Nghiên cứu các hình thức biểu đạt so sánh trong tiếng Hán,liên hệ với tiếng Việt ở một chừng mực nhất định, từ đó vận dụng vàodạy học ngoại ngữ là một trong những nội dung quan trọng góp
Trang 1KHẢO SÁT CÁC HÌNH THỨC BIỂU ĐẠT SO SÁNH TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
(LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT NHẰM MỤC ĐÍCH GIẢNG DẠY)
TS NGUYỄN HOÀNG ANH * PHẦN MỞ ĐẦU
0.1 Lí do lựa chọn đề tài
“So sánh” trước hết là một phạm trù triết học Vạn vật trên thếgiới chỉ cần có một chút liên hệ nhất định thì đều có thể đem ra sosánh với nhau “So sánh” cũng là một phạm trù tri nhận Chúng tamuốn nhận biết thế giới, nhận biết chính mình thì đều phải thông quamột biện pháp rất cơ bản, đó là “so sánh” “So sánh” mới có thể lựachọn, so sánh mới có thể tìm ra được chân lí “So sánh” đương nhiêncòn là một phạm trù ngữ pháp quan trọng Mọi biểu đạt so sánh đều lànhững thể thống nhất, gắn bó hữu cơ giữa ý nghĩa và hình thức ngữpháp Khi chúng ta muốn dùng ngôn ngữ để diễn tả quan niệm, hành
vi và kết quả của sự so sánh, thì chúng ta phải sử dụng đến hình thứccấu trúc đặc biệt - hình thức biểu đạt so sánh trong ngôn ngữ Rõ ràng,
từ góc độ ngữ nghĩa, ngữ pháp “hình thức biểu đạt so sánh” là một đềtài nghiên cứu quan trọng
Tiếng Hán hiện đại (sau gọi tắt là tiếng Hán) là một ngôn ngữthuộc loại hình đơn lập phân tích tính Nó vừa có cấu trúc chặt chẽ thểhiện độ lí tính cao, vừa phong phú về hình thức biểu đạt thể hiện sựtinh tế trong nhận thức “So sánh” là một phạm trù rộng, bao gồm cả
so sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng Mỗi một tiểu phạmtrù trên lại có nhiều cách biểu đạt khác nhau Và với mỗi cách biểu đạtkhác nhau lại hàm chứa một góc nhìn, một sắc thái riêng biệt Chính
sự phong phú cả về hình thức và nội dung của biểu đạt so sánh nóichung, biểu đạt so sánh trong tiếng Hán nói riêng đã khích lệ chúngtôi xúc tiến nghiên cứu đề tài này
Ngoài ra, mối giao lưu hợp tác đa phương diện giữa Việt Nam vàTrung Quốc đang ngày càng được mở rộng và phát triển, việc học tập
* Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Trung Quốc, Trường Đại học Ngoạingữ - ĐHQG Hà Nội
Trang 2nghiên cứu tiếng Hán đối với người Việt Nam cũng như việc học tậpnghiên cứu tiếng Việt đối với người Trung Quốc đã trở thành nhu cầuhết sức cần thiết giúp cho hai nước có điều kiện trao đổi và hiểu biếtlẫn nhau Nghiên cứu các hình thức biểu đạt so sánh trong tiếng Hán,liên hệ với tiếng Việt ở một chừng mực nhất định, từ đó vận dụng vàodạy học ngoại ngữ là một trong những nội dung quan trọng góp phầnnâng cao hiệu quả học tập và nghiên cứu tiếng Hán và tiếng Việt.
Với những lí do nêu trên, đề tài Khảo sát các hình thức biểu đạt
so sánh trong tiếng Hán hiện đại (Liên hệ với tiếng Việt nhằm mục đích giảng dạy) chúng tôi thực hiện với hy vọng sẽ có những đóng
góp nhất định về lí luận nghiên cứu cơ bản của ngôn ngữ, về đối chiếungôn ngữ Hán-Việt, đồng thời cũng đáp ứng được phần nào nhu cầuthực tiễn học tập của một bộ phận sinh viên Việt Nam, Trung Quốc
0.2 Phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
Do điều kiện khảo sát có hạn, ngữ liệu khảo sát được chúng tôi sửdụng trong đề tài chủ yếu là các hình thức biểu đạt so sánh có chứa cácdấu hiệu hình thức so sánh trong một số tác phẩm văn học hiện đươngđại Trung Quốc Tác phẩm “丰丰丰丰” (丰丰) (Báu vật của đời, tác giả MạcNgôn) với ưu thế có văn bản điện tử cả phần nguyên gốc và phần dịchnên được chúng tôi lựa chọn làm ngữ liệu chủ yếu Tuy nhiên chính vìngữ liệu chủ yếu lấy trên một tác phẩm nên cũng bộc lộ một số hạn chếnhất định Để khắc phục nhược điểm này, khi cần thiết chúng tôi cũngdùng thêm một số tác phẩm văn học khác và sử dụng lại một số ví dụcủa các học giả đi trước Trong trường hợp thuyết minh một số vấn đềđơn giản, chúng tôi cũng có sử dụng bổ sung cả các ví dụ tự lập (có sựkiểm chứng của người bản ngữ) Các ví dụ chúng tôi đều trích dẫn đầy
đủ nguồn ngữ liệu Những ví dụ không có trích dẫn nguồn ngữ liệu chủyếu thuộc về loại tự lập bổ sung Khảo sát thành ngữ so sánh chúng tôichủ yếu sử dụng hai cuốn “丰丰丰丰丰丰丰丰” (Từ điển thực dụng thành ngữtiếng Hán) do 丰丰丰 (Nghê Bảo Nguyên) chủ biên, năm 2003 và “丰丰丰丰丰丰
丰” (Từ điển thành ngữ đa chức năng) do 丰丰丰 (Đường Chí Siêu) chủbiên, năm 2004
Khi liên hệ với tiếng Việt, ngữ liệu sử dụng chính của chúng tôi
trong phần này chủ yếu vẫn là văn bản dịch Báu vật của đời nói trên
(dịch giả Trần Đình Hiến) Bên cạnh đó chúng tôi cũng khảo sát một
số tác phẩm văn học Việt Nam để tìm các cấu trúc so sánh tiếng Việtthường dùng
Trang 3Vận dụng kết quả nghiên cứu vào giảng dạy, chúng tôi chủ yếuchọn đối tượng học tập là sinh viên học tiếng Hán và học tiếng Việt tạiKhoa Ngôn ngữ & văn hóa Trung Quốc trường ĐHNN-ĐHQG Hà Nội.
Hy vọng với phạm vi nghiên cứu trên đủ giúp chúng tôi có được ngữliệu và cơ sở để đưa ra những kết luận khoa học về các vấn đề liênquan đến đề tài nghiên cứu
0.3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài mong muốn góp phần miêu tả một cách toàn diện bức tranhtổng quan về các hình thức biểu đạt so sánh trong tiếng Hán hiện đại,đồng thời chỉ ra được những điểm tương đồng và khác biệt giữa cáchình thức biểu đạt so sánh của tiếng Hán và tiếng Việt, từ đó góp phầnnâng cao hiệu quả dạy và học tiếng Hán, tiếng Việt như một ngoạingữ
0.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài cần phải thực hiện các nhiệm vụnghiên cứu sau:
Trên cơ sở khảo sát ngữ liệu, thống kê và miêu tả các hình thứcbiểu đạt so sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng trong tiếngHán
Khảo sát và giới thiệu một bức tranh tổng quan về thành ngữ sosánh tiếng Hán
Liên hệ với tiếng Việt, tìm ra được những điểm tương đồng vàkhác biệt trong các hình thức biểu đạt so sánh của tiếng Hán và tiếngViệt
Vận dụng kết quả nghiên cứu để phân tích lỗi sai của người học,
đề xuất những kiến nghị thiết thực nhằm góp phần nâng cao hiệu quảdạy, học tiếng Hán và tiếng Việt như một ngoại ngữ
0.5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện những nhiệm vụ trên, đề tài đã sử dụng các phươngpháp nghiên cứu sau:
Thống kê ngữ liệu trên tác phẩm văn học, phân tích và miêu tả cấutrúc của các hình thức biểu đạt so sánh tiếng Hán
Trên cơ sở các hình thức biểu đạt so sánh tiếng Hán đối chiếu vớitiếng Việt để rút ra những điểm tương đồng và khác biệt
Khảo sát lỗi sai của học sinh khi sử dụng các hình thức biểu đạt sosánh
Trang 4Diễn giải và quy nạp để rút ra một số kết luận trong đề tài.
0.6 Đóng góp của đề tài
Đề tài đã đưa ra một bức tranh tổng thể về các hình thức biểu đạt
so sánh trong tiếng Hán, trong đó có giới thiệu khá chi tiết về thànhngữ so sánh tiếng Hán Chỉ ra được những điểm tương đồng và khácbiệt cơ bản về các hình thức biểu đạt so sánh giữa tiếng Hán và tiếngViệt Những ứng dụng kết quả nghiên cứu trong dạy học tiếng Hán vàtiếng Việt như một ngoại ngữ cho sinh viên Việt Nam, Trung Quốccũng là một trong những đóng góp của đề tài
0.7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 4 chương:Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
Chương 2: Các hình thức biểu đạt so sánh trong câu tiếng HánChương 3: Các hình thức biểu đạt so sánh trong thành ngữ tiếngHán
Chương 4: Đối chiếu các hình thức biểu đạt so sánh tiếng Hán vớicác hình thức biểu đạt so sánh tiếng Việt và những ứng dụng trong dạyhọc
Trang 5Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Một số vấn đề về so sánh
1.1.1 Khái niệm so sánh
So sánh là một khái niệm thông dụng trong cuộc sống, nó gắn
bó mật thiết tới hầu hết mọi đời sống sinh hoạt của con người Trongmỗi lĩnh vực, xuất phát từ những mục đích khác nhau người ta có thểđưa ra các định nghĩa về so sánh từ nhiều góc độ, nhưng tựu trung nóiđến so sánh thì người ta thường định nghĩa là “so sánh nhằm phân biệt
sự giống, khác nhau hoặc sự hơn kém giữa hai hay nhiều sự vật đồngloại” (“丰丰丰丰丰丰” 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰) (Từ điển tiếng Hán
hiện đại, Ban Biên tập từ điển-Phòng nghiên cứu ngôn ngữ, Viện Khoa
học xã hội Trung Quốc biên soạn, nhà in Thương Vụ, năm 2005, 70p)
Tương tự như vậy, Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà
Nẵng, năm 1997, 830p cũng đưa ra định nghĩa về so sánh như sau: sosánh là “nhìn vào cái này để xem xét cái kia để thấy sự giống nhau,khác nhau hoặc sự hơn kém” Như vậy, nhìn vào định nghĩa của haicuốn từ điển dễ dàng nhận thấy, so sánh là một hành vi được tiến hànhtrên hai sự vật hiện tượng khác nhau, trong đó có một sự vật hiệntượng làm chuẩn để nhìn nhận về những sự vật hiện tượng còn lại,hoặc chúng làm chuẩn cho nhau trong quá trình nhìn nhận, nhằm mụcđích cuối cùng là rút ra được nhận xét về sự giống và khác nhau hoặc
sự hơn kém giữa các sự vật hiện tượng đó Định nghĩa này khôngnhững cho chúng ta thấy được bản chất của so sánh, mà còn nêu lêncác thành tố chính yếu trong phép so sánh Để làm rõ nội hàm của cácthành tố nghĩa này, chúng tôi xin tiếp tục trình bày dưới đây các kháiniệm khác có liên quan đến so sánh
1.1.2 Các khái niệm liên quan đến so sánh
1.1.2.1 So sánh, tỉ dụ và ẩn dụ
Các nhà ngôn ngữ học đều chỉ ra rằng, “so sánh”, “tỉ dụ” và “ẩndụ” là những khái niệm có liên quan với nhau nhưng không phải làmột Trong đó “so sánh” là khái niệm rộng nhất (tiếng Hán gọi là “丰
丰”) Đó là một phép nhận biết sự hơn kém hoặc ngang bằng giữa các
sự vật một cách thuần túy Còn “tỉ dụ” (tiếng Hán gọi là “丰丰”) là mộtbiện pháp tu từ Cũng có học giả gọi “tỉ dụ” là “so sánh tu từ” “Tỉ dụ”
là một bộ phận của so sánh, nhằm lấy sự vật, hiện tượng này để thuyết
Trang 6minh hoặc làm sáng tỏ cho một sự vật, hiện tượng hoặc một tính chấtnào đó khác “Ẩn dụ” lại là một khái niệm hẹp hơn “tỉ dụ” (tiếng Hángọi là “丰丰”) “Ẩn dụ” cũng là so sánh tu từ nhưng là so sánh ngầm,tức trên bề mặt cấu trúc không còn xuất hiện các thành tố chủ thể sosánh và thành tố quan hệ so sánh nữa Trong phạm vi công trình này,khi khảo sát về các hình thức biểu đạt so sánh, chúng tôi chỉ dừng lại
ở các mức so sánh thông thường và so sánh tu từ (gọi chung là “sosánh”)
1.1.2.2 Các thành tố trong phép so sánh
Căn cứ vào khái niệm “so sánh” mà các nhà từ điển học Việt Nam
và Trung Quốc giải thích, đồng thời từ góc độ tri nhận có thể thấy, đểphép so sánh có thể thực hiện được vai trò của mình thì phải đảm bảođược các nhân tố sau: trước hết phải bao gồm hai sự vật, sự việc, hiệntượng có sở chỉ khác nhau làm đối tượng của so sánh, chúng lần lượtgiữ vai trò chủ thể so sánh và chuẩn so sánh Thứ hai, hai sự vật hiệntượng đó phải có chung một thuộc tính, một giá trị nào đó làm cơ sởcho sự so sánh, đó chính là nội dung hay phương diện so sánh Thứ ba
là kết quả so sánh Cuối cùng là hình thức kết nối quan hệ so sánhgiữa các sự vật, hiện tượng và kết quả của phép so sánh Các kháiniệm thành tố ngữ nghĩa nói trên có nội hàm lần lượt như sau:
Chủ thể so sánh và chuẩn so sánh
Chủ thể so sánh và chuẩn so sánh hay còn được gọi bằng hai thuậtngữ tương đương là thành tố so sánh và thành tố tham chiếu, là haithành tố ngữ nghĩa cơ bản tạo nên phép so sánh Hai thành tố này cóthể là hai sự vật, hiện tượng riêng biệt, cũng có thể là một sự vật hiệntượng nhưng ở thời gian hoặc không gian khác nhau Xét từ góc độtuyệt đối thì hai thành tố này phải có sở chỉ (đối tượng phản ánh) khácbiệt Tuy nhiên, đó mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ Để haithành tố có sở chỉ khác biệt đó có thể tham gia vào phép so sánh thìchúng cần phải là những sự vật, sự việc, hiện tượng có chung mộtthuộc tính nào đó Thuộc tính chung ấy có thể được biểu hiện ở nhữngphạm vi rộng hẹp và mức độ cao thấp khác nhau, cũng có thể được thểhiện ở sự đồng loại Như vậy sự khác biệt về đối tượng và sự thốngnhất trong cùng một thuộc tính là điều kiện cần và đủ để các sự vật,hiện tượng có thể tham gia với tư cách là thành tố nghĩa của phép sosánh Ví dụ:
(1) 丰丰丰丰丰丰
Trang 7Minh gầy hơn Nam.
