Nghiên cứu Nhà nước pháp quyền và thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khái niệm Nhà nước pháp quyền được biết đến từ rất lâu; những tư tưởng họcthuyết về Nhà nước pháp quyền đã ra đời ở các nước Châu Âu và trở thành vấn đềđược quan tâm hàng đầu của tất cả mọi quốc gia, mọi dân tộc Việc nhận thức đúngđắn, bảo vệ và vận dụng sáng tạo Nhà nước pháp quyền đã và đang trở thành mộtnhiệm vụ chính trị cấp bách Việc vận dụng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩanhằm xác định con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới ở nước
ta đã phát sinh nhiều vấn đề mới buộc chúng ta phải hiểu biết vận dụng và sáng tạoChủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa nhằm tiếp tục làm sáng tỏ con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội và thực hiện nhiệm
vụ cách mạng ở Việt Nam Nó gắn liền với tính chất của thời đại hiện nay là quá độ lênChủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn Tư bản chủ nghĩa mà Đảng ta đã lựa chọn Ngay từbuổi đầu được thành lập và trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của mình, Nhànước ta đã mang những yếu tố của một Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhândân và vì nhân dân, gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc.Trong nhiều văn kiện Đảng, đặc biệt là Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳngđịnh nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của của nhân dân, donhân dân vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Vì vậy, nghiên cứu một cách cẩnthận để đi đến những thống nhất về cơ bản là công việc lâu dài Đó là một quá trìnhvừa làm, vừa nghiên cứu, tìm tòi, thử nghiệm trong thực tiễn Thực tiễn đổi mới trongnhững năm qua đã khẳng định yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnhđạo của Đảng như một xu thế tất yếu, mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa
xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Có thể nói, Nhà nước là yếu tố quan trọng nhất của kiến trúc thượng tầng Nhànước là trung tâm, là trụ cột của hệ thống chính trị; nó có tác động sâu sắc và mạnh mẽtới tất cảc các lĩnh vực của đời sống xã hội Nhà nước pháp quyền, xây dựng Nhà nướcpháp quyền đã có tiền lệ gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của chủ nghĩa tưbản Nhà nước pháp quyền với tư cách là một kiểu nhà nước đã thể hiện được tính tiến
Trang 2bộ của mình so với các kiểu nhà nước độc tài, chuyên chế… Ở nước ta, từ sau Cáchmạng Tháng Tám (năm 1945), trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dântộc cũng như cách mạng Xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn quan tâm, lãnh đạo việc củng
cố từng bước hoàn thiện bộ máy nhà nước và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.Đặc biệt, từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, trong các văn kiện của Đảng cộng sản ViệtNam và Hiến pháp càng khẳng định rõ nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đã hơn bảy mươi năm trôi qua, 4 bản Hiến pháp đã lần lượt thông qua tương ứngvới các giai đoạn phát triển của cách mạng nước ta Hiến pháp 1946 ngắn gọn, súc tích,tập trung quy định những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hiến pháp, mà cụthể là các quyền tự do, dân chủ; các nguyên tắc và cách thức tổ chức các cơ quan quyềnlực nhà nước Trên cơ sở quan điểm quyền lực nhân dân và quyền lực nhà nước đãđược thiết lập ở Hiến pháp 1946, sau đó Hiến pháp 1959 tiếp tục khẳng định và đã làm
rõ quan điểm nguồn gốc quyền lực nhà nước bắt nguồn từ quyền lực nhân dân Vớinhững nhận định logic mang tính nhận thức luận rằng: quyền lực thuộc về nhân dân,thì nhân dân là người tổ chức nên nhà nước của mình, do đó những thể chế do nhândân trực tiếp thiết lập nên là thể chế thực hiện quyền lực nhà nước Quan điểm vềquyền lực nhân dân và quyền lực nhà nước được kế tục ở Hiến pháp 1980 Vẫn đi theolập trường logic của Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 Trong Điều 6 Hiến pháp 1980quy định "Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc vềnhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồngnhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân"[6, tr 3].Nhưng khác với Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 bổ sung thêm quy định "Quốc hội vàHội đồng nhân dân các cấp là cơ sở chính trị của hệ thống cơ quan Nhà nước"[6, tr 3].Mỗi bản Hiến pháp đều ghi nhận những thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân ViệtNam đã đạt được, tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển đất nước Tiếpnối sau đó là bản Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2001, 2010 vàtiếp tục sửa đổi năm 2013), riêng Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
Trang 3nghĩa của dân, do dân, vì dân; tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân mà nềntảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhànước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”[6, Điều 2, tr133] Việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiệnnay đang là vấn đề có tính tất yếu, khách quan Nó đã trở thành đối tượng nghiên cứucủa nhiều lĩnh vực ( kinh tế, chính trị, pháp lý…) Tuy nhiên, dưới góc độ Triết học,việc lý giải tính tất yếu và những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam cần phải được tiếp tục nghiên cứu nhằm bổ sung những luận cứ khoa họccho công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Chính yêu cầu này đã
thôi thúc tôi “Nghiên cứu Nhà nước pháp quyền và thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta” làm đề tài luận văn tốt nghiệp để hoàn thành chương trình học
của bản thân
2 Mục đích và nhiệm vụ đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu thực trạng vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ của đề tài
Thứ nhất, khái quát cơ sở lý luận chung về nhà nước pháp quyền.
Thứ hai, tìm hiểu thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta thời gian qua Thứ ba, nghiên cứu, đề xuất giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta
thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu Nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa và thực trạng xây dựngNhà nước pháp quyền ở nước ta
Trang 43.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ đổi mới đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
4.1 Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương của Đảng và nhà nước tacũng như các vấn đề lý luận chung về nhà nước pháp quyền trên thế giới
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng nhiều phương pháp như: phân tích, lịch
sử, phương pháp logic, phương pháp tổng hợp v.v
5 Kết cấu khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo khoá luận gồm
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về Nhà nước pháp quyền.
Chương 2: Thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta thời gian qua Chương 3: Những giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian tới
Trang 5CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 1.1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền và đặc trưng cơ bản Nhà nước pháp quyền, các quan điểm về nhà nước pháp quyền trong lịch sử.
1.1.1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền đã được nghiên cứu từ rất lâu nhưng cho đến nay, vẫnchưa có một khái niệm chung nhất về Nhà nước pháp quyền Các nhà nghiên cứu tùytheo góc độ nghiên cứu, nội dung, mục đích nghiên cứu khác nhau… mà đưa ra nhữngkhái niệm riêng Có người đưa ra khái niệm Nhà nước pháp quyền trên cơ sở lí luận,cũng có người nhìn nhận khái niệm Nhà nước pháp quyền từ thực tiễn, có người tiếpcận khái niệm Nhà nước pháp quyền ở góc độ cụ thể, có người lại đưa ra khái niệm nàytrên cơ sở liệt kê các dấu hiệu đặc trưng của nó, có những người lại tiếp cận khái niệmNhà nước pháp quyền bằng cách phân tích mối quan hệ giữa khái niệm Nhà nước phápquyền với những khái niệm khác gần gũi, như: quan hệ giữa pháp quyền với dân chủ,giữa pháp quyền với vấn đề phân lập ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, giữa phápquyền với cơ cấu kinh tế, giữa pháp quyền với đạo đức,v.v… Dưới đây là một số kháiniệm về Nhà nước pháp quyền:
Nhà nước pháp quyền là một khái niệm chỉ về nội dung dân chủ của Nhà nước
Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền đã xuất hiện từ thời kì cổ đại nhưng thuật ngữ Nhànước pháp quyền xuất hiện muộn hơn…Ngày nay, khi nói đến Nhà nước pháp quyềntrước hết là nói đến sự ngự trị của pháp luật trong đời sống xã hội và chính trị với tínhcách là ý chí của nhân dân và có giá trị phổ biến
Nhà nước pháp quyền là một hình thức chính trị - pháp lý hợp lý để quản lý, xâydựng một xã hội văn minh, công bằng và dân chủ
Nhà nước pháp quyền là Nhà nước tuân theo pháp luật, xem pháp luật có vị tríchi phối mọi hành vi của cơ quan công quyền và công dân
Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức Nhà nước đặc biệt mà ở đó có sựngự trị cao nhất của pháp luật, với nội dung thực hiện quyền lực của nhân dân
Trang 6Trong việc nghiên cứu về Nhà nước và pháp luật, vấn đề Nhà nước pháp quyềntrở thành mối quan tâm đặc biệt của nhiều tác giả là những người làm công tác thựctiễn cũng như nghiên cứu khoa học pháp lý hiện nay ở trong nước cũng như ở ngoàinước Do cách tiếp cận vấn đề hoặc nhận định đánh giá vấn đề ở góc độ khác nhau,một số vấn đề rất cơ bản liên quan đến Nhà nước pháp quyền vẫn chưa có nhận thứcthống nhất hoặc chưa được làm sáng tỏ Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều thống nhấtcho rằng: dưới góc độ chính trị - xã hội và phân tầng giai cấp xã hội, Nhà nước phápquyền không phải là một kiểu nhà nước mới, thoát ly các kiểu nhà nước mà lịch sửnhân loại đã chứng kiến là: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản
và Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Vậy Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị – pháp lý phức tạp đượchiểu và nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau, song chúng ta có thể hiểu nhà nước pháp
quyền theo cách đơn giản, đó là một nhà nước quản lý kinh tế – xã hội bằng pháp luật
và nhà nước hoạt động tuân theo pháp luật Trong đó, quyền công dân được pháp luật ghi nhận, đề cao và bảo vệ Nhà nước pháp quyền là nhà nước phục tùng pháp luật mà chủ thể phục tùng pháp luật trước hết là các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước.
