1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN VỀ DÂN SỐ-KHHGĐ DÀNH CHO ĐÀI PHÁT THANH XÃ-PHƯỜNG

130 378 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, việc đanh giá chất lượng dân số thường được các quốc giá dựatrên 4 chỉ số cơ bản, bao gồm:  Chỉ số phát triển con người HDI: là chỉ số so sánh, định lượng về mức thu nhậ

Trang 1

TỔNG CỤC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH

TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN

VỀ DÂN SỐ-KHHGĐ

DÀNH CHO ĐÀI PHÁT THANH XÃ-PHƯỜNG

Hà Nội, năm 2012

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6

I.CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ 7

BÀI PHÁT THANH SỐ 1: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ 7

BÀI PHÁT THANH SỐ 2: GIẢM BỆNH TẬT VÀ TỬ VONG Ở TRẺ EM 9

BÀI PHÁT THANH SỐ 3: DỊ TẬT BẨM SINH Ở TRẺ VÀ SÀNG LỌC TRƯỚC SINH, SƠ SINH 12

BÀI PHÁT THANH SỐ 4: GIẢM TẢO HÔN 15

BÀI PHÁT THANH SỐ 5: GIẢM HÔN NHÂN CẬN HUYẾT THỐNG 17

II.CƠ CẤU DÂN SỐ 19

BÀI PHÁT THANH SỐ 6: TỔNG QUAN VỀ CƠ CẤU DÂN SỐ 19

BÀI PHÁT THANH SỐ 7: MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH 22

BÀI PHÁT THANH SỐ 8: NGHIÊM CẤM LỰA CHỌN GIỚI TÍNH KHI SINH 26

BÀI PHÁT THANH SỐ 9: GIÀ HÓA DÂN SỐ 29

BÀI PHÁT THANH SỐ 10: CƠ CẤU DÂN SỐ VÀNG 32

III QUY MÔ DÂN SỐ 34

BÀI PHÁT THANH SỐ 11: TỔNG QUAN VỀ QUY MÔ DÂN SỐ 34

BÀI PHÁT THANH SỐ 12: KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 36

BÀI PHÁT THANH SỐ 13: THỜI ĐIỂM SINH CON HỢP LÝ 38

BÀI PHÁT THANH SỐ 14 40

KHÔNG SINH CON THỨ BA 40

BÀI PHÁT THANH SỐ 15 44

CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI 44

IV.CHĂM SÓC SKSS CHO CÁC NHÓM ĐẶC THÙ 48

BÀI PHÁT THANH SỐ 16 48

GIẢM PHÁ THAI KHÔNG AN TOÀN 48

BÀI PHÁT THANH SỐ 17 50

PHÒNG TRÁNH CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC 50

BÀI PHÁT THANH SỐ 18 52

PHÒNG TRÁNH MỘT SỐ BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC HAY GẶP Ở PHỤ NỮ 52

BÀI PHÁT THANH SỐ 19: PHÒNG TRÁNH LÂY NHIẾM HIV/AIDS 55

BÀI PHÁT THANH SỐ 20: PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ VÚ 57

BÀI PHÁT THANH SỐ 21: PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ CỔ TỬ CUNG 59

BÀI PHÁT THANH SỐ 22: PHÒNG TRÁNH VÔ SINH 61

BÀI PHÁT THANH SỐ 23: GIẢM TỬ VONG MẸ 63

BÀI PHÁT THANH SỐ 24: PHÒNG TRÁNH SẢY THAI 65

BÀI PHÁT THANH SỐ 25: CHĂM SÓC PHỤ NỮ KHI MANG THAI 67

BÀI PHÁT THANH SỐ 26: CHĂM SÓC PHỤ NỮ SAU SINH 69

BÀI PHÁT THANH SỐ 27: CHĂM SÓC PHỤ NỮ THỜI KỲ CHU SINH VÀ CHO CON BÚ 71

BÀI PHÁT THANH SỐ 28: CHĂM SÓC TRẺ EM THỜI KỲ CHU SINH 72

BÀI PHÁT THANH SỐ 29: CHĂM SÓC TRẺ EM THỜI KỲ DƯỚI 6 THÁNG TUỔI 74

BÀI PHÁT THANH SỐ 30: CHĂM SÓC TRẺ EM TỪ TRÊN 6 THÁNG TUỔI ĐẾN DƯỚI 6 TUỔI 76

BÀI PHÁT THANH SỐ 31: LỊCH TIÊM CHỦNG 78

BÀI PHÁT THANH SỐ 32: VẤN ĐỀ BẠO HÀNH/BẠO LỰC TRẺ EM 80

BÀI PHÁT THANH SỐ 33: VẤN ĐỀ XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM 83

BÀI PHÁT THANH SỐ 34: DẬY THÌ Ở TUỔI VỊ THÀNH NIÊN 85

Trang 3

BÀI PHÁT THANH SỐ 35: TÌNH BẠN/TÌNH YÊU/TÌNH DỤC VỊ THÀNH NIÊN .87 BÀI PHÁT THANH SỐ 36: MANG THAI VÀ NẠO PHÁ THAI VỊ THÀNH NIÊN 89 BÀI PHÁT THANH SỐ 37: BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG 92 BÀI PHÁT THANH SỐ 38: BUÔN BÁN TRẺ EM GÁI/THANH THIẾU NIÊN/BUÔN BÁN NGƯỜI 95 BÀI PHÁT THANH SỐ 39: SỬ DỤNG CHẤT KÍCH THÍCH, GÂY NGHIỆN VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN 98 BÀI PHÁT THANH SỐ 40: NAM GIỚI VỚI CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 101 BÀI PHÁT THANH SỐ 41: RƯỢU BIA, THUỐC LÁ VÀ SKSS Ở NAM GIỚI 103 BÀI PHÁT THANH SỐ 42: MA TÚY VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN 105 BÀI PHÁT THANH SỐ 43: BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ 107 BÀI PHÁT THANH SỐ 44: CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ CHĂM SÓC DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI CAO TUỔI 110 BÀI PHÁT THANH SỐ 45: PHÒNG TRÁNH CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP Ở NGƯỜI CAO TUỔI 113 BÀI PHÁT THANH SỐ 46: CÁC QUYỀN SINH SẢN/CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN 115

V.MÔ HÌNH DÂN SỐ - KHHGĐ 118 ĐANG ĐƯỢC TRIỂN KHAI TẠI CỘNG ĐỒNG 118

BÀI PHÁT THANH SỐ 47: MÔ HÌNH VỀ DÂN SỐ - KHHGĐ DO CÁC TỔ CHỨC

ĐOÀN THỂ TRIỂN KHAI 118 BÀI PHÁT THANH SỐ 48: CHIẾN DỊCH TRUYỀN THÔNG LỒNG GHÉP VỚI CUNG CẤP DỊCH VỤ KHHGĐ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ 121

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 124

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Công tác DS-KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triểnđất nước Chiến lược Dân số và Sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2011-2020 đã đặt ramục tiêu “Đáp ứng đầy đủ nhu cầu kế hoạch hóa gia đình của nhân dân, duy trìmức sinh thấp hợp lý, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ sinh sản có chấtlượng” Chiến lược này cũng định hướng chuyển nhiệm vụ trọng tâm từ giảm mứcsinh sang nâng cao chất lượng dân số, giảm thiểu mất cân bằng tỷ số giới tính khisinh và hạn chế những ảnh hưởng của già hóa dân số

Để nâng cao năng kiến thức cho người dân ở cộng đồng về các vấn đề liênquan đến DS-KHHGĐ, đồng thời cũng để tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán

bộ truyền thông cấp cơ sở, Tổng cục DS-KHHGĐ - Bộ Y tế biên soạn cuốn “ Tài

liệu tuyên truyền về DS-KHHGĐ dành cho đài phát thanh xã/phường” trong

khuôn khổ dự án “Nâng cao năng lực truyền thông, giám sát và đánh giá chươngtrình năm 2012”

Trong phần nội dung, cuốn tài liệu được chia ra thành từng nhóm chủ đề: i)Chất lượng dân số; ii) Cơ cấu dân số và iii) Quy mô dân số Mỗi nhóm chủ đềđược chia thành nhiều bài phát thanh khác nhau và mỗi bài phát thanh đề cập đếnmột nội dung riêng biệt Tổng số có 48 bài phát thanh (cho 48 tuần trong năm), dựkiến mỗi bài được phát thanh trong thời lượng 15 phút Trong mỗi bài phát thanh

có nêu thực trạng của vấn đề trong phạm vi cả nước, Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnhhoặc Trung Tâm Dân số-KHHGĐ huyện thu thập các thông tin, số liệu liên quan

để bổ sung vào vào mục này

Trong quá trình biên soạn sẽ không tránh khỏi được những hạn chế, thiếusót Tổng cục Dân số - KHHGĐ rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổsung của các cán bộ quản lý, các chuyên gia về DS-KHHGĐ và đặc biệt là đội ngũnhững cán bộ đang tham gia vào các hoạt động cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ ởcác cấp

Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Bộ Y tế

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

vi về DS-KHHGĐ giai đoạn 2011- 2015 thực hiện Chiếnlược DS-KHHGĐ 2011- 2020

TTVĐ/TTCĐHV Tuyên truyền vận động/truyền thông chuyển đổi hành vi

Trang 7

I.CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ

BÀI PHÁT THANH SỐ 1 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ

Kính mời quý vị và các bạn đón nghe bản tin phát thanh của đài truyền thanh xã/phường ………

Chủ đề của bản tin phát thanh hôm nay là Nâng cao chất lượng dân số

Thưa quý vị và các bạn!

Ở nước ta, Pháp lệnh số 06/2003/PL-UBTVQH11 do Uỷ Ban Thường Vụ

Quốc Hội ban hành ngày 9/1/1/2003 đưa ra khái niệm “Dân số là tập hợp người

sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính” và “Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số”

Hiện nay, việc đanh giá chất lượng dân số thường được các quốc giá dựatrên 4 chỉ số cơ bản, bao gồm:

Chỉ số phát triển con người (HDI): là chỉ số so sánh, định lượng về mức thu

nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của một quốc gia HDIgiúp tạo ra một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của một quốc gia

Chỉ số khối hình cơ thể (BMI): phản ánh chất lượng con người về mặt hình

thể Chỉ số này có thể giúp xác định một người bị bệnh béo phì hay bị bệnh suydinh dưỡng

Chỉ số phát triển con người liên quan đến giới (GDI): là một chỉ số tổng

hợp đo lường phát triển con người trong ba lĩnh vực giống như trong chỉ số pháttriển con người HDI (tuổi thọ, học vấn và thu nhập) nhưng đã điều chỉnh đểxem xét sự bất bình đẳng giới trong những lĩnh vực này

Chỉ số nghèo khổ của con người (HPI): đo lường sự nghèo khổ của con người

trên hai lĩnh vực chính là giáo dục và y tế phản ánh tuổi thọ, kiến thức, mứcsống và sự tham gia hoạt động xã hội;

Thưa quý vị và các bạn!