Trong ví dụ trên, “丰丰” (Minh) là chủ thể so sánh, “丰丰” (Nam) làchuẩn so sánh “Minh” và “Nam” là hai đối tượng, hai cá thể khácnhau nhưng cùng chứa đựng một thuộc tính chung là “vóc dáng” (2) 丰丰丰丰丰丰丰丰
Minh năm nay gầy hơn năm ngoái
Với ví dụ trên, dường như chủ thể so sánh và chuẩn so sánh chỉ làmột (đều là 丰丰 - Minh) Nhưng thực chất “Minh” chỉ là điểm chunggiữa sở chỉ của chủ thể so sánh là “Minh của năm ngoái” và sở chỉ củachuẩn so sánh là “Minh của năm nay” Mà “Minh của năm ngoái” và
“Minh của năm nay” do biến thiên của thời gian nên đương nhiên sẽ
có những điểm khác nhau (trong đó có “vóc dáng”), vì vậy vẫn đượcnhận diện như hai đối tượng khác nhau
Như vậy, trong hai ví dụ trên “Minh” và “Nam”, “Minh của nămngoái” và “Minh của năm nay” là những thực thể đối tượng khác nhaunhưng cùng chứa đựng một thuộc tính chung là “vóc dáng”, do vậychúng hoàn toàn đáp ứng được điều kiện cần và đủ để trở thành thành
tố cơ bản của phép so sánh
Tuy nhiên, trong giao tiếp, do tác động của các yếu tố ngữ pháp,ngữ nghĩa, ngữ cảnh, tri nhận mà thành tố so sánh và thành tố thamchiếu không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận diện Chúng có thể đượctỉnh lược hoặc ẩn trong một thành tố ngữ nghĩa ngữ pháp nào đó củacâu, của chuỗi lời nói Chúng tôi sẽ phân tích cụ thể trong các chươngsau khi khảo sát các trường hợp này
Nội dung so sánh và kết quả so sánh
Nội dung so sánh chính là thành tố nghĩa mà người phát ngônmuốn hướng tới nhằm đưa lại thông tin đích thực cho người tiếp nhậnphát ngôn Nội dung so sánh cũng là điểm chung giữa chủ thể so sánh
và chuẩn so sánh Nội dung ấy có thể được hiển thị đồng thời với haithành tố này trong cùng một thành phần cấu trúc Ví dụ:
(3) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰
Giá của ngôi nhà này đắt hơn giá của ngôi nhà kia
Trong ví dụ trên, chủ thể so sánh là “丰丰丰丰” (ngôi nhà này) cònchuẩn so sánh là “丰丰丰丰” (ngôi nhà kia) Nội dung so sánh chính là “丰
丰” (giá nhà), và nội dung này được hiển thị cùng với chủ thể so sánh
và chuẩn so sánh trong cùng một thành phần cấu trúc Tuy nhiên,trong nhiều trường hợp, nội dung so sánh không được hiển thị mà
Trang 8được ngầm hiểu qua thành tố nghĩa khác, thành tố nghĩa có khả năngkích hoạt nội dung so sánh thường là kết quả so sánh Ví dụ:
(4) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰
Sách của Nam nhiều hơn sách của Minh
Trong ví dụ trên, dựa vào ý nghĩa từ vựng của kết quả so sánh là
“丰” (nhiều) mà có thể phán đoán được nội dung so sánh trong câuthuộc về “số lượng” Nội dung này không hề được hiển thị trong bất kìthành phần cấu trúc nào của phép so sánh Chúng ta có thể xem xét ví
dụ sau để minh chứng cho điều này
(5) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰
Sách của Nam hay hơn sách của Minh
Chủ thể so sánh và chuẩn so sánh của ví dụ này hoàn toàn trùnghợp với ví dụ trên, hai ví dụ chỉ khác nhau ở kết quả so sánh Và cũngchính vì kết quả so sánh “丰丰丰丰” (hay) ở ví dụ này mà chúng ta có thểdựa vào nghĩa từ vựng của nó để phán đoán nội dung của phép so sánhtrong ví dụ trên thuộc về “chất lượng” Tương tự như vậy, chúng tatiếp tục xem xét các ví dụ sau:
“ý thức dùng sách của chủ nhân”, “mầu sắc”, “giá tiền”
Trang 9Khi kết quả so sánh là một từ đa nghĩa thì nội dung so sánh đượckích hoạt cũng không đơn nhất Ví dụ:
(13) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰
Sách của Nam mới hơn sách của Minh
Trong ví dụ trên, kết quả so sánh là “丰” (mới) có thể hiểu là “nămxuất bản gần với thời điểm hiện tại”, cũng có thể hiểu là “ít được sửdụng nên trông còn sạch sẽ” Do vậy, nội dung so sánh được kích hoạttương đương với hai nghĩa này sẽ là “thời gian xuất bản” và “tần số sửdụng” Đây là một câu đa nghĩa
Như vậy, nội dung so sánh là thông điệp quan trọng mà ngườiphát ngôn muốn truyền đạt cho người tiếp nhận nhưng trên thực tếthường lại được ẩn dưới một thành tố khác, thành tố kết quả của phép
so sánh Đây cũng chính là hệ quả của sự tương hỗ và sự kích hoạtngữ nghĩa giữa các thành tố trong một hình thái cấu trúc thông qua tưduy trừu tượng của con người
Kết quả so sánh chính là hiển thị sự tương đồng hay khác biệt giữachủ thể so sánh và chuẩn so sánh Kết quả này tùy từng mục đích, nhucầu thông báo khác nhau của chủ thể phát ngôn mà mức độ cụ thể củachúng cũng khác nhau Tuy nhiên, kết quả so sánh đều có thể đượcquy thành hai loại lớn: ngang bằng và không ngang bằng, từ đó tạonên hai hình thức biểu đạt so sánh ngang bằng và không ngang bằngtrong ngôn ngữ Ví dụ:
- Kết quả so sánh ngang bằng
(14) 丰丰丰丰丰丰丰丰
Nam cao bằng Minh
- Kết quả so sánh không ngang bằng
(15) 丰丰丰丰丰丰
Trung cao hơn Nam
Với hai kết quả so sánh ngang bằng và không ngang bằng lại cóthể có những cấp độ khác nhau Chúng tôi sẽ miêu tả chi tiết các nộidung này trong quá trình khảo sát Ngoài ra, kết quả của phép so sánhcòn có thể được phản ánh thông qua hình thức phủ định Ví dụ:
Trang 10Hình thức phủ định cũng phong phú, đa dạng Tuy nhiên, chúngvẫn cho ra kết quả: hoặc là phủ định sự ngang bằng hoặc phủ định sựhơn kém.
