kế hoạch dự toán NSNN (trong đó bao gồm phổ biến, tuyên truyền); Chấp hành dự toán NSNN (bao gồm phân công phối hợp thực hiện, chấp hành dự toán được duyệt, duy trì, điều chỉnh dự toán); Quyết toán NSNN (đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm); Ngoài ra còn có hoạt động theo dõi kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện để ngăn ngừa và phát hiện kịp thời sai phạm
a, Thực hiện chính sách lập dự toán NSNN cấp huyện
- Xây dựng kế hoạch dự toán NSNN hàng năm: Cơ sở để xây dựng dự toán là: Tình hình phát triển KT-XH; Các định hướng phát triển của tỉnh; Các hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên như: Sở tài chính, Bộ Tài chính; Các định mức phân
bổ và sử dụng NSNN, ) Dự toán NSNN hàng năm bao gồm cả dự toán thu và dự toán chi
+ Đối với dự toán thu: Dự toán thu phải dự kiến và tính toán được số thu NSNN trong năm trên địa bàn huyện Ví dụ dự toán thu thuế là tính toán các chỉ tiêu
Trang 2520
về số phải thu trong năm trên địa bàn toàn huyện và xây dựng kế hoạch để đưa ra biện pháp thực hiện các chỉ tiêu đó Dự toán được lập phải được tổng hợp theo từng lĩnh vực, chi tiết theo từng sắc thuế; đúng biểu mẫu, nội dung và thời gian; kèm theo là báo cáo thuyết minh và cơ sở tính
+ Đối với dự toán chi: Dự toán chi phải dự kiến và tính toán được các nhiệm
vụ chi trong năm theo từng lĩnh vực trên địa bàn huyện
Dự toán chi thường xuyên được lập dựa vào căn cứ: các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định theo phân cấp Các định mức mang tính tổng hợp như định mức chi hành chính trên một biên chế được ban hành hằng năm hoặc có thể tính cho cả thời kỳ ổn định ngân sách, có tính đến các yếu tố điều chỉnh tăng hằng năm bù trượt giá Hoặc các định mức mang tính chế độ chi tiêu, thanh toán, như chế độ tiền lương, phụ cấp lương, chế độ công tác phí, hội nghị, theo quy định hiện hành phần lớn do Bộ Tài chính và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Đối với địa phương thì HĐND tỉnh được phân cấp ban hành một số định mức, chế độ chi tiêu phù hợp với đặc thù của địa phương
Dự toán chi đầu tư phát triển: Trên cơ sở quyết định phê duyệt, mục tiêu và tiến độ của dự án, chủ đầu tư lập kế hoạch vốn của các dự án, công trình gửi cơ quan quản lý để tổng hợp vào dự toán ngân sách theo quy định của Luật NSNN
b, Thực hiện chính sách chấp hành dự toán NSNN cấp huyện:
- Đối với dự toán thu là quá trình kiểm tra, rà soát các đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ với NSNN Ví dụ Đối với thu thuế, phí và lệ phí, cơ quan thuế có trách nhiệm cấp giấy đăng ký cho các đối tượng nộp thuế, phí, lệ phí đã thực hiện đăng ký nộp nghĩa vụ với NSNN Các cơ quan này có trách nhiệm kiểm tra lại quy trình kê khai của tổ chức, cá nhân thực hiện nộp nghĩa vụ với NSNN đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, trung thực các nội dung, đối chiếu tờ khai thuế với các loại chứng từ, tài liệu đi kèm để tránh bỏ sót hoặc áp dụng không đúng khung thuế, gây thất thu cho Nhà nước
- Đối với dự toán chi:
Trang 26+ Đối với chi thường xuyên: là chấp hành dự toán chi NSNN là đảm bảo, phân phối, cấp phát và sử dụng kinh phí được phân bổ đúng mục đích, nhiệm vụ được giao trên cơ sở chấp hành đúng các quy trình, định mức, đã được các cơ quan quản lý quy định một cách hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả
Quá trình chấp hành dự toán NSNN cấp huyện sẽ phải có sự phối hợp của các cơ quan như: Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện, Kho bạc Nhà nước huyện, Chi Cục thuế huyện, Quá trình này phải duy trì theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các nội dung dự toán đã được duyệt Tuy nhiên trường hợp cần thiết, xuất phát từ thực tế, có thể điều chỉnh (được cấp có thẩm quyền phê duyệt);
c, Thực hiện chính sách quyết toán NSNN cấp huyện
- Thực hiện quyết toán thu, là việc ghi chép, phản ánh số phải thu, số đã thu,
số hoàn trả (nếu có), số còn phải thu, số phải truy thu; đồng thời lập báo cáo quyết toán thu NSNN gửi về cơ quan cấp trên và cơ quan tài chính cấp huyện để tổng hợp vào báo cáo quyết toán thu ngân sách huyện Quyết toán thu được thực hiện cùng với quyết toán NSNN
- Thực hiện quyết toán chi:
+ Đối với chi đầu tư phát triển: Gồm quyết toán niên độ NSNN và quyết toán vốn đầu tư hoàn thành
Quyết toán niên độ NSNN vốn đầu tư phát triển, được thực hiện hàng năm, theo quy trình khóa sổ kế toán và lập báo cáo quyết toán theo quy định Thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách nhà nước kết thúc vào ngày 31 tháng 01 năm sau Các khoản tạm ứng đã đủ điều kiện chi, khối lượng, công việc đã thực hiện từ ngày 31
Trang 2722
tháng 12 trở về trước được giao trong dự toán ngân sách, thì thời hạn chi, thanh toán ngân sách được thực hiện đến hết ngày 31 tháng 01 năm sau và được hạch toán, quyết toán vào ngân sách năm trước
Quyết toán dự án công trình hoàn thành, là toàn bộ chi phí thực hiện theo đúng thiết kế, dự toán được phê duyệt, đảm bảo đúng định mức, đơn giá, chế độ tài chính kế toán, hợp đồng kinh tế kỹ thuật được ký kết và các quy định của nhà nước
có liên quan, đã được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng Phòng Tài chính – Kế hoạch tổ chức thẩm định đối với các dự án do huyện quản lý Công tác này được thực hiện khi dự án đã kết thúc đưa vào sử dụng
+ Đối với chi thường xuyên
Quyết toán chi thường xuyên, được lập từ cơ sở và tổng hợp từ dưới lên theo
hệ thống các cấp dự toán và các cấp ngân sách; đây là khâu kết thúc của chu trình thực hiện chính sách về chi thường xuyên của ngân sách Quyết toán chi thường xuyên phải chú ý đến các nội dung: phải lập đầy đủ các loại báo cáo quyết toán và thực hiện đúng chế độ báo cáo cho các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, xét duyệt hoặc phê chuẩn theo Luật NSNN; số liệu báo cáo quyết toán phải chính xác, trung thực, đúng mục lục NSNN quy định; báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán
và các cấp ngân sách phải được KBNN đồng cấp xác nhận về tổng số và chi tiết trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét phê duyệt
Thực hiện chính sách quyết toán chi còn phải đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm để làm cơ sở cho tổ chức thực hiện chính sách quản lý NSNN ở năm sau
d, Kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách quản lý NSNN cấp huyện
Sở Tài chính ngoài chức năng theo dõi, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ trong việc thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước còn có chức năng thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước theo ngành trên địa bàn huyện;
- Ở địa phương cấp huyện và cấp xã thì HĐND huyện, HĐND xã có chức năng giám sát UBND cùng cấp và các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước trong việc thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước
Trang 2823
Trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, UBND huyện đề ra những biện pháp cần thiết để đảm bảo thực hiện hoàn thành tốt việc thực hiện các chính sách thu, chi NSNN Người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện pháp chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm chống lãng phí Ngoài cơ quan có thẩm quyền giao dự toán, không có tổ chức, cá nhân nào được quyền thay đổi nhiệm vụ ngân sách đã được giao
Các tổ chức, cá nhân trong bộ máy thực hiện chính sách quản lý tài chính ngân sách tại huyện phải bảm bảo đúng các quy trình, quy định về thu, chi NSNN chặt chẽ, hiệu quả và tiết kiệm Giao, nộp đầy đủ đúng hạn các khoản thu về thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác vào NSNN theo quy định của pháp luật; tổ chức quản lý, sử dụng các nguồn vốn, nguồn kinh phí do nhà nước cấp theo đúng mục đích, chế độ, tiết kiệm và hiệu quả
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
1.3.1 Vị trí địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội
Vị trí địa lý thuận tiện có nhiều đường giao thông cũng như hạ tầng tốt sẽ là địa điểm tốt để thu hút các nhà đầu tư
Kinh tế ổn định, tăng trưởng và phát triển bền vững là cơ sở đảm bảo vững chắc của nền tài chính, mà trong đó NSNN là khâu trung tâm, giữ vai trò trọng yếu trong phân phối các nguồn lực tài chính quốc gia Kinh tế càng phát triển nền tài chính càng ổn định và phát triển, thì vai trò của NSNN càng ngày càng được nâng cao, thông qua các chính sách tài khóa, thực hiện việc phân bổ các nguồn lực cho phát triển kinh tế và ổn định xã hội