Trong những năm qua với sự nỗ lực của toàn xã hội, chất lượng dân số ởnước ta đã được cải thiện đáng kể Vào năm 2012, tuổi thọ bình quân đã đạt 73

Trang 8

tuổi, tăng 4,5 tuổi so với mười năm trước đó, đặc biệt tuổi thọ của phụ nữ tăng 5,5tuổi Tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người tăng hơn hai lần

Tuy nhiên chúng ta còn nhiều tồn tại và thách thức về chất lượng dân số Bấtbình đẳng giới còn tồn tại trên diện rộng, đặc biệt là tư tưởng trọng nam hơn nữ cóthể phá vỡ sự cân bằng tỷ lệ giới tính; các cặp vô sinh có nhu cầu chính đáng trongviệc sinh con; tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống còn phổ biến ở nhiềukhu vực; Tỷ lệ trẻ em mắc dị tật bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ cao; Một tỷ lệ ngườidân còn sống trong đói nghèo, v.v…

Vấn đề chất lượng dân số của địa phương: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh

hoặc Trung Tâm Dân số-KHHGĐ huyện thu thập các thông tin, số liệu liên quan

để đưa vào mục này.

Thưa quý vị và các bạn!

Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng dân số thấp là:

- Bất bình đẳng giới còn tồn tại trên diện rộng, đặc biệt là tư tưởng trọng namhơn nữ

- Tình trạng tảo hôn còn diễn ra, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống; sứckhỏe mẹ và con

- Tình trạng hôn nhân cận huyết thống vấn diễn ra ở nhiều nhóm đồng bàodân tộc, gây suy thoái nòi giống

- Tình trạng đói nghèo

Chất lượng dân số thấp sẽ tạo ra vòng xoắn đói nghèo Chất lượng dân sốthấp sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, làm tăng gánh nặng chi tiêu chocác hộ gia đình, từ đó dẫn đến giảm thu nhập, gia tăng tình trạng trẻ em không đếntrường, và cuối cùng là nghèo đói

Thưa quý vị và các bạn!

Nâng cao chất lượng dân số cần có những giải pháp đồng bộ ở tầm chiếnlược, sự nỗ lực rất lớn của hệ thống chính trị và toàn xã hội Đối với cá nhân, giađình, cộng đồng để nâng cao chất lượng dân số cần:

- Không tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống

- Tham gia sàng lọc trước sinh và sơ sinh

- Phòng chống suy dinh dưỡng bào thai, suy dinh dưỡng trẻ em, thừa cân béophì

- Thực hiện bình đẳng giới, không lựa chọn giới tính khi sinh

- Thực hiện tốt KHHGĐ

- Thực hiện tốt các chương trình an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách an sinhcho phụ nữ, người già, trẻ em

- Bảo vệ môi trường sống vì sức khỏe của cả cộng đồng

Qúy vị và các bạn vừa nghe bản tin phát thanh về nâng cao chất lượng dân số

Trang 9

Cảm ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị và các bạn./.

Trang 10

BÀI PHÁT THANH SỐ 2 GIẢM BỆNH TẬT VÀ TỬ VONG Ở TRẺ EM

Kính mời quý vị và các bạn đón nghe bản tin phát thanh của đài truyền thanh xã/phường ………

Chủ đề của bản tin phát thanh hôm nay là giảm bệnh tật và tử vong ở trẻ em

Thưa quý vị và các bạn!

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt nam năm 2004 quy định “Trẻ

em là công dân Việt Nam dưới mưới sáu tuổi”

Bệnh tật ở trẻ trẻ em được hiểu là những bệnh bẩm sinh di truyền (dị tật bẩmsinh) hoặc mắc phải sau khi được sinh ra

Theo số liệu ước tính, đến cuối tháng 9 năm 2012 Việt nam có xấp xỉ 26triệu trẻ em dưới 16 tuổi1 Trong 10 năm qua, dân số trẻ em các vùng nhìn chungđều giảm do mức sinh giảm, chỉ có Tây Nguyên thì số lượng trẻ em gần như khôngthay đổi do đây vẫn là vùng có mức sinh cao so với trung bình cả nước

Giảm thiểu bệnh tật và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh là mục tiêu thứ 4 trong nhữngmục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc Đây cũng là mục tiêu và ưu tiên hàngđầu của “Chiến lược Dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020”

là “Nâng cao sức khỏe, giảm bệnh, tật, và tử vong ở trẻ em Phấn đấu vào năm

2020 giảm tỷ lệ chết sơ sinh xuống còn dưới 10‰, tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổidưới 12‰, tỷ lệ chết trẻ em dưới 5 tuổi dưới 18‰”

Thưa quý vị và các bạn!

Theo số liệu thống kê của Cục Bảo vệ Chăm sóc Trẻ em, Bộ LĐ-TB-XH, hiện

có khoảng 1/3 số trẻ em dưới 16 tuổi, tương đương với con số bảy triệu trẻ em cóthể bị coi là nghèo2 Gần 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (chiếm5,8%/tổng số trẻ em), trong đó có 1,22 triệu trẻ em khuyết tật; trên 149 ngàntrẻ em mồ côi; trên 38 ngàn trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc, độchại, nguy hiểm; 21,7 ngàn trẻ em lang thang; 9,757 ngàn trẻ em bị nhiễm HIV/

1 UNCEF

2 UNICEF

Trang 11

AIDS; trên 20 ngàn trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học; 1,472 ngàn trẻ

em nghiện ma túy; 1,476 ngàn trẻ em bị xâm hại tình dục

Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi còn ở mức rất cao,khoảng gần 32% Suy dinh dưỡng theo cân nặng ở trẻ dưới 5 tuổi cao ở các vùngTây Nguyên, Tây Bắc (28,5% và 24,6% so với tỷ lệ chung cả nước là 18,9%) Tìnhtrạng thừa cân, béo phì ở trẻ em đang có xu hướng gia tăng, ở nông thôn có tỷ lệ là3,8% và ở thành phố là 5,4% Trẻ em bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS vẫn

là vấn đề xã hội bức xúc, cứ 1.000 người nhiễm HIV thì có 37 trẻ em dưới 13 tuổi

bị nhiễm HIV (năm 2009) 3 Tử vong sơ sinh vẫn còn cao, chiếm tới 70% tử vongtrẻ em dưới 1 tuổi và hơn 50% số tử vong trẻ em dưới 5 tuổi4 và chiếm khoảng trên1/3 tổng số tử vong chung

Theo ước tính của Bộ Y tế tỷ lệ tử vong sơ sinh ở mức 18‰ Nếu tính tổng bìnhquân 1,5 triệu trẻ em được sinh ra hàng năm, thì mỗi năm ở Việt Nam có khoảng

27 nghìn trẻ sơ sinh bị tử vong, và cứ mỗi ngày qua đi thì có khoảng trên 70 trẻ sơsinh bị tử vong

Có 3 nhóm trẻ sơ sinh hay gặp tình trạng tử vong cao là nhóm trẻ có các bệnh lýliên quan đến giai đoạn chu sinh (từ khi bào thai được 28 tuần cho đến hết tuần lễđầu tiên sau khi trẻ ra đời), các bệnh nhiễm trùng hô hấp (viêm phổi, viêm tiểu phếquản ) và dị tật bẩm sinh (teo thực quản bẩm sinh, viêm phúc mạc sơ sinh, sinhngạt, sinh non, dị tật bẩm sinh của đại tràng, teo ruột non, các dị tật về tim) chiếm

tỷ lệ đến 87,4% tổng số tử vong sơ sinh

Trong những năm qua, chương trình CSSKTE tại tuyến y tế cơ sở đã được triểnkhai rộng rãi, góp phần giảm đáng kể tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 1 tuổi và dưới 5tuổi Tuy nhiên, so với tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở một số nước trong khu vực lâncận như Singapore , Nhật Bản thì tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong ở Việt Nam là khá cao.Đây chính là một thách thức lớn trong công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em

Tỷ lệ tử vong trẻ em ở các khu vực miền núi, vùng sâu, hẻo lánh, nông thôn haytrong các gia đình nghèo cao gấp 3 - 4 lần so với vùng đồng bằng và các gia đìnhkhá giả

Vấn đề giảm bệnh tật và tử vong ở trẻ em của địa phương: Chi cục Dân

số-KHHGĐ tỉnh hoặc Trung Tâm Dân số-số-KHHGĐ huyện thu thập các thông tin, số liệu liên quan để đưa vào mục này.

Thưa quý vị và các bạn!