1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền có những đặc trưng cơ bản như sau:
Một là, Nhà nước pháp quyền có sự ngự trị cao nhất của pháp luật Với hình
thức tổ chức Nhà nước pháp quyền, pháp luật không những được đề cao là công cụ chủyếu để quản lí mọi hoạt động của xã hội và công dân mà còn được xác định là ở địa vịcao nhất, tuyệt đối vượt qua mọi quyền lực của các tổ chức chính trị, xã hội và mỗicông dân trong xã hội đó Ngay cả bản thân hoạt động của các cơ quan thuộc hệ thống
tổ chức nhà nước cũng phải tuân theo pháp luật, mặc dù chính nó là những cơ quancông bố, ban hành, thực thi và kiểm tra việc thực hiện pháp luật Như vậy, với hìnhthức tổ chức xã hội theo mô hình Nhà nước pháp quyền thì pháp luật phải trở thànhtiêu chuẩn và căn cứ cơ bản nhất, cao nhất trong mọi hoạt động của bản thân Nhà nước,các tổ chức xã hội và mỗi công dân
Trang 7Đây là đặc điểm tiêu biểu nhất về phương diện pháp lý để xác định một Nhànước nào đó có phải là nhà nước pháp quyền hay không và là Nhà nước pháp quyền ởtrình độ nào.
Hai là, Nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức Nhà nước mà ở đó quyền lực
Nhà nước thể hiện được lợi ích và ý chí của đại đa số nhân dân Chính vì vậy mà ở cácnước theo hình thức tổ chức Nhà nước pháp quyền đều thực hiện chế độ dân chủ trongviệc thiết lập quyền lực Nhà nước, thực hiện chế độ trưng cầu dân ý Theo đặc điểmnày, mỗi cá nhân trong xã hội đều mang trong mình đồng thời hai tư cách đó là tư cáchcông dân và tư cách cá nhân tự do Với tư cách công nhân, buộc mọi cá nhân phải cónghĩa vụ và quyền lợi theo quy định của pháp luật, với tư cách cá nhân tự do, mỗi cánhân có quyền làm bất cứ điều gì mà pháp luật không cấm Pháp luật chỉ nghiêm cấmnhững hành vi cá nhân và tổ chức chính trị, xã hội nào xâm hại tới lợi ích của cá nhân
và các tổ chức khác cũng như lợi ích của xã hội Như vậy, nó mở rộng phạm vi hoạtđộng tự do sáng tạo của mỗi cá nhân và mỗi tổ chức trong xã hội
Ba là, Nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức Nhà nước mà ở đó có sự bảo
đảm thực tế mối quan hệ hữu cơ về quyền và trách nhiệm giữa Nhà nước với công dân
Ngoài ba đặc trưng chung của mọi Nhà nước pháp quyền đã nêu ở trên cũng cóquan niệm cho rằng nguyên tắc “Tam quyền phân lập” cũng là nguyên tắc đặc trưngcủa mọi Nhà nước pháp quyền Theo nguyên tắc này, quyền lực Nhà nước được phânthành ba nhánh quyền lực, đó là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp
1.1.3 Quan điểm về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử
Nhà nước pháp quyền là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời Nhànước ấy cũng phải tuân thủ theo pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật.Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa nhận thấy được tính chất dân chủ rộng rãi củaNhà nước pháp quyền Dân chủ và pháp luật là hai mặt thống nhất chặt chẽ, có mốiquan hệ hữu cơ với nhau và là hai tiền đề cơ bản để một Nhà nước pháp quyền ra đời
Để có thể hiểu rõ hơn quan điểm về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử, đầu tiên chúng
ta sẽ tìm hiểu tư tưởng của các pháp gia thời kì cổ đại về vấn đề đã nêu
Trang 8Có thể nói, từ thời cổ đại, mầm mống về tư tưởng Nhà nước pháp quyền đã xuấthiện cả ở phương Đông và ở phương Tây Ở phương Đông, đó được xem là tư tưởngpháp trị của các nhà pháp gia như: Quản Trọng, Thương Ưởng, Hàn Phi…Tư tưởng vềNhà nước pháp quyền của Quản Trọng được nêu cụ thể như sau: Ông chủ trương đềcao “Luật, lệnh, hình, chính”, vua phải giữ pháp, “không vì vua muốn mà thay đổilệnh, lệnh đáng tôn hơn vua” Còn riêng về tư tưởng của mình Hàn Phi lại cho rằngpháp là chuẩn mực cao nhất của việc cai trị đất nước, khi thi hành pháp luật thì không
kể đến tình cảm riêng, không câu nệ chuyện thân sơ, sang hèn, tất cả đều bình đẳngtrước pháp luật Theo ông, “pháp luật không hùa theo người sang Sợi dây dọi khônguốn mình theo cây gỗ cong Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ,
kẻ dũng cũng không dám tranh Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cáiđúng không bỏ sót kẻ thất phu”[3, tr 47,49,71,73]
Mặc khác, ở phương Tây, mầm mống tư tưởng pháp quyền lúc bấy giờ là chốnglại “thuyết đặc miễn trách nhiệm của nhà vua”, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền ra đờichống lại sự chuyên quyền, độc đoán, gắn liền với việc xác lập và phát triển nền dân chủ;bạo lực, lộng quyền và hỗn loạn là cái tương phản với công bằng, pháp luật, cần phảixóa bỏ
Các nhà tư tưởng pháp quyền thời kì này tiêu biểu là Solon (638-559TCN),Heraclite (530-470 TCN), Socrate (469-399TCN), Platon (427-347 TCN), Aristote(384-322 TCN), Ceceron (106-43 TCN),… Trong giai đoạn này về tư tưởng phápquyền của mình Solon chủ trương: “giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực củapháp luật, bằng sự kết hợp giữa sức mạnh và pháp luật”, bên cạnh đó thì Platon lại chorằng Nhà nước phải đặt mình dưới pháp luật là điều kiện tồn tại của pháp luật, đồngthời khi ấy Aristote cũng đã khẳng định pháp luật phải thống trị trên tất cả, ông đề ra
“thuyết ba chức năng”, phân biệt ba loại quyền lực Nhà nước: nghị viện, chấp hành vàxét xử…và cuối cùng là Ceceron ông thể hiện tư tưởng của pháp luật bằng cách đặt câuhỏi: “pháp luật là gì nếu không phải là trật tự chung?” Theo ông, pháp luật là cộinguồn tạo ra chế độ Nhà nước và cho rằng: “Nhà nước là Nhà nước pháp quyền không
Trang 9phải do Nhà nước tuân thủ pháp luật của mình mà là vì về cội nguồn, về bản chất, Nhànước chính là pháp luật, pháp luật tự nhiên của nhân dân”[25, tr 10,11]
Bên cạnh đó, thời trung cổ, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng thời kì này không
có mầm mống tư tưởng về Nhà nước pháp quyền vì sự ngự trị của bóng đêm thần học.Tuy nhiên, cũng có người cho rằng vẫn có những mầm mống về Nhà nước pháp quyềntrong chính các nhà tư tưởng thần học Tác giả công trình này đồng ý với quan điểm này
Vì tư tưởng về Nhà nước pháp quyền là tư tưởng tiến bộ hướng đến bình đẳng, côngbằng, dân chủ… Đó là nguyện vọng, khát khao của con người, dù trong hoàn cảnh nào,trong xã hội nào, các thế lực thống trị có làm gì đi chăng nữa thì những tư tưởng đóvẫn tồn tại dưới hình thức này, hình thức khác
Nối tiếp sau đó thời kì cận đại, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thời kì nàythực sự có bước phát triển mới Nó đã trở thành một học thuyết và đã trở thành hiệnthực, được vận dụng ở một số quốc gia phương Tây, mà ta gọi là Nhà nước pháp quyền