ra cái gọi là hình thức kết nối so sánh Chẳng hạn như trong các ví dụ
từ 1 đến 13 và ví dụ 15, từ “丰” được nằm trong cấu trúc “A + 丰 + B +VP” chính là hình thức kết nối so sánh Mỗi một ngôn ngữ có sử dụngcác hình thức kết nối so sánh khác nhau, tạo nên sự đa dạng trong biểuđạt so sánh của ngôn ngữ đó
1.1.3 Phạm trù ngữ pháp so sánh
Thế giới khách quan tồn tại với muôn vàn cá thể hỗn độn, phứctạp Khi con người nhận biết thế giới khách quan không thể đi nhậnthức từng đặc điểm của mỗi sự vật hiện tượng trong thế giới hỗn độn
ấy mà thông thường phải tuân thủ một nguyên tắc: không ngừng tiếnhành phân loại và quy loại sự vật Trong quá trình quan sát, con người
đã phát hiện ra những thuộc tính giống nhau của một số sự vật hiệntượng trong mớ hỗn độn của thế giới khách quan, rồi căn cứ vào cáithuộc tính chung ấy để quy chúng về cùng một loại Rồi chính trong
số những sự vật hiện tượng đồng loại, con người lại phát hiện ranhững đặc điểm khác nhau để từ đó lại tiến hành phân loại chúng Quátrình quy loại và phân loại đó chỉ có thể được thực hiện khi chúng tađặt sự vật nọ trong mối quan hệ so sánh với sự vật kia, từ đó phát hiện
ra những tương đồng và khác biệt giữa chúng Hay nói cách khác, sosánh chính là cơ sở của quy loại và phân loại thế giới khách quan Quátrình quy loại và phân loại không ngừng diễn ra trong nhận thức củacon người, khiến con người nhận biết được thế giới khách quan ngàymột cụ thể và tường minh Điều đó cũng có nghĩa là, so sánh là mộttrong những phương thức gắn liền với quá trình tri nhận thế giới kháchquan của con người
Trang 11Quan hệ so sánh giữa các sự vật hiện tượng khi phản ánh vàongôn ngữ đã hình thành nên ý nghĩa ngữ pháp “so sánh” Do quan hệ
so sánh trong thế giới khách quan muôn hình muôn vẻ nên ý nghĩangữ pháp so sánh phản ánh nó cũng phong phú đa dạng Biểu hiện của
ý nghĩa so sánh ở vỏ ngoài ngôn ngữ chính là các hình thức biểu đạt
so sánh Hình thức và ý nghĩa ngữ pháp luôn là một chỉnh thể thốngnhất, tạo nên phạm trù ngữ pháp Phạm trù ngữ pháp so sánh đượchình thành cũng theo nguyên tắc đó Có nghĩa là, phạm trù ngữ pháp
so sánh là một chỉnh thể hai mặt của hình thức biểu đạt so sánh và ýnghĩa ngữ pháp so sánh chứa đựng trong hình thức biểu đạt đó Sosánh là một phạm trù ngữ nghĩa ngữ pháp
Ý nghĩa ngữ pháp được khởi nguồn từ tư duy nhận thức của nhânloại nên nó mang tính cộng đồng, là tài sản chung của loài người.Nhưng ngôn ngữ lại được hình thành trên một chế độ chính trị, xã hộinhất định, là sản phẩm riêng của dân tộc, mang tính dân tộc Do vậy,với cùng một ý nghĩa ngữ pháp so sánh, nhưng khi chúng được quychiếu vào các ngôn ngữ khác nhau sẽ có những hệ thống hình thứcbiểu đạt riêng biệt Chính vì vậy, nghiên cứu phạm trù so sánh trên cácngôn ngữ khác nhau để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt sẽhứa hẹn những kết quả thú vị, có khả năng cung cấp tư liệu cần thiếtcho người sử dụng ngôn ngữ như một ngoại ngữ Tuy nhiên, dù khácnhau về hình thức biểu đạt giữa các ngôn ngữ nhưng mọi hình thứcbiểu đạt đều có thể truyền tải được đầy đủ ý nghĩa so sánh vốn đa sắcmầu trong tư duy của nhân loại
1.1.4 Các tiêu chí nhận biết về hình thức biểu đạt so sánh
Xét về mặt ngữ nghĩa, để một phép so sánh được thực hiện, trướchết phải xác định được chủ thể so sánh và chuẩn so sánh Đây là haithành tố cơ bản để tạo nên phép so sánh Nói một cách khác, không cóđầy đủ cả hai thành tố trên thì không có phép so sánh Tuy nhiên, nhưtrên đã trình bầy, không phải lúc nào cả hai thành tố này cũng hiển thịmột cách rõ ràng trên bề mặt cấu trúc, chúng có thể được tỉnh lượchoặc ẩn đi dưới một thành tố nghĩa nào đó, nhưng nhờ có ngữ cảnhhoặc có các yếu tố liên hệ khác mà chúng ta vẫn có thể kích hoạt đượcchúng
Trang 12Nội dung và kết quả so sánh cũng là những thành tố cần và đủ vềmặt ngữ nghĩa để cấu thành phép so sánh Vì vậy cũng nhất thiết phảixác định được hai thành tố này Song cũng do các nhân tố ngữ cảnh,các thành tố này có thể được ẩn vào các thành tố ngữ nghĩa khác hoặc
do chính một số từ chức năng đảm nhiệm
Xét về mặt hình thức, để kết nối các thành tố nghĩa của phép sosánh cần có các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh Dựa vào sự xuất hiệnhay không xuất hiện của các từ ngữ này trong cấu trúc so sánh, cácnhà Hán ngữ học như 丰丰丰 (Trần Vọng Đạo), 丰丰丰 (Lý Tề Trung), 丰丰丰(Lạc Tiểu Sở), v.v đã chia phép so sánh thành ba dạng lớn là so sánhdạng hiện (so sánh tường minh), so sánh dạng ẩn (so sánh khôngtường minh) và so sánh ngầm Còn các tác giả 丰丰丰 (Mã Quốc Phàm),
丰丰 (Sử Thí) và 丰丰 (Lưu Khiết) lại cho rằng phép so sánh chỉ bao gồmhai dạng lớn là so sánh dạng hiện và so sánh dạng ẩn Theo nhóm tácgiả sau, thì loại so sánh ngầm trong phép so sánh tu từ tiếng Hán đượchình thành trong một ngữ cảnh nhất định, nếu thoát ly khỏi ngữ cảnhthì không thể hình thành một cấu trúc có hàm ý so sánh Chúng tôinhất trí với quan điểm của nhóm tác giả 丰丰丰 (Mã Quốc Phàm), 丰丰 (SửThí) và 丰丰 (Lưu Khiết) Tuy nhiên, để hạn chế phạm vi nghiên cứu,trong đề tài này chúng tôi chỉ tập trung khảo sát các hình thức so sánhdạng hiện, tức hình thức so sánh có chứa các từ ngữ, cấu trúc biểu thịquan hệ so sánh Và chính các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh này làdấu hiệu hình thức để nhận biết hình thức biểu đạt so sánh Riêng đốivới thành ngữ so sánh do mang đặc trưng chung của thành ngữ là giảnlược, súc tích nên chúng tôi khảo sát cả các thành ngữ so sánh dạngẩn
Như trên đã trình bày, xét về mặt kết quả so sánh, phép so sánh cóthể chia làm hai loại: so sánh ngang bằng và so sánh không ngangbằng Mỗi tiểu loại so sánh trên lại được biểu đạt bằng các hình thứccấu trúc với các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh khác nhau Thamkhảo các nghiên cứu đi trước, kết hợp với kết quả khảo sát thực tế,chúng tôi xin đưa ra các tiêu chí hình thức biểu đạt so sánh trong tiếngHán sẽ được khảo sát và phân tích nghiên cứu trong đề tài như sau:
So sánh ngang bằng:
A + R1 [丰 (hoặc các từ thay thế tương đương)] + B + R2 [丰丰(hoặc các từ thay thế tương đương)] + (VP丰
Trang 13 A + R1 [丰/丰 (hoặc các từ thay thế tương đương)] + B + R2 [丰丰/ 丰丰/丰丰/ 丰丰…] + VP
A + R [丰丰 (hoặc các từ thay thế tương đương)] + B
có khi là do một từ đảm nhiệm, nhưng cũng có khi là do một cấu trúc gồm hai từ ngữ khác nhau R1 và R2 đảm nhiệm (ví dụ như các từ đặt trong []) Nội dung so sánh do thường xuyên hoặc bị tỉnh lược, hoặc
ẩn trong các thành tố ngữ nghĩa khác nên không được hiển thị bằng một kí hiệu độc lập trong mô hình cấu trúc so sánh.
1.2 Tổng quan về các nội dung nghiên cứu của đề tài
“丰” tổ hợp thành cụm ngữ tố “丰丰” (làm việc), cụm ngữ tố “丰丰” nàycùng với ngữ tố “丰” (phòng) tổ hợp nên từ “丰丰丰” (phòng làm việc)
“Từ” là đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất có khả năng sử dụng độc lập(hoặc độc lập tạo thành câu, hoặc độc lập đảm nhận thành phần câu,hoặc có vai trò ngữ pháp nhất định) Các “từ” có thể kết hợp với từtheo một cấu trúc ngữ pháp nhất định tạo thành cụm từ (từ tổ/đoảnngữ) “Từ” và “cụm từ” đều là những đơn vị ngữ pháp dùng để tạo lậpcâu
Cụm từ trong tiếng Hán bao gồm cả cụm từ tự do và cụm từ cốđịnh Cụm từ cố định bao gồm thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ, yết hậu
Trang 14ngữ, ngạn ngữ Các cụm từ cố định này về đặc điểm cấu trúc giốngnhư một cụm từ, thậm chí như một câu Về mặt ngữ nghĩa nó lạingưng kết và khái quát như một khái niệm và đôi khi tương đương vớimột từ Ví dụ: 丰丰丰丰 (nghèo rớt mùng tơi) 丰丰丰丰 (thao thao bất tuyệt)
“Câu” là đơn vị ngữ pháp lớn nhất nhưng lại là đơn vị biểu đạtnhỏ nhất, có chức năng diễn đạt một ý nghĩa hoàn chỉnh Câu luônluôn mang một ngữ điệu nhất định Như vậy có thể dùng sơ đồ sau đểmiêu tả hệ thống đơn vị ngữ pháp trong tiếng Hán hiện đại và mốiquan hệ liên kết giữa chúng
- So sánh xuất hiện trong phạm vi một từ: 丰 丰 (đỏ như lửa), 丰 丰(trắng như tuyết), 丰丰 (nhanh như bay)
- So sánh xuất hiện trong phạm vi một cụm từ: 丰丰丰丰丰丰丰丰丰 (tòa nhànhư cái cung điện ấy); 丰丰丰丰丰丰丰丰 (chạy còn nhanh hơn cả đạp xe); 丰丰丰
丰丰丰丰丰丰 (phúc như Đông Hải, thọ tựa Nam Sơn)
- So sánh xuất hiện trong phạm vi một câu (câu đơn hoặc câuphức): 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰 (Đôi mắt long lanh của nó chẳng khác gìnhư hai đốm sao kim); 丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰 (Tay của tôi xanh lè,tay của cô ấy cũng xanh lè.)
Qua trên có thể thấy, nghiên cứu các hình thức biểu đạt so sánh cóthể khảo sát từ các đơn vị “từ” đến đơn vị “câu” Tuy nhiên, so vớiđơn vị “cụm từ” và “câu” thì đơn vị “từ” có sự khác biệt nhất định vềtính ổn định về mặt cấu trúc và ngưng kết về mặt ngữ nghĩa Phép sosánh xuất hiện trong đơn vị “từ” ở một mức độ nào đó mang sắc tháiước định và hầu như không xuất hiện các dấu hiệu hình thức biểu thịquan hệ so sánh Vì những lí do trên, trong phạm vi công trình này
Trang 15chúng tôi chỉ khảo sát các hình thức biểu đạt so sánh trong đơn vị
“cụm từ” và đơn vị “câu” Đơn vị “cụm từ” như trên đã trình bày baogồm cụm từ tự do và cụm từ cố định Cụm từ tự do xét về mặt mức độlinh hoạt trong cấu trúc chúng tương đối gần với đơn vị “câu” Do vậykhi khảo sát các hình thức biểu đạt so sánh chúng tôi không phân biệthai đơn vị ngôn ngữ này, và gọi chung là các hình thức biểu đạt sosánh trong câu Trong số các cụm từ cố định, “thành ngữ” là một đơn
vị ngôn ngữ được sử dụng phổ biến hơn cả Thành ngữ có cấu trúc khá
đa dạng và để đảm nhận được chức năng biểu đạt súc tích của mình,thành ngữ sử dụng các hình ảnh so sánh hết sức phong phú, tạo thànhmột lớp thành ngữ riêng biệt gọi là “thành ngữ so sánh” Do vậy khảosát các hình thức biểu đạt trong thành ngữ tiếng Hán được chúng tôitách riêng thành một chương quan trọng tại công trình này
Như vậy, mặc dù so sánh được hiện diện trong hầu hết tất cả cácđơn vị ngôn ngữ tiếng Hán, nhưng trong phạm vi đề tài này, chúng tôichỉ tập trung khảo sát các hình thức biểu đạt so sánh xuất hiện trongcâu (gồm cả các cụm từ tự do) và các hình thức biểu đạt so sánh xuấthiện trong thành ngữ tiếng Hán
Hay nói cách khác, so sánh là một loại hình biểu đạt ở cấp độ câu,đơn vị ngữ pháp lớn nhất trong hệ thống các đơn vị ngữ pháp trongtiếng Hán Tuy nhiên, như trên đã trình bày, ngoài câu ra, cụm từ cốđịnh với tính chất đặc thù của mình cũng có khả năng biểu đạt một ýnghĩa hoàn chỉnh, chúng tham gia vào diễn đạt so sánh một cách phổbiến, đặc biệt là thành ngữ Do vậy ngoài câu biểu đạt so sánh ra,trong đề tài chúng tôi cũng tiến hành khảo sát cả các thành ngữ sosánh Như vậy, câu so sánh và thành ngữ so sánh đều là đối tượngkhảo sát của đề tài
Cũng cần nói thêm rằng, thực tế trong phạm trù so sánh còn có cả
so sánh tuyệt đối, song do phạm vi khuôn khổ của đề tài có hạn, chúngtôi chỉ chủ yếu tập trung khảo sát các biểu thức so sánh ngang bằng và
so sánh không ngang bằng cùng các hình thức phủ định tương ứng.Loại cấu trúc biểu thị so sánh tuyệt đối xin bàn ở một dịp khác Ngoài
ra, mặc dù so sánh bao gồm cả so sánh logic và so sánh ví von, nhưngtrong quá trình khảo sát và phân tích cấu trúc hình thức, chúng tôikhông tách biệt hai loại so sánh này Chỉ khi phân tích yếu tố ngữnghĩa, văn hóa và tri nhận chúng tôi mới phân biệt chúng Khi khảosát thành ngữ so sánh, ngoài thành ngữ so sánh dạng hiện chúng tôi
Trang 16còn khảo sát cả các thành ngữ so sánh dạng ẩn (không xuất hiện từngữ chỉ quan hệ so sánh).