Các nguyên nhân bệnh tật và tử vong chính ở trẻ sơ sinh là:

3

Trang 12

- Do các yếu tố nguy cơ trong khi mang thai và khi sinh Dịch vụ chăm sóc bà

mẹ mang thai Sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh còn hạnh chế, chưa đápứng nhu cầu Kiến thức về chăm sóc thai nhi, chăm sóc trẻ nhỏ của một bộphận người dân còn hạn chế, nhất là tại nhiều vùng sâu, vùng xa

- Khả năng tiếp cận dịch vụ CSSK cho bà mẹ và TE ở nhiều vụng còn có khókhăn, khoảng cách từ nhà tới cơ sở y tế quá xa, cơ sở y tế thiếu điều kiện cơ

sở vật chất

- Nhiều phụ nữ mang thai không đi thăm khám định kỳ, thực hiện sàng lọc đểphát hiện những bất thường thai nhi để kịp thời điều trị, cũng như cho TE đitiêm chủng đầy đủ dẫn tới tình trạng bệnh tật và tử vong ở trẻ

Bệnh tật ở trẻ em để lại hậu quả:

- Anh hướng đến sức khỏe, hạn chế sự phát triển toàn diện của trẻ.Làm giatăng tỷ lệ trẻ khuyết tật, tăng gánh nặng cho gia đình và xã hội

- Gia tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ

- Đẻ tại cơ sở y tế hoặc được cán bộ y tế giúp đỡ

- Nuôi con bằng sữa mẹ

- Tăng cường học hỏi nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm cho trẻ

- Thực hiện tiêm chủng đầy đủ cho trẻ theo lịch tiêm chủng

Qúy vị và các bạn vừa nghe bản tin phát thanh về giảm bệnh tật và tử vong ở TE.Cảm ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị và các bạn./

Trang 13

BÀI PHÁT THANH SỐ 3

DỊ TẬT BẨM SINH Ở TRẺ VÀ SÀNG LỌC, CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH,

Dị tật bẩm sinh là sự khiếm khuyết của cơ thể trong thời kỳ bào thai do yếu tố

di truyền hoặc không di truyền Dị tật bẩm sinh sinh như dính ngón tay, sứt môi,

hở hàm ếch, tim bẩm sinh, suy tuyến giáp, hội chứng Down, v.v… trong đó phổbiến nhất là dị tật ở hệ thống thần kinh, đầu, mặt, cổ, ngực, bụng Dị tật bẩm sinhảnh hưởng đến quá trình phát triển thể chất và tinh thần, trí tuệ của trẻ Theo thống

kê, ước tính có khoảng 4.000 loại dị tật bẩm sinh khác nhau gây ra bởi các yếu tốnhư di truyền, môi trường và chưa rõ nguyên nhân

Nhiều dị tật bẩm sinh có thể điều trị đạt hiệu quả cao nếu được phát hiện sớm.Hiện nay, sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh có thể giúp phát hiện sớm cáccác dị tật bẩm sinh

Sàng lọc là việc sử dụng các biện pháp thăm dò đơn giản, dễ áp dụng, có độ chính

xác tương đối cao để phát hiện các cá thể trong một cộng đồng nhất định có nguy

cơ hoặc sẽ mắc một bệnh lý nào đó

Sàng lọc trước sinh được tiến hành trong thời gian mang thai;

Sàng lọc sơ sinh được tiến hành ngay trong những ngày đầu sau khi sinh;

Chẩn đoán trước sinh là việc sử dụng các biện pháp thăm dò đặc hiệu được tiến

hành trong thời gian mang thai để chẩn đoán xác định những trường hợp nghi ngờmắc bệnh thông qua việc sàng lọc

Trang 14

Chẩn đoán sơ sinh là việc sử dụng các biện pháp thăm dò, xét nghiệm đặc hiệu

đối với trẻ ngay trong những ngày đầu sau khi sinh để chẩn đoán xác định nhữngtrường hợp nghi ngờ mắc bệnh thông qua việc sàng lọc

Thưa quý vị và các bạn!

Hiện nay, ở Việt Nam tỷ lệ thai nhi bị dị tật bẩm sinh là 3%, mỗi năm ước

tính có khoảng 1 triệu trẻ em được sinh ra và có khoảng 22.000 – 30.000 trẻ sinh ra

bị dị tật bẩm sinh (năm 2010)5

Theo số liệu từ Tổng cục DS-KHHGĐ mỗi năm nước ta có khoảng 1 triệu trẻ

em được sinh ra, nếu được sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh tốt sẽ pháthiện được khoảng 1.700 trẻ bị thalamemia (tan máu bẩm sinh thể nặng); 1.400 trẻ

bị bệnh down; 500 trẻ bị dị tật ống thần kinh; 200 trẻ bị suy giáp trạng bẩm sinh;10.000 – 20.000 trẻ bị thiếu men G6PD và nhiều bệnh lý di truyền, dị tật bẩm sinhkhác Khoảng 60% – 70% các dị dạng, dị tật bẩm sinh đến nay vẫn chưa rõ nguyênnhân Như vậy, nếu thai phụ được chẩn đoán, sàng lọc trước sinh kết hợp vớí chẩnđoán, sàng lọc sơ sinh sẽ loại bỏ được 95% những dị tật bất thường và cho ra đờinhững đứa trẻ hoàn toàn khoẻ mạnh Tuy nhiên, một trong những vấn đề đáng longại là hiện nay tỷ lệ trẻ sinh ra được chẩn đoán, sàng lọc tại Việt Nam mới chỉdưới 1%

Vấn đề dị tật bẩm sinh ở trẻ và sàng lọc, chẩn đoán trước sinh, sơ sinh của địa phương: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh hoặc Trung Tâm Dân số-KHHGĐ

huyện thu thập các thông tin, số liệu liên quan để đưa vào mục này.

Thưa quý vị và các bạn!

Lợi ích của sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh:

- Phát hiện nguy cơ mắc bệnh của thai nhi dựa trên kết quả siêu âm, xétnghiệm máu mẹ Theo dõi, chăm sóc bà mẹ mang thai và thai nhi

- Phát hiện sớm các dị tật bẩm sinh như hội chứng đao, khiếm khuyết ốngthần kinh, hở thành bụng, các dị tật tim, lồng ngực, dạ dày, ruột, sinh dục

- Tư vấn cho các cặp vợ chồng quyết định có nên tiếp tục mang thai haykhông đối với trường hợp thai có nguy cơ mắc bệnh hoặc có phương án xử

lý với các biến chứng trong quá trình sinh đẻ và với trẻ sơ sinh

- Xác định các bất thường có thể xẩy ra trong các lần mang thai kế tiếp

5 Trung tâm chẩn đoán trước sinh – Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Trang 15

Thưa quý vị và các bạn!

Khoảng 60% dị tật bẩm sinh là không rõ nguyên nhân, trẻ có thể mắc dị tậttrong khi cha mẹ hoàn toàn khỏe mạnh Một số nhóm nguyên nhân đã được xácđịnh có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây dị tật bẩm sinh ở trẻ:

- Yếu tố di truyền: lỗi gen, nhiễm sắc thể, v.v…

- Nhiễm một số bệnh khi mang thai như: cúm, Rubella

- Người mẹ sử dụng một số loại hóa chất, thuốc, hoặc hút thuốc, uống rượu

- Phụ nữ sinh con muộn (trên 35 tuổi)

Nhiều dị tật bẩm sinh có thể gây tử vong cho trẻ hoặc gây cho trẻ khó khăntrong sinh hoạt và ảnh hưởng đến thẩm mỹ, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất

và tâm lý bình thường của trẻ Gia tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội

Thưa quý vị và các bạn!

Để giảm dị tật bẩm sinh ở trẻ, chúng ta cần:

- Truyền thông nâng cao nhận thức, hiểu biết cho người dân, đặc biệt là các cặp

vợ chồng trẻ chuẩn bị sinh con về sàng lọc trước sinh và sau sinh, chăm sóc phụnữu khi mang thai, v.v…

- Dự phòng dị tật bẩm sinh bằng cách sống lành mạnh: không hút thuốc, hạn chếuống rượu bia;

- Trong 3 tháng đầu mang thai nếu bị mắc một số bệnh như Cúm hoặc rubella thìnên xem xét việc ngừng mang thai hoặc phải tiến hành sàng lọc trước sinhthường xuyên để theo dõi sự phát triển của thai nhi

Qúy vị và các bạn vừa nghe bản tin phát thanh về dị tật bẩm sinh ở trẻ và sàng lọc, chẩn đoán trước sinh, sơ sinh

Cảm ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị và các bạn./

Trang 16

BÀI PHÁT THANH SỐ 4 GIẢM TẢO HÔN

Kính mời quý vị và các bạn đón nghe bản tin phát thanh của đài truyền thanh xã/phường ………

Chủ đề của bản tin phát thanh hôm nay là giảm tảo hôn

Thưa quý vị và các bạn!

Tảo hôn là tình trạng hôn nhân được xác lập giữa các cặp vợ chồng mà trong đómột trong hai người hoặc cả hai người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của luậtpháp (theo Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định tuổi kết hôn: Nam từ

20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên) Nếu người nam giới và/hoặc nữ giới kết hônsớm hơn tuổi này được coi là tảo hôn

Ở Việt Nam, tình trạng kết hôn sớm (tảo hôn) vẫn tồn tại ở một số cộng đồngdân tộc thiểu số khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa Tỷ lệ tảo hôn ở các vùngnày lên đến 20% Độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu của PN dân tộc thiểu số là17.56 tuổi, thấp hơn so với quy định (Số liệu Savy 2) Ở khu vực phía Bắc, ngườiMông có tỷ lệ kết hôn cao nhất, tỷ lệ nam giới kết hôn ở 18 -19 tuổi là 52.5%

Vấn đề tảo hôn của địa phương: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh hoặc Trung

Tâm Dân số-KHHGĐ huyện thu thập các thông tin, số liệu liên quan để đưa vào mục này.

Thưa quý vị và các bạn!

Nguyên nhân của tảo hôn là:

- Do phong tục tập quán dân tộc và tâm lý sớm có con đàn cháu đống, nhu cầu cóthêm lao động cho gia đình

- Do trình độ học vấn thấp, hiểu biết luật pháp hạn chế và việc tiếp cận với cácphương tiện thông tin đại chúng còn nhiều khó khăn Do vậy, hiểu biết và nhậnthức về hậu quả của tảo hôn trong người dân còn hạn chế, đặc biệt là đồng bàodân tộc thiểu số

- Quản lý của chính quyền địa phương thiếu chặt chẽ, chưa kiên quyết, dẫn đếnsự tồn tại dai dẳng của nạn tảo hôn

Trang 17

- Những phản ứng từ cộng đồng đối với hiện tượng tảo hôn còn yếu ớt, một sốcộng đồng cho rằng đây là chuyện riêng của từng gia đình

Tảo hôn để lại hậu quả:

 Đối với cá nhân, gia đình:

- Gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cả nam và nữ do bộ máy sinh dục chưahoàn thiện

- Ảnh hưởng lớn tới sự phát triển bình thường của thai nhi do cơ thể người mẹchưa phát triển hoàn thiện, chưa dủ sức khỏe để nuôi dưỡng bào thai

- Làm gia tăng tỷ lệ tử vong chu sinh và sơ sinh trẻ, gia tăng tình trạng suy dinhdưỡng bào thai (trẻ đẻ ra có cân nặng dưới 2.500 gram) hoặc dị dạng, dị tật

- Làm gia tăng nguy cơ mâu thuẫn và đổ vỡ gia đình do cặp vợ chồng quá trẻ,chưa phát triển đầy đủ về tâm lý và có đủ điều kiện kinh tế để tổ chức cuộcsống gia đình

- Làm mất cơ hội học tập và có việc làm

- Tảo hôn là hành vi vi phạm pháp luật Việc kết hôn sẽ không được pháp luậtcông nhận Các quyền lợi vợ chồng sẽ không được tính đến

 Đối với xã hội:

- Là nguyên nhân làm gia tăng nhanh số lượng dân số

- Trẻ em sinh ra tỷ lệ suy dinh dưỡng cao chậm phát triển về thể chất, tinh thần,trí tuệ, dị dạng, dị tật bẩm sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dân số

- Gây mất tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật

- Ảnh hưởng đến chủ trương, chính sách của Nhà nước trong việc xây dựng chế

độ gia đình bình đẳng, tiến bộ, no ấm, hạnh phúc

- Gia tăng gánh nặng về y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội khác

Thưa quý vị và các bạn!