Sự ổn định về chính trị - xã hội tại địa bàn huyện là cơ sở để động viên mọi nguồn lực và nguồn tài nguyên quốc gia cho sự phát triển, đồng thời cũng hình thành môi trường và điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế; thúc
đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như tăng cường các nguồn lực tài chính
1.3.2 Chính sách và thể chế kinh tế
Chính sách KT-XH và thể chế kinh tế phù hợp của địa phương với xu thế
Trang 2924
phát triển, có ý nghĩa quyết định đến việc khai thông các nguồn lực và tiềm năng tại địa phương đó cũng như thu hút nhiều nguồn lực từ bên ngoài vào Thời gian qua, tiếp theo sau chính sách đổi mới kinh tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần, đã thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế phát triển Theo đó nguồn lực gia tăng, chính sách tài khóa phát huy được hiệu lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững
1.3.3 Cơ chế quản lý tài chính
Đổi mới cơ chế quản lý hệ thống NSNN, mà trọng tâm là hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách, phân định nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách, nâng cao quyền tự quyết của ngân sách cấp dưới trong hệ thống NSNN đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong quản lý ngân sách nhà nước Cơ chế quản lý tài chính tạo hành lang pháp lý, giúp cho quá trình hình thành, tạo lập, sử dụng các nguồn lực tài chính phục vụ tất cả các lĩnh vực ngân sách phải đảm bảo, là công cụ điều phối các nguồn lực, đảm bảo hài hòa, cân đối và công bằng hợp lý trong công tác quản lý tài chính nói chung và quản lý ngân sách nói riêng, giúp thực hiện nguyên tắc thu đúng và đầy đủ, chi tiêu tiết kiệm, hạn chế tình trạng sử dụng ngân sách lãng phí, thất thoát, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách
Ngoài ra, chính sách khuyến khích khai thác các nguồn lực tài chính như
trích thưởng thu vượt kế hoạch vào ngân sách các cấp ngân sách địa phương; quyền sử dụng nguồn kết dư ngân sách cuối năm và dự phòng ngân sách đã tạo ra
động lực mạnh mẽ cho các cấp chính quyền địa phương, phát huy tính năng động sáng tạo trong khai thác các nguồn thu hiện hữu
1.3.4 Phân cấp quản lý ngân sách trong hệ thống NSNN
Phân cấp quản lý NSNN là xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền nhà nước các cấp trong việc quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ thu, chi của ngân sách Phân cấp quản lý NSNN là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của NSNN với các hoạt động KT-XH ở từng địa phương một cách cụ thể nhằm tạo
và nâng cao tính tự chủ của từng địa phương với mục tiêu tập trung đầy đủ, kịp thời, đúng chính sách, đúng chế độ các nguồn tài chính quốc gia và phân phối Phân cấp quản lý ngân sách đúng đắn và hợp lý không chỉ tăng được tính chủ động, tự chủ
Trang 3025
của địa phương, đảm bảo tài chính cho việc duy trì, phát triển hoạt động của các cấp chính quyền địa phương mà còn tạo điều kiện phát huy được các lợi thế nhiều mặt của từng vùng, từng địa phương
1.3.5 Nhận thức của lãnh đạo địa phương về thực hiện chính sách quản
lý ngân sách nhà nước huyện
Để tham gia chỉ đạo, điều hành và quản lý ngân sách có hiệu quả, lãnh đạo địa phương phải nắm vững các yêu cầu và nguyên tắc trong quản lý NSNN Lãnh đạo địa phương phải nắm vững vai trò, đặc điểm của ngân sách địa phương mình,
sự tác động từ các chính sách vĩ mô về tài chính tiền tệ, ảnh hưởng của kinh tế thị trường, và ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách, đối tượng thu ngân sách nhà nước, yêu cầu của nhà nước về đảm bảo chi ngân sách, các đối tượng được thụ hưởng từ ngân sách
1.3.6 Tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ thực hiện chính sách quản lý ngân sách cấp huyện
Tổ chức bộ máy có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện chính sách quản lý NSNN, tổ chức bộ máy cồng kềnh, chồng chéo, không khoa học sẽ gây tác động tiêu cực trong thực hiện chính sách quản lý NSNN Nếu bộ máy được tổ chức tinh gọn sẽ giúp cho việc thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước tốt hơn và hiệu quả hơn Trình độ của đội ngủ cán bộ trực tiếp thực hiện chính sách quản lý ngân sách ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động ngân sách
1.3.7 Hệ thống thông tin, phương tiện quản lý NSNN cấp huyện