1.2.2 Tổng quan về các nội dung cụ thể
1.2.2.1 Tổng quan nghiên cứu về biểu thức so sánh trong câu tiếng Hán
Biểu thức so sánh trong câu tiếng Hán đã được nghiên cứu nhiềutrong Hán ngữ cổ Nhưng kể từ thập kỉ 80, 90 của thế kỉ trước thì biểuthức so sánh lại càng được nhiều học giả Trung Quốc nghiên cứu mộtcách tập trung và đạt được một số thành quả nhất định 丰 丰 丰 (HứaQuốc Bình, 1996) trong bài báo “‘丰’丰丰丰丰丰丰” (Tổng quan nghiên cứucâu chữ “bi”) đã tóm lược những thành tựu về nghiên cứu câu chữ “丰”của các nhà nghiên cứu Hán ngữ Trung Quốc 丰丰丰 (Hứa Quốc Bình)cho rằng, câu chữ “丰” trong giai đoạn này được nghiên cứu chủ yếu
về mặt cấu trúc mà đại diện là 丰丰丰 (Lưu Nguyệt Hoa), 丰丰丰 (NhiệmHải Ba), 丰丰丰 (Lí Lâm Định), 丰丰丰 (Lưu Huệ Anh), 丰丰丰 (Bao Pháp Lê).Những nghiên cứu đi sâu vào ngữ nghĩa mặc dù chưa nhiều nhưngcũng bắt đầu được chú trọng Đại diện cho các nghiên cứu ở bình diệnnày là 丰丰 (Mã Chân), 丰丰丰 (Thiệu Kính Mẫn), 丰丰丰 (Ân Chí Bình) 丰丰丰(Hứa Quốc Bình) còn nhận định trong bài viết rằng, càng về sau cácnghiên cứu về ngữ dụng lại càng được các học giả quan tâm, tiêu biểu
là các học giả 丰丰丰 (Tương Nguyên Mậu), 丰丰丰 (Chu Tiểu Binh) Ngoài
ra còn một số học giả nghiên cứu về câu chữ “丰” từ góc độ lịch đại, đó
là 丰丰丰 (Đặng Văn Bân), 丰丰丰 (Hoàng Hiểu Huệ), 丰丰丰 (Sử Khâm Tín).Như vậy theo tổng kết của 丰丰丰 (Hứa Quốc Bình) (1996) có thể thấy,những nghiên cứu về câu chữ “丰” trong những thập kỉ 80, 90 của thế
kỉ trước chủ yếu tập trung vào bình diện cú pháp Các bình diện ngữnghĩa, ngữ dụng tuy có được đề cập đến song vẫn còn nhiều vấn đềcần bàn luận, như tần số sử dụng của các cấu trúc, điều kiện chuyểnđổi giữa các cấu trúc Đặc biệt những nghiên cứu xuất phát điểm vàmục đích là ứng dụng giảng dạy cho người học có tiếng mẹ đẻ khôngphải tiếng Hán thì hầu như rất ít
Phát huy thành quả nghiên cứu của giai đoạn thập kỉ 80, 90, vàonhững năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, những nghiên cứu về câu
so sánh trong tiếng Hán theo tìm hiểu của chúng tôi là hết sức phongphú cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Có thể tóm tắt thành quả nghiêncứu đó ở hai góc độ sau:
Trang 17Nghiên cứu vĩ mô: đó là nghiên cứu liên quan đến cấu trúc tổngthể của phép so sánh và sự đối ứng giữa tầng sâu ngữ nghĩa với hìnhthức cấu trúc Tuy nhiên nghiên cứu vĩ mô cho đến nay vẫn chưa cónhiều trong các công trình nghiên cứu tiếng Hán Điển hình là cáccông trình sau: 1) “丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰” (Quy luật quy chiếu của câu sosánh tiếng Hán hiện đại) Tại công trình này tác giả 丰 丰 丰 (Hạ HựuNinh) cho rằng cấu trúc cơ bản của câu so sánh trong tiếng Hán khôngphức tạp, nhưng từ tầng sâu ngữ nghĩa sau khi chịu sự tác động củacác yếu tố ngoại cảnh khúc xạ ra hình thức cấu trúc thì có tới hàngchục cách biểu đạt khác nhau Các yếu tố ngoại cảnh đó có thể là docấu trúc lồng ghép, do thành tố ngữ nghĩa phức tạp hoặc do yếu tố ngữdụng tạo ra Tuy nhiên, trong bài viết này tác giả chỉ đề cập đến mộtcấu trúc so sánh không ngang bằng cơ bản duy nhất mà không khảosát các cấu trúc so sánh ngang bằng hoặc không ngang bằng khác 2)
“丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰” (Một số cấu trúc so sánh ngang bằng trongtiếng Hán hiện đại), tác giả 丰丰 (Lưu Ảnh) tập trung khảo sát 5 mô hìnhcấu trúc so sánh ngang bằng và quy luật ẩn hiện của thành tố “điểm sosánh” Bài báo có giá trị tham khảo tốt khi nêu được sự khác nhau vềngữ nghĩa như sự tương đồng, tượng tự, tương cận và tương loại; sựkhác biệt về ngữ pháp, ngữ dụng giữa 5 mô hình cấu trúc so sánhngang bằng, từ đó nêu ra các điều kiện chuyển đổi giữa chúng Tuynhiên, tác giả bài viết này trong khi xác định đối tượng khảo sát đãkhông làm rõ đối tượng so sánh (chủ thể so sánh) và đối tượng thamchiếu (chuẩn so sánh) Do vậy, có cấu trúc đưa vào theo chúng tôi làkhông thuộc về câu biểu thị so sánh (ví dụ cấu trúc A丰B丰VP) 3) “丰丰丰 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰” (cuốn Cơ sở tri nhận ngữ nghĩa của phạm trù so
sánh trong tiếng Hán hiện đại), tác giả 丰丰 (Lưu Diệm) đã nghiên cứuphạm trù so sánh từ góc độ ngữ nghĩa và tri nhận, kết hợp miêu tả cấutrúc hình thức để cố gắng đưa ra những giải thích hợp lí nhất Cuốnsách này đã có nhiều đóng góp trong việc miêu tả ngữ nghĩa của phép
so sánh Tuy nhiên, các cấu trúc so sánh được cuốn sách tập trungnghiên cứu chỉ là các câu chữ “丰”, câu chữ “丰” và câu chữ “丰” 4) “丰丰 丰丰丰丰丰丰丰丰” (cuốn Nghiên cứu phạm trù so sánh hơn kém trong tiếng
Hán hiện đại), tác giả 丰丰丰 (Hứa Quốc Bình) một lần nữa nhấn mạnhvai trò của tri nhận trong việc thiết lập phạm trù so sánh Đồng thờitác giả này đã khái quát và chia so sánh thành các loại với những tầngbậc khác nhau: tầng thứ nhất gồm so sánh ngang bằng và so sánh
Trang 18không ngang bằng; tầng thứ hai gồm so sánh thứ bậc, so sánh hơn, sosánh kém, so sánh tương đồng, so sánh tương tự Kết quả nghiên cứucủa hai cuốn sách nói trên thực sự đã mở ra cách nhìn mới trongnghiên cứu biểu thức so sánh và đưa ra được nhiều gợi ý cho cácnghiên cứu tiếp theo.
Nghiên cứu vi mô: đó là những nghiên cứu đi sâu vào đặc điểmngữ nghĩa ngữ pháp của từng thành tố trong cấu trúc câu so sánh, phântích những nhân tố ảnh hưởng đến sự ẩn hiện của các thành tố đó.Điển hình là các công trình sau: 1) “丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰” (Phân tíchhai loại câu so sánh chủ yếu trong tiếng Hán hiện đại), tác giả 丰丰 (HựuNinh) chủ yếu giới thiệu hai cấu trúc so sánh không ngang bằng trong
đó yếu tố tham chiếu lần lượt xuất hiện ở trạng ngữ và ở bổ ngữ Tuynhiên, theo chúng tôi đây không phải thuộc hai cấu trúc so sánh khácnhau, mà chỉ là hai mô hình biến thể của một cấu trúc so sánh khôngngang bằng khi dùng chữ “丰” mà thôi Bài báo cũng đưa ra sơ đồ phânbiệt mức độ so sánh giữa các cấu trúc dùng “丰”, “丰丰”, “丰丰”, “丰丰”,
“丰” Mặc dù những so sánh này vẫn chỉ dừng lại ở trạng thái so sánhtĩnh, nhưng đều có giá trị tham khảo nhất định 2) “丰丰‘丰’丰丰丰丰丰丰丰丰丰”(Phân tích ngữ dụng của câu chữ “丰” mang từ “丰”), tác giả 丰丰丰 (ThẩmHồng Đan) đã thảo luận khá chi tiết về các nhân tố ngữ cảnh, liênnhân Tác giả bài báo cho rằng, trong ngữ cảnh có chứa cấu trúc câu
so sánh mang phó từ “丰” thường thể hiện thái độ và những đánh giáchủ quan của người phát ngôn Đây là một trong những mô hình thảoluận vi mô, giúp cho người sử dụng tiếng Hán hiểu tường tận hơn vềngữ nghĩa cấu trúc của một mô hình câu cụ thể 3) “‘丰X丰丰’丰丰丰丰丰丰丰”(Khảo sát cấu trúc “丰X丰丰” và các mô hình câu liên quan), tác giả 丰丰丰(Lý Kiếm Phong) cho rằng cấu trúc “丰X丰丰” có thể biểu đạt một tronghai ý nghĩa: so sánh logic và so sánh ví von Hai ý nghĩa này lại liênquan chặt chẽ đến từ loại của các yếu tố “丰” (hoặc các từ thay thếtương đương) và yếu tố “丰丰” 4) “丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰 ——‘丰丰’丰, ‘丰丰’
丰丰 ‘丰丰(丰)’丰” (Định hướng nghĩa và sự khác biệt về mức độ chủ quancủa câu so sánh “丰丰”, “丰丰” và “丰丰 (丰)”), tác giả 丰丰 (Tưởng Tịnh) chủyếu phân biệt mức độ đánh giá chủ quan của người nói trong các biểuthức so sánh phủ định khác nhau Theo đó, mức độ chủ quan của biểuthức mang “丰丰” lớn nhất, do vậy yếu tố so sánh thường là quan điểm,cách nhìn, tư tưởng của người nói, ngữ khí từ vì thế cũng được dùngnhiều hơn các cấu trúc khác Ngược lại, mức độ chủ quan của biểu
Trang 19thức chứa “丰丰 (丰)” thấp, các yếu tố so sánh thường là sự vật kháchquan, ngữ khí từ dùng do vậy cũng ít Biểu thức so sánh với “丰丰” cómức độ chủ quan nằm giữa hai cấu trúc trên Điều đó cũng được thểhiện qua đặc điểm hình thức của câu chứa các biểu thức so sánh phủđịnh khác nhau này 5) Cũng bàn về biểu thức so sánh dạng phủ định,tác giả 丰丰丰 (Trương Hòa Hữu) của bài báo “丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰”(Đặc điểm ngữ nghĩa trong hình thức phủ định của câu so sánh khôngngang bằng và những giải thích về mặt ngữ dụng) còn nhấn mạnhthêm nghiên cứu dạng phủ định của biểu thức so sánh nhất thiết phảikết hợp ba nhân tố: ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng 6) “丰丰丰丰丰丰 ‘丰N
丰N’丰” (Cấu trúc “丰N丰N” trong tiếng Hán đương đại), tác giả 丰丰丰(Điêu Yến Bân) chủ yếu giới thiệu chức năng ngữ pháp của cấu trúc