Để giảm tình trạng tảo hôn, chúng ta cần:

- Tuyên truyền phổ biến bằng nhiều hình thức về Luật hôn nhân và gia đình, đặcbiệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống

- Tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về hậu quả của tảo hôn

- Truyền truyền cho các gia đình, dòng họ không ủng hộ, khuyến khích hành vitảo hôn

- Đề cao và phát huy vai trò quản lý của chính quyền địa phương trong việc giámsát thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình

- Tảo hôn là vi phạm pháp luật.

Qúy vị và các bạn vừa nghe bản tin phát thanh về giảm tảo hôn

Trang 19

BÀI PHÁT THANH SỐ 5 GIẢM HÔN NHÂN CẬN HUYẾT THỐNG

Kính mời quý vị và các bạn đón nghe bản tin phát thanh của đài truyền thanh xã/phường ………

Chủ đề của bản tin phát thanh hôm nay là giảm hôn nhân cận huyết thống

Thưa quý vị và các bạn!

Hôn nhân cận huyết thống (HNCHT) là tình trạng kết hôn giữa những người cócùng dòng máu trực hệ và/hoặc giữa những người có quan hệ huyết thống (bên nộivà/hoặc bên ngoại) trong phạm vi ba đời

Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình quy định cấm kết hôn “Giữa nhữngngười cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời”

Tình trạng Hôn nhân cận huyết thống tồn tại nhiều hơn ở các nhóm người dântộc thiểu số đang sinh sống tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Theothống kê của Tổng cục DS-KHHGÐ, Bộ Y tế6, tại 13 tỉnh miền núi, trong năm nămtrở lại đây, số cặp vợ chồng kết hôn cận huyết thống vẫn tăng cao Ước tính, trungbình mỗi năm có thêm 100 cặp vợ chồng kết hôn cận huyết thống

Ở khu vực miền núi phía Bắc, Hôn nhân cận huyết thống diễn ra nhiều nhất ởcác dân tộc: Mông, Dao, Tày, Nùng, Giấy, Cờ Dao, Lô Lô, Phù Lá, Hoa Hán, LaChí, Pu Péo Riêng tại tỉnh Hà Giang tại 11/11 huyện, thành phố với tổng số476/2048 thôn của 115/195 xã, phường, thị trấn đang xảy ra tình trạng Hôn nhâncận huyết thống

Vấn đề hôn nhân cận huyết thống của địa phương: Chi cục Dân số-KHHGĐ

tỉnh hoặc Trung Tâm Dân số-KHHGĐ huyện thu thập các thông tin, số liệu liên quan để đưa vào mục này.

Thưa quý vị và các bạn!

Nguyên nhân của hôn nhân cận huyết thống là:

Trang 20

- Phong tục, tập quán lâu đời của một số dân tộc thiểu số, đặc biệt là những dântộc sống riêng rẽ, biệt lập với các dân tộc khác, chỉ lấy người trong dòng họ.

- Người dân thiếu thông tin, kiến thức và nhận thức về hậu quả đối với sức khỏe

và duy trì nòi giống của Hôn nhân cận huyết thống

- Người dân thiếu thông tin, kiến thức về Luật Hôn nhân và Gia đình

Hậu quả để lại là:

- Trẻ sinh ra từ cặp vợ chồng HNCHT dễ có nguy cơ mắc các bệnh di truyền nhưmù màu, bạch tạng, da vảy cá, đặc biệt là bệnh tan máu bẩm sinh, là nhữngbệnh gâycó thể gây dị dạng và tàn phế suốt đời

- Làm gia tăng tỷ lệ nghèo đói do con của những gia đình HNCHT thường xuyên

bị ốm, làm gia tăng chi phí khám chữa bệnh và cha mẹ không cos nhiều thờigian làm kinh tế phát triển gia đình

- Gây thoái hóa, suy giảm, thoái hóa chất lượng giống nòi của một dân tộc

- Suy giảm sức khỏe, tăng tỷ lệ bệnh tật do kết hợp gen mang lại gây thoái hóasuy giảm giống nòi

- Nhiều dân tộc ít người đứng trước nguy cơ dân số suy giảm do HNCHT

Thưa quý vị và các bạn!

Để giảm tình trạng hôn nhận cận huyết thống, chúng ta cần:

- Phát triển kinh tế, xã hội vùng cao để nâng cao nhận thức của người dân, phá bỏtình trạng cổ hủ, sinh sống biệt lập của các dân tộc

- Tạo điều kiện giao lưu giữa các dân tộc, đặc biệt là thanh thiếu niên

- Tuyên truyền, phổ biến bằng nhiều hình thức về Luật hôn nhân và gia đình, đặcbiệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống

- Tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về hậu quả xã hội và nhữngbệnh tật của trẻ em sinh ra từ HNCHT

- Tích cực kêu gọi gia đình, dòng họ không ủng hộ, khuyến khích hành vi kết hôncận huyết thống

- Chung tay cùng chính quyền địa phương giám sát thực hiện Luật Hôn nhân vàgia đình

- Hôn nhân cận huyết thống là vi phạm pháp luật.

Qúy vị và các bạn vừa nghe bản tin phát thanh về giảm hôn nhân cận huyếtthống

Cảm ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị và các bạn./

Trang 21

II.CƠ CẤU DÂN SỐ

BÀI PHÁT THANH SỐ 6 TỔNG QUAN VỀ CƠ CẤU DÂN SỐ

Kính mời quý vị và các bạn đón nghe bản tin phát thanh của đài truyền thanh xã/phường ………

Chủ đề của bản tin phát thanh hôm nay là tổng quan về cơ cấu dân số

Thưa quý vị và các bạn!

Pháp lệnh số 06/2003/PL-UBTVQH11 đưa ra khái niệm “ Cơ cấu dân số là

tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác”.

Cơ cấu dân số được chia thành nhiều loại: cơ cấu dân số theo tuổi, giới tính,tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, mức

sống, vùng miền (thành thị, nông thôn, miền núi, đồng bằng, v.v ) Có hai loại cơ

cấu dân số quan trọng nhất là cơ cấu tuổi và cơ cấu giới tính bởi đây là những chỉ

số phản ánh các đặc tính quan trọng của bất kỳ nhóm dân số nào, nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết, di dân trong nước và quốc tế, tình trạng hôn nhân, lực lượng lao động, thu nhập quốc dân thuần túy, kế hoạch phát triển giáo dục và an sinh xã hội.

Cơ cấu dân số theo giới tính là sự phân chia tổng số dân của một quốc gia,

vùng lãnh thổ, đơn vị hành chính thành hai nhóm nam và nữ Để đo lường cơ cấu

dân số theo giới tính, người ta dùng các thước đo là tỷ số giới tính khi sinh và tỷ lệ

nam (nữ) trong tổng số dân

Điều tra mẫu về biến động DS-KHHGĐ 1/4/2008 (thống kê trên 1,4 triệu ca sinh),

tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam là 112,0 Chỉ số này ở mức cao so với thếgiới, Việt Nam xếp hạng thứ tư (Armenia 117, Georgia 116, Trung Quốc 112, Việt

Nam 112) Mất cân bằng giới tính khi sinh là số trẻ trai sinh ra còn sống cao hơn

hoặc thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ gái MCB GTKS xảy ra khi tỷ sốgiới tính nam khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 103 so với 100 trẻ nữ

Trang 22

Việt Nam bắt đầu xảy ra tình trạng MCBGTKS từ năm 2006 và sau khoảng20-25 năm (tính từ năm 2006), số lượng nam giới trưởng thành sẽ nhiều hơn sovới nữ trưởng thành Như vậy sẽ có nhiều đàn ông đến tuổi kết hôn nhưngkhông tìm được bạn đời tương ứng, từ đó có thể gây hậu quả nghiêm trọng vềkinh tế, chính trị và trật tự an toàn xã hội

Cơ cấu dân số theo tuổi là sự phân chia tổng số dân theo các độ tuổi hay

nhóm tuổi Trong thời gian qua, ở Việt Nam cơ cấu này đã có sự thay đổi lớn, năm

1979, dân số nước ta thuộc loại rất trẻ Theo số liệu Tổng điều tra dân số1/10/1979, nhóm 0-14 tuổi chiếm tới 42,5% tổng dân số Tổng Điều tra Dân số vàNhà ở ngày 1/4/2009, tỷ lệ nhóm dân số này giảm đi còn 24,5% và tỷ lệ nhóm dân

số trên 65 tuổi đã tăng lên 6,4% Năm 2011, tỷ lệ nhóm dưới 14 tuổi là 24,1 và trên

65 tuổi là 7.0 Như vậy, dân số Việt Nam đang ở thời kỳ “dân số vàng”

Thời kỳ dân số vàng, có nghĩa là có hai người trong độ tuổi lao động (từ 15đến 60 tuổi) so với một người phụ thuộc (dưới 15 tuổi hoặc từ 60 tuổi trở lên).Thời kỳ này có khả năng kéo dài trong khoảng 30 năm, từ 2010 đến 2040 (UN2007; UNFPA 2009) Trong mười năm tới, 2011-2020, số người trong độ tuổi laođộng sẽ tăng thêm trung bình mỗi năm khoảng 1 triệu người Kỷ nguyên này đemđến cả cơ hội và thách thức cho sự pháp triển kinh tế-xã hội của đất nước Nguồnnhân lực dồi dào chính là một lợi thế cho phát triển kinh tế Tuy nhiên, đồng hànhvới nó là những thách thức về việc làm, giáo dục và an sinh, bảo trợ xã hội

Dân số Việt Nam đang già đi với một tốc độ nhanh chóng chưa từng cótrong lịch sử Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng lên 72,8 tuổi (với namgiới) và 75,6 tuổi (với nữ giới) ( Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009) Năm

1979, cả nước có 3.71 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chiếm 6,9% dân số Năm

2007, tỉ lệ người cao tuổi chiếm 9,5%, tương đương 8,08 triệu và chiếm khoảng10% vào năm 2010 (theo Tổng cục thống kê) Trong cuộc tổng điều tra dân số vànhà ở năm 2009, có 7200 cụ trên 100 tuổi Chăm sóc y tế cho người cao tuổi cũngđược cải thiện song khả năng tiếp cận của nhóm người cao tuổi có thu nhập thấpvẫn còn gặp nhiều khó khăn Kiến thức, kỹ năng chăm sóc sức khỏe người cao tuổitrong cộng đồng còn hạn chế Một số thói quen sinh hoạt, ăn uống của người caotuổi làm tăng nguy cơ gặp các rủi ro tai biến về sức khỏe

Cơ cấu dân số tình trạng hôn nhân: tỷ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên hiện

đang có vợ hoặc có chồng (đã kết hôn) ở nước ta là tương đối cao (68,4% nam giớihiện đang có vợ và 64,6% phụ nữ hiện đang có chồng) Tỷ lệ nam chưa vợ cao hơn6,8 % so với tỷ trọng nữ chưa chồng (28,5% so với 21,7%) Tỷ trọng ly hôn/ly thânnước ta thấp (1.1% và 2.3%)

Như vậy, thách thức lớn đối với cơ cấu dân số Việt Nam hiện nay là tìnhtrạng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh

Trang 23

Cơ cấu dân số của địa phương: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh hoặc Trung

Tâm Dân số-KHHGĐ huyện thu thập các thông tin, số liệu liên quan để đưa vào mục này.