Trong xu thế phát triển khoa học công nghệ nói chung và công nghệ thông tin nói riêng, việc ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin đã tạo sự kết nối tích hợp các thông tin theo yêu cầu quản lý, qua đó đem lại nhiều lợi ích thiết thực trong việc thực hiện chính sách quản lý NSNN Vì vậy, để thực hiện tốt chính sách quản lý NSNN cần phải xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ trong quản lý ngân sách
Trang 3126
1.4 Kinh nghiệm về thực hiện chính sách quản lý NSNN huyện
1.4.1 Kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách quản lý NSNN ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định
Huyện Phù Cát – tỉnh Bình Định, cũng là một trong số những địa phương thực hiện chính sách quản lý thu thuế tốt của tỉnh, nhờ áp dụng các biện pháp thu thuế linh hoạt và kiểm soát chi một cách chặt chẽ
Trong quá trình lập dự toán ngân sách, huyện luôn căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương trong năm kế hoạch và những năm tiếp theo, tình hình thực hiện ngân sách của các năm trước, đặc biệt là trong năm báo cáo, và các chính sách chế độ, tiêu chuẩn, định mức cụ thể về thu, chi do Chính phủ, các bộ và tỉnh ban hành
Hoạt động thực hiện chính sách quản lý thu NSNN của huyện luôn sử dụng các biện pháp thích hợp để đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời, luôn đạt kế hoạch giao hằng năm, đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên Các biện pháp thu được áp dụng một cách mền dẻo, linh hoạt phù hợp với diễn biến khách quan của từng cơ sở sản xuất kinh doanh, hạn chế tối đa các thủ tục hành chính rườm rà gây cản trở quá trình sản xuất kinh doanh Quy trình thu thuế được xây dựng đơn giản làm tối thiểu hóa các chi phí phát sinh do quá trình thực hiện các biện pháp thực hiện chính sách quản
lý thu thuế từ phía người nộp thuế cũng như cơ quan thu thuế
Bênh cạnh đó, hoạt động thực hiện chính sách quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện Phù Cát có nhiều điểm tích cực mà địa phương cần học tập kinh nghiệm, đó là:
Đối với chi đầu tư xây dựng cơ bản: Các công trình xây dựng cơ bản trình tự thủ tục được thực hiện chặt chẽ, đúng theo Luật Đầu tư công, Luật xây dựng Các khâu lập dự án đầu tư xây dựng, thẩm định dự án đầu tư, tổ chức lựa chọn nhà thầu, tổ chức nghiệm thu và thanh quyết toán công trình được thực hiện đúng theo quy định
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được cấp trực tiếp cho mỗi chủ đầu tư theo từng công trình với mã số dự án và nguồn vốn cụ thể để thanh quyết toán
Toàn bộ quá trình cấp phát vốn được thực hiện dưới sự kiểm soát dự toán của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện và qua kiểm soát chi của Kho bạc nhà nước
Trang 3227
nhằm đảm bảo sử dụng đúng mục đích và đúng nguồn vốn đầu tư; việc cấp phát vốn đầu tư thực hiện đúng theo mức độ thực tế hoàn thành kế hoạch trong phạm vi dự toán được duyệt
Đối với chi thường xuyên: Chi Cục thuế, Phòng Tài chính - kế hoạch huyện thường xuyên phối hợp thanh tra, kiểm tra, thẩm tra quyết toán tài chính của các đơn vị xã, thị trấn để kiểm tra tình hình quản lý thu - chi; công tác lập, thẩm định, xét duyệt báo cáo quyết toán được thực hiện chặt chẽ
1.4.2 Bài học đối với huyện Thăng Bình
Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan những nội dung về NSNN và những vấn đề
cơ bản về thực hiện chính sách quản lý NSNN huyện (quận); kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách quản lý NSNN của huyện Phù Cát tỉnh Bình Định Từ đó
có thể rút ra một số kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn để tham khảo, vận dụng vào trong việc thực hiện chính sách quản lý NSNN của huyện như sau:
Một là, Trong quá trình thực hiện chính sách quản lý NSNN phải thực hiện
đúng theo Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn của các bộ ngành cấp trên về thi hành Luật NSNN
Hai là, Trong quá trình chỉ đạo, điều hành và thực hiện các nhiệm vụ về ngân
sách phải thực hiện một cách chặt chẽ, công khai minh bạch theo Luật Ngân sách; chỉ đạo các đơn vị dự toán, các xã, thị trấn trên cơ sở dự toán được giao chủ động thực hiện và quản lý theo hướng tiết kiệm hiệu quả
Ba là, Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành nộp thuế đối