tư bản chủ nghĩa hay Nhà nước pháp quyền Tư sản để phân biệt với Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa sau này Sự phát triển lí luận học thuyết Nhà nước pháp quyền
Tư sản chịu ảnh hưởng của hai luồng tư tưởng: Một là, sự khẳng định ngày càng caonhững quan điểm mới về tự do của con người, thông qua việc tôn trọng tính tối cao củapháp luật - pháp luật tự nhiên Hai là, xác lập mói tương quan giữa quyền lực chính trịmới giữa giai cấp tư sản đang lên và chế độ phong kiến đã lỗi thời Hơn nữa, cần loạitrừ tình trạng (khả năng ) độc quyền, bán quyền lực trong cơ quan hay cá nhân cụ thể.Học thuyết Nhà nước pháp quyền vì lẽ đó gắn liền với chủ nghĩa lập hiến tư sản, “Mặc
dù với những góc nhìn và quan niệm hết sức đa dạng nhưng các học thuyết này đềumang những nội dung cơ bản và chung nhất sau: Sự hiện diện của chủ nghĩa lập hiến
và coi đó là bằng chứng hữu hình về sự đồng thuận của người dân; Nhà nước phải tựđặt dưới pháp luật không hành động độc đoán; Nhà nước phải tôn trọng và bảo vệ cácquyền tự do của con người và quyền công dân; quyền lực Nhà nước được chia thành baquyền: quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp giao cho ba cơ quan Nhà nước tương ứngtheo nguyên tắc quyền lực giám sát kiềm chế quyền lực”[26, tr 142]
Trang 10Học thuyết Nhà nước pháp quyền không chỉ có những tư tưởng của các triết gia
tư sản mà còn có cả sự đóng góp của những nhà kinh điển Chủ nghĩa xã hội Marx,Engels và Lênin dù không chính thức nói đến Nhà nước pháp quyền như là một trongnhững nội dung chính yếu trong học thuyết của mình nhưng các ông luôn quan tâm đếnNhà nước và cách mạng, Nhà nước và pháp luật Trong các bài viết, bài nói ít nhiều họ
đã thể hiện tư tưởng về pháp quyền Đó là những tư tưởng đầu tiên về Nhà nước phápquyền Xã hội chủ nghĩa Quan điểm của Marx và Engels được thể hiện trong các tácphẩm như: “Sự khốn cùng của triết học”, “Phê phán triết học pháp quyền Hegel” Marxchỉ ra cơ sở xã hội như nền tảng vật chất của pháp luật: “(…) xã hội không lấy pháp luậtlàm cơ sở Đó chỉ là những ảo tưởng của những nhà Luật học Ngược lại, pháp luật phảilấy xã hội làm cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xãhội do một phương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra, mà không phải do ýmuốn tùy tiện của một cá nhân” Marx cho rằng: “chế độ dân chủ không phải con ngườitồn tại vì luật pháp mà luật pháp tồn tại vì con nguời”… “Thực tế, với việc trình bày luậtpháp, quyền lực của luật pháp trong tương quan với sở hữu, sự phát triển, sự phát triểncông, thương nghiệp với mỗi giai cấp, quan điểm của các ông là về tính giai cấp củapháp luật, pháp quyền nói riêng và Nhà nước nói chung”[8, tr 161 - 162.] Marx vàEngels đặt vấn đề xây dựng một xã hội mới, trong đó “tự do của mỗi người là điều kiệnphát triển tự do của tất cả mọi người”, là “sự phát triển toàn diện của con người” Có thểnói, “vì con người” và “giải phóng con người” là mục tiêu của một Nhà nước phápquyền kiểu mới Về mặt Nhà nước, Marx và Engels chủ trương xác lập một chế độ dânchủ triệt để, “do nhân dân tự quy định” Trong xã hội mới sẽ tạo ra nhiều điều kiện đểgiải phóng cá nhân, rằng “xã hội sẽ không giải phóng cho mình được nếu không giảiphóng mỗi một cá nhân riêng biệt” (Engels) và xã hội đó phải được xây dựng trên cơ sởpháp luật, Engels viết: “đối với chúng ta… điều bất di bất dịch là quan hệ giữa ngườicầm quyền và người bị lãnh đạo phải được thiết lập trên cở sở pháp luật”[30, tr 118 - 119]
Như vậy, Nhà nước pháp quyền là một Nhà nước thượng tôn pháp luật và phải
bảo đảm dân chủ Lịch sử Nhà nước pháp quyền đã có từ xa xưa và ngày càng hoànthiện qua các giai đọan lịch sử khác nhau và trở thành học thuyết vào thế kỷ XVII -
Trang 11XVIII, gắn liền với Nhà nước Tư sản, nền dân chủ Tư sản Bên cạnh đó, các nhà kinhđiển của Chủ nghĩa xã hội cũng đã có sự đóng góp nhất định vào học thuyết Nhà nướcpháp quyền nói chung, và định hướng cho việc xây dựng Nhà nước kiểu mới ở cácnước Xã hội chủ nghĩa - Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vìdân sau này Nghiên cứu lịch sử tư tưởng về Nhà nước pháp quyền chúng ta có thể rút
ra những dấu hiệu cơ bản nhất của một Nhà nước pháp quyền nói chung gồm các yếu
tố sau đây: Sự thống trị của pháp luật trong đời sống xã hội, sự ràng buộc của Nhànước và cơ quan Nhà nước bởi pháp luật Nhà nước pháp quyền định rõ trách nhiệmhai chiều giữa Nhà nước và công dân trên cở sở pháp luật và Nhà nước pháp quyền cónhững hình thức kiểm tra, giám sát có hiệu quả việc tuân theo pháp luật
1.2 Quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước pháp quyền.
Những đóng góp to lớn của V.I.Lê-nin đối với lý luận về nhà nước không chỉ ởviệc làm sáng tỏ những quan điểm căn bản của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về nhà nước,đem lại vũ khí lý luận sắc bén cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, giành lấy, tổchức và thực thi quyền lực nhà nước, cũng như đấu tranh chống lại mọi âm mưu hòngxuyên tạc, bẻ cong và nhằm bác bỏ lý luận mác-xít về nhà nước; mà còn thể hiện ởviệc đi sâu, phát triển lý luận mác-xít về nhà nước trên một số phương diện, phù hợpvới trình độ phát triển mới của thực tiễn Nghiên cứu quan điểm của V.I.Lê-nin vềnhà nước đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng mô hình nhà nước pháp quyềnViệt Nam hiện nay, bởi lẽ những quan điểm ấy đã được hiện thực hóa, trở thành mộtthực thể sống động trong thực tiễn đời sống
Nhất quán với tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I.Lê-nin tiếp tục khẳngđịnh rằng, nhà nước là một hiện tượng lịch sử, sự tồn tại và tiêu vong của nó là tùythuộc vào những điều kiện cụ thể; “nhà nước chỉ là một tổ chức thống trị của một giaicấp”[14, t32, tr 303] và “bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để một giai cấp nàytrấn áp giai cấp khác”[12, t37, tr 122]
Đối với V.I.Lê-nin, khái niệm “Nhà nước” là để chỉ bộ máy nhà nước trong xãhội có giai cấp Ông viết: “đặc trưng của nhà nước là sự tồn tại của một giai cấp đặc
Trang 12biệt, tập trung quyền lực trong tay Dĩ nhiên, không ai có thể dùng hai tiếng nhà nước
để gọi một cộng đồng, trong đó tất cả mọi thành viên đều thay phiên nhau quản lý “tổchức của trật tự””[12, t1, tr 550] Chính sự tập trung quyền lực chính trị trong tay mộtgiai cấp đặc biệt là đặc trưng để phân biệt nhà nước với mọi hình thức tổ chức xã hộikhác V.I.Lê-nin vạch rõ: “Nếu quyền lực chính trị trong nước nằm trong tay một giaicấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi của đa số, thì mới có thể thực hiện việc điềukhiển công việc quốc gia thực sự theo đúng nguyện vọng của đa số Nhưng nếu quyềnlực chính trị nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi khác với quyền lợi của đa số, thìviệc điều khiển công việc quốc gia theo nguyện vọng của đa số không khỏi trở thànhmột sự lừa gạt, hoặc đưa đến chỗ đàn áp đa số ấy”[11, t34, tr 52] Ông giải thích:
“Quyền chính trị là gì, nếu không phải là cách diễn đạt, là việc ghi nhận so sánh lựclượng?”[13, t21, tr 150] Đây chính là sự phát triển quan điểm: quyền lực chính trị,theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấpkhác của C.Mác và Ph.Ăng-ghen
Về bản chất giai cấp của nhà nước, V.I.Lê-nin khẳng định: “Nhà nước là sảnphẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Bất cứ đâu,
hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp khôngthể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng
tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”[11, t33, tr 9] Nghĩa là,khi đó nhà nước sẽ tự tiêu vong
Nếu như xã hội đã từng tồn tại không cần có nhà nước, thì cùng với sự phát triểncủa sản xuất, xã hội loài người sớm muộn cũng sẽ đạt tới trình độ loại bỏ nhà nước.V.I.Lê-nin viết: “Mục đích cuối cùng mà chúng ta theo đuổi, là thủ tiêu nhà nước,nghĩa là thủ tiêu mọi bạo lực có tổ chức và có hệ thống; mọi bạo lực nói chung đối vớicon người Chúng ta không mong có một chế độ xã hội mà trong đó nguyên tắc thiểu
số phục tùng đa số sẽ không được tuân theo Nhưng khi hướng đến chủ nghĩa xã hội,chúng ta tin chắc rằng chủ nghĩa xã hội sẽ chuyển thành chủ nghĩa cộng sản Do đó,nói chung sẽ không còn cần thiết phải dùng bạo lực đối với con người, không cần thiếtphải buộc người này phục tùng người khác, bộ phận dân cư này phục tùng bộ phận dân
Trang 13cư khác, vì người ta sẽ quen tuân theo những điều kiện thông thường của đời sống tậpthể, mà không cần có bạo lực và không cần có phục tùng”[11, t33, tr 101 - 102] Nghĩa
là, khi đó nhà nước sẽ tự tiêu vong
Tuy nhiên, để nhà nước có thể tự tiêu vong, cần có nhiều điều kiện Trong đó,quan trọng nhất là nhà nước phải trải qua một hình thức tồn tại đặc biệt của nó: Nhànước chuyên chính vô sản Nhưng để có được nhà nước chuyên chính vô sản, tất yếuphải dùng đến bạo lực cách mạng V.I.Lê-nin chỉ rõ: “Không có cách mạng bạo lực thìkhông thể thay nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được Việc thủ tiêu nhà nước vôsản, nghĩa là việc thủ tiêu mọi nhà nước, chỉ có thể thực hiện được bằng con đường
“tiêu vong” thôi”[11, t33, tr 28] Bạo lực cách mạng là phương thức duy nhất để mộtgiai cấp mới, tiến bộ giành lấy quyền lực chính trị Điều đó đúng đối với giai cấp vôsản và hơn thế với giai cấp vô sản, bạo lực cách mạng còn phải thực hiện một nhiệm vụquan trọng nữa, đó là đập tan bộ máy nhà nước cũ trước khi bắt tay xây dựng nhà nướckiểu mới
Tính chất đặc biệt của nhà nước chuyên chính vô sản với tư cách hình thứcchuyển tiếp trước khi đạt đến trạng thái tự tiêu vong của nhà nước được V.I.Lê-nin làm
rõ trong việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tính chuyên chính và tính dânchủ của nhà nước Trước hết, V.I.Lê-nin khẳng định: “trong thời kỳ quá độ từ chủnghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, sự trấn áp vẫn còn tất yếu, nhưng nó đã là sự trấn
áp của đa số bị bóc lột đối với thiểu số bóc lột Cơ quan đặc biệt, bộ máy trấn áp đặcbiệt là “nhà nước” vẫn còn cần thiết, nhưng nó đã là nhà nước quá độ, mà không còn lànhà nước theo đúng nghĩa của nó nữa”[11, t33, tr 111] và nhà nước vô sản phải là mộtcông cụ, một phương tiện; đồng thời, là một biểu hiện tập trung trình độ dân chủ củanhân dân lao động Dân chủ trong xã hội xã hội chủ nghĩa chính là nhân dân tham giavào mọi công việc của nhà nước Người viết: “Điều cần thiết không phải chỉ là cơ quanđại biểu theo kiểu chế độ dân chủ, mà là toàn bộ việc quản lý nhà nước từ dưới lên phải
do bản thân quần chúng tổ chức, quần chúng thực sự tham gia vào từng bước của cuộcsống và đóng vai trò tích cực trong việc quản lý”[11, t33, tr 116]
Trang 14V.I.Lê-nin cho rằng, nếu tính giai cấp là bản chất của mọi nhà nước, thì dânchủ hay chuyên chính cũng chỉ là hai mặt của bản chất đó mà thôi “Bất cứ một nhànước nào cũng đều có nghĩa là dùng bạo lực; nhưng toàn bộ sự khác nhau là ở chỗdùng bạo lực đối với những người bị bóc lột hay đối với kẻ đi bóc lột, ở chỗ có dùngbạo lực đối với giai cấp những người lao động và những người bị bóc lột không” [14,t31, tr 356] Đối với V.I.Lê-nin: “Chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản là mộtchính quyền do giai cấp vô sản giành được và duy trì bằng bạo lực đối với giai cấp tưsản ”[12, t43, tr 380].
Bên cạnh đó V.I.Lê-nin đã cho rằng chuyên chính vô sản không hề đối lập vớidân chủ, mà là phần bổ sung, là hình thức thể hiện của dân chủ “Chuyên chính vô sản,nghĩa là việc tổ chức đội tiền phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị
để trấn áp bọn áp bức, thì không thể giản đơn đóng khung trong việc mở rộng chế độdân chủ được Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ - lần đầu tiên biếnthành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân chứ không phảicho bọn nhà giàu - chuyên chính vô sản còn thực hành một loạt biện pháp hạn chếquyền tự do đối với bọn áp bức, bọn bóc lột, bọn tư bản”[12, t37, tr 297] Đồng thờivấn đề đáng được và cần quan tâm ở đây là, trong xã hội xã hội chủ nghĩa - lực lượngđóng vai trò thống trị trong xã hội và vì thế nắm quyền chuyên chính, dân chủ và phápluật là đại đa số nhân dân lao động “Dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân và trấn ápbằng vũ lực bọn bóc lột, bọn áp bức nhân dân, nghĩa là tước bỏ dân chủ đối với bọnchúng: đó là sự biến đổi của chế độ dân chủ trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bảnlên chủ nghĩa cộng sản”[12, t33, tr 109]
Như vậy, sự phát triển của V.I.Lê-nin đối với quan điểm của C.Mác và ghen về nhà nước, điểm quan trọng nhất chính là ở chỗ, đặc tính phổ biến của mọi nhànước đó là giai cấp Như thế, biểu hiện về mặt lịch sử trong suốt quá trình phát triểncủa xã hội loài người là mối quan hệ biện chứng của hai mặt chuyên chính và dân chủ
Ph.Ăng-Rõ ràng, trên phương diện này, nhà nước là một cách thức tổ chức đời sống xã hội, mộtgiai đoạn trong tiến trình phát triển của xã hội, là một vòng khâu của sự phát triển Đâychính là quan niệm duy vật và biện chứng có tính nguyên tắc trong việc lý giải đời
Trang 15sống xã hội nói chung, vấn đề nhà nước nói riêng và gắn liền với những cố gắng to lớncủa V.I.Lê-nin trong sự phát triển chủ nghĩa Mác.