“丰N丰N”, theo đó khả năng làm vị ngữ của nó chiếm ưu thế hơn khảnăng làm định ngữ, còn hầu như không thấy cấu trúc này xuất hiện vớivai trò là chủ ngữ, trạng ngữ hay bổ ngữ Ngoài ra, tác giả cũng nêunhận xét cấu trúc “丰N丰N” chủ yếu được dùng trong khẩu ngữ 7)Cũng bàn về cấu trúc “丰N丰N”, tác giả bài báo “‘丰N丰N’丰N丰丰丰丰丰——丰 丰丰丰丰丰丰” (Sự lựa chọn ngữ nghĩa của danh từ trong cấu trúc “丰N丰N” -Bàn thêm về hiện tượng hình dung từ hóa danh từ) 丰丰丰 (Quách HiểuHồng) phân tích thêm về ngữ nghĩa của danh từ và hiện tượng hìnhdung từ hóa danh từ xuất hiện trong cấu trúc 8) “丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰”(Mối quan hệ về thành tố kết quả và điểm so sánh trong câu chữ “丰”),tác giả 丰丰 (Từ Danh) cho rằng trong câu chữ “丰” thành tố so sánh vàthành tố tham chiếu (chuẩn so sánh) được đem ra so sánh trên mộtđiểm nội dung nào đó, vì vậy khi lí giải câu phải nắm bắt được “điểmnội dung so sánh” đó Song để nắm được điểm nội dung này thì kếtquả so sánh lại có vai trò rất quan trọng, bởi lẽ nhiều khi do tác dụngcủa các nhân tố ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng khác nhau mà “điểmnội dung so sánh” không được hiển thị trên bề mặt cấu trúc, lúc đónhờ khả năng kích hoạt nghĩa của kết quả so sánh mà chúng ta dễdàng nắm bắt được “điểm nội dung so sánh” Có thể nói đây là mộtbài báo phân tích ngữ nghĩa khá tỉ mỉ, là một trong những tài liệu quantrọng mà đề tài tham khảo
1.2.2.2 Tổng quan nghiên cứu về biểu thức so sánh trong thành ngữ tiếng Hán
Trong tiếng Hán có một khái niệm được gọi là “tỉ” với nghĩa là “tỉgiả, tỉ phương ư vật” (“tỉ” là lấy vật này so sánh với vật kia) Các sự
Trang 20vật được dùng để giải thích cho sự vật khác thường phải là những sựvật, hiện tượng hết sức thân thuộc, gần gũi và luôn tiềm tàng trong tưduy của người Hán Phép so sánh tu từ trong tiếng Hán bắt nguồn từthủ pháp “tỉ” trong Kinh thi - bộ tổng tập thơ đầu tiên của TrungQuốc Như vậy, chúng ta có thể hiểu từ xa xưa người Hán đã rất quantâm đến “tỉ” (so sánh) Lớp thành ngữ có cấu trúc của phép so sánh tu
từ (mà trong công trình này gọi là thành ngữ so sánh) không nhữngchứa đựng cấu trúc hình thái của Hán ngữ cổ - kim, mà còn ẩn chứađầy đủ cuộc sống xã hội và tư duy của dân tộc Hán Quan trọng làvậy, nhưng các công trình nghiên cứu về thành ngữ so sánh tiếng Háncũng chỉ xuất hiện mờ nhạt trong các chuyên luận từ vựng, chuyênluận thành ngữ tiếng Hán nói chung, cũng như những công trìnhnghiên cứu lẻ tẻ được đăng trên các tạp chí chuyên ngành ngôn ngữ
Có thể kể đến các bài viết “丰丰丰丰丰丰丰丰” (Phép so sánh trong thành ngữHán) của tác giả 丰丰丰 (Thôi Hi Lượng), “丰丰丰丰丰丰丰丰” (Các kiểu cấutrúc của thành ngữ so sánh dạng ẩn) và “丰丰丰丰丰丰丰丰丰” (Phương thứcgiải thích nghĩa thành ngữ so sánh tiếng Hán dạng ẩn) của tác giả 丰丰丰(Long Thanh Nhiên) Trong các bài viết này cũng giống như trong cácchuyên luận từ vựng, các tác giả mới chỉ dừng lại ở bước miêu tả cấutrúc cơ bản của thành ngữ so sánh nói chung hoặc mô hình của thànhngữ so sánh dạng ẩn Các tác giả chưa đề cập tỉ mỉ và cụ thể đến đặcđiểm của từng tiểu loại và những hiện tượng biến thể của thành ngữ sosánh tiếng Hán Tác giả 丰丰丰 (Mạc Bành Linh) trong chuyên luận “丰丰丰 丰丰丰丰丰” (Thành ngữ tiếng Hán và văn hóa Hán), kết hợp giới thiệunhững nét văn hóa dân tộc trong thành ngữ nói chung với thành ngữ
so sánh tiếng Hán.Tuy đã có được một số thành tựu và gợi ý cho mộthướng đi khác, song chuyên luận cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ kháiquát chung chung, chưa đưa ra được những nhận định cụ thể
Khi nghiên cứu về bản chất của thành ngữ so sánh, giới Hán ngữ
có cái nhìn khá thống nhất Theo tác giả 丰丰丰 (Long Thanh Nhiên) chorằng “Thành ngữ so sánh là kiểu thành ngữ được tạo thành bởi cấutrúc của so sánh” (1995, 29p) Cùng quan điểm như vậy, tác giả 丰丰丰(Mạc Bành Linh) viết: “Thành ngữ so sánh là cách định danh so sánhliên tưởng đến sự vật, hiện tượng giúp ta có thể hiểu được khái niệmbằng những đặc trưng, tính chất chung giữa các yếu tố thông qua đơn
vị thành ngữ” (1997, 25p)
Trang 21Việc đưa ra cấu trúc tổng quát của thành ngữ so sánh tiếng Hán,thường theo hai quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất, tác giả 丰 丰 丰(Long Thanh Nhiên) (1995) và tác giả 丰丰丰 (Mạc Bành Linh) (1997)cho rằng cấu trúc tổng quan của thành ngữ so sánh tiếng Hán là:Thành tố so sánh + Từ ngữ so sánh + Thành tố chuẩn so sánh Ví dụ:
丰丰丰丰 (tâm như tử hôi) “trái tim như tro lạnh” = trái tim nguộilạnh
丰丰丰丰 (khẩu nhược huyền hà) = “mồm miệng như sông treo’ =thao thao bất tuyệt
Trong hai ví dụ trên, 丰 (tâm), 丰 (khẩu) là thành tố so sánh; 丰(như), 丰 (nhược) là từ ngữ so sánh; 丰丰 (tử khôi), 丰丰 (huyền hà) làthành tố chuẩn so sánh
Quan điểm thứ hai, tác giả 丰丰丰 (Tạ Kiến Bình) và 丰丰 (Chu Khiết)cho rằng cấu trúc của thành ngữ so sánh cũng chứa đựng đầy đủ bốnyếu tố như của cấu trúc so sánh tiếng Hán, và công thức tổng quát là:Thành tố so sánh + (Kết quả so sánh) + Từ ngữ so sánh + Thành tốchuẩn so sánh Ví dụ:
丰丰丰丰 (đảm tiểu như thử) ‘mật nhỏ như chuột’ = nhát như cáy,nhát như thỏ đế
丰丰丰丰 (khí tráng như ngưu) = khỏe như trâu, khỏe như voi
Ở hai ví dụ trên, 丰 (đảm), 丰 (khí) là thành tố so sánh; 丰 (tiểu), 丰(tráng) là kết quả so sánh; 丰 (như) là từ ngữ so sánh; 丰 (thử ), 丰
Trang 22(ngưu) là thành tố chuẩn so sánh.
Các tác giả khác khi nghiên cứu về thành ngữ so sánh tiếng Hán,không đưa ra một cấu trúc cụ thể mà chỉ nhận xét rằng thành ngữ sosánh có cấu trúc của so sánh tu từ, tức cấu trúc theo quan điểm thứ hai.Đây cũng chính là cách nhìn nhận của chúng tôi về cấu trúc của thànhngữ so sánh tiếng Hán được thể hiện trong đề tài này
Tổng hợp các nghiên cứu về biểu thức so sánh trong câu tiếngHán và trong thành ngữ tiếng Hán mà chúng tôi có được cho thấy,biểu thức so sánh đã được nhiều học giả Trung Quốc quan tâm và cónhững thành tựu nghiên cứu quan trọng cả về vĩ mô và vi mô Cácnghiên cứu này ở từng mức độ khác nhau đã phác thảo ra bức tranhtổng thể cả về chiều rộng lẫn chiều sâu về các hình thức biểu đạt sosánh trong tiếng Hán, là những tài liệu tham khảo quý giá cho cáccông trình nghiên cứu tiếp theo thuộc địa hạt này Tuy nhiên, cũngphải nhận thấy một điều rằng, một số nghiên cứu do tập trung phântích quá kĩ ở một số thành tố nghĩa nhất định (như việc xác định nộidung so sánh) nên có phần sa vào tư duy trừu tượng mà thực sự chỉ cógiá trị về mặt nghiên cứu mà không thật có giá trị ứng dụng, thậm chícòn gây nhiễu trong quá trình tiếp thụ tiếng Hán như một ngoại ngữ.Trong khi đó, những nghiên cứu trên phạm vi rộng thì lại không đượcquan tâm đúng mức, đặc biệt là những nghiên cứu mà xuất phát điểmcũng như mục đích nghiên cứu là để phục vụ cho đối tượng dạy vàhọc tiếng Hán như một ngoại ngữ thì còn khá hiếm hoi Chính vì vậy,các hình thức biểu đạt so sánh trong tiếng Hán thực chất vẫn cònnhiều khoảng trống trông chờ các nghiên cứu mới từ nhiều góc độkhác nhau, đặc biệt từ góc độ ứng dụng dạy học
1.2.3 Các nội dung nghiên cứu trong đề tài
Căn cứ vào nội dung giới thuyết và tổng quan về những thành quảnghiên cứu đi trước, trong đề tài này chúng tôi trước hết tập trungkhảo sát các hình thức biểu đạt so sánh trong câu tiếng Hán hiện đại.Các biểu đạt so sánh này bao gồm so sánh ngang bằng và so sánhkhông ngang bằng Với mỗi tiểu loại chúng tôi liệt kê toàn bộ các hìnhthức cấu trúc, từ ngữ so sánh chuyên dùng, thống kê tính toán tỉ lệxuất hiện của các cấu trúc khác nhau trong phạm vi ngữ liệu nhất định
để thấy rõ tần số sử dụng của chúng Với một số cấu trúc có tần sốxuất hiện cao, chúng tôi tiếp tục phân tích đặc điểm của các thành tốnhư chủ thể so sánh, chuẩn so sánh, kết quả so sánh và các hình
Trang 23thức phủ định tương ứng Ngoài ra, thông qua khảo sát thực tế, chúngtôi còn cố gắng tìm hiểu điều kiện chuyển đổi giữa các cấu trúc đồngnghĩa, sự khác biệt về ngữ nghĩa, ngữ dụng giữa các cấu trúc đó.Biểu đạt so sánh trong các ngôn ngữ nói chung, trong tiếng Hánnói riêng có dấu ấn sâu sắc trong các ngữ cố định, đặc biệt là trong cácthành ngữ Ở đó không chỉ các nhân tố ngữ pháp, ngữ nghĩa, tu từđược phản ánh một cách súc tích, mà còn là trầm tích văn hóa, thểhiện bản sắc dân tộc hết sức phong phú qua việc lựa chọn các hìnhtượng giữ vai trò vật tham chiếu trong các thành ngữ so sánh Chính vìvậy, khảo sát các thành ngữ so sánh tiếng Hán hiện đại (nguồn ngữliệu chủ yếu lấy từ Từ điển thành ngữ) và các nhân tố văn hóa thể hiệntrong đó cũng là một nội dung được chúng tôi đặc biệt quan tâm vàdành khối lượng giấy mực đáng kể để giới thiệu trong đề tài.