với các tổ chức, cá nhân; hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ kế toán ngân sách các cấp
Bốn là, Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữ Phòng tài chính - Kế hoạch với
cơ quan Thuế, Kho bạc nhà nước huyện trong việc khai thác tốt các khoản thu trên địa bàn, đặc biệt là các khoản thu ngân sách để phục vụ chi đầu tư phát triển, chi xây dựng cơ bản
Năm là, Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với các cơ quan chức
năng, thực hiện thu đúng, thu đủ, kịp thời, đúng đối tượng, quản lý tốt nguồn thu,
Trang 3328
bao quát hết nguồn thu, chống thất thu phát sinh trên địa bàn
Sáu là, Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực quản lý của bộ máy
thu thuế bao gồm cả nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức của cán bộ thuế và việc đầu tư trang thiết bị cho công tác thu Kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật Quản lý thuế
Bảy là, Huyện cần coi trọng vai trò và quan tâm đến việc quản lý phân tích,
dự báo tình hình sản xuất kinh doanh phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch tài chính và phục vụ cho việc xây dựng dự toán NSNN; thực hiện tốt các chính sách liên quan đến thu, chi ngân sách nhằm phát triển KT-
XH một cách toàn diện và vững chắc, vì NSNN liên quan đến nhiều tổ chức, đối tượng, chịu tác động của nhiều nhân tố ảnh hưởng
Từ kinh nghiệm về thực hiện chính sách quản lý NSNN của huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, huyện Thăng Bình cần xem xét rút kinh nghiệm xem quá trình thực hiện chính sách quản lý ngân sách nhà nước của địa phương mình có hiệu quả đúng mức chưa và có giải pháp phù hợp nhằm tăng cường thực chính sách quản lý NSNN huyện Thăng Bình trong thời gian tới
Tiểu kết chương 1
NSNN huyện là một khâu trong hệ thống NSNN ở nước ta, việc thực hiện chính sách quản lý NSNN nói chung và NSNN cấp huyện nói riêng là nhiệm vụ của các cấp nhằm huy động được mọi nguồn lực vào NSNN được đầy đủ, tập trung, đồng thời phối hợp và sử dụng NSNN có hiệu quả, hợp lý, đảm bảo thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của bộ máy chính quyền của huyện
Trên cơ sở khái quát hóa các lý luận chung về NSNN, tác giả đã đi sâu phân tích nội dung và quy trình thực hiện chính sách quản lý NSNN cấp huyện
Để phát huy chính sách quản lý NSNN cấp huyện một cách hiệu quả, Luận văn đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình thực hiện chính sách quản lý NSNN cấp huyện và kinh nghiệm của một số địa phương khác về vấn đề này
Đây là cơ sở khoa học để tác giả đi sâu vào phân tích thực trạng chính sách quản lý NSNN tại huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam
Trang 3429
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở HUYỆN THĂNG BÌNH
2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của huyện Thăng Bình
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Thăng Bình là huyện nằm giữa tỉnh Quảng Nam, có thị trấn Hà Lam làm huyện lỵ; ở toạ độ 15030’ đến 15059’ vĩ độ Bắc và từ 10807’ đến 108030’ kinh độ Đông; phía Bắc giáp huyện Quế Sơn và Duy Xuyên, phía Nam giáp thành phố Tam
Kỳ và huyện Phú Ninh, phía Đông giáp biển Đông (có chiều dài 25km), phía Tây
giáp huyện Tiên Phước và Hiệp Đức; huyện Thăng Bình có 21 xã và 01 thị trấn; có tổng diện tích đất đai là 412,25km2; Dân số trung bình 182,30 nghìn người, với 49.872 hộ, mật độ dân số 442 người/ km2 [7]
Về giao thông, huyện Thăng Bình có tuyến Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam, Quốc lộ 14E và tuyến đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi; tuyến đường Thanh Niên ven biển đi qua Riêng tuyến đường Quốc lộ 14E kết nối từ các xã vùng Đông của huyện lên đến giáp với đường Hồ Chí Minh, tạo sự kết nối giữa các vùng, địa phương trong và ngoài huyện, tạo điều kiện thuận thời cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Thăng Bình, là huyện nằm gần thành phố Tam Kỳ, đồng thời có tuyến đường thanh niên ven biển từ cầu Cửa Đại Hội An - Tam Thanh, tạo cho Thăng Bình có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, trong những năm qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, của tỉnh, nền kinh tế của huyện đã phát triển nhanh chóng Từ một huyện nông nghiệp, đến nay Thăng Bình đã có cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, năm 2018 chiếm 36,78% tỷ