Thưa quý vị và các bạn!

Hậu quả của mất cân bằng giới tính khi sinh có thể gây ra những hệ lụy khólường về mặt xã hội, thậm chí cả an ninh xã hội và ảnh hưởng sâu sắc các lĩnh vựcphúc lợi xã hội, chăm sóc sức khỏe cho các nhóm người dân cũng như kìm hãmhoặc hạn chế những thành quả kinh tế, xã hội của đất nước

Để khắc phục các hậu quả nêu trên, chúng ta cần đưa tỷ số giới tính khi sinh trởlại mức cân bằng tự nhiên Đồng thời, tích cực chủ động tận dụng cơ hội của cơcấu “dân số vàng” và chủ động thích ứng với giai đoạn “già hóa dân số”, chuẩn bịcho giai đoạn “dân số già”

Qúy vị và các bạn vừa nghe bản tin phát thanh tông quan về cơ cấu dân số.Cảm ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị và các bạn./

Trang 24

BÀI PHÁT THANH SỐ 7 MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH

Kính mời quý vị và các bạn đón nghe bản tin phát thanh của đài truyền thanh xã/phường ………

Chủ đề của bản tin phát thanh hôm nay là mất cân bằng giới tính khi sinh

Thưa quý vị và các bạn!

Mất cân bằng giới tính khi sinh là số trẻ trai sinh ra còn sống cao hơn hoặc

thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ gái MCB GTKS xảy ra khi tỷ số giớitính nam khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 103 so với 100 trẻ nữ

Mất cân bằng giới tính khi sinh không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn xảy ra ởnhiều nước khác trên thế giới Suốt từ những năm 1990 cho đến nay, TSGTKS

ở Trung Quốc luôn ở mức cao và rất cao: năm 1990 là 111,3/100, năm 1995 là116,8/100, năm 2000 là 119,9/100, năm 2005 là 120,5/100 và giai đoạn 2009-

2011 vẫn ở mức 118,1/100 M ặc dù đã triển khai nhiều giải pháp tổng thểmạnh mẽ về chính trị, pháp luật, KT-XH, nhưng vẫn chưa có kết quả rõ ràng Sựthay đổi chậm chạp, thậm chí rất khó khăn do các định kiến về con trai, con gái

đã ăn sâu, bám rễ hàng nghìn năm trong phong tục, tập quán của cộng đồng dân

cư và người dân

Ở Việt Nam, vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh diễn ra muộn nhưng tốc độgia tăng nhanh Rà soát kết quả điều ta TĐTDS qua các năm từ 1979-2009 chothấy, TSGTKS trong giai đoạn từ năm 1979 đến năm 1989 trong giới hạn bình

thường (năm 1979 là 105/100, năm 1989 là 106/100); năm 1999 TSGTKS là

107/100– cao hơn tỷ số chuẩn chút ít và đã có có 36 tỉnh ít nhiều xảy raMCBGTKS Tuy nhiên đến năm 2009 TSGTKS đã ở mức 110,6/100 Các cuộcĐiều tra biến động dân số (BĐDS) hàng năm cũng phản ánh xu hướng tăng liên tụccủa TSGTKS (TSGTKS năm 2006 là 110; TSGTKS năm 2007 là 111; năm 2008

là 112,1; năm 2009 là 110,5 và thời điểm 01 tháng 4 năm 2010 là 111,2)

Như vậy, mặc dù TSGTKS đã có dấu hiệu gia tăng từ năm 1999, tuy nhiên, bắtđầu từ 2006, tỷ số giới tính khi sinh bắt đầu tăng và trở thành thách thức lớn vớicông tác dân số và nỗi lo lớn với các nhà hoạch định chính sách

Trang 25

Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh của địa phương: Chi cục Dân

số-KHHGĐ tỉnh hoặc Trung Tâm Dân số-số-KHHGĐ huyện thu thập các thông tin, số liệu liên quan để đưa vào mục này.

Thưa quý vị và các bạn!

Kết quả các nghiên cứu ban đầu ở Việt Nam cho thấy, có ba nhóm nguyênnhân dẫn tới tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh như sau:

Nhóm nguyên nhân cơ bản

Việt Nam là một quốc gia châu Á có nền văn hoá truyền thống, trong đó tưtưởng Nho giáo đóng vai trò chủ đạo Tâm lý ưa thích con trai ăn sâu trong tâmthức nhiều người

Trong nền văn hoá đó, tâm lý ưa thích con trai trở lên mãnh liệt cho mỗi cánhân, mỗi cặp vợ chồng, mỗi gia đình và mỗi dòng họ Ví dụ như: từ khi chuẩn bịkết hôn, nhà trai phải chủ động, ngay trên thiếp mời dự đám cưới, phông chữ trangtrí cũng thường lấy tên nhà trai trước Khi cưới xong con gái theo chồng, lo chonhà chồng Người chồng thường là chủ hộ trong gia đình, có quyền quyết địnhnhững việc lớn Đến khi có con, phải theo họ của bố Khi cha mẹ chết, con traiđược đứng trước, con gái đứng sau, chỉ có cháu trai mới được bê bát hương ông,bà; con trai mới được vào nơi thờ tự, đóng góp giỗ tổ tiên

Tất cả những điều đó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cá nhân, và trở thànhmột phần của nền văn hoá truyền thống Việt Nam Ưa chuộng con trai chính lànguyên nhân gốc rễ của hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam

Nhóm nguyên nhân phụ trợ:

- Hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi chưa phát triển Ở các khu vực nôngthôn, nơi có tới 70% dân số đang sinh sống Người già hầu hết không có lươnghưu, hay trợ cấp xã hội, họ cần sự chăm sóc về y tế Tất cả phụ thuộc vào khảnăng phụng dưỡng của con cái, mà theo quan niệm của gia đình truyền thống,trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai Người già vì thế sẽ cảm thấy lo lắngcho tương lai và bất an khi về già nếu không có con trai

- Do nhu cầu phát triển kinh tế hộ gia đình Ở nhiều vùng nông thôn, các côngviệc nặng nhọc, đặc biệt là công việc trong các ngành Nông - Lâm - Ngưnghiệp, khai thác khoáng sản, đi biển đánh bắt thuỷ hải sản xa bờ đều đòi hỏisức lao động cơ bắp của nam giới Chính vì vậy, con trai vừa là trụ cột về tinhthần, vừa là trụ cột về kinh tế cho cả gia đình

- Những chính sách giải quyết các vấn đề liên quan đến bất bình đẳng giới chưathật thỏa đáng cũng góp phần thúc đẩy một số phụ nữ chủ động tìm kiếm cácdịch vụ lựa giới tính trước sinh

Trang 26

- Những chuẩn mực xã hội mới như gia đình qui mô nhỏ cũng tạo áp lực giảmsinh, khi mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1-2 con Điều này dường như xung đột vớigiá trị văn hoá truyền thống là phải có con trai bằng mọi giá Chính sự xung độtnày đã tạo áp lực đối với các cặp vợ chồng: vừa mong muốn có ít con, lại mongmuốn trong số đó phải có con trai Đây là động lực khiến các cặp vợ chồng tìmkiếm và sử dụng các dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh Những tiến bộ trong

y học, nhất là các kỹ thuật lựa chọn giới tính trước sinh đã trở thành như một

cứu cánh đối với một số cặp vợ chồng để đáp ứng được cả 2 mục tiêu.

Nguyên nhân trực tiếp: Lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện

lựa chọn giới tính trước sinh như:

- Áp dụng một số kỹ thuật trước lúc có thai (chế độ ăn uống, chọn ngày phóng

noãn…);

- Áp dụng một số kỹ thuật trong lúc thụ thai (chọn thời điểm phóng noãn, chọn

phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thểY,…);

Áp dụng một số kỹ thuật sau khi đã có thai (sử dụng siêu âm, bắt mạch, chọc

hút dịch ối,…) để chẩn đoán giới tính thai nhi, sinh kết hợp với phá thai chọnlọc giới tính (nếu là thai trai thì để lại, nếu là thai gái thì bỏ đi)

Thực tế cho thấy, nhu cầu và mong muốn con trai của các cặp vợ chồng dù lớn đếnđâu cũng chỉ có thể thực hiện được với sự trợ giúp của cán bộ y tế Trong nhữngnăm qua, hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân nói chung và sức khoẻsinh sản nói riêng ở Việt Nam ngày càng tốt hơn Trang thiết bị hiện đại, đội ngũhành nghề y, dược trong và ngoài công lập có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ngàycàng cao Sự phát triển này, một mặt góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ chămsóc sức khoẻ cho người dân, mặt khác cũng làm nảy sinh tình trạng lạm dụng cáckỹ thuật như siêu âm, phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính, tác động tới tìnhtrạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Ở Việt Nam, Pháp lệnh Dân số đã có quy định nghiêm cấm lựa chọn giới tính thainhi dưới mọi hình thức, tuy nhiên, việc thực hiện các quy định này chưa chưanghiêm

Hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh:

Nam giới khó kết hôn, kết hôn muộn, thậm chí là không thể kết hôn do khôngtìm được bạn đời dẫn đến phải tìm cô dâu là người nước ngoài Trong khi việckết hôn với người nước ngoài cũng có nhiều vấn đề này sinh như: khác biệt lớnvề văn hóa, ngôn ngữ … sẽ dẫn đến nguy cơ ảnh hưởng đối với gia đình, phânbiệt đối xử và mất bình đẳng giới;

Nam giới đến tuổi kết hôn nhưng không lấy được vợ vì thiếu phụ nữ, đã dẫn đếngia tăng tội phạm về tình dục, lừa đảo, bắt cóc, buôn bán phụ nữ; tăng tệ nạn mại

Trang 27

dâm, hiếp dâm phụ nữ tăng nguy cơ lây nhiễm HIV và bệnh xã hội, gây bấtổn về chính trị, kinh tế và xã hội.