Để ứng dụng thành quả nghiên cứu vào giảng dạy tiếng Hán chohọc sinh Việt Nam và giảng dạy tiếng Việt cho học sinh Trung Quốc,
ở một chừng mực nhất định trong đề tài chúng tôi sẽ tiến hành liên hệcác biểu thức so sánh trong tiếng Hán với các biểu thức so sánh trongtiếng Việt Hình thức thực hiện nội dung này là sau khi thống kê cácbiểu thức so sánh trong tiếng Hán chúng tôi sẽ dựa trên khung của cácbiểu thức tiếng Hán để đối chiếu với tiếng Việt Từ đó tìm ra các điểmtương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ trong phạm trù so sánh.Hơn nữa, trong phạm vi cho phép, chúng tôi cố gắng từ các góc độkhác nhau, tìm ra các nguyên nhân lí giải cho những tương đồng vàkhác biệt này
Kiểm nghiệm giá trị thực tiễn những kết quả nghiên cứu thu đượcbằng cách phát phiếu điều tra tới hai đối tượng học sinh Việt Nam họctiếng Hán và học sinh Trung Quốc học tiếng Việt, thống kê, phân tíchlỗi sai của người học trong địa hạt này, chỉ ra nguyên nhân lỗi và cácbiện pháp khắc phục cũng như một số kiến nghị trong giảng dạy lànội dung cuối cùng chúng tôi đề cập đến trong đề tài Hy vọng với nộidung này chúng tôi sẽ làm sáng tỏ ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3 Tiểu kết
So sánh là một phạm trù ngữ nghĩa - ngữ pháp So sánh là mộtphương pháp để con người nhận biết thế giới khách quan Phạm trù sosánh phản ánh trong ngôn ngữ tạo nên các hình thức biểu đạt so sánh
Trang 24Mỗi ngôn ngữ khác nhau, do tác động của nhiều nhân tố khác nhau mà
có những hệ thống biểu đạt so sánh không hoàn toàn giống nhau.Tiếng Hán là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, phân tiết tính.Trật tự từ và hư từ là một trong những thủ pháp ngữ pháp chủ yếutrong tiếng Hán Chính vì vậy, các cách biểu đạt so sánh trong tiếngHán cũng phản ánh đậm nét hai đặc điểm này Nghiên cứu các hìnhthức biểu đạt so sánh trong tiếng Hán đã có những thành tựu đáng kể.Các học giả trên cơ sở phân tích những đặc điểm ngữ nghĩa, cấu trúccủa cả cấu trúc hoặc một thành tố cụ thể trong cấu trúc đã góp phầntạo dựng nên một bức tranh khá phong phú về biểu đạt so sánh trongtiếng Hán Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cho thấy vẫn thiếu một
sự khái quát tổng thể về các hình thức biểu đạt so sánh trong tiếngHán, bao gồm cả so sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng, sosánh logic và so sánh ví von Điều đó đặt ra một nhu cầu cần thiết phải
có thêm các công trình nghiên cứu mang tính tổng quan hơn để vừatổng kết các thành quả nghiên cứu của những học giả đi trước, vừa bổsung và chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong địa hạt này.Mặt khác, đứng từ góc độ đối chiếu ngôn ngữ và ứng dụng vào dạyhọc thì nghiên cứu các hình thức biểu đạt so sánh tiếng Hán, có đốichiếu với tiếng Việt ở một chừng mực nhất định nhằm mục đích phục
vụ dạy học tiếng Hán, tiếng Việt như một ngoại ngữ thì đến nay vẫncòn là một khoảng trống và đang mong chờ những thành quả nghiêncứu mới Sau khi phân tích các cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên,chương I đã đề ra nội dung chính của đề tài là khảo sát các hình thứcbiểu đạt so sánh trong tiếng Hán hiện đại (bao gồm cả so sánh ngangbằng và so sánh không ngang bằng) xuất hiện trong câu và trong thànhngữ Bên cạnh sự miêu tả về cấu trúc, cố gắng phân tích các nhân tốvăn hóa tư duy thể hiện trong các hình thức biểu đạt so sánh mà chủyếu là ở các thành ngữ so sánh Đồng thời để ứng dụng thành quảnghiên cứu vào giảng dạy tiếng Hán cho học sinh Việt Nam và giảngdạy tiếng Việt cho học sinh Trung Quốc, ở một chừng mực nhất địnhchúng tôi sẽ còn chú trọng tiến hành liên hệ giữa tiếng Hán và tiếngViệt, tìm ra những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ trongphạm vi biểu đạt so sánh Với những nội dung ở chương I, chúng tôi
hy vọng sẽ cung cấp cơ sở lí luận, thực tiễn và sự định hướng chonhững nội dung sẽ được triển khai ở các chương tiếp theo
Trang 25Chương 2
CÁC HÌNH THỨC BIỂU ĐẠT SO SÁNH TRONG CÂU TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
Trong chương 2 này, chúng tôi tập trung khảo sát các hình thứcbiểu đạt so sánh (các biểu thức so sánh) ngang bằng và không ngangbằng xuất hiện trong câu tiếng Hán hiện đại Ở mỗi loại hình so sánhnày chúng tôi cố gắng liệt kê các biểu thức thường dùng, trong đó cónhững biểu thức được xác định là biểu thức cơ bản, còn các biểu thứckhác được coi là những biểu thức biến thể Sự khác biệt về ngữ nghĩa
và cách dùng giữa các biểu thức cơ bản cũng như giữa những biểuthức cơ bản và biểu thức biến thể trong một chừng mực nhất địnhcũng được chúng tôi đề cập đến tại chương này Do sự giao thoa nhấtđịnh về cấu trúc nên hình thức phủ định của biểu thức so sánh ngangbằng và so sánh không ngang bằng trong câu tiếng Hán sẽ được chúngtôi trình bày gộp với nhau và tách riêng thành một phần độc lập saukhi giới thiệu về các biểu thức so sánh ở dạng khẳng định
2.1 Hình thức biểu đạt so sánh ngang bằng
2.1.1 Các biểu thức so sánh ngang bằng
Khái niệm ngang bằng chúng tôi dùng ở đây có ngoại diên khárộng, bao gồm cả sự giống nhau tuyệt đối và giống nhau tương đối.Như tại chương 1 chúng tôi đã có dịp trình bày các tiêu chí nhận biết
về hình thức biểu đạt so sánh, theo đó, so sánh ngang bằng được thểhiện trên bốn dạng biểu thức sau:
(I) A + R1 [丰 (hoặc các từ thay thế tương đương)] + B + R2 [丰
丰 (hoặc các từ thay thế tương đương)] + (VP)
(II) A + R1 [丰/丰 (hoặc các từ thay thế tương đương)] + B + R2[丰丰/丰丰/丰丰/丰丰…] + VP
(III) A + R [丰丰 (hoặc các từ thay thế tương đương)] + B
(IV) A + VP, Y+ R [丰] + VP
Dưới đây chúng tôi lần lượt giới thiệu đặc điểm cấu trúc của bốnbiểu thức so sánh ngang bằng nói trên Tuy nhiên, với thành tố biểu thịquan hệ so sánh trong biểu thức chúng tôi chỉ sử dụng kí hiệu R khikhái quát kết luận, còn trong quá trình trình bày chúng tôi thể hiệnluôn bằng các từ ngữ cụ thể
2.1.1.1 Biểu thức I: A 跟 B 跟跟 (VP)
Cấu trúc cơ bản
Trang 26Để diễn đạt so sánh ngang bằng có thể dùng nhiều biểu thức khácnhau, trong đó biểu thức I: A丰B丰丰 (VP) được coi là cấu trúc cơ bản.Tại biểu thức này, A là chủ thể so sánh, thường xuất hiện ngay ở đầucấu trúc Trong ngữ cảnh cụ thể, A có thể được tỉnh lược hoặc có thể
ẩn trong một thành phần nào đó của câu B là chuẩn so sánh, luôn luônxuất hiện tại vị trí giữa “丰” và “丰丰” VP là cụm vị từ cụ thể hóa nộidung tương đồng giữa A và B VP có thể là một thành tố trong cấutrúc so sánh, cũng có thể được hiện thực hóa bằng một phân câu khác,
và cũng có thể không xuất hiện “丰…丰丰” là khuôn cấu trúc biểu thị so
sánh ngang bằng Khuôn cấu trúc này có thể xuất hiện đầy đủ cả haiyếu tố “丰” và “丰丰”, cũng có thể khuyết một trong hai và cũng có thểđược thay thế bởi các yếu tố tương tự Chính sự linh hoạt của thành tốnày tạo ra tính đa dạng về cấu trúc của câu so sánh ngang bằng -
những cấu trúc biến thể mà chúng tôi sẽ trình bày phía sau Cấu trúc A
丰B丰丰 (VP) được sử dụng khá phổ biến trong khẩu ngữ Và ở góc độthành phần câu, cấu trúc này có thể xuất hiện ở các vị trí khác nhau
A丰B丰丰 (VP) độc lập thành câu Tức A làm chủ ngữ còn “丰B丰丰(VP)” làm vị ngữ Ví dụ:
(18) 丰丰丰, “丰丰丰丰丰丰丰丰丰.” 丰他他他他他他, 丰他他他他他他他他 78p
(Mẹ nói “nó sinh ra đã phải ăn cỏ rồi.” Đến ngay cả phân nó
thải ra cũng giống phân của lừa.)
(19) 丰丰丰丰丰丰, 丰: “丰丰丰, 丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰 丰丰丰
他丰他他他他.” 159p
(Tư Mã Khố lắc đầu nói “Lỗ Đoàn Tọa, anh nói sai rồi, thiên
đàng và địa ngục đều không có chỗ cho tôi, chỗ của tôi là ởgiữa Thiên đàng và địa ngục Ngược lại, anh cũng giống tôi).Trong hai ví dụ trên, các thành tố A (丰丰丰丰丰丰 - phân nó thải ra) và(丰 - anh) đều là chủ ngữ, phần còn lại của cấu trúc (丰丰丰丰丰丰丰丰 - giốngnhư phân lừa) và (丰丰丰丰 - giống như tôi) đảm nhận vị ngữ Tuy nhiên,
đó là khi trong cấu trúc không xuất hiện thành tố VP Nếu VP xuấthiện thì A vẫn làm chủ ngữ, VP là vị ngữ chính còn “丰 B 丰丰” làmtrạng ngữ cho VP Ví dụ:
(20) 他他他他他他他他他他他, 丰丰丰丰丰丰 144p
(Tay của Tư Mã Khố nhanh như cắt, thoắt cái đã thu lại.)
Ở ví dụ trên, chủ ngữ (丰丰丰丰丰 - tay của Tư Mã Khố) là thành
Trang 27tố A, thành tố VP (丰 - nhanh) làm vị ngữ chính, (丰丰丰丰丰 - nhưchớp) cũng thuộc vị ngữ nhưng làm trạng ngữ cho thành tố VP (丰 -nhanh) Thông thường giữa “丰B丰丰” và thành tố VP không cần phải
có trợ từ kết cấu “丰” và trọng âm câu rơi vào VP Nhưng nếu ngườiphát ngôn muốn nhấn mạnh sự tương đồng, tức trạng ngữ mang đậmsắc thái miêu tả thì có thể xuất hiện trợ từ kết cấu “丰” giữa trạng ngữ
“丰B丰丰” và trung tâm ngữ VP Ví dụ:
(21) 丰丰丰丰丰他丰丰丰丰丰丰
(Cô ấy thích ăn kem giống tôi.)
Nếu A chuyển hóa thành danh từ trung tâm trong cụm danh từ thì
“丰B丰丰 (VP)” sẽ làm định ngữ cho danh từ trung tâm đó Ví dụ:
(22) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰他他他他他他他他他
337p
(Nó dùng gáy dao đập bình bịch vào thịt rắn, sau đó xoay lưỡi
dao trong nháy mắt đã cắt chúng thành nhưng lát thịt mỏng nhưgiấy.)
Trong ví dụ trên thành tố A (丰丰 - lát thịt) chuyển hóa thành danh
từ trung tâm, phần còn lại của cấu trúc so sánh (丰丰丰丰丰丰 - mỏng trongnhư giấy) làm định ngữ cho danh từ trung tâm này Sự chuyển hóa củathành tố A trong cấu trúc so sánh trở thành danh từ trung tâm trongcụm danh từ là tiền đề tạo nên một trong những cấu trúc quan trọng,phổ biến của thành ngữ so sánh mà chúng tôi sẽ giới thiệu ở chương 3.Cần chú ý một điều là, do cấu trúc “丰B丰丰 (VP)” mang tính vị từ, nênkhi làm định ngữ nó có tác dụng miêu tả đặc điểm tính chất của trungtâm ngữ (thành tố A) Vì vậy giữa định ngữ và trung tâm ngữ này luônluôn phải xuất hiện trợ từ kết cấu “丰”
“丰B 丰丰” có thể làm bổ ngữ, khi đó A có thể khuyết hoặc ẩn Vídụ:
(23) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰: “丰丰丰丰, 他他 … 丰丰丰丰丰 …” 丰丰丰丰: “丰丰, 丰丰丰丰丰, 丰他他他
他他他他, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰!” 351p
(Một nhân viên cửa hàng cung kính nói: “Thưa ngài Tư Mã,
ma nơ canh đều như vậy ạ ” Tư Mã nói: “Không được, làmlại cho tôi, phải làm như người thật, người thật có cái gì thìcũng phải có cái đó!)
Trong ví dụ trên, thành tố A (丰丰 - ma nơ canh) được ẩn trong
Trang 28các phân câu trên Phần còn lại của cấu trúc so sánh “丰丰丰丰丰 - nhưngười thật” đảm nhận vị trí bổ ngữ cho động từ “丰” của câu.
Như vậy, chức năng đảm nhận thành phần câu của cấu trúc A 丰B
丰丰 khá đa dạng, trong đó thành tố A có thể giữ vai trò chủ ngữ củacâu, cũng có thể được chuyển hóa thành danh từ trung tâm trong cụmdanh từ, cũng có thể được ẩn đi hoặc bị khuyết Phần còn lại của cấutrúc so sánh “丰B 丰丰 (VP)” có thể đảm nhận các thành phần vị ngữ,trạng ngữ, định ngữ và bổ ngữ trong câu
Xem xét các thành tố của biểu thức I chúng tôi nhận thấy, A cóthể là những đơn vị thể từ (danh từ/đại từ) như “丰丰丰丰丰丰 - phân mà nóthải ra” của ví dụ (78p) và “丰 - anh” của ví dụ (159p) Cũng có thể lànhững đơn vị mang tính vị từ hay cụm chủ vị như ví dụ sau đây:
dụ (351p), A (丰丰 - ma nơ canh) lại được nhắc đến ở lời thoại trước đó,
do vậy dù không xuất hiện lại ở cấu trúc câu so sánh nhưng nghĩa củacâu vẫn rất hoàn chỉnh Ở ví dụ sau đây cũng tương tự, A (丰 - mày)được ẩn ngay ở chủ ngữ của phân câu trước đó:
(26) 丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰 丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 他他他他他他他他他他他 233p
(Tôi nhìn họ, họ cũng nhìn tôi Tôi cảm thấy chẳng còn gì để
nói Cảm giác của họ chắc chắn cũng giống tôi.)
Trang 29(27) 丰丰丰丰丰丰丰丰, 他他他他, 他他他他他他他他丰, 丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰 257p
(Nó ăn thử một quả, chua chua ngọt ngọt, giống vị lê của Trung
Quốc, khoái trí yên tâm ăn đến no.)
(28) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 他他他他他他他他他他他他他他他他他他他他他他他他他他他他他他 322p (Nó phát biểu một bài ngắn gọn, từ ngữ mà nó sử dụng và
giọng điệu chẳng khác nào cán bộ quản giáo ở nông trường cảitạo huấn thị phạm nhân.)
Ở ví dụ (129p) B “丰丰丰丰丰丰丰 - tư thế cưỡi ngựa của nó” là một cụmdanh từ trong khi A “丰丰丰丰丰 - Babiter cưỡi ngựa” là một cụm chủ vị
Ví dụ (233p) B “丰 - tôi” là một đại từ nhân xưng trong khi A “丰丰丰丰丰 cảm giác của họ” là một cụm danh từ Ví dụ (257p) B “丰丰丰丰丰 - vị lêcủa Trung Quốc” là một cụm danh từ trong khi A “丰丰丰丰 - chua chuangọt ngọt” lại là một cụm hình dung từ Ví dụ (322p) B “丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰 丰丰丰 - cán bộ quản giáo ở nông trường cải tạo huấn thị phạm nhân” làmột cụm chủ vị trong khi A “丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰 - từ ngữ mà nó sử dụng
-và giọng điệu” lại là một cụm danh từ
Thành tố VP không phải là thành phần bắt buộc trong cấu trúc Nóchỉ xuất hiện khi người phát ngôn có nhu cầu cụ thể hóa sự giốngnhau giữa A và B VP thường phải là đơn vị ngôn ngữ hàm chứa ýnghĩa thang độ như các hình dung từ chỉ tính chất, ví dụ hình dung từ
“丰 - nhanh” trong ví dụ (144p), các cụm động từ mà thành tố của nó
có khả năng biểu đạt thang độ hoặc các động từ tâm lí như ví dụ sau: (29) 丰丰丰丰丰他他
(Nó có trách nhiệm như tôi vậy.)
Trên thực tế thành tố VP lại còn có thể được hiện thực hóa bằngcác phân câu nằm ngoài khuôn mẫu của biểu thức so sánh như ví dụ(129p)
Do trọng tâm khảo sát của biểu thức so sánh ngang bằng là tậptrung giới thiệu các mô hình cấu trúc khác nhau mà không phải đi sâumiêu tả đặc điểm của từng thành tố trong một cấu trúc, do vậy chúngtôi xin dừng việc phân tích các thành tố của cấu trúc I tại đây Tuynhiên, liên quan đến nội dung tương tự này chúng tôi sẽ còn đề cậpđến khi miêu tả về đặc điểm cấu trúc của câu so sánh không ngangbằng ở phần sau
Riêng về việc xác định từ loại của hai đơn vị “丰” và “丰丰” trongcấu trúc so sánh ngang bằng có liên quan mật thiết đến nghĩa biểu đạtcủa toàn cấu trúc, chúng tôi sẽ quay lại và đề cập đến trong phần ngữ
Trang 30nghĩa Tuy nhiên, có thể khẳng định một điều là, nếu “丰丰” được xácđịnh là một hình dung từ (vị từ) thì “丰” chắc chắn là một giới từ dùng
để giới thiệu thành tố chuẩn so sánh B Ngược lại, nếu “丰丰” được xácđịnh là một trợ từ thì “丰” sẽ là một động từ có nghĩa như “丰” Thành
tố chuẩn so sánh B khi đó có vai trò như một tân ngữ
Cấu trúc biến thể
Cái gọi là cấu trúc biến thể ở đây là chỉ các khuôn cấu trúc biểuthị so sánh ngang bằng dạng không đầy đủ của “丰…丰丰” hoặc dạng cómột hoặc cả hai yếu tố trong đó được thay thế Theo thống kê củachúng tôi có tới hàng chục cấu trúc biến thể khác nhau, nhưng căn cứvào tần số sử dụng và đặc điểm tính chất của chúng, trong phạm vi đềtài này chúng tôi chỉ xin phép giới thiệu một số cấu trúc biến thể đượcxếp thành các nhóm khác nhau sau đây:
Nhóm cấu trúc yếu tố “丰丰” được thay thế: “A丰B丰丰/丰丰丰丰/丰丰/丰丰丰/丰丰/丰丰/丰丰/丰丰…”
Thành tố “丰丰” có thể có hai từ loại: a) vị từ biểu thị thuộc tính
“giống nhau giữa hai sự vật” và b) trợ từ biểu thị so sánh Vì vậy, cácthành tố thay thế cho nó cũng có thể thuộc một trong hai từ loại nóitrên
Khi “丰丰” được thay thế bởi trợ từ so sánh thì trợ từ đó thường chỉ
Trang 31những ví dụ minh chứng cho điều đó.
Khi “丰丰” được các vị từ, tức các thực từ thay thế, thì số lượng của
nó thuộc loại “mở”, đó chính là những từ hoặc cụm từ đồng nghĩa vớihình dung từ “丰丰” Sự khác biệt giữa các vị từ này chủ yếu là ở “mức
độ giống” được thể hiện ngay trong ý nghĩa từ vựng của chúng Ví dụ: (31) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰他他丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰 70p
(Tư Mã Khố đưa bàn tay nhỏ mềm mại nuột nà như tay của anh
trai nó nắm lấy cằm anh.)
(32) 丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰他他丰丰丰丰丰 118p
(Cô quỳ xuống, moi từ đống đất ra một cái áo giống những
chiếc cùng mầu trên phố.)
Hình dung từ “丰丰 - tương đồng” ở hai ví dụ trên đều không làm vịngữ chính của câu, mà chỉ có thể tham gia vào thành phần trạng ngữnhư ví dụ (70p) hoặc tham gia làm định ngữ như ví dụ (118p) Đâycũng là đặc điểm cơ bản của hình dung từ này
Khác với “丰丰”, các hình dung từ khác xuất hiện thay thế cho hìnhdung từ “丰丰” đều có thể làm vị ngữ của câu, hoặc cả cấu trúc so sánh
(Vào cửa là một ngọn núi giả đắp bằng đá Thái Hồ, trước đá
Thái Hồ là một bồn phun nước, giữa hồ là mấy chú tiên hạc giảgiống hệt hạc thật nhưng im phăng phắc không động đậy) (35) 丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰他他 344p
(Bộ quần áo này cũng là màu vàng, cơ bản giống màu vàng của
chiếc váy lông cừu.)
(36) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰他他他 146p
(Tiếng khóc của nó giống với tiếng khóc của một cô gái Trung
Quốc)
(37) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰他他 83p (Cổ của nó sưng vù lên, mặt cũng sưng lên cùng với cổ, sưng
đến mức mắt húp như hai sợi chỉ, hệt như một con cá búp bê.) (38) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰: 丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰他他丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰
丰 278p
Trang 32(Trong túi là một bộ dụng cụ gây án của Kiều Kì Sa: Một chiếc
khoan, một máy phóng tia to, băng dính nhuồm mầu vỏ trứng,còn có một cái kéo.)
(39) 丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰 “丰丰” 丰丰丰他他他他 295p
(Ăn mặc của mọi người dường như chẳng khác gì so với thời đi
“chợ tuyết” cách đây 15 năm.)
(40) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰; 丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰他他他他他他
170p
(Phan Đệ đội mưa đội gió theo Lỗ Lập Nhân, cái chết cũng
trong gang tấc; cầu đệ bán cho Bạch Nga, cũng chẳng khácchết là mấy.)
(41) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, ……, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰他他他他他? 10p
(Chủ quán Phúc Sinh Đường đi đi lại lại trên phố, … ngang
nhiên giết chết con lừa nhà nó, khác gì với việc đi tìm cáichết?)
Trong số các ví dụ trên, ví dụ (326p) và (278p) cả cấu trúc so sánhđảm nhận thành phần định ngữ Các ví dụ còn lại thì các hình dung từthay thế cho “丰丰” đều làm vị ngữ chính của câu Cấu trúc của các vị từthay thế này rất đa dạng, nó có thể là một từ như “丰丰”, “丰丰”,“丰丰丰”, “丰
丰”, “丰丰” ở các ví dụ (70p), (344p), (146p), (83p) và (278p); có thể làmột thành ngữ như “丰丰丰丰” ở ví dụ (136p), (326p), có thể là một cụm
từ như “丰丰丰丰” và “丰丰丰丰丰丰” ở ví dụ (170p), (295p), thậm chí có thể làmột cụm từ phản vấn như “丰丰丰丰丰” ở ví dụ (10p), hay trong thực tếcòn có các cách biểu đạt như “丰丰丰丰”, “丰丰丰丰”…
Nhóm cấu trúc yếu tố “丰” được thay thế: “A 丰/丰/丰/丰丰/丰丰/丰/丰丰B丰
丰”
Các yếu tố thay thế thành tố “丰” để kết hợp với “丰丰” tạo ra cấutrúc so sánh ngang bằng so với yếu tố thay thế cho thành tố “丰丰” có sốlượng hạn chế hơn nhiều, hơn nữa, theo khảo sát của chúng tôi lại chủyếu tập trung ở từ “丰” (593/994, chiếm 59,66%), sau đó là “丰 丰”(240/994, chiếm 24,14%), “丰丰” (102/994 chiếm 10,26%) Các từ cònlại khác thì chiếm tỉ lệ không nhiều Ví dụ:
(42) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰他丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰 88p
(Tôi ngạc nhiên khi nhận ra rằng hồn trong đôi mắt của các chị
ấy giống cái hồn trong mắt của chị cả Thượng quan Lai Đệ vàchị hai Thượng quan Chiếu Đệ.)
(43) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰 丰丰丰丰他丰丰丰丰丰, 丰丰 “丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰” 416p
Trang 33(Ủy viên Dương vung cánh tay hô khẩu hiệu Nội dung của
khẩu hiệu cũng giống những năm trước, vẫn là “không quênnỗi khổ giai cấp, khắc ghi mối thù nợ máu.)
(44) 丰丰……丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰, 丰他丰丰丰丰丰 377p
(… Chị Dao … suốt ngày ngồi trong nhà, chẳng thấy ánh nắng
mặt trời, mặt trắng bệch.)
(45) …丰丰丰丰丰丰丰他他丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰 … 406p
(… Cái mùi tanh của máu như mỏ của con chim gõ kiến chích
vào từng mao mạch trong đầu óc cô.)
(46) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰他丰丰丰丰丰丰丰丰丰 22p
(Tai của cô ấy nóng rực, chẳng còn nghe thấy gì cả, nhưng cô
dường như nhìn thấy âm thanh vang vọng như nước tràn khắpbốn phương.)
(47) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰, 他他丰丰丰丰丰丰丰 420p
(Cô đứng dậy, khi muốn đi xem … bỗng cảm thấy đôi chân
mềm nhũn, như dẫm trên đống bông vậy.)
(48) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰
丰, 他他丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰
(Lão Kim cuối cùng cũng kiệt sức …, cái vẻ tham lam ấy
dường như muốn nuốt chửng cả bộ ngực của cô.)
Nhóm biến thể trên được sử dụng với tần số khá cao, và cũnggiống cấu trúc cơ bản chúng có thể trực tiếp độc lập thành câu, cũng
có thể tham gia vào các thành phần câu như định ngữ, trạng ngữ, bổngữ … Tuy nhiên, với mức độ hư hóa của các yếu tố thay thế “丰”không giống nhau, cùng với các đặc điểm sắc thái văn phong riêngbiệt của chúng mà giữa các tiểu cấu trúc trên cũng có những khác biệttrong sử dụng Về nội dung này chúng tôi sẽ đề cập kĩ hơn trong phầnngữ nghĩa Mặc dù vậy, sự khác biệt giữa các tiểu cấu trúc trong nhómbiến thể này cũng không quá lớn, trong nhiều trường hợp có thể thaythế được cho nhau, thậm chí trong cùng một câu, để tránh trùng lặpcũng có thể dùng đồng thời hai cấu trúc Ví dụ:
(49) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰, 他丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰, 丰丰, 丰丰他丰丰丰丰丰丰丰丰 (… Chúng tôi sẽ thiếu dinh dưỡng, như phần đông người trong
thôn, bủng beo, thoi thóp, đôi mắt thì lấp lóe chẳng khác gìđốm lửa quỷ.)
Nhóm cấu trúc cả hai yếu tố “丰” và “丰丰” đều được thay thế: “A丰/
丰/丰/丰丰/丰丰/丰丰B丰丰/丰丰丰丰/丰丰丰//丰丰/丰/丰丰 …”
Trang 34Khi cả hai yếu tố “丰” và “丰丰” đều được thay thế bằng các yếu tốtương đương khác chúng ta sẽ có được một số lượng biểu thức so sánhhết sức phong phú Tuy nhiên, các biểu thức được tạo ra luôn luônđảm bảo quy tắc mức độ hư hóa của hai yếu tố thay thế luôn luôn tráingược nhau Chúng ta có thể xem các ví dụ sau đây:
(50) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰他丰丰丰他他丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰 8p
(Thượng quan Phúc Lộc cúi người trước con lừa, giơ đôi bàn tay
thanh tú giống bàn tay của con trai, đặt trên bụng con lừa đen.) (51) 丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰, 丰丰丰他丰丰丰丰丰丰丰丰他他他他 24p
(Mặc dù cách vài trăm mét, nhưng cô nhìn thấy những con
ngựa ấy giống như loài ngựa to của nhà Phồn Tam Gia.)
(52) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰他丰丰丰丰丰丰丰丰他他他丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰
丰丰丰丰丰丰丰 90p
(Tôi nhìn thấu qua lớp áp lông da, thấy bộ ngực to bằng vú mẹ
của chị ấy Vẻ đẹp của nó khiến tôi quên hết cả đói rét.)