trọng của nền kinh tế [35]
Kinh tế trên địa bàn huyện Thăng Bình trong 05 năm (giai đoạn 2010-2015) tốc độ tăng trưởng cao, bình quân giai đoạn (2010-2015) đạt 15 %/năm và tốc độ
Trang 3530
tăng trưởng năm 2018 đạt 12,99% [35] Hiện nay trên địa bàn huyện đã hình thành
được 04 cụm công nghiệp và đã hoạt động tương đối hiệu quả, đã thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho lao động địa phương, góp phần trong việc tăng thu ngân sách tại địa phương, phát triển kinh tế xã hội của huyện
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, Thăng Bình còn những khó khăn nhất
định, đó là: Dân số đông (182,30 nghìn người), dân số ở khu vực nông thôn chiếm
tỷ lệ cao 90,73% [7]; kết cấu hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ; tiềm năng du lịch chưa
được khai thác; chất lượng nguồn lao động còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển; công tác đền bù, bồi thường, giải phóng mặt bằng còn nhiều khó khăn do vướng nhiều chính sách khác nhau; việc tái định cư và giải quyết việc làm cho người lao động tại vùng có dự án thu hồi đất để làm công nghiệp - dịch vụ đang là một vấn đề khó khăn, bức xúc
2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách nhà nước huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam
Theo quy định của Luật NSNN, bộ máy quản lý NSNN cấp huyện bao gồm: Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, Chi Cục thuế huyện, Kho bạc nhà nước huyện
Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện với chức năng là cơ quan tham mưu, giúp việc trực tiếp cho UBND huyện trong việc thực hiện chính sách về quản lý và điều hành ngân sách, có trách nhiệm tập hợp, thẩm định dự toán của các đơn vị, điều hành thu chi ngân sách đồng thời kiểm soát quá trình chi tiêu theo đúng quy định, phối hợp chặt chẽ với Chi Cục thuế huyện, Kho bạc nhà nước huyện trong quản lý
và điều hành ngân sách
Chi Cục thuế huyện với chức năng là cơ quan thực hiện công tác thu NSNN trên địa bàn, thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng làm tốt công tác thu trên địa bàn, tham mưu tích cực cho UBND huyện trong việc xây dựng và giao kế hoạch thu cho các đơn vị
Kho bạc nhà nước huyện với chức năng là cơ quan quản lý quỹ NSNN, kế toán ngân sách, kiểm soát quá trình thu chi ngân sách, thường xuyên báo cáo kết
Trang 36Theo nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Thăng Bình lần thứ XX đã xác định
mục tiêu: " Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; xây
dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân; huy động mọi nguồn lực để tập trung phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng Thăng Bình phát triển bềnh vững" [11]
Triển khai Nghị quyết của Đảng bộ huyện, UBND huyện chỉ đạo Phòng Tài chính – Kế hoạch phối hợp với Chi Cục thuế tổ chức làm việc với UBND các xã, thị trấn, các cơ quan thuộc huyện về dự toán ngân sách, để xác định rõ khả năng thu ngân sách trên từng lĩnh vực thu và bố trí nhiệm vụ chi theo chế độ, phù hợp với nhiệm vụ và khả năng của từng địa phương theo định hướng phát triển KT-XH Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của tỉnh, của huyện, Phòng Tài chính – Kế hoạch phối hợp với Chi Cục thuế, để xây dựng dự toán thu chi ngân sách phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội các địa phương và của huyện Việc phân cấp nguồn thu của tỉnh cho ngân sách cấp huyện, cấp xã cũng được xác định rõ, ổn định theo từng thời kỳ ngân sách trên cơ sở đó các cấp ngân sách địa phương cũng chủ động, bám vào khả năng thu để bố trí các nhiệm vụ chi
Trong những năm qua cùng với việc phát triển mạnh mẽ các ngành thương mại - dịch vụ, kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Thăng Bình không ngừng tăng trưởng và phát triển, đã góp phần thúc đẩy việc thực hiện chính sách quản lý NSNN trên địa bàn huyện ngày càng nâng lên Công tác thu ngân sách đã được đổi mới theo cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa huyện và các xã, thị trấn
Trang 3732