Ngoài ra, do gia đình nhà chồng hoặc người chồng muốn có con trai, khi người

vợ không sinh được con trai theo ý muốn, người chồng bỏ rơi hoặc ly dị vợ; giađình chồng ép người chồng bỏ rơi vợ, hay cặp vợ chồng đẻ được con gái, cho congái đi làm con nuôi…

Tình trạng MCBGTKS đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng ở 1 số nước vàthậm chí còn nghiêm trọng hơn so với Việt Nam như hiện tượng giết chết trẻ emgái mới sinh (rải rác xuất hiện ở Ấn Độ, Trung Quốc)

Hiện nay, hàng trăm ngàn cô dâu Việt Nam ở Hàn Quốc, Đài Loan; 65% trong

số gần 5000 vụ buôn bán người phát hiện trong 5 năm vừa qua là số phụ nữViệt Nam bị bán, bị lừa đi lấy chồng Trung Quốc, có lẽ đó là những bằngchứng điển hình về hậu quả MCBGTKS

đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đều đã quy định nghiêm cấm các hành vi lựa chọn

giới tính thai nhi.

Bộ Y tế đã ban hành văn bản số 3121/BYT-BMTE ngày 21 tháng 5 năm 2009 vềviệc nghiêm cấm lạm dụng kỹ thuật cao để lựa chọn giới tính thai nhi; hằng nămđều có hướng dẫn các quy định về nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thainhi và can thiệp để làm giảm tình trạng mất cân bằng GTKS

Tăng cường tuyên truyền về thực trạng, nguyên nhân và hệ lụy mất cân bằng giớitính khi sinh; các văn bản pháp luật quy định nghiêm cấm lựa chọn giới tính thainhi trên các phương tiện truyền thông đại chúng và trong các buổi sinh hoạt củađoàn thể, thôn/ xóm

Trung ương và các địa phương đã tổ chức nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra các nhàxuất bản, các trang thông tin điện tử, các nhà sách,… phát hiện, thu hồi những ấnphẩm hoặc yêu cầu dỡ bỏ những nội dung quảng bá, tuyên truyền, hướng dẫn việcsinh con theo ý muốn Và tổ chức nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra các cơ sở y tếcông lập, các cơ sở y tế tư nhân, đặc biệt là các cơ sở siêu âm, các phòng khám sảnphụ khoa - kế hoạch hóa gia đình để phát hiện, xử lý những trường hợp chẩn đoán

Trang 28

Quývị và các bạn vừa nghe bản tin phát thanh về mất cân bằng giới tinh khi sinh.Cảm ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị và các bạn./.

BÀI PHÁT THANH SỐ 8 NGHIÊM CẤM LỰA CHỌN GIỚI TÍNH KHI SINH

Kính mời quý vị và các bạn đón nghe bản tin phát thanh của đài truyền thanh xã/phường ………

Chủ đề của bản tin phát thanh hôm nay là nghiêm cấm lựa chọn giới tính khisinh Bao gồm những quy định về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi và biện pháp xử lý các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi

Thưa quý vị và các bạn!

Những quy định về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi:

Ở Việt Nam, vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh tuy mới xuất hiện một

số năm gần đây nhưng nhanh chóng trở thành vấn đề xã hội bức xúc Do đó, mộttrong những giải pháp nhằm làm giảm mất cân bằng giới tính khi sinh là phải hoànthiện và thực thi chính sách, pháp luật liên quan đến giới và giới tính khi sinh.Pháp luật của Việt Nam đã quy định nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tínhthai nhi Mục đích của việc nghiêm cấm lựa chọn giới tính khi sinh là để bảo đảmcân bằng giới tính giữa nam và nữ, bảo đảm cho sự ổn định và phát triển xã hộilành mạnh Việc cấm lựa chọn giới tính khi sinh có ý nghĩa, tác dụng là: (i) Bảođảm sự bình đẳng giữa nam và nữ; (ii) Tạo dư luận xã hội ủng hộ và xoá dần sựphân biệt giữa con trai và con gái trong tiềm thức của nhân dân; (iii) Ngăn chặntình trạng phá thai vì lý do lựa chọn giới tính; (iv) Bảo đảm sự cân đối về số lượnggiữa nam và nữ; (v) Tạo sự ổn định và phát triển bền vững

Ngay từ năm 2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành Pháp

lệnh Dân số trong đó quy định: “Nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai

chặn việc lựa chọn giới tính thai nhi để bảo đảm cân bằng giới tính theo quy luật

7 Khoản 2 Điều 7, Pháp lệnh Dân số năm 2003

Trang 29

sinh sản tự nhiên; điều chỉnh mức sinh nhằm tạo cơ cấu dân số hợp lý về giới tính,

độ tuổi” 8

Luật Bình đẳng giới năm 2006 cũng có một số quy định liên quan đến vấn

đề giới và lựa chọn giới tính Điều 4 của Luật này quy định: “Mục tiêu của bình

đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” Điều 40 quy định các

hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới, trong đó có nội dung: “Lựa chọn giới

tính thai nhi dưới mọi hình thức hoặc xúi giục, ép buộc người khác phá thai vì giới tính của thai nhi” là vi phạm pháp luật về bình đẳng giới” 9

Nhằm cụ thể hoá những quy định của pháp luật về nghiêm cấm lựa chọngiới tính thai nhi dưới mọi hình thức, Chính phủ ban hành Nghị định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sốđiều của Pháp lệnh Dân số, trong đó đã quy định các hành vi lựa chọn giới tính thainhi bị nghiêm cấm gồm10:

1 Tuyên truyền, phổ biến phương pháp tạo giới tính thai nhi dưới các hìnhthức: tổ chức nói chuyện, viết, dịch, nhân bản các loại sách, báo, tài liệu, tranh, ảnh,ghi hình, ghi âm; tàng trữ, lưu truyền tài liệu, phương tiện và các hình thức tuyêntruyền, phổ biến khác về phương pháp tạo giới tính thai nhi

2 Chẩn đoán để lựa chọn giới tính thai nhi bằng các biện pháp: xác định quatriệu chứng, bắt mạch; xét nghiệm máu, gen, nước ối, tế bào; siêu âm,

3 Loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính bằng các biện pháp phá thai,cung cấp, sử dụng các loại hóa chất, thuốc và các biện pháp khác

Thực trạng thực hiện những quy định về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi của địa phương: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh hoặc Trung Tâm Dân số-

KHHGĐ huyện thu thập các thông tin, số liệu liên quan để đưa vào mục này.

Thưa quý vị và các bạn!

Biện pháp xử lý các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi

Để ngăn chặn kịp thời và xử lý các hành vi vi phạm của cá nhân, tổ chức vềdân số chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, pháp luật đã quy định các chế

8 Khoản 1 Điều 14, Pháp lệnh Dân số năm 2003

9 Xem chi tiết tại điểm b, khoản 7 Điều 40 Luật Bình đẳng giới năm 2006.

Trang 30

tài để xử lý các hành vi vi phạm về lựa chọn giới tính thai nhi Nghị định114/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ quy định xử phạt viphạm hành chính về dân số và trẻ em Điều 9 Nghị định này quy định mức xử phạtđối với từng hành vi vi phạm hành chính liên quan đến lựa chọn giới tính thai nhi.Cụ thể như sau:

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau

đây:

+ Bắt mạch, xác định qua triệu chứng, bói toán hoặc bằng các hình thức khác không được pháp luật cho phép để xác định giới tính thai nhi mà các hành vi này có tính chất trục lợi

+ Nói chuyện, viết, dịch, nhân bản các loại sách, báo, tài liệu, tranh, ảnh, ghi

âm, ghi hình hoặc các hình thức khác không được pháp luật cho phép để tuyêntruyền, phổ biến phương pháp tạo giới tính thai nhi

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

+ Siêu âm, xét nghiệm máu, gen, nước ối, tế bào hoặc các biện pháp kháckhông được pháp luật cho phép để xác định giới tính thai nhi;

+ Cung cấp hoá chất, thuốc hoặc các biện pháp khác để loại bỏ thai nhi màbiết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính;

+ Nghiên cứu hoặc áp dụng phương pháp nhân tạo để tạo nên giới tính thainhi theo mong muốn

+ Tàng trữ, lưu hành các loại tài liệu, phương tiện chứa đựng nội dung vềphương pháp tạo giới tính thai nhi

- Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây

+ Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực để ép buộc người mang thai phải loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính;

+ Phá thai mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính

Ngoài ra, người vi phạm còn phải chịu những hình thức xử phạt bổ sungnhư: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tịch thu phương tiện,tang vật được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm

- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 01 đến tháng đến

03 tháng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi quy định tại điểm a và điểm bkhoản 2 Điều 9 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP; tước quyền sử dụng giấy phép,chứng chỉ hành nghề từ 03 tháng đến 06 tháng đối với cá nhân, tổ chức thực hiệnhành vi quy định tại điểm b khoản 3 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP;

- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi quy định tại điểm a và điểm b khoản 1, điểm d khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 9 Nghị định số114/2006/NĐ-CP

Đồng thời, Nghị định số 114/2006/NĐ-CP còn quy định các biện pháp khắcphục hậu quả như buộc tiêu huỷ các loại tài liệu, phương tiện chứa đựng nội dungvề phương pháp tạo giới tính thai nhi được sử dụng để thực hiện hành vi quy địnhtại điểm a và điểm b khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 9 Nghị định này

Trang 31

Qúy vị và các bạn vừa nghe bản tin phát thanh về nghiêm cấm lựa chọn giớitinh khi sinh.