Trang 35ta che mất.)
(57) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰他他丰丰丰丰丰他丰丰丰 410p
(Tay của mẹ xoa trực tiếp trên da vừa lạnh vừa nhầy như da
cóc của Thượng quan họ Lã.)
(Nó giang rộng hai tay, dường như muốn tặng chúng tôi cái gì
đó và nói: “tiếc quá, tiếc quá, chúng tôi không ngờ rằng …”)
“丰” theo cuốn “丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰” (丰丰丰丰丰丰丰) (Từ điển hư từ thường
dùng tiếng Hán hiện đại, Nxb Giáo dục Triết Giang) là một trợ từ biểu
thị nghĩa so sánh giống trợ từ “丰 丰” và thường chỉ kết hợp với cácđộng từ như “丰”, “丰丰”, “丰丰”, “丰丰”… (như các ví dụ nêu trên) để tạothành biểu thức so sánh mà không bao giờ kết hợp với các hư từ đíchthực như “丰” Trong ví dụ sau đây “丰” và “丰” không cùng nằm trênmột tầng cấu trúc:
(60) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰他丰丰他丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰 144p (Đoàn tầu chở đầy vũ khí lao nhanh trên đường sắt Tiếng ma
sát ken két của bánh xe kim loại khổng lồ trên đường ray hòalẫn tiếng rào rào như nước chảy của các máy quay phim.)
Ngược lại “丰” và “丰丰” đều là các thực từ kiêm hư từ Khi chúngcùng xuất hiện trong cấu trúc thì một trong hai sẽ được coi là thực từ,còn từ kia sẽ là hư từ Ví dụ:
(61) 丰丰他丰丰丰丰他他丰丰丰丰丰 67p
(Tia lửa điện cứ nghiền nuốt đám sắt thép như tằm ăn dâu vậy.)
Nhóm cấu trúc khuyết “丰”: “A+B丰丰/丰丰/丰/丰丰”
Trang 36Khi khuyết yếu tố “丰”, tức yếu tố nhằm dẫn ra thành phần chuẩn
so sánh B, thì toàn bộ nghĩa so sánh của cấu trúc đều được rơi vàoyếu tố còn lại “丰丰” Theo khảo sát của chúng tôi, có thể tham gia vàocấu trúc này và thay thế cho “丰丰” còn có丰丰/丰/丰丰 Ví dụ:
(62) 丰丰, 丰丰丰丰丰他丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰 12p
(Cuối cùng, cô Tôn cũng như quả bóng xẹp hơi, đôi mắt nảy
lửa lại trở nên ấm áp pha chút rầu rĩ.)
(63) 丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰他丰, 丰丰丰丰丰丰他丰丰丰 65p
(Lòng mẹ thanh thoát, khuôn mặt hiện lên vẻ Thánh Mẫu, nhân
từ như Bồ Tát vậy.)
(64) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰他他丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰 39p
(Con chó điên nấp trong ruộng nhảy vọt ra như một mũi tên, xé
nát con quạ bị thương.)
(65) 丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰他他丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰他丰丰丰, 丰丰丰丰, “丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰
丰丰” 313p
( Cô nghiêng người nắm lấy cánh tay gầy như que củi của anh,
đôi mắt đen rưng rưng lệ nói “người anh em, cậu sao vậy?”) (66) 丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰他他丰丰丰丰丰 11p
(Vì mỉm cười nên đôi môi Mã Lạc Á hé lộ hàm răng trắng muốt.) (67) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰他他丰丰 17p
(Chuông xe đạp nhãn Liren của Đức kêu như nổ đậu, Tư Mã
Khố phi tới như một cơn gió
(68) 丰丰丰他他丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰—— 30p
(Cậu ta giơ cao chiếc bình thủy tinh đựng một nước gì xanh
xanh lên như đang biểu dương thành tích vậy.)
(69) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰他他丰丰, 丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰
丰丰丰丰丰丰丰 II5p
(Họ bắt buộc phải chở các tảng đá vỡ, các khối đá như những
hòn núi nhỏ của lần nổ trước vào hầm dẫn trước khi lần nổ saudiễn ra …)
Khi khuyết yếu tố “丰”, yếu tố hình thức còn lại biểu thị phép sosánh là “丰丰” hoặc những từ thay thế cho nó Trọng âm của câu lúc nàyrơi vào thành tố B Trong số các từ thay thế cho “丰丰” có hai trợ từ “丰
丰” và “丰” Từ thay thế còn lại trong toàn bộ ngữ liệu chúng tôi cóđược là “丰丰” Cả “丰丰” và “丰丰” đều là những từ kiêm loại hình dung từ
và trợ từ Xét về mặt ngữ âm (trọng âm câu đều không nằm ở các từ 丰
Trang 37丰/丰丰/丰丰 và 丰) và theo nguyên tắc về tính hệ thống, chúng tôi cho rằng
丰丰 và 丰丰trong cấu trúc này đều nên quy thành trợ từ như 丰丰 và 丰.Xét về mặt chức năng đảm nhận thành phần câu, cấu trúc biến thểnày phần lớn có thể đảm nhận chức năng định ngữ (khi đó thành tố Ađược chuyển hóa thành danh từ trung tâm) như các ví dụ (65p),(313p), (11p), (II5p) Cũng có thể làm trạng ngữ như các ví dụ (12p),(39p), (17p), (30p) Khả năng làm vị ngữ của cấu trúc này khôngnhiều, chủ yếu là cấu trúc có thành tố “丰丰” và “丰丰” Ví dụ:
(70) 丰丰丰, 他他他他 56p
(Cái đồ mày, thật là tinh ranh.)
(71) 丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰, 他他他他 212p
(Chúng thập thà thập thò, mắt lấm la lấm lét như kẻ trộm.)Khả năng làm bổ ngữ của cấu trúc biến thể này còn ít hơn nữa.Trong số ngữ liệu của chúng tôi chỉ có một ví dụ sau:
(73) 丰丰丰丰, 丰丰丰丰他他他他他丰丰丰丰, 他他他他他丰丰丰丰, 他他他他他丰丰丰丰丰丰丰 72p
(Trước mắt tôi chỉ có hai bầu vú đầy đặn mượt mà như hai quả
hồ lô, sinh động như đoi chim bồ câu, bóng đẹp như hai bìnhhoa sứ.)
Có thể nói, biểu thức so sánh I (bao gồm cả cấu trúc cơ bản và cấutrúc biến thể) là vô cùng phong phú Điểm chung giữa chúng là về ngữnghĩa tổng thể chúng đều biểu thị so sánh ngang bằng Đó chính là căn
cứ cần thiết để thực hiện sự chuyển đổi giữa các cấu trúc Tuy nhiên,giữa các cấu trúc này còn tồn tại không ít những khác biệt tế nhị cảtrên các bình diện cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng Do vậy, mặc dù
có được điều kiện cần thiết nói trên, nhưng trên thực tế việc chuyểnđổi giữa các cấu trúc cũng không hoàn toàn tự do và phải chịu tácđộng của một số yếu tố nhất định Chúng tôi sẽ thảo luận kĩ hơn tạicác phần sau
Trang 382.1.1.2 Biểu thức II: A 跟 / 跟 B 跟跟/跟跟/跟跟/跟跟 VP
Khác với biểu thức I, trong thành phần của biểu thức II khôngxuất hiện yếu tố biểu thị ngang bằng tương đương với “丰丰” Chính vìvậy, trong biểu thức II này, yếu tố “丰/丰” lại là một trong những yếu tốquan trọng chứa đựng ý nghĩa ngang bằng cho cả cấu trúc “丰” vốn làmột động từ biểu thị sử sở hữu, sau đó hư hóa và biểu thị một quátrình hiện thực hóa Khi dùng trong biểu thức so sánh, “丰” được dùngvới nghĩa hư hóa này, biểu thị mức độ của một thuộc tính nào đó đãđược hiện thực hóa Chính vì thế, thành tố B xuất hiện sau “丰” thôngthường là một tiêu chuẩn định lượng Sự xuất hiện của thành tố “丰丰/丰丰/丰丰/丰丰” nhằm nhấn mạnh sự tương đồng đã tạo nên tính đặc thù chobiểu thức II Thành tố VP trong biểu thức II cũng hết sức quan trọng,
nó không những biểu thị kết quả so sánh mà ở một số trường hợp cụthể (như trong cấu trúc xuất hiện yếu tố丰丰/丰丰) thì VP là thành tố đảmbảo sự hoàn chỉnh cho cả cấu trúc Cũng giống biểu thức I, ở biểu thức
II thành tố B cũng không thể khuyết còn thành tố A thì có thể được ẩntrong một thành phần nào đó của câu hoặc có thể được khuyết trongmột ngữ cảnh cụ thể Tần số xuất hiện của biểu thức này theo khảo sátcủa chúng tôi không lớn (chỉ chiếm 1.51%), nhưng cũng là một trongnhững biểu thức cơ bản để diễn đạt so sánh ngang bằng trong tiếngHán Ví dụ:
(74) 丰丰丰, 他他他他他他他!
(Tôi hiểu, hiểu như bây giờ)
(75) 丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 他他他他他他他他他他 123p
(Thượng quan Phan Đệ tính tình nóng nảy, hơi một tị là bạt tai
người khác, cô không nhân từ như các chị khác.)
(76) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰“他他他他他他丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰…” 70p
(Chị hai trợn mắt vặc lại mẹ: “Khi mẹ bằng tuổi con bây giờ
chẳng đã gả cho bố con rồi sao! ”)
(77) 丰丰丰丰丰丰丰丰他他他他他他他他他, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰 101p (Trước ngực nó đeo hai chiếc huân chương to như vó ngựa,
lưng dắt một băng đạn sáng trắng, hông phải đeo một khẩusúng lục.)
(78) 丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰
Trang 39丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰, 他他他他他他他他他他他他 22p
(Trong hồ phía đông cầu đá, một cột nước từ từ nổi lên, cột
nước to bằng bụng trâu, khi nổi cao bằng bờ đê thì phần ngọnphun tỏa ra, giống như một cây liễu xõa tóc vậy.)
Biểu thức II này cũng có một dạng biến thể là cấu trúc khuyếtthành tố “丰/丰”, khi đó thành tố nhấn mạnh sau B theo khảo sát củachúng tôi chủ yếu là “丰丰” và thành tố VP chủ yếu là các hình dung từbiểu thị kích thước như “丰/丰” Ví dụ:
(79) 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰他他他他他丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰丰
丰 36p
(Nó chạy đến góc tường cố hết sức bẻ một đài sen to bằng mặt
trăng, xung quanh còn điểm các cánh hoa vàng, giơ ra trướcmặt tôi, hương thơm của nó thật quyến rũ.)
(80) 他他他他他他他他他, 丰丰丰丰丰丰丰丰丰, 丰丰丰丰丰丰 125p
(Đầu vú bò to và dài là vậy, Lỗ Thắng Lợi như một con cá kình
hung tợn ngoạm chửng lấy nó.)
2.1.1.3 Biểu thức III: A 跟跟 /( 跟 ) 跟 / 跟 / 跟 / 跟 / 跟 / 跟跟 / 跟跟 / 跟跟 / 跟
跟 / 跟 B
Khác hẳn hai biểu thức I và II, biểu thức III có dạng thức đơn giảnhơn nhiều Ngoài hai thành tố chủ thể so sánh A (có thể ẩn hoặckhuyết) và thành tố chuẩn so sánh B bắt buộc phải xuất hiện ra, thành
tố biểu thị quan hệ so sánh ngang bằng được thể hiện ở một vị từ nằmgiữa A và B và có vai trò như một vị ngữ Vì thế, xét về mặt thànhphần câu, A tương đương với chủ ngữ còn B lại có tư cách như mộttân ngữ của vị từ so sánh ngang bằng Tần số xuất hiện của biểu thứcIII này rất cao, chiếm 31.34% Trong đó động từ “丰” được sử dụngvới số lượng lớn nhất (478/750=63,73%), tiếp đó là động từ “丰”(212/750=28,27%) Các động từ còn lại chiếm một tỉ lệ không lớnnhưng lại có văn phong bút ngữ hết sức đậm nét như các động từ “丰/丰/
丰丰/丰丰/丰丰/丰丰/丰” Động từ “(丰)丰” vốn là một động từ phán đoán, do vậykhi dùng trong biểu thức so sánh, cả biểu thức còn mang sắc tháikhẳng định vốn có của động từ này Động từ “丰丰” vốn biểu thị sựđồng đẳng, do vậy khi muốn biểu thị một sự ngang bằng tuyệt đối thìđộng từ này thường được lựa chọn trong phép so sánh Nếu động từ
“(丰)丰” và “丰丰” được dùng với nghĩa ví von thì sắc thái câu cũng mangsắc thái khẳng định
Trang 40Quan sát ngữ liệu chúng tôi nhận thấy có một số điểm khác biệt vềthành tố A và B khi trong biểu thức so sánh dạng này sử dụng các