Thu NSNN chủ yếu phụ thuộc các yếu tố: tốc độ tăng trưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh, chính sách thu và hiệu quả hoạt động quản lý thu Trong những năm qua, cùng với sự phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự phát của các doanh nghiệp, đời sống kinh tế dân cư, đã mở rộng cơ sở thu và tăng nguồn thu cho ngân sách Chính sách thu là một công cụ quan trọng của nhà nước nhằm duy trì ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế Vì vậy, thời gian qua, nhà nước đã điều chỉnh chính sách thu theo hướng giảm dần thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, mục đích để khuyến khích đầu tư, khuyến khích sản xuất kinh doanh và hội nhập quốc tế Tại huyện Thăng Bình các khoảng thu chính là:
- Thuế từ kinh tế quốc doanh, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Khu vực công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh
- Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản
- Thu từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản
Tại huyện Thăng Bình cơ quan chịu trách nhiệm tham mưu cho UBND huyện trong việc lập dự toán thu là Chi Cục thuế huyện
- Dự toán thu đã đảm bảo được đúng với thời gian quy định trong bản kế hoạch dự toán NSNN Tuy nhiên, thời gian qua dự toán thu NSNN tại huyện Thăng Bình còn chưa sát với thực tế, Ví dụ: Thuế từ kinh tế quốc doanh, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Khu vực công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đều lập chưa sát, năm nào cũng đều thu vượt so với dự toán từ 120% (năm 2014) và cao nhất là 183% (năm 2016)
Trang 3833
Sở dĩ có việc lập dự toán chưa sát với thực tế là vì thiếu thông tin hoạt động sản xuất kinh doanh từ các khu vực này, một số doanh nghiệp thuộc tỉnh quản lý thu nên rất khó nắm thông tin,
(Dự toán thu của huyện Thăng Bình được trình bày tại phụ lục 1)
- Thực hiện dự toán thu:
Có thể nói thực hiện chính sách trong quản lý, điều hành thu ngân sách đạt được những kết quả tích cực, tăng tổng thu trong cân đối ngân sách bình quân hằng năm của giai đoạn 2014 – 2018 đạt 35%, nếu loại trừ đi thu chuyển nguồn và thu kết dư ngân sách năm trước thì thu trong cân đối ngân sách giai đoạn này đạt 25,6% (theo nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX đề ra cần tăng thu trên 17%/năm so với dự toán tỉnh giao); có được kết quả như trên là nhờ thực hiện đồng
bộ các biện pháp trong thực hiện chính sách về quản lý thu NSNN phù hợp, đúng
quy định [32]
Xuất phát từ vai trò quan trọng của nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn huyện, để cân đối nguồn thu thực hiện nhiệm vụ chi đảm bảo phục vụ nhiệm vụ phát triển KT-XH, thu ngân sách của huyện luôn được coi trọng; đây là một trong các chỉ tiêu để xem xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các ngành và các xã, thị trấn trong năm; thu ngân sách là chỉ tiêu pháp lệnh mà hằng năm huyện phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện quyết liệt Thu ngân sách trên địa bàn không những đáp ứng cơ bản các nhiệm vụ chi thiết yếu cho bộ máy quản lý nhà nước cấp huyện, bổ sung cân đối ngân sách xã, thị trấn mà còn dành một phần cho nhu cầu chi đầu tư XDCB, phục vụ tốt cho thực hiện các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện; trong đó thuế là nguồn thu chính của ngân sách nên Huyện ủy, UBND huyện đã tập trung chỉ đạo quyết liệt đối với công tác thu ngân sách nói chung mà nhất là công tác thu thuế; hằng năm, UBND huyện đều ban hành Chỉ thị
về công tác thu ngân sách ngay từ đầu năm, do vậy công tác thu thuế luôn được ngành thuế quan tâm chú trọng triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành mình Chi Cục thuế huyện thường xuyên, kịp thời tham mưu cho UBND huyện ban hành các văn bản chỉ đạo công tác thu, tập trung vào các giải pháp cụ thể để đảm
Trang 3934
bảo hoàn thành dự toán thu được giao; tăng cường các biện pháp nghiệp vụ trong công tác thu, trong đó tập trung vào việc chống thất thu, gian lận thương mại, không chấp hành các quy định của pháp luật về thu ngân sách, nợ đọng dây dưa về thuế