Từ những nhận định nêu trên chúng ta có thể nhận thấy được rằng: Tư tưởngcủa V.I.Lê-nin về Nhà nước pháp quyền được hình thành trên cơ sở sự vận dụng vàphát triển sáng tạo học thuyết Mác về nhà nước vào điều kiện cụ thể của nước Nga vàtình hình thế giới những năm đầu thế kỷ XX Những tư tưởng ấy chứa đựng nhiều giátrị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với công cuộc xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Thật vậy thông qua những quan điểm nêu trên của Mác - Lênin về Nhà nướcpháp quyền đã cho chúng ta học hỏi được những bài học vô cùng quý giá về xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Muốn xây dựng thành công Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, trước hết phải đảm bảo tốt khâuluật hóa quyền lực của nhân dân Xây dựng và ngày càng hoàn thiện hệ thống Hiếnpháp, pháp luật chính là một thước đo sự hình thành nhà nước pháp quyền Tuy nhiên,hình thức luật là quan trọng, song điều quan trọng hơn là ở nội dung của luật là quyềnlực của nhân dân lao động Hơn thế, để hình thành nhà nước pháp quyền theo đúngnghĩa của nó, khâu đảm bảo thực thi quyền lực của nhân dân dưới hình thức luật cũnghết sức quan trọng Nếu quyền lực của nhân dân mới chỉ được luật hóa, mà không đượcthực thi hoặc thực thi không đầy đủ, thì rõ ràng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩamới được hình thành một phần Thực thi quyền lực của nhân dân lao động dưới hìnhthức luật chính là một thước đo quan trọng đối với nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, bởi lẽ đó là bước mà tính chất pháp quyền chuyển hóa từ lĩnh vực ý thức xã hộisang lĩnh vực tồn tại xã hội Nói cách khác, chính quá trình triển khai trong đời sống
mà nhà nước pháp quyền trở thành một tồn tại hiện thực
1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về Nhà nước pháp quyền
1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền là sự kế thừa truyền thống vănhóa và những kinh nghiệm xây dựng, quản lý Nhà nước của ông cha ta, là kết quả của
Trang 16sự trải nghiệm, nghiên cứu, khảo sát nhiều cuộc cách mạng, nhiều Nhà nước điển hìnhnhư Mỹ, Pháp, Liên Xô , đồng thời, sự thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểmcủa chủ nghĩa Mác-Lênin về Nhà nước kiểu mới vào điều kiện nước ta Mặc dù, HồChí Minh không dùng khái niệm Nhà nước pháp quyền nhưng tư tưởng về Nhà nướcpháp quyền đã được thể hiện không chỉ trong các bài viết, bài phát biểu của Người về
tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, mà còn trong toàn bộ cuộc đời hoạt độngcách mạng vẻ vang của Hồ Chí Minh với tư cách là người sáng lập Nhà nước ViệtNam dân chủ cộng hòa, người trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng và hoàn thiện bộ máyNhà nước và hệ thống pháp luật của nước Việt Nam mới, phấn đấu để Nhà nước tathực sự trở thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền được thể hiện trên nhữngquan điểm cơ bản sau:
Một là, Nhà nước pháp quyền phải là nhà nước dân chủ, Nhà nước của dân, do
dân, vì dân Nhân dân là chủ thể quyền lực Nhà nước Nhà nước là công cụ phục vụnhân dân Hồ Chí Minh xác định bản chất dân chủ của Nhà nước ta: “Nước ta là nướcdân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Chính quyền
từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân
tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[9, t6, tr 232, 515].Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới, Nhà nước pháp quyền, nhân dân
là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực Nhà nước Toàn bộ quyền lực Nhà nướcđều bắt nguồn từ nhân dân, để minh chứng cụ thể cho tư tưởng này của mình thì trongĐiều 1 Hiến pháp 1946 do Người làm Trưởng ban soạn thảo đã khẳng định: “NướcViệt Nam là một nước dân chủ cộng hòa, tất cả quyền binh trong nước là của toàn thểnhân dân Việt Nam Không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôngiáo”[15 tr 8] Bộ máy Nhà nước là do nhân dân lựa chọn, bầu ra và ủy quyền nhằmthực hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân Vì vậy, khác với chế độ phong kiến Vua làchủ, nay là chế độ dân chủ, Nhà nước của dân thì dân là chủ, đội ngũ cán bộ, công chứcNhà nước không thể là các ông quan cách mạng, mà là công bộc của nhân dân Hồ Chí
Trang 17Minh chỉ rõ: “Chúng ta hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến cáclàng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để
đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”[9, t4, tr 56] Ngườidân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật khôngcấm, đồng thời có nghĩa vụ tuân theo pháp luật
Trong khi khẳng định vai trò chủ thể của nhân dân đối với Nhà nước, Hồ ChíMinh cũng luôn trăn trở một điều có ý nghĩa quyết định là: “Làm sao cho nhân dân biếthưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”[9, t12, tr223] Người chỉ rõ, Nhà nước phải tìm cách hình thành các thiết chế dân chủ để thựcthi quyền làm chủ của người dân và đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước phải hết lòngphục vụ nhân dân với tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, “Việc gì lợi chodân, ta phải hết sức làm Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”[9, t4, tr 56 - 57] Đểbảo đảm tính chính đáng của chính quyền khi tiếp nhận sự ủy quyền của nhân dân, làmcho Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của nhân dân, ngay từ những ngày đầu giànhđược độc lập, trong những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước, Hồ Chí Minh đặc biệtquan tâm đến tổ chức cuộc Tổng tuyển cử để nhân dân trực tiếp bầu ra các đại biểuxứng đáng thay mặt mình gánh vác việc nước Bởi vì theo Người: “Tổng tuyển cử làmột dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh váccông việc nước nhà Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoànkết”[9, t4, tr 133] Những việc quan trọng Nhà nước phải đưa ra để lấy ý kiến nhândân Điều thứ 32, Hiến pháp 1946 quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốcgia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết” Thực chất đây là cách “trưng cầu ý dân”, một hìnhthức dân chủ trực tiếp của Nhà nước pháp quyền hiện đại đã được Hồ Chí Minh nhậnthức và đề ra khá sớm ở nước ta
Bên cạnh đó Người cũng đã nêu rất rõ quyền và lợi ích chính đáng của Nhândân, Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ Chính phủ thì việc to, việcnhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm
vụ giúp đỡ Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm trònphận sự mà nhân dân đã giao phó cho “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ
Trang 18cộng hòa đều thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốchội và Hội đồng nhân dân các cấp”[9, t4, tr 282].
Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dânnếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với tín nhiệm của nhân dân Tất cả các cơquan Nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến
và chịu sự kiểm soát của nhân dân”[9, t9, tr 579 - 597] Người còn viết: “Nếu Chínhphủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” nước pháp quyền do dân và vì dân,nhân dân là nguồn gốc sức mạnh, là nguồn trí tuệ, sáng kiến vô tận giúp Nhà nướchoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình Người viết: “Kinh nghiệm trong nước vàcác nước chứng tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khănmấy cũng làm được Không có thì việc gì làm cũng không xong Dân chúng biết giảiquyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi,những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”, “Không có lực lượng nhân dân, thì việcnhỏ mấy, dễ mấy cũng làm không xong ”[9, t6, tr 292]
Vì vậy, Nhà nước phải biết tôn trọng, lắng nghe và học hỏi dân, gần dân, thấuhiểu tâm tư, nguyện vọng, ý chí của dân, tìm cách khơi nguồn, bồi dưỡng và nâng caosức dân Mặt khác, Nhà nước được thành lập không phải là để làm thay nhân dân, mà
là để phục vụ nhân dân, thực hiện vai trò người cầm lái, người tổ chức để nhân dânbằng trí tuệ và sức mạnh vốn có giải quyết các vấn đề của chính mình Nói về mốiquan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “dân như nước mình nhưcá”; phải “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân Chính phủ chỉ giúp kếhoạch, cổ động” “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng Nếukhông có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường Vậy nên Chính phủ với nhândân phải đoàn kết thành một khối”[6, t4, tr 56]
Hai là, Nhà nước pháp quyền phải là một Nhà nước tôn trọng pháp luật, được tổ
chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Qua thực tiễn tiếp xúc vớinền văn minh Âu - Mỹ và tham khảo kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của Nhà nước
Trang 19trong quản lý xã hội, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được vai trò quan trọng của phápluật trong quản lý, điều hành xã hội.