Cảm ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị và các bạn./

Trang 32

BÀI PHÁT THANH SỐ 9 GIÀ HÓA DÂN SỐ

Kính mời quý vị và các bạn đón nghe bản tin phát thanh của đài truyền thanh xã/phường ………

Chủ đề của bản tin phát thanh hôm nay là già hóa dân số

Thưa quý vị và các bạn!

Thế giới đang già hóa nhanh chóng Trong 10 năm tới, số người từ 60 tuổitrở lên sẽ vượt qua con số 1 tỷ người Già hóa dân số mang lại nhiều cơ hội cũng

như nhiều thách thức Già hóa dân số là tình trạng dân số của một quốc gia có tỷ lệ

người ≥ 65 tuổi chiếm từ 7% tổng dân số trở lên; hoặc khi tỷ lệ người ≥ 60 tuổi trởlên chiếm từ 10% tổng dân số trở lên Theo ước tính, số người cao tuổi ở khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương sẽ tăng gấp ba lần, từ 419 triệu người vào năm 2010 tớihơn 1,2 tỷ người vào năm 2050 Đến thời điểm này, cứ 4 người thì có 1 người trên

60 tuổi Sự chuyển đổi này sẽ được nhìn thấy rõ ở Đông và Đông Bắc Á, nơi mà cứ

3 người thì có hơn 1 người trên 60 tuổi vào năm 2050

Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất ở châu

Á Kết quả điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) năm

2010 tỷ lệ dân số 65 tuổi trở lên là 6,8% tăng 0,4% so với năm 2009, năm 2011 tỷ

lệ dân số 65 tuổi trở lên là 7% Như vậy theo quy ước của Liên hợp quốc nước ta

đã bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 Vào năm 2012, tỷ lệ người caotuổi chiếm 10,2 phần trăm so với tổng dân số

Chỉ số già hoá - một trong những chỉ báo quan trọng biểu thị xu hướng “giàhóa dân số” đã tăng từ 18,2% năm 1989 lên 38% năm 2010 và lên 42,7% vào năm

2012, cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Nam Á (30%) Như vậy, nếu nhưnăm 1989, cứ khoảng 6 trẻ em dưới 15 tuổi mới có 1 người từ 60 tuổi trở lên thìđến năm 2012 cứ khoảng 3 trẻ em dưới 15 tuổi đã có 1 người 60 tuổi trở lên

Theo các chuyên gia trong nước và quốc tế, có nhiều thách thức với vấn đềgià hóa dân số cần được giải quyết , trong đó có vấn đề thu nhập không được đảmbảo, an sinh xã hội chưa đầy đủ, năng lực hạn chế của hệ thống y tế trong việc giảiquyết một loạt các vấn đề vẫn đang tồn tại mà người cao tuổi (NCT) phải đối mặt,những vấn đề về nhân sự trong việc đáp ứng các nhu cầu về dịch vụ chăm sócngười cao tuổi, cụ thể là chăm sóc lâu dài, và việc mang lại một môi trường thân

Trang 33

thiện với người cao tuổi để khuyến khích sự tham gia tích cực của người cao tuổi

vì một xã hội tốt đẹp hơn

Theo số liệu Điều tra người cao tuổi Việt Nam năm 2011, 39 phần trăm sốngười cao tuổi hiện vẫn đang làm việc, tỷ lệ người cao tuổi ở vùng nông thôn vàphụ nữ cao tuổi tham gia vào lực lượng lao động cao hơn đáng kể so với người caotuổi sinh sống tại các khu vực đô thị và nam giới cao tuổi Tuy nhiên hầu hết ngườicao tuổi đang tự tạo công ăn việc làm trong nông nghiệp với thu nhập thấp vàkhông ổn định 17,2 phần trăm người cao tuổi thuộc diện nghèo Phụ nữ cao tuổi,phụ nữ nông thôn và phụ nữ dân tộc thiểu số dễ rơi vào nghèo đói hơn so với namgiới

Già hóa dân số cũng mang lại nhiều cơ hội Người cao tuổi đóng vai tròquan trọng trong việc hỗ trợ gia đình và cộng đồng Cho dù người cao tuổi chỉ hỗtrợ hay tham gia gián tiếp vào các hoạt động kinh tế thì họ vẫn có những đóng góp

to lớn tới sự phát triển kinh tế xã hội

Thực trạng già hóa dân số ở địa phương: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh

hoặc Trung Tâm Dân số-KHHGĐ huyện thu thập các thông tin, số liệu liên quan

để đưa vào mục này (nếu có).

Trong hai thập kỷ qua, tỷ suất chết thô của Việt Nam đã giảm từ 7,3%o (năm1989) xuống 7%o(năm 2012) Mức chết của trẻ dưới 1 tuổi giảm hơn một nửa từ42,3%o (năm 1989) xuống còn 15,4%0 (năm 2012) Các chương trình chăm sóc sứckhỏe bà mẹ- trẻ em, làm mẹ an toàn, tiêm chủng mở rộng, chống suy dinh dưỡng,thực hiện KHHGĐ đã trực tiếp góp phần làm giảm mức chết của trẻ dưới 1 tuổi nóiriêng và mức chết của dân số nói chung

Nhờ những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội; thành công trong côngtác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; chương trình DS-KHHGĐnên tuổi thọ bình quân ở nước ta đã không ngừng tăng lên Trong hai thập kỷ gầnđây, tuổi thọ bình quân của nước ta đã tăng từ 65,2 tuổi (năm 1989) lên 68,3 (năm1999), 72,8 năm 2009 và 73,0 năm 2012 Tuổi thọ bình quân cao đã làm tỷ trọngNCT trong tổng dân số ngày càng tăng

Trang 34

Trên phạm vi tỉnh, thành phố ngoài các yếu tố mức sinh giảm, mức chếtgiảm và tuổi thọ tăng, tỷ lệ NCT cao hay thấp còn chịu tác động của yếu tố di cư.

Di chuyển giữa các tỉnh, thành phố ở nước ta trong những năm qua diễn ra chủ yếu

ở nhóm người trong độ tuổi 15-29 với mục đích chính là tìm việc làm và học tập.Năm 2009, hơn một nửa số người di chuyển là từ 25 tuổi trở xuống Điều này gópphần làm tăng tỷ trọng NCT trong tổng số dân của các tỉnh, thành phố có số lượngngười xuất cư lớn; làm giảm tỷ trọng NCT trong tổng dân số của các tỉnh thànhphố có số lượng người nhập cư lớn Chẳng hạn như Bình Dương là tỉnh có tuổi thọbình quân cao (75,4), tổng tỷ suất sinh thấp (1,7) Theo quy luật nhân khẩu học lẽ

ra tỷ trọng dân số cao tuổi của Bình Dương phải cao Tuy nhiên, do tỉnh BìnhDương có số người nhập cư cao (tỷ suất di cư thuần lên tới 340,4%o) vì thế tỷtrọng dân số 60+ năm 2009 của Bình Dương thuộc nhóm thấp nhất nước (4,6%)

Thưa quý vị và các bạn!

Ở nước ta, sớm nhận thức rõ tầm quan trọng của NCT và vấn đề “già hóa dânsố”, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến NCT Chỉ thị số59-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 27 tháng 9 năm 1995 chỉ rõ:

“NCT có công sinh thành, nuôi dạy con cháu, giữ gìn và phát triển giống nòi, giáodục các thế hệ thanh niên Việt Nam về nhân cách, phẩm chất và lòng yêu nước…Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của NCT là trách nhiệm của Đảng,Nhà nước và toàn xã hội… Chăm sóc và phát huy tốt NCT là thể hiện bản chất tốtđẹp của chế độ ta và đạo đức của người Việt Nam” Năm 2009, Quốc hội khóa XII

đã thông qua Luật NCT quy định về quyền và nghĩa vụ của NCT; trách nhiệm củagia đình, Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy NCT.Năm 1998 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 121/1998/QĐ-TTg vềthành lập Uỷ ban năm quốc tế NCT; ngày 21/11/2005 Thủ tướng chính phủ phêduyệt chương trình hành động quốc gia về NCT, các bộ, ban ngành cũng đã banhành các văn bản chính sách đối với NCT

Như vậy, có thể thấy hệ thống văn bản pháp luật, chính sách về NCT ở nước ta

đã tạo điều kiện để phát huy và nâng cao chất lượng chăm sóc NCT

chặt chẽ với nhau, có chăm sóc tốt mới phát huy được và phát huy chính là chămsóc tích cực đối với NCT Cuộc sống hàng ngày của NCT diễn ra chủ yếu tại cộngđồng, gắn bó với các tổ chức, đoàn thể xã hội vì vậy nâng cao năng lực và vai tròcủa các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp trong việc chăm sóc và phát huyNCT vừa là đòi hỏi khách quan vừa có hiệu quả thiết thực

Các tổ chức chính trị, xã hội,… lồng ghép tuyên truyền vận động về chăm sóc

và phát huy NCT trong nội dung sinh hoạt của tổ chức mình; hỗ trợ nguồn lực vàtích cực tham gia cùng Hội NCT đẩy mạnh triển khai thực hiện các mô hình tổchức cuộc sống cho NCT sống cùng con cháu, các mô hình câu lạc bộ mà thànhviên là NCT thực hiện chính sách DS-KHHGĐ; góp phần nâng cao chất lượng dân

số trong công tác DS-KHHGĐ

Trang 35

Qúy vị và các bạn vừa nghe bản tin phát thanh về già hóa dân số.

Cảm ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị và các bạn./

BÀI PHÁT THANH SỐ 10

CƠ CẤU DÂN SỐ VÀNG

Kính mời quý vị và các bạn đón nghe bản tin phát thanh của đài truyền thanh xã/phường ………

Chủ đề của bản tin phát thanh hôm nay là cơ cấu dân số vàng

Thưa quý vị và các bạn!

Thời kỳ cơ cấu dân số vàng là thời kỳ mà cứ một người trong độ tuổi phụ thuộc(<15 hoặc > 60 tuổi) thì có hai người trở lên trong độ tuổi lao động (từ 15 - 60tuổi) Thời kỳ này chỉ xảy ra một lần trong lịch sử phát triển của bất kỳ một quốcgia nào

Từ năm 2007, dân số nước ta bước vào giai đoạn cơ cấu "Dân số vàng" với tỷ lệphụ thuộc đạt dưới 50%, hay nói cách khác, cứ hai người trong độ tuổi lao độngtham gia hoạt động kinh tế thì chỉ "gánh" một người ngoài tuổi lao động, phụthuộc Theo các nhà nhân khẩu học thì giai đoạn cơ cấu dân số vàng của Việt Nam

sẽ diễn ra trong khoảng 35 năm

Cơ cấu "Dân số vàng" đem đến cả cơ hội và thách thức cho sự pháp triển kinh

tế-xã hội của đất nước Như các bạn đã biết, thời kỳ dân số vàng tạo cho Việt Nammột cơ hội “vàng” để sử dụng lực lượng lao động dồi dào phục vụ tăng trưởngkinh tế, đặc biệt là giai đoạn then chốt 2011-2020, khi Việt Nam đặt mục tiêu trởthành một nước công nghiệp và được xếp vào hàng các nước thu nhập trung bình.Theo ước tính, thời kỳ dân số vàng đóng góp khoảng một phần ba vào tăng trưởngcủa các nước châu Á có tăng trưởng thần kỳ về kinh tế

Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng thời kỳ dân số vàng không phải tựnhiên mà đến Các quốc gia sẽ cần phải đầu tư vào y tế, giáo dục và phát triểnnguồn nhân lực nếu họ được hưởng lợi từ thời kỳ dân số vàng

Trang 36

Theo kinh nghiệm của các nước đã tận dụng tốt thời kỳ dân số vàng, trước vàtrong suốt thời kỳ dân số vàng, Việt Nam cần ban hành và thực hiện các nhómchính sách phù hợp về giáo dục và đào tạo; lao động, việc làm và nguồn nhân lực;chăm sóc y tế; an sinh và bảo trợ xã hội.

Thưa quý vị và các bạn!

Nhận thức của người lao động còn hạn chế về việc nâng cao trình độ, chuyênmôn kỹ thuật và tay nghề Sản phẩm lao động hiệu quả thấp Năng lực cạnh tranh

và khả năng thích ứng với yêu cầu lao động của xã hội còn nhiều hạn chế

Theo kết quả cuộc điều tra lao động và việc làm năm 2011, tỉ lệ người lao độngqua đào tạo vẫn còn thấp Trong 51,4 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượnglao động, chỉ có hơn 8 triệu người được đào tạo, chiếm 15,6% tổng lực lượng laođộng Như vậy, tuy nguồn nhân lực của VN trẻ và dồi dào, nhưng trình độ tay nghề

và chuyên môn kỹ thuật thấp Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo cao nhất là ở Hà Nội(30,7%) và thấp nhất là đồng bằng sông Cửu Long (8,6%) Tỉ lệ lực lượng laođộng có trình độ đại học trở lên khác nhau đáng kể giữa các vùng Nơi có tỉ lệ nàycao nhất là Hà Nội và TP.HCM (17%), còn đồng bằng sông Cửu Long thấp nhất(3,4%).Giáo dục và đào tạo vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Chất lượng giáo dụccòn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới So với nhiềunước, tỉ lệ người VN biết đọc biết viết cao, song tỉ lệ người lao động được đào tạonghề lại không cao

Nhiều vấn đề về KHHGĐ, chăm sóc SKSS chưa được giải quyết tốt: Vẫn cònsự cách biệt lớn giữa các vùng về nhiều chỉ báo SKSS như tỷ số chết mẹ, tỷ suấtchết trẻ em và tỷ lệ suy dinh dưỡng Tử vong sơ sinh vẫn còn khá cao, chiếm tới70% tử vong trẻ em dưới một tuổi và 50% tử vong trẻ em dưới năm tuổi Tìnhtrạng phá thai vẫn còn nhiều Dịch vụ về SKSS, sức khỏe tình dục (SKTD) cho cácnhóm dân số đặc thù như người chưa thành niên, thanh niên, nam giới, người di cư,người khuyết tật, người có HIV, nạn nhân của bạo lực tình dục, người dân trongthảm họa thiên tai còn hạn chế

Thực trạng cơ cấu dân số vàng ở địa phương: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh

hoặc Trung Tâm Dân số-KHHGĐ huyện thu thập các thông tin, số liệu liên quan

để đưa vào mục này (nếu có).

Thưa quý vị và các bạn!

Để tận dụng lợi thế của giai đoạn dân số vàng, mỗi công dân VN đều phải cónghề nghiệp và được đào tạo nghề Một vấn đề nữa là làm sao có chính sách pháthuy được nguồn lực trong dân Thật ra ở giai đoạn hiện nay, dân số VN mới

“vàng” về số lượng, chưa “vàng” ở chất lượng Muốn phát triển, chúng ta phải biếnvàng ở số lượng thành vàng cả về chất lượng dân số

Trang 37

Thực hiện tốt KHHGĐ, mô hình gia đình chỉ có 1-2 con để duy trì và kéodài thời gian cơ cấu dân số vàng, tận dụng những lợi thế của cơ cấu dân số vàngcho việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Quý vị và các bạn vừa nghe bản tin phát thanh về cơ cấu dân số vàng

Cảm ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị và các bạn./

Trang 38

III QUY MÔ DÂN SỐ

BÀI PHÁT THANH SỐ 11 TỔNG QUAN VỀ QUY MÔ DÂN SỐ

Kính mời quý vị và các bạn đón nghe bản tin phát thanh của đài truyền thanh xã/phường ………

Chủ đề của bản tin phát thanh hôm nay là tổng quan về quy mô dân số

Thưa quý vị và các bạn!

Pháp lệnh số 06/2003/PL-UBTVQH11 đưa ra khái niệm “Quy mô dân số là sốngười sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc đơn vị hànhchính tại một thời điểm nhất định”

Việt Nam hiện đứng thứ 14 trong số những nước đông dân nhất thế giới Dân

số Việt Nam có đến 1/4/2011 là 87.610.947 người (tăng 863.140 người so với1/4/2010) Dân số thành thị là 26.779.978 người, chiếm 30,6% và dân số nam là43.347.731 người, chiếm 49,5% tổng dân số Vùng có quy mô dân số lớn nhất làĐồng bằng sông Hồng (19.883.325 người), tiếp đến là Bắc Trung Bộ và Duyên hảimiền Trung (18.994.709 người) Tây Nguyên là vùng có số dân ít nhất (5.278.679người)

Nhờ thực hiện thành công công tác KHHGĐ nên tỷ lệ tăng dân số của nước ta

đã giảm từ 1,28% năm 2001 xuống còn 1,05% năm 2010, vượt mục tiêu đề ra1,14% vào năm 2010; tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại tăng từ 61,1% năm 2001 lên67,5 % năm 2010; tổng tỷ suất sinh từ 2,28 con giảm xuống 2,09 con năm 2006(đạt mức sinh thay thế) và 2,0 con năm 2010 Quy mô dân số đạt 86,9 triệu ngườinăm 2010, thấp hơn so với mục tiêu Chiến lược đề ra là dưới 89 triệu người

Trong giai đoạn hiện nay, bình quân mỗi năm dân số nước ta vẫn tăng gần 1triệu người Theo dự báo của các chuyên gia vào năm 2049 dân số nước ta là 108,7triệu người Trong vòng 40 năm, từ 2009-2049 số dân tăng thêm khoảng 23 triệu,tương đương với dân số vùng đồng bằng sông Hồng năm 2009 Như vậy, sẽ cónhiều thách thức đặt ra cho tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước và từng địaphương

Thưa quý vị và các bạn!

Trang 39

Nếu không kiểm soát tốt quy mô dân số thì sẽ ảnh hưởng xấu đến đến nhiều vấnđề kinh tế xã hội Quy mô dân số tiếp tục tăng nên diện tích đất sản xuất nôngnghiệp bình quân đầu người có xu hướng giảm mạnh Ở khía cạnh khác, dân số giatăng nên nguồn lao động sẽ dồi dào, gây áp lực cho việc giải quyết công ăn việclàm hàng năm.

Chúng ta điều chỉnh mức sinh hợp lý và thực hiện tốt mục tiêu của Chiến lượcdân số - SKSS giai đoạn 2011 -2020 như đã đưa ra: tốc độ tăng dân số ở mức 1%

và tỷ suất sinh ở mức 1.8 – 2 con

- Các cặp vợ chồng chấp hành nghiêm túc quy định về quy mô gia đình chỉ có

1-2 con

- Thực hiện tốt KHHGĐ

Qúy vị và các bạn vừa nghe bản tin phát thanh về tổng quan về quy mô dân số.Cảm ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị và các bạn./

Trang 40

BÀI PHÁT THANH SỐ 12

KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH

Kính mời quý vị và các bạn đón nghe bản tin phát thanh của đài truyềnthanh xã/phường ………

Chủ đề của bản tin phát thanh hôm nay là kế hoạch hóa gia đình

Thưa quý vị và các bạn!

Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồngnhằm điều chỉnh số con mong muốn và khoảng cách giữa các lần sinh KHHGĐkhông chỉ là sử dụng các biện pháp để tránh thai ngoài ý muốn mà còn là những cốgắng của các cặp vợ chồng hiếm muộn để có thai và sinh con

Các nội dung KHHGĐ bao gồm:

- Thực hiện quy mô gia đình từ 1 - 2 con, chủ động sử dụng biện pháp tránh thai(BPTT) hiện đại, phù hợp

- Thời điểm sinh con thích hợp: sau 20 tuổi hoặc trước tuổi 35 để tránh các nguy

cơ và rủi ro cho sức khoẻ của cả mẹ và con

- Khoảng cách giữa hai lần sinh hợp lý: từ 3 đến 5 năm để đảm bảo sức khoẻ cho

cả mẹ và con

- Trách nhiệm của nam giới: thực hiện KHHGĐ, chủ động bàn bạc với vợ/bạntình để lựa chọn một BPTT hiện đại, phù hợp; Sử dụng BCS đúng cách khiQHTD

- Nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ: cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác;dịch vụ an toàn, thuận tiện

Trong vài năm gần đây tỷ lệ giảm sinh đã bắt đầu chững lại chứ không giảmđều đặn như những năm trước (năm 2010 là 0,5%0; năm 2011 là 0,5%0), tình trạngphá thai vẫn chưa giảm mạnh, đặc biệt là phá thai VTN/TN

Không thực hiện tốt KHHGĐ sẽ dẫn đến tình trạng sinh nhiều con, ảnh hưởngđến sức khỏe của người phụ nữ, của những đứa con và làm gia tăng gánh nặngkinh tế cho gia đình và xã hội.Người mẹ không có đủ thời gian, sức khỏe và điềukiện phát triển toàn diện bản thân để có những đóng góp cho gia đình và xã hội

Ngày đăng: 04/07/2019, 19:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w