Thực hiện chính sách quản lý thuế đối với hộ cá thể cũng được tăng cường thường xuyên nhằm quản lý và nắm nguồn thu mới phát sinh, tập trung đôn đốc thu thuế đối với những hộ phát sinh mới Công tác cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các hộ kinh doanh cá thể được thực hiện nhanh chóng, thuận lợi cũng đã tạo điều kiện cho các hộ cá thể trong hoạt động kinh doanh; đồng thời thông qua việc cấp giấy đăng ký kinh doanh cho các hộ cá thể, các thông tin việc cấp giấy đăng ký kinh doanh được Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện thường xuyên trao đổi với Chi Cục thuế huyện đã góp phần quản lý thu NSNN đối với các hộ kinh doanh trên địa bàn được chặt chẽ hơn
Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các cơ sở nộp thuế theo phương pháp kê khai chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thuế thu được, qua đó cho thấy, việc thực hiện chính sách quản lý thu thuế tốt đối với các đối tượng này là vấn đề quyết định cho việc hoàn thành kế hoạch thu NSNN hàng năm của huyện Để thực hiện tốt chính sách thu thuế, Chi Cục thuế cũng thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra việc chấp hành chính sách thuế đối với người nộp thuế nhất là các doanh nghiệp và hộ kinh doanh có biểu hiện về việc kê khai không chính xác, để đề ra các biện pháp phù hợp với các loại hình, tính chất của doanh nghiệp, đảm bảo công bằng, khuyến khích các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp mở rộng kinh doanh, nâng cao hiệu quả, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện
Hiện nay, Chi Cục thuế ủy nhiệm thu cho các xã, thị trấn thu thuế phi nông nghiệp; ngoài ra, các khoản thu thuộc nhiệm vụ thu ngân sách xã như phí, lệ phí, khu khác ngân sách xã, được các địa phương tổ chức thu theo quy định của pháp luật hiện hành, đã tạo điều kiện cho các địa phương tăng cường khai thác nguồn thu, bao quát nguồn thu, chống thất thu ngân sách có hiệu quả hơn Công tác thanh tra, kiểm tra luôn được chú trọng, chấn chỉnh uốn nắn kịp thời cho các doanh nghiệp trong công tác ghi chép sổ sách kế toán, sử dụng hóa đơn, chứng từ theo đúng quy
Trang 4035
định, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện theo hình thức tự khai, tự nộp theo đúng quy định, đây là biện pháp quan trọng để chống thất thu, vi phạm Luật thuế
Quy trình quản lý thu ngày càng được công khai, dân chủ, minh bạch; thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế được thuận lợi, đã giúp cho các đối tượng nộp thuế hiểu và nâng cao hơn nữa ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế của mình; đội ngũ cán bộ thuế từng bước được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn đã thay đổi rõ nét về trình
độ, năng lực, phẩm chất đạo đức; tổ chức bộ máy thu thuế không ngừng được củng
cố và tăng cường, góp phần quan trọng đến việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán ngân sách hằng năm được HĐND huyện và UBND tỉnh giao
Cả hệ thống chính trị của huyện xác định việc thực hiện thu NSNN trên địa bàn là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cơ bản để đảm bảo cho nhiệm vụ chi, trên cơ
sở đó quyết định dự toán thu chi ngân sách nhà nước và kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội mà UBND tỉnh giao UBND huyện đã chỉ đạo Phòng Tài chính – Kế hoạch phối hợp với Chi Cục thuế, cùng với quá trình làm việc với các xã, thị trấn đã tham mưu cho UBND huyện có quyết định giao dự toán thu chi ngân sách hằng năm, theo đó các địa phương tổ chức thực hiện với định hướng phấn đấu tăng thu và tiết kiệm chi ngân sách, có tích lũy kết dư ngân sách để giải quyết nợ XDCB, nhất là nợ trong quá trình xây dựng xã nông thôn mới Riêng các khoản thu về thuế môn bài, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, UBND huyện có ban hành văn bản chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện thu đạt và vượt dự toán ngay từ đầu năm để đảm bảo nhu cầu chi tiêu đối với ngân sách huyện trong thời gian này
Huyện ủy, UBND huyện cũng đã tập trung chỉ đạo các cơ quan tham mưu,
cơ quan quản lý thu, các xã, thị trấn cần quan tâm tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt công tác này; việc ban hành Chỉ thị về thu ngân sách và phát động thi đua thu thuế môn bài đầu năm cũng được tổ chức thực hiện nghiêm túc Hằng năm, UBND huyện thường xuyên theo dõi và kịp thời có các văn bản chỉ đạo đối với công tác thu ngân sách, thu nợ đọng, thu thuế xây dựng tư nhân và thu từ các khoản thuế, phí đạt thấp so với dự toán Lãnh đạo UBND huyện cũng trực tiếp đối thoại