Theo tinh thần “thượng tôn luật pháp”, Nhà nước phải được tổ chức và hoạtđộng một cách hợp Hiến và hợp pháp, chỉ một ngày sau khi giành được độc lập, đọcTuyên ngôn khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đề ra vớiChính phủ một trong sáu nhiệm vụ cấp bách là “chúng ta phải có một Hiến pháp dânchủ Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độphổ thông đầu phiếu”[9, t4, tr 8] Và chỉ trong một thời gian ngắn Hồ Chí Minh đã tổchức thành công cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội, khẩn trương xây dựng và thôngqua Hiến pháp 1946, đặt nền móng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
Đối với các cán bộ và cơ quan Nhà nước, Người đòi hỏi không những phải làmtốt công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi và kỹ lưỡng Hiến pháp và pháp luật trongnhân dân, mà còn phải đặc biệt “gương mẫu trong việc thi hành Hiến pháp và các luậtlệ”[9, t10, tr 30]
Ba là, nhà nước pháp quyền kiểu mới, của dân, do dân, vì dân phải là Nhà nước
trong sạch, vững mạnh, hiệu quả với tư cách là người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch HồChí Minh luôn trăn trở tìm cách làm thế nào để Nhà nước ta trở thành một Nhà nướcpháp quyền kiểu mới, trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, khắc phục được những cănbệnh cố hữu của các Nhà nước kiểu cũ Trong rất nhiều giải pháp đã thực hiện, có hainội dung cơ bản được Người đặc biệt quan tâm, đó là:
- Tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức trong quan niệmcủa Hồ Chí Minh, để xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả phải kếthợp chặt chẽ giữa “đức trị” và “pháp trị”, kết hợp giữa “xây” và “chống”, không đượccoi nhẹ mặt nào Xây là ra sức giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng chonhân dân, trước hết là cán bộ, công chức, đảng viên, những người có chức, có quyền, điđôi với việc chống chủ nghĩa cá nhân, dùng pháp luật nghiêm trị những kẻ vi phạmpháp luật và thoái hóa đạo đức, làm hại cho dân, cho nước
Trang 20- Luôn đề phòng và chủ động khắc phục những tiêu cực trong hoạt động củaNhà nước, kiên quyết chống ba thứ giặc nội xâm là tham ô, lãng phí, quan liêu Theo
Hồ Chí Minh, sức mạnh, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước phụ thuộc vàotính nghiêm minh của việc thi hành pháp luật và sự trong sạch, gương mẫu về đạođức của những người cầm quyền Vì vậy, phải luôn nêu cao cảnh giác với những biểuhiện tha hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, công chức, giữ cho Nhà nước luôn trongsạch, vững mạnh Chỉ một tháng sau khi lập nước, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Ủyban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng nêu rõ sáu căn bệnh cần đề phòng là: tráiphép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo Người nhắc nhở: “Chúng ta không
sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa Vậy nên, ai khôngphạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ Ai
đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thìChính phủ sẽ không khoan dung Vì hạnh phúc của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà,
mà tôi phải nói Chúng ta phải ghi sâu những chữ “công bình, chính trực” vào lòng”[9, t4, tr 58] Vũ khí để phòng ngừa, khắc phục những sai lầm trên, theo Hồ ChíMinh, chính là đẩy mạnh cuộc đấu tranh phê bình và tự phê bình, phát huy vai trògương mẫu, tự giác đề phòng và sửa chữa sai lầm trong nội bộ tổ chức, đồng thờităng cường vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với các cơ quan Nhà nước.Người viết: “Từ ngày thành lập Chính phủ, trong nhân viên còn có nhiều khuyếtđiểm Có người làm quan cách mạng, chợ đỏ, chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân, phìgia Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc của Chính phủ”[9, t5, tr61] Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra “giặc nội xâm”, “giặc tronglòng”, những căn bệnh nguy hiểm tiềm ẩn trong bộ máy Nhà nước mà chúng ta phảiluôn đề phòng và kiên quyết chống, nếu không sẽ dẫn đến nguy cơ suy thoái, đổ vỡkhông lường hết được Người nói: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý haykhông, cũng là bạn đồng minh của thực dân, phong kiến Nó làm hỏng tinh thầntrong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta làcần, kiệm, liêm, chính Tội lỗi ấy cũng nặng như tội Việt gian, mật thám”[9, t6, tr490] Người chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa đánh thù trong và diệt giặc ngoài:
Trang 21“Chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng cần kíp như việc đánh giặc trên mặttrận Nếu chiến sĩ và nhân dân ta ra sức chống ngoại xâm và quên chống giặc nộixâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình”[9, t6, tr 495] Đồng thời, Ngườikhông quên nhấn mạnh, đây là một cuộc đấu tranh rất gay go, phức tạp, đòi hỏi phải cóquyết tâm cao: “Việc đấu tranh với kẻ địch ở tiền tuyến bằng súng, bằng gươm còn dễ,nhưng việc đấu tranh với kẻ địch ở trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là mộtkhó khăn, đau xót Vì vậy, phải có quyết tâm đấu tranh mới được”[9, t7, tr 36].
Bốn là, Nhà nước ta do Đảng Cộng sản lãnh đạo, có sự thống nhất giữa bản chất
giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc rộng rãi Chủ tịch Hồ Chí Minh đãviết: “Tính chất Nhà nước là vấn đề cơ bản của Hiến pháp Đó là vấn đề nội dung giaicấp của chính quyền Chính quyền về tay ai và phục vụ quyền lợi của ai? Điều đóquyết định toàn bộ nội dung của Hiến pháp Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ nhândân, dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”[9, t9, tr586] Bản chất giai cấp công nhân còn thể hiện ở tính định hướng đưa đất nước quá độ
đi lên chủ nghĩa xã hội “bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủnghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với côngnghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”[9, t9, tr 588] Nhànước đó do Đảng lãnh đạo và Đảng ta trở thành đảng cầm quyền Trong Di chúc gửi lạiđồng bào, đồng chí, Người căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền Mỗi đảng viên
và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần, kiệm, liêm chính,chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo,người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” Người thường nhắc nhở các tổ chức đảng
và đảng viên: Đảng ta là đảng cầm quyền chứ không phải đảng trị, mọi cán bộ, đảngviên phải biết tôn trọng Nhà nước, gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật củaNhà nước
1.3.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt nam về nhà nước pháp quyền
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) của Đảng đãkhẳng định: “phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, nâng cao hiệu quả
Trang 22quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa”[27, tr 1028] Xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một quan điểm cơ bản đã được Đảng ta khẳng định Chođến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) của Đảng một lần nữa khẳngđịnh chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nhànước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nướcpháp quyền của dân, do dân và vì dân Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phâncông và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,hành pháp, tư pháp Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật
Đồng thời dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành đấutranh cách mạng, trải qua bao hy sinh, gian khổ đã tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng
và nhân dân tự mình thành lập nên Nhà nước khẳn định chủ quyền của chính chân củadân tộc Việt Nam Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là Nhànước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân mà nòng cốt là liên minh công - nông
- trí thức Trong đó, giai cấp công nhân đại diện cho phương thức sản xuất xã hội chủnghĩa, có lợi ích phù hợp với xu thế phát triển xã hội, cho nên lợi ích của giai cấp côngnhân phù hợp với lợi ích của toàn thể nhà nước Đảng Cộng sản Việt Nam - bộ thammưu của giai cấp công nhân là người lãnh đạo để thực hiện quyền lực của nhân dân
Đó chính là tính chất giai cấp của Nhà nước ta - Nhà nước mang bản chất của giai cấpcông nhân Điều đó được thể hiện: toàn bộ hoạt động của Nhà nước từ pháp luật, cơchế, chính sách, đến những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều thể hiện
ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dânlao động và của cả dân tộc
Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc làthống nhất Sự thống nhất bắt nguồn từ bản chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
do giai cấp công nhân lãnh đạo, và sau khi giành được thắng lợi thì nhân dân lao độngtrở thành người chủ của đất nước Giai cấp công nhân muốn tự giải phóng mình phảiđồng thời giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội Lợi ích giai cấp công nhân thống nhấtvới lợi ích của nhân dân lao động, của cả dân tộc Nhân dân là người làm chủ những
tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội và tất yếu mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân
Trang 23Vì vậy, Nhà nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân, đồng thời cũng gắn bó
chặt chẽ với tính dân tộc, tính nhân dân Bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc vàtính nhân dân của Nhà nước ta hoà quyện vào nhau, được quán triệt, cụ thể hoá, thể chếhoà và thực hiện trên mọi lĩnh vực, mọi tổ chức, hành động của Nhà nước; cũng chỉ cóNhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, hoạt động theo đường lối, quan điểm củaĐảng ta khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp côngnhân Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và của dân tộc Việt Nam
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một chủ trương lớn có tínhquyết định đến thắng lợi trong công cuộc đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam Mặc
dù tại Đại hội VI của Đảng, thì khái niệm Nhà nước pháp quyền chưa được ghi nhận rõràng nhưng tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã dần được hình thànhvới sự khẳng định những khái niệm: “quản lý theo pháp luật” hay “có sự phân địnhrành mạch nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm” trong bộ máy nhà nước
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) của Đảng được đánh dấubởi tư tưởng về Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam với sự khẳng định về đường lối:
“Đảng lãnh đạo xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực sự là Nhànước của dân, do dân, vì dân, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực,phân công, phân nhiệm rõ ràng”[27, tr 1183]
Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam,
do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo sự nghiệp cách mạng củagiai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giànhđộc lập hoàn toàn cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng đất nước theo conđường xã hội chủ nghĩa Sau cách mạng Tháng tám thành công, Nước Việt Nam Dânchủ Cộng hoà ra đời Đó là Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, là Nhà nướckiểu mới về bản chất, khác hẳn với các kiểu Nhà nước trong lịch sử Bản chất bao trùmchi phối mọi lĩnh vực tổ chức và hoạt động của đời sống Nhà nước là tính nhân dân củaNhà nước Hiến pháp năm 1992 nước ta xác định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
Trang 24nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấpcông nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”[6, tr 133]
Nhà nước ta theo nguyên tắc “quyền lực Nhà nước là thống nhất”, không thểphân chia, đối lập giữa các quyền Bởi vì, “tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc vềnhân dân” biểu hiện tập trung ý chí của nhân dân, bắt nguồn từ nhân dân Nhân dân làchủ thể, là cội nguồn của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền làm chủ của mình bằngnhà nước và thông qua nhà nước Hơn nữa, sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện bảo đảmchắc chắn cho việc thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất Điều 4 của Hiến phápnăm 1992 nước ta đã xác định rõ “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giaicấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhândân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trongkhuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”[6, tr 133 - 134] Tuy nhiên, Đảng không phải “tựbiến mình” thành nhà nước Vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng từ Trung ương đếnđịa phương luôn giữ tính chất quyết định và bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống xãhội nhưng không được làm thay nhà nước, “chồng chéo” lên nhà nước
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc cũng như xâydựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo việc củng cố,từng bước hoàn thiện bộ máy Nhà nước và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Từkhi tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phầnvận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa, Đảng ta hết sức coi trọng việc cải cách bộ máy Nhà nước, xây dựng vàhoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với điều kiện mới Vấn đề quan trọng này mộtlần nữa đã được nhấn mạnh trong Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 khoáVII (năm 1995), Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền ViệtNam” Trên cơ sở khẳng định bản chất giai cấp công nhân và dân chủ xã hội chủ nghĩacủa Nhà nước; nguyên tắc phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ trong tổ chứcquyền lực Nhà nước đã được thể hiện một cách hoàn chỉnh và rõ ràng hơn: “quyền lực
Trang 25của Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quanNhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp”[27, tr 1293].Điều đó đã được Đảng ta vận dụng một cách triệt để nhấn trong việc xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám, khóa VII năm 1995,tại Hội nghị này, 5 quan điểm cơ bản để tiến hành cải cách bộ máy Nhà nước theođịnh hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền được xác định Tiếp đến, tại Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta một lần nữa khẳng định 5 quan điểm cơ bảnnêu trên Đó là:
- Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; lấy liênminh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, doĐảng Cộng sản lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm
kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hoạt động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc vànhân dân
- Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơquan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền ViệtNam Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Với việc khẳng định: “Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằngpháp luật, theo pháp luật”, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khoá VII đã xác lập nhậnthức đúng đắn về vị trí của pháp luật nói chung, của các đạo luật nói riêng là cơ sở chủyếu điều chỉnh các quan hệ cơ bản trong xã hội Đảng đã xác định mục tiêu đẩy mạnhhoạt động lập pháp là: trong những năm tới, dần dần chúng ta sẽ có đủ các đạo luậtđiều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội; đồng thời chấp nhận giải pháp mang tínhquá độ cần thiết là kịp thời ban hành mới, bổ sung những văn bản pháp quy
Trang 26Đến Đại hội lần thứ VIII (năm 1996) của Đảng đã tiếp tục nhấn mạnh việc
“Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhànước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; thực hiện nguyêntắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước; tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam; tăng cừng vai trò lãnhđạo của Đảng với Nhà nước”[27, tr 1339]
Bên cạnh đó Đại hội lần thứ IX (năm 2001) của Đảng khẳng định hai mô hìnhtổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là: mô hình kinh tế - nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mô hình nhà nước: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nhận định đây là vấn đề quan trọng hàng mà chúng ta hướng tới; Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ X (năm 2006) đã khẳng định rằng: phát huy dân chủ, tiếp tụcxây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “xây dựng cơ chế vậnhành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lựcNhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công,phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp”[18, tr 126] Như thế, từ khi ra đời cho đến nay, trong đường lối của Đảng Cộngsản Việt Nam luôn luôn quán triệt tư tưởng xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vìdân ở Việt Nam, coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật - phươngtiện quan trọng trong quản lý Nhà nước
Thật vậy, sự ra đời và phát triển tư tưởng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa ở Việt Nam chính là một quá trình sáng tạo của tư duy lý luận và tổng kết thựctiễn cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhànước không chỉ là nhu cầu tự thân của Nhà nước pháp quyền còn non trẻ, mà còn làđòi hỏi cấp bách của thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay Tăng cường sự lãnhđạo của Đảng đối với Nhà nước là nhằm giữ vững bản chất giai cấp công nhân củaNhà nước, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân, đưa sự nghiệp đổi mới đất
Trang 27nước đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng thành công Chủ nghĩa xãhội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Tóm lại, nội dung chương 1 của luận văn, học viên đã nêu lên những vấn đề cơ
bản về Nhà nước pháp quyền như: khái niệm, đặc trưng, tư tưởng về Nhà nước phápquyền làm nền tảng kiến thức để học viên tiếp tục nghiên cứu thực trạng xây dựng Nhànước pháp quyền ở nước ta thời gian qua tại chương 2
Trang 28CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
Ở NƯỚC TA THỜI GIAN QUA 2.1 Những tiền đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, vấn đề chính quyền và việcxây dựng, hoàn thiện một nhà nước kiểu mới, nhà nước dân chủ ở Việt Nam luôn luôn
là mối quan tâm hàng đầu, và đồng thời cũng là một nhiệm vụ trọng tâm của Đảng Đểminh chứng cho vấn đề tiêu biểu này là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựngnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng việccải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với điềukiện mới
Đảng ta đã chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sựkhẳng định và thừa nhận Nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử; nó không chỉ làsản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, mà là tinh hoa, sản phẩm trí tuệ của xã hội loàingười, của nền văn minh nhân loại
Chúng ta có thể nhận thấy rằng quá trình đổi mới tư duy và hình thành quanđiểm, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân gắn liền với quá trình hoạch định và thực hiện đường lối đổi mớiđất nước, xuất phát từ những tiền đề kinh tế - xã hội và những ảnh hưởng, tác động của
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.1 Tiền đề kinh tế
Trên cơ sở đánh giá đúng đắn, khách quan thực tiễn cơ chế quản lý kinh tế thời
kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra những hạn chế bấtcập cơ bản của cơ chế này: Quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu;
cơ quan nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng lạikhông chịu trách nhiệm gì về mặt vật chất đối với những quyết định của mình; cơ chếquản lý tập trung bao cấp, coi thường quan hệ hàng hoá - tiền tệ, thị trường Nhà nướcquản lý nền kinh tế kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm theo quan
Trang 29hệ hiện vật là chủ yếu; bộ máy quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá, tập trung bao cấp, vìthế rất cồng kềnh và kém năng động, nhiều tầng nấc trung gian; đội ngũ cán bộ quản lýkinh tế nói chung không thạo việc kinh doanh, nhưng lại quan liêu, cửa quyền Hệ quảcủa cơ chế quản lý kinh tế này đã làm cho sản xuất bị đình trệ, đẩy đất nước lâm vàokhủng hoảng kinh tế nặng nề
Để khắc phục triệt để tình trạng khủng hoảng kinh tế, đưa đất nước thoát khỏinghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển Một mô hình kinh tế mới đã ra đời; Mô hình kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang tạo ra bước chuyển mạnh mẽtrong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Trình độ của lực lượng sản xuất có sựphát triển nhanh chóng làm thay đổi và xuất hiện nhiều quan hệ kinh tế mới trong sảnxuất - kinh doanh; cung ứng dịch vụ, phân phối, lưu thông hàng hoá, tiền tệ, Điều nàytất yếu dẫn đến nhu cầu khách quan là Nhà nước phải thực hiện các biện pháp, màtrước hết là xây dựng hệ thống luật pháp, tạo ra các cơ chế bảo đảm quyền tự do sảnxuất, kinh doanh, tự do hợp đồng, cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp Nhưvậy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tự nó đã là một đòi hỏi tất yếukhách quan, buộc Nhà nước phải thay đổi phương thức quản lý kinh tế - xã hội bằngpháp luật, phải xây dựng thể chế kinh tế thị trường đủ ở mức tạo thành hành lang pháp
lý an toàn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, bảo đảm công bằng, bình đẳng, hợp táccùng phát triển lâu dài giữa các thành phần kinh tế, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sựphát triển bền vững của nền kinh tế
Cùng với việc chỉ ra một cách đúng đắn những hạn chế của cơ chế quản lý cũgiúp chúng ta tìm được những cách thức khắc phục nó một cách hiệu quả Việc xoá bỏ
cơ chế cũ phải diễn ra đồng thời với việc xây dựng cơ chế quản lý mới Tại Đại hội VIcủa Đảng xác định mục tiêu của cơ chế mới là tạo ra động lực mạnh để giải phóngnăng lực sản xuất, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển hoạt động kinh tếsang hạch toán kinh doanh; sử dụng đầy đủ và đúng đắn các quan hệ hàng hóa - tiền tệ;nền kinh tế phải được quản lý bằng các biện pháp kinh tế là chủ yếu; các đơn vị kếhoạch (quốc doanh và tập thể) là những đơn vị sản xuất hàng hoá, có quyền tự chủ vềsản xuất, kinh doanh, tự chủ về tài chính
Trang 30Trong mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thì Nhà nướccần được đổi mới cho phù hợp Sự ra đời của nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa đòi hỏi tất yếu Nhà nước phải quản lý kinh tế, quản lý xã hội bằng pháp luật,
là tiền đề quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Ngược lại,Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có thể thực sự ra đời và từng bước hoàn thiệnkhi các điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước phát triển đến một trình độnhất định, làm tiền đề, tạo điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết để các quyền cơ bảncủa công dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội được bảo đảm thực thi một cáchđầy đủ và triệt để
Tóm lại Đảng và Nhà nước khẳng định mô hình kinh tế thị trường tại Việt Nam
là không đối lập với chủ nghĩa xã hội; mà đó cũng đồng nghĩa với việc khẳng định cóthể và cần xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền không đối lập với chủ nghĩa xã hội.Đây cũng là một đòi hỏi khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
2.1.2 Tiền đề chính trị - xã hội
Cùng với quá trình đổi mới kinh tế, những ảnh hưởng, tác động về mặt chính trị
- xã hội cũng tạo ra các tiền đề quan trọng trong quá trình hình thành tư duy lý luận củaĐảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trong tiền đề chính trị thì tư tưởng quan trọng nhất để xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhà nước và pháp luật
Bên cạnh đó trong việc xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta,Đảng ta khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theocon đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh”[17, tr.83]
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng những tư tưởng, quan điểm về phápquyền, nhân quyền (quyền con người), về các quyền tự do, dân chủ, về bản chất, vai tròcủa luật pháp trong xã hội Những tư tưởng nhân văn cao cả trong tư tưởng Hồ ChíMinh về chủ nghĩa lập hiến đã được vận dụng ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành
Trang 31công năm 1945 Ngay khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, một trong nhữngnhiệm vụ cấp bách mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra tại phiên họp đầu tiên của Chínhphủ lâm thời (ngày 3/9/1945) là: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế caitrị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiếnpháp Nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiếnpháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay một cuộc TỔNGTUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu Tất cả công dân trai gái mười tám tuổiđều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống,v.v ”[9, t.4, tr.8] Và chỉ 10 tháng sau, Quốc hội do nhân dân bầu ra qua cuộc Tổngtuyển cử lịch sử đó đã thông qua Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp dân chủ đầu tiên đặtnền móng cho sự phát triển của Nhà nước hợp hiến Việt Nam cụ thể như sau:
Nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Namlãnh đạo Vì vậy, phải khẳng định và bảo đảm quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhànước nhằm giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước
Nhà nước ta mang tính nhân dân, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhândân, dựa trên khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công, nông và tríthức do giai cấp công nhân lãnh đạo
Để xây dựng hoàn thiện Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, Nhà nước thực hiệnquản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phápluật là phương tiện để củng cố Nhà nước, duy trì trật tự xã hội Giữa pháp luật và Nhànước phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau Để tạo nên sự ổn định của Nhà nước, làmcho bộ máy Nhà nước vận hành đúng quỹ đạo, phát huy được hiệu lực quản lý, điềuhành thì phải xây dựng được hệ thống luật pháp đúng đắn Luật pháp của ta là luậtpháp thực sự dân chủ, bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động.Mọi người đều có quyền tham gia xây dựng pháp luật, bình đẳng trước pháp luật vàtuân thủ pháp luật Các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức của Nhà nước phải làmgương trong việc thi hành pháp luật
Trang 32Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là người lãnhđạo, vừa là bộ phận của hệ thống ấy Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội (Mặttrận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên) là những bộ phận cấu thành cơ bản.
Vì vậy, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải đặt trongbối cảnh đổi mới đồng bộ các thành tố cơ bản của cả hệ thống chính trị, trong mối quan
hệ tác động qua lại giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội
Như vậy, sự phát triển, hoàn thiện của Nhà nước và pháp luật không thể táchrời sự phát triển, tiến bộ của nền văn minh nhân loại và trình độ phát triển văn hoá -
xã hội cụ thể của quốc gia trong từng thời kỳ (trình độ dân trí, vấn đề dân chủ và côngbằng xã hội, vấn đề quyền con người và quyền công dân, ) Đó cũng chính là mốiquan hệ biện chứng Dân chủ hoá trong đời sống chính trị - tư tưởng, kinh tế, văn hoá,
xã hội là một trong những tiền đề chính trị tư tưởng quan trọng trong quá trình xâydựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
2.1.3 Tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam bắtnguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta Ngay từ khi thành lập
và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là mộtNhà nước hợp hiến, hợp pháp Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quyđịnh của Hiến pháp và pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và phápluật Các đạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhândân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở các Hiếnpháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992 Những lần Hiến pháp được sửa đổi
và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp luật cho tổ chức và hoạt động của bảnthân các cơ quan nhà nước Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng Nhà nước phápquyền ở Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lậpnăm 1945 và Hiến pháp năm 1946 Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ với nhiều
Trang 33giai đoạn phát triển đặc thù Ngày nay, quá trình này đang được tiếp tục ở một tầng caophát triển mới với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới
Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Namxuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ
xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chúng ta ý thức sâusắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có tính mục tiêu như vậy Công cụ,phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàmột nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tính tất yếu kháchquan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa Nhu cầu hộinhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách Nhà nước, cảicách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giảiquyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hành dân chủ, củng cốđộc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế
2.2 Thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam trong những năm đổi mới
2.2.1 Thành tựu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam trong những năm đổi mới
Trải qua hơn 30 năm đổi mới, cùng với những thành tựu về kinh tế, xã hội, quốcphòng, an ninh và đối ngoại việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa cũng đã đạt được những thành tựu quan trọng, đánh dấu một giai đoạnphát triển mới của sự nghiệp xây dựng Nhà nước kiểu mới - một Nhà nước của nhândân, do nhân dân và vì nhân dân
2.2.1.1 Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân
Trong những năm đổi mới, việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền lực Nhà nướcthuộc về nhân dân đã đạt được những kết quả nhất định, cụ thể: Quyền lực Nhà nước
đã được xác lập, thực hiện trên cơ sở ý chí của nhân dân và chịu sự giám sát của nhândân Nhà nước tôn trọng những quyết định của nhân dân, sự lựa chọn chính trị của
Trang 34nhân dân trong các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp,tiếp thu ý kiến của nhân dân trong các đợt lấy ý kiến của nhân dân đóng góp vào xâydựng Hiến pháp, pháp luật; Các cơ quan Nhà nước đã xây dựng nhiều cơ chế cụ thể đểnhân dân thực hiện trên thực tế quyền giám sát của mình đối với hoạt động của cơquan, cán bộ, công chức Nhà nước Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc - tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi của nhân dân, đã được ban hành và đangtriển khai thực hiện; Các hình thức dân chủ trực tiếp, quyền làm chủ thông qua các cơquan đại diện cũng được thực hiện một cách thực chất và hiệu quả hơn Quốc hội, Hộiđồng nhân dân thực quyền hơn, ngày càng thể hiện là cơ quan đại diện cho ý chí vànguyện vọng của nhân dân, thực hiện quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước,địa phương và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước khác; Cùng với việc mởrộng dân chủ, Nhà nước ta đã kiên quyết đấu tranh chống lại tình trạng dân chủ cựcđoan, vô chính phủ, lợi dụng dân chủ để kích động, gây rối, bảo đảm ổn định chính trị,trật tự an toàn xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủcủa nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dântộc, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội làngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, là địnhhướng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và nhân dân
ta trong những thập kỷ tới Để góp phần thực hiện thắng lợi Cương lĩnh đã nêu, Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đề ra mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát pháttriển đất nước 5 năm (2016- 2021) trong đó nhấn mạnh:
Thứ nhất: Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực
Nhà nước thuộc về nhân dân
Cụ thể cho nhiệm vụ này Đại hội Đảng lần thứ XII khẳng định “Mọi đường lối,chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyệnvọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến Dânchủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã