1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận thanh xuân, thành phố hà nội

78 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 658,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng ta đã xác định: Giáo dục và đào tạo GD&ĐT là quốc sách hàng đầu; tư tưởng, quan điểm của Đảng được thể chế hoá, hoạch định thông qua các chính sách của Nhà nước, của ngành GD&ĐT và

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN KHẮC BÌNH

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Đề tài này do cá nhân tôi tự nghiên cứu, không vi phạm đạo đức trong nghiên cứu, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, bố cục, phông chữ của luận văn đúng với quy định và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 27 tháng 02 năm 2019

Tác giả luận văn

Trần Thị Nhiên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở CẤP HUYỆN 8

1.1 Lý luận về thực hiện chính sách công 8 1.2 Lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo dục 13

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TẠI QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 25

2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Thanh Xuân 25 2.2 Tình hình thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận Thanh Xuân 27 2.3 Đánh giá chung 49

Chương 3: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TẠI QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 53

3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo 53 3.2 Mục tiêu phát triển giáo dục của quận Thanh Xuân 54 3.3 Một số giải pháp thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận Thanh Xuân trong những năm tới 57

KẾT LUẬN 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Quy mô trường, lớp, số học sinh 29

Bảng 2.2: Kết quả đánh giá toàn diện các trường - cấp Mầm non 31

Bảng 2.3: Kết quả khen thưởng học sinh cuối năm học - cấp Tiểu học 32

Bảng 2.4: Kết quả xếp loại các mặt giáo dục cuối năm học - cấp THCS 34

Bảng 2.5: Số trường công lập đạt chuẩn quốc gia 43

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, khoa học và công nghệ trên thế giới phát triển như vũ bão tạo ra những bước tiến nhảy vọt, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử - viễn thông, tin học và công nghệ thông tin Những thành tựu của sự phát triển này đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội trong từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu Để diễn đạt bước ngoặt trong tiến trình phát triển của nhân loại người ta đã nói đến một thời đại tin học với sự bùng nổ thông tin và công nghệ đổi mới nhanh đến mức chóng mặt Đó chính là nền tảng khoa học - công nghệ của quá trình toàn cầu hóa và

sự phát triển của kinh tế tri thức Những chuyển biến hết sức mạnh mẽ này đã làm thay đổi, nếu không nói là đảo lộn nhiều triết lý, quan niệm, phương thức

tổ chức và hoạt động của hầu hết các lĩnh vực mà trước hết và chủ yếu chính

là giáo dục và đào tạo Giáo dục và chính sách phát triển giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia trên thế giới Tri thức, khoa học - công nghệ đang trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) trong giai đoạn hiện nay Phát triển giáo dục là phát triển khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực của thế hệ hiện nay và mai sau

Sau hơn 30 năm, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh với vị thế về diện mạo mới Kinh tế liên tục phát triển đạt tốc độ tăng trưởng cao Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) Hội nhập kinh tế quốc tế từng bước đưa Việt Nam khẳng định được vị thế trên trường quốc tế và thu hút các nhà đầu tư Tuy vậy, nền kinh tế nước ta vẫn ở mức thấp so với nhiều nước khu vực và trên thế giới Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) chưa đồng bộ, đòi hỏi ngày càng cao với nguồn nhân lực

và chất lượng nguồn nhân lực trong công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất

Trang 8

2

nước và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Xây dựng một thế hệ người Việt Nam đáp ứng yêu cầu tình hình mới, yêu cầu phát triển KT-XH là đòi hỏi không thể thiếu của ngành giáo dục Đảng ta đã xác định: Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là quốc sách hàng đầu; tư tưởng, quan điểm của Đảng được thể chế hoá, hoạch định thông qua các chính sách của Nhà nước, của ngành GD&ĐT

và gần đây nhất là Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp

hành Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” (viết tắt là Nghị

quyết 29-NQ/TW) Thực trạng phát triển giáo dục, hoạch định chính sách và việc triển khai tổ chức thực hiện chính sách giáo dục của nước ta đang đứng trước những thuận lợi, khó khăn, đòi hỏi phải có những giải pháp để đổi mới giáo dục, trong đó, đặc biệt quan tâm đến đến xây dựng hệ thống chính sách Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội là một quận có nhiều thay đổi lớn

do quá tình đô thị hóa nhanh sau khi Hà Tây sáp nhập vào thành phố Hà Nội theo tinh thần Nghị quyết 15 của Quốc hội khoá XII về mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội Quận Thanh Xuân đã năng động, sáng tạo thực hiện các nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước và có các chính sách để xây dựng, phát triển giáo dục Quận nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, từng bước vươn lên trở thành Quận phát triển giáo dục hàng đầu của Thủ đô Quá trình triển khai, tổ chức thực hiện chính sách phát triển giáo dục đang rất cần một hướng nghiên cứu mới, một cái nhìn mới Từ hướng tiếp cận chính sách công về quá trình thực hiện chính sách phát triển giáo dục của

ngành GD&ĐT quận Thanh Xuân, tác giả chọn: “Thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội” làm đề tài Luận

văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Tiếp cận dưới góc độ lý thuyết chính sách công

Trang 9

3

Tác giả Nguyễn Đăng Thành (Chủ nhiệm đề tài, 2004), “Chính sách công: Cơ sở lý luận” đã đưa ra một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách công như: Lý thuyết chính sách công; các công cụ nghiên cứu chính sách công; các cách tiếp cận khi nghiên cứu chính sách công [28] Tác giả Chu Văn Thành (Chủ biên, 2004) cuốn sách “Dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Cuốn sách là tập hợp các bài viết về dịch vụ công, trong đó có giáo dục với tư cách là những dịch vụ công chủ yếu mà Nhà nước có nghĩa vụ cung cấp Trong cuốn sách này, vấn đề nghiên cứu được đề cập đến dưới góc độ vĩ mô, mang tầm quốc gia, đó là việc hoạch định và thực thi chính sách giáo dục dưới góc độ chung [29]

Nguyễn Hữu Hải (Chủ biên, 2006), Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách công, NXB Giáo dục Cuốn sách đã đề cập đến chính sách công dưới góc độ chung nhất, bao gồm các vấn đề như: Nhận thức về chính sách công; hoạch định chính sách công; tổ chức thực thi chính sách công; phân tích chính sách công [15]

2.2 Tiếp cận dưới góc độ lý luận về chính sách giáo dục

Đề tài “Luận cứ khoa học cho việc đề xuất chủ trương, chính sách phát triển giáo dục phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và đầy đủ” của “Quỹ Hoà bình và phát triển” của tác giả Nguyễn Thị Bình (nguyên Phó Chủ tịch nước) làm Chủ tịch đề tài Các tác giả cho rằng, đây là công trình lớn của quốc gia, đề xuất việc đầu tiên cần làm là lập Uỷ ban cải cách giáo dục, Uỷ ban có nhiệm vụ soạn thảo chiến lược giáo dục và phát triển giáo dục giai đoạn 2011- 2020 với tầm nhìn 2030 và xa hơn

Tác giả Trần Văn Hùng với Đề tài “Tác động của các chính sách đổi mới giáo dục đại học đối với sự phát triển quy mô của hệ thống giáo dục đại học”

đã nêu và phân tích thực trạng về sự tác động của các chính sách đổi mới giáo dục đại học đối với sự phát triển quy mô của hệ thống giáo dục đại học Việt

Trang 10

kế hoạch cho hệ thống giáo dục

Nghiên cúu về Thực hiện chính sách xã hội hóa trong giáo dục của tác giả Trần Khánh Đức đã đề cập đến những thành tựu và bất cập trong việc thực hiện chính sách xã hội hóa trong giáo dục phổ thông ở nước ta trong thời kỳ hội nhập

Tác giả Nguyễn Khắc Bình (2007) đã có công trình nghiên cứu về

“Chính sách giáo dục suốt đời ở Việt Nam từ 1945 đến nay) đã tổng kết đánh giá việc hoạch định, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách phát triển giáo dục suốt đời ở Việt Nam kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến những năm đầu của thế kỷ 21 [4]

Tác giả Trần Thị Hà và Nguyễn Khắc Bình trong nghiên cứu “Những thành tựu và bất cập trong việc thực hiện chính sách đổi mới phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho cơ sở đào tạo” đã nêu trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, giáo dục đại học Việt Nam đã có những đổi mới trong hoạch định chính sách giáo dục đại học theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, theo xu thế hội nhập Trong nghiên cứu, các tác giả cũng đã đề cập đến những bất cập trong thực hiện chính sách phát triển giáo dục nói chung và phát triển giáo dục đại

Trang 11

từ năm 2010 đến nay, công tác thực hiện chính sách phát triển giáo dục đã có nhiều cuộc hội thảo về đánh giá việc tổ chức thực hiện các chính sách đổi mới giáo dục ở nước ta Các nghiên cứu trong các hội thảo đã nêu lên tầm quan trọng của khâu thực hiện chính sách phát triển giáo dục trong quy trình chính sách giáo dục Bên cạnh đó các nghiên cứu cũng đã nêu những bất cập trong việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở nước ta hiện nay Vì vậy, hy vọng nghiên cứu này sẽ góp phần nhỏ bé đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại một quận của Thủ đô để làm tài liệu, kinh nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách, các cán bộ quản lý trong các

cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục tham khảo

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội để đưa ra một số giải pháp thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở Quận trong những năm tới; góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT phục vụ cho việc phát triển KT-XH ở Quận và Thủ đô Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác lập cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo dục cấp huyện

- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách chính sách phát triển giáo dục tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội trong thời gian 2016-2018

- Đề xuất một số giải pháp thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

Trang 12

6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách phát triển giáo

dục tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Thực hiện chính sách phát triển giáo dục (giáo

dục mầm non (MN), giáo dục tiểu học (TH), giáo dục trung học cơ sở (THCS); không bao gồm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên) tại quận Thanh xuân, thành phố Hà Nội

4.3 Hướng tiếp cận nghiên cứu: Luận văn tiếp cận theo hướng kết quả

thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

4.4 Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2016 đến năm 2018

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách công, các giai đoạn trong quy trình chính sách công, thực hiện chính sách công và đặc biệt là lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo dục với những nội dung thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

* Phương pháp thống kê - phân tích

+ Thu thập tài liệu thứ cấp: Thu thập số liệu từ các tài liệu, báo cáo đã ban hành và công khai trên Cổng thông tin điện tử quận Thanh Xuân

+ Thu thập tài liệu sơ cấp: Toàn bộ số liệu phục vụ cho nghiên cứu luận văn tác giả thu thập qua thống kê, phân tích số liệu từ các tài liệu có sẵn

* Phương pháp tổng hợp - so sánh

- Phương pháp phân tích: Phân tích các báo cáo, tài liệu liên quan đến tình hình thực hiện chính sách phát triển giáo dục của các đơn vị thuộc Quận

Trang 13

7

- Phương pháp so sánh: Sử dụng so sánh để đối chiếu giữa các kỳ và năm thực hiện chính sách phát triển giáo dục của các đơn vị thuộc Quận

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về lý luận: Luận văn hệ thống hóa và làm rõ các khái niệm, các vấn đề

lý luận cơ bản liên quan thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện

Về thực tiễn: Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tế về thực hiện chính sách

phát triển giáo dục ở cấp huyện tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, Luận văn nêu lên thực trạng thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại một Quận của thành phố Hà Nội; một số giải pháp thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở Quận trong những năm tới Đây là những tư liệu kinh nghiệm cho các nhà quản

lý ở các cơ quan hành chính nhà nước, địa phương tham khảo trong việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục của đơn vị, địa phương mình

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương I: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện

Chương II: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

Chương III: Giải pháp thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

Trang 14

8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở CẤP HUYỆN

1.1 Lý luận về thực hiện chính sách công

1.1.1 Khái niệm chính sách công

Chính sách công là một trong những công cụ quan trọng của quản lý Nhà nước, thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách, những mục tiêu của Nhà nước được hiện thực hóa Chủ thể ban hành chính sách công chính là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực và các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước

Cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về chính sách công được các học giả đưa ra Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng tất cả các định nghĩa đều thống nhất ở hai điểm cơ bản, đó là chính sách công bắt nguồn từ các quyết định của Nhà nước và dùng để giải quyết những vấn đề chung vì lợi ích của đời sống cộng đồng

Tác giả Nguyễn Văn Thọ dẫn giải định nghĩa về chính sách công của Thomas Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công là: “bất kỳ những gì mà Nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” Khái niệm về chính sách công của William Jenkins cụ thể thơn so với định nghĩa trên Theo ông, chính sách công là: “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được ban hành bởi một nhà hoạt động chính trị hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống cụ thể thuộc phạm vi thẩm quyền của họ” Còn James Anderson đưa ra một định nghĩa chung hơn, mô tả chính sách như là:

“một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một nhà hoạt động hoặc một nhóm các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh, hoặc vấn đề quan tâm” [30, tr.15]

Trang 15

9

Tác giả Nguyễn Khắc Bình cho rằng: Chính sách công là hoạt động mà chính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện để điều hòa các xung đột trong

xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định [5, tr.13]

Tôi sử dụng khái niệm của tác giả Nguyễn Khắc Bình trong nghiên cứu này

1.1.2 Vai trò của chính sách công

Vai trò cơ bản của chính sách công thể hiện ở chỗ là công cụ hữu hiệu chủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển KT-XH và phục vụ người dân Dưới góc độ quản lý, quản trị quốc gia, nhà nước sử dụng chính sách công như một công cụ quan trọng tác động vào các lĩnh vực đời sống xã hội để đạt được mục tiêu định hướng của nhà nước

Các thay đổi xã hội lớn đều có nguồn gốc từ sự thay đổi chính sách, mở đường cho những thể chế mới đi vào cuộc sống Công cuộc đổi mới từ năm

1986 là một minh chứng cho sự đi trước của chính sách trong phát triển KT-XH tại Việt Nam, khắc phục được cuộc khủng hoảng KT-XH, huy động được lực lượng sản xuất từ đó nâng cao mức sống, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội Chính sách công đóng vai trò quan trọng, thể hiện dưới một số hướng tiếp cận cụ thể sau:

Thứ nhất, định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh

tế - xã hội Do chính sách phản ánh thái độ, cách xử sự của nhà nước đối với

một vấn đề công, nên nó thể hiện rõ những xu thế tác động của nhà nước lên các chủ thể trong xã hội, giúp họ vận động đạt được những giá trị tương lai mà nhà nước mong muốn Giá trị đó chính là mục tiêu phát triển phù hợp với những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội Nếu các chủ thể kinh tế, xã hội hoạt động theo định hướng tác động của chính sách thì không những dễ dàng đạt được mục tiêu phát triển mà còn nhận được những ưu đãi từ phía nhà nước hay

xã hội Điểu đó có nghĩa là, cùng với mục tiêu định hướng, cách thức tác động của CSC cũng có vai trò định hướng cho các chủ thể hành động

Trang 16

10

Thứ hai, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế -

xã hội theo mục tiêu chung Muốn đạt được các mục tiêu phát triển KT-XH

chung, nhà nước phải ban hành nhiều chính sách, trong đó mỗi chính sách lại

có những cách thức tác động mang tính khuyến khích đối với các chủ thể thuộc mọi thành phần Sự tác động của chính sách công không mang tính bắt buộc, mà chỉ khuyến khích các chủ thể hành động theo ý chí của nhà nước

Thứ ba, phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và

các quy luật thị trường khác đã thúc đẩy mỗi chủ thể trong xã hội đầu tư vào sảnxuất kinh doanh, không ngừng đổi mới công nghệ nâng cao năng suất lao động, chất ượng sản phẩm, hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho xã hội Nhờ đó mà cả xã hội và từng người dân, tổ chức đều được hưởng lợi Nhưng, sự vận hành của thị trường cũng gây ra những tác động tiêu cực gây ảnh hưởng không tốt lên toàn xã hội và mỗi người dân Trong tình hình đó, nhà nước phải sử dụng hệ thống chính sách công để giải quyết những vấn đề bất cập về kinh tế, khắc phục những thất bại của thị trường thông qua trợ cấp, cung ứng dịch vụ công cho người dân do các doanh nghiệp nhà nước, các đơn

vị sự nghiệp công hay hội, tổ chức phi chính phủ thực hiện

Thứ tư, tạo lập các cân đối trong phát triển Để KT-XH phát triển một

cách ổn định bền vững, nhà nước phải dùng chính sách để tạo lập các cân đối

vĩ mô cơ bản, đồng thời, nhà nước còn dùng chính sách để điều tiết đảm bảo cho sự phát triển cân đối giữa các vùng miền của đất nước

Thứ năm, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong xã hội Nhà nước

luôn luôn quan tâm đến quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực cho phát triển Mục tiêu phát triển bền vững bao gồm cả gia tăng về lượng và cải thiện về chất trong hiện tại và tương lai Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướng bền vững, nhà nước thông qua các chính sách thực hiện kiểm soát quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên và phân bổ hợp lý các nguồn lực trong xã hội

Trang 17

11

Thứ sáu, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội

Thông qua các chính sách, nhà nước tạo những điều kiện cần thiết để hình thành môi trường thuận lợi cho các chủ thể xã hội hoạt động như: chính sách phát triển thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường bất động sản, phát triển cơ sở hạ tầng

Thứ bảy, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành Việc

thực hiện các giai đoạn trong chu trình chính sách không chỉ và không thể do một cơ quan nhà nước đảm nhiệm, mà cần có sự tham gia của nhiều cơ quan thuộc các cấp, các ngành khác nhau hay của nhiều tổ chức, cá mân Vì vậy, thông qua quá trình chính sách sẽ thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân, góp phần tạo nên sự nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động thực thi chính sách công

1.1.3 Các giai đoạn trong quy trình chính sách công

Quy trình chính sách công gồm 3 giai đoạn cơ bản:

- Hoạch định chính sách:

Trong giai đoạn này, các chính sách được nghiên cứu đề xuất để Nhà nước phê chuẩn và ban hành công khai Quá trình đề xuất chính sách bao gồm việc xác định vấn đề cần ra chính sách, xác định các mục tiêu mà chính sách cần đạt được và xác định các giải pháp cần thiết để đạt tới các mục tiêu đó Muốn xác định được vấn đề chính sách, cần phải thường xuyên quan sát và phân tích tình hình thực tế để dự báo được những mâu thuẫn cơ bản cần giải quyết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội

- Tổ chức thực thi chính sách:

Đây là giai đoạn thực hiện các mục tiêu chính sách công trên thực tế Nói cách khác, đây là giai đoạn vận dụng những giải pháp định trước để đạt được các mục tiêu chính sách Chính trong giai đoạn này, chính sách được biến thành kết quả thực tế Giai đoạn này bao gồm các hoạt động triển khai,

Trang 18

chính sách trên thực tế

1.1.4 Khái niệm về thực thi chính sách công

Chính sách được hoạch định ra xuất phát từ yêu cầu khách quan của thực tế, từ những nhu cầu của xã hội Trải qua rất nhiều thời kỳ, từ năm 1930 đến 1960, các nhà nghiên cứu quy trình chính sách hầu như chỉ tập trung tìm tòi về việc hoạch định chính sách công Song cho đến tận ngày nay, người ta vẫn khó có thể khẳng định rằng, một chính sách đề ra là tốt hay xấu, điều đó chỉ có thể được đánh giá bằng thực tế là chính sách đó được xã hội chấp nhận hay không Chỉ có thực tiễn mới phán xét chính xác nhất chính sách nào là tích cực và chính sách nào là tiêu cực Trong thập kỷ 70, các nhà nghiên cứu

đã chuyển trọng tâm sang giai đoạn thực thi chính sách

Theo nguyên lý triết học, chính sách là một dạng thức vật chất đặc biệt nên nó cũng cần thực hiện những chức năng để tồn tại Song muốn thực hiện được chức năng, chính sách phải tham gia vào quá trình vận động như các vật chất khác Nghĩa là sau khi ban hành, chính sách phải được triển khai trong đời sống xã hội Do vậy, tổ chức thực thi chính sách là tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý Nhà nước và cũng là để đạt mục tiêu đề ra của chính sách Với cách tư duy này có thể đi đến khái niệm về tổ chức thực thi chính sách như sau:

“Tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng của Nhà nước” [30, tr.1]

Trang 19

13

Trong quá trình thực thi chính sách, các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ và con người được đưa vào các hoạt động có tính định hướng để đạt được các mục tiêu đã đề ra Nói cách khác, đây là quá trình kết hợp giữa con người với các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ nhằm

sử dụng các nguồn lực này một cách có hiệu quả theo những mục tiêu đề ra

Chủ thể thực thi chính sách trước hết là quan trọng nhất là các cơ quan hành chính nhà nước, bởi vì đây chính là các cơ quan có nhiệm vụ quản lý và

tổ chức triển khai các công việc hàng ngày của Nhà nước Tuy nhiên, các cơ quan lập pháp và tư pháp cũng như các tổ chức Đảng, đoàn thể cũng có vai trò quan trọng trong việc huy động và tổ chức lực lượng tham gia triển khai chính sách

1.2 Lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo dục

1.2.1 Khái niệm về giáo dục và chính sách phát triển giáo dục

Theo Từ điển Bách khoa: Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người

Thực hiện chính sách phát triển giáo dục là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách công Trong thực tiễn có nhiều loại chính sách khác nhau, xuất phát từ tầm quan trọng của GD&ĐT, chính sách phát triển giáo dục là một trong những chính sách quan trọng, nhằm phát triển giáo dục với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển xã hội và có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc gia

Qua những nghiên cứu, phân tích khái niệm ở trên tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Chính sách phát triển giáo dục là hệ thống những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; các bộ, ngành trung ương và chính quyền địa phương về hoạt động giáo dục nhằm phát triển và hoàn thiện

Trang 20

Từ quan niệm về chính sách phát triển giáo dục như trên, theo tác giả, thực hiện chính sách phát triển giáo dục là quá trình biến các chính sách giáo dục thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước nhằm hiện thực hoá các chính sách giáo dục đã đề ra

1.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục

Cơ cấu tổ chức: Xem trang bên

Trang 21

15

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về giáo dục

Quản lý, chỉ đạo thực hiện:

Phối hợp, hướng dẫn thực hiện, kiểm tra:

CHÍNH PHỦ

Thống nhất QLNN về giáo dục

Trình Quốc hội quyết định những chủ trương:

- Giáo dục-đào tạo trong cả nước

- Cải cách nội dung chương trình cấp học

Báo cáo Quốc hội:

- Hoạt động giáo dục-đào tạo

- Thực hiện ngân sách giáo dục

Phối hợp với

Bộ GD&ĐT, QLNN về GD&ĐT theo thẩm quyền quy định

Trường thuộc Bộ khác

Trang 22

16

1.2.3 Nội dung chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện

Chính sách phát triển giáo dục được thể hiện trong Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi năm 2009), Luật Giáo dục đại học (2012), Luật Giáo dục Nghề nghiệp (2014), các nghị quyết về GD&ĐT của Quốc hội, các nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng về giáo dục và một số thông tư của Bộ GD&ĐT và một số bộ có liên quan về giáo dục Trong chính sách phát triển giáo dục nói chung có chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện Nội dung

của chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện cụ thể như sau:

Mục tiêu

- Đối với Giáo dục Mầm non

Phấn đấu đến năm 2015, hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục MN cho trẻ em 5 tuổi

Phấn đấu đến năm 2020, ở tất cả các địa phương có ít nhất 30% trẻ trong

độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục MN; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục MN xuống dưới 10%

- Đối với Giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở

Từng bước nâng cao chất lượng chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh; đặc biệt nâng cao chất lượng giáo dục văn hóa, đạo đức, kỹ năng sống, pháp luật, ngoại ngữ, tin học cho học sinh

Phấn đấu đến năm 2020, các địa phương đạt tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở

TH là 99%, THCS là 95%; có 70% trẻ em khuyết tật được đi học tại các cơ sở giáo dục ở địa phương

Tổ chức thực hiện

Trên cơ sở định hướng phát triển KT-XH của tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án phát triển sự nghiệp giáo dục trên địa bàn, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt

Trang 23

17

Trên cơ sở trách nhiệm Quy định quản lý nhà nước về giáo dục của Chính phủ, UBND cấp huyện thực hiện kiểm tra giám sát các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý trong việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; chỉ đạo, kiểm tra tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án giáo dục đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Dựa trên chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương và thực tiễn phát triển giáo dục của địa phương, UBND cấp huyện quyết định thành lập (đối với các trường công lập), cho phép thành lập (đối với các trường ngoài công lập), hoặc sáp nhập, chia, tách, đình chỉ hoạt động, giải thể (bao gồm cả các cơ

sở giáo dục có sự tham gia đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài) đối với các cơ sở giáo dục MN, TH, THCS, trường phổ thông có nhiều cấp học (trong

đó không có cấp học trung học phổ thông), trung tâm học tập cộng đồng và các

cơ sở giáo dục khác (nếu có) thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện nhằm phục vụ nhu cầu học tập của tất cả mọi người

Từ thực tiễn phát triển hệ thống các nhà trường ở địa phương, UBND cấp huyện phải bảo đảm đủ biên chế cán bộ, công chức, viên chức cho ngành giáo dục; tổ chức thực hiện việc xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán

bộ quản lý giáo dục ở Phòng GD&ĐT và ở các nhà trường đáp ứng yêu cầu của đổi mới toàn diện GD&ĐT

Thông qua Ngân sách của Nhà nước để bảo đảm các điều kiện về tài chính, tài sản, cơ sở vật chất để phát triển giáo dục trên địa bàn; thực hiện xã hội hóa giáo dục, khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục

Trên cơ sở các quy định của Nhà nước và thực tiễn phát triển KT-XH ở địa phương, UBND cấp huyện có thể xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách đặc thù để bảo đảm quyền tự chủ, nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm của các

cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý trên địa bàn

Trang 24

18

Tổ chức thực hiện công tác phổ cập giáo dục, chống mù chữ và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn cấp huyện theo các kế hoạch đã được UBND cấp tỉnh phê duyệt

Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách của Nhà nước, ban hành cơ chế chính sách đặc thù để chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý trên địa bàn; tổ chức phong trào thi đua; khen thưởng các tổ chức, cá nhân có nhiều công lao đối với sự phát triển của giáo dục trên địa bàn cấp huyện

UBND cấp huyện thực hiện chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra Phòng GD&ĐT, các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục; thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo theo định kỳ và hàng năm về tổ chức và hoạt động giáo dục

Tổ chức thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và

xử lý vi phạm về giáo dục theo quy định của pháp luật; kiểm tra, giám sát việc thực hiện công khai chất lượng giáo dục, công khai điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, công khai tài chính của các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện; thực hiện cải cách hành chính, công tác thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí trong giáo dục

1.2.4 Nội dung thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện

Giai đoạn thực hiện chính sách phát triển giáo dục là giai đoạn quyết định, biến chính sách phát triển giáo dục thành hiện thực Vì vậy, cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội cùng phối hợp thực hiện; đặc biệt cơ quan quản lý nhà nước ở cấp huyện - UBND cấp huyện cần chỉ đạo cụ thể việc thực hiện chính sách giáo dục trên ở địa phương với các nội dung sau đây:

1.2.4.1 UBND cấp huyện ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế chính sách đặc thù về hoạt động giáo dục ở địa phương trên cơ sở các quy định về chính sách giáo dục của Chính phủ và các chủ trương của tỉnh/thành

Trang 25

19

phố Đặc biệt chú trọng đến xây dựng chiến lược phát triển giáo dục ở địa phương nhằm phục vụ công cuộc phát triển KT-XH của đất nước và tỉnh/thành phố

1.2.4.2 Thường xuyên chỉ đạo Phòng GD&ĐT triển khai các quy định

về hoạt động dạy, học, các hoạt động khác trong nhà trường, công tác thi cử, tuyển sinh, công tác phổ cập giáo dục, xây dựng xã hội học tập và các công tác khác về giáo dục; cho phép và giám sát hoạt động của các cơ sở giáo dục khác theo quy định phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục

1.2.4.3 Thường xuyên tuyên truyền về chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân tại địa phương; vận động mọi lực lượng trong xã hội, nhất là các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm ở địa phương tham gia phát triển giáo dục góp phần và thực hiện nội dung xã hội hóa giáo dục trong chính sách giáo dục ở nước ta hiện nay Hằng năm, tổ chức tốt thống kê, thông tin về giáo dục; báo cáo tình hình hoạt động giáo dục tại địa phương tới các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục cấp trên

1.2.4.4 UBND cấp huyện xây dựng kế hoạch biên chế cho sự nghiệp giáo dục hàng năm Trên cơ sở chiến lược phát triển giáo dục của địa phương, UBND cấp huyện xây dựng kế hoạch phát triển lâu dài đội ngũ giáo viên cho các bậc học ở địa phương thuộc cấp huyện quản lý Từ thực trạng phát triển giáo dục ở cấp xã, UBND cấp huyện ra quyết định phân bổ biên chế cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền Bên cạnh đó UBND cấp huyện tổ chức kiểm tra, thanh tra việc bổ nhiệm cán bộ quản lý nhà trường và công tác luân chuyển cán bộ quản lý, giáo viên kể cả ở các cơ sở giáo dục tư thục Tiếp tục thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên; thực hiện chính sách đãi ngộ đối với nhà giáo tại địa phương

1.2.4.5 Trên cơ sở chiến lược phát triển giáo dục và thực trạng phát triển KT-XH của cấp huyện, UBND cấp huyện xây dựng ngân sách cho giáo dục; phân bổ ngân sách cho từng cơ sở giáo dục ở địa phương thuộc cấp quản lý

Trang 26

20

Từ ngân sách được cấp tỉnh giao cho giáo dục, UBDN cấp huyện cần phối hợp với cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn về giáo dục xây dựng kế hoạch ngân sách hàng năm và kế hoạch ngân sách cho giáo dục trong những năm tiếp theo UBND cấp huyện kiểm tra, giám sát việc sử dụng ngân sách Nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác cho giáo dục tại các nhà trường và các cơ quan chuyên môn giúp việc UBND cấp huyện

1.2.4.6 Chỉ đạo các nhà trường và các cơ quan có liên quan thực hiện chính sách đổi mới giáo dục đi đôi với cải cách thủ tục hành chính; thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí Thực hiện chính sách khen thưởng trong giáo dục đi đôi với việc xử lý vi phạm chính sách phát triển giáo dục Công tác thanh tra thực hiện chính sách phát triển giáo dục phải luôn được thực hiện cùng với các hoạt động trong tổ chức thực hiện chính sách giáo dục ở địa phương Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát sẽ ngăn chặn những tiêu cực trong giáo dục; điều chỉnh kịp thời những bất cập trong việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở địa phương và góp phần động viên cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân tham gia vào việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở địa phương

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển giáo dục

Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển giáo dục, có nhiều yếu tố khách quan, chủ quan tác động đến kết quả thực hiện chính sách, một số yếu

tố quan trọng đó là:

1.2.5.1 Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức và viên chức giáo dục Đây là yếu tố quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở địa phương Như chúng ta đều biết: Năng lực tổ chức thực hiện chính sách giáo dục và các hoạt động giáo dục của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được thể hiện ở các mặt đạo đức công vụ, năng lực thiết kế

tổ chức các hoạt động giáo dục, năng lực chuyên môn về các hoạt động dạy

Trang 27

vụ, đạo đức nhà giáo để biến chính sách phát triển giáo dục thành hiện thực tại địa phương

1.2.5.2 Tính chất của vấn đề chính sách phát triển giáo dục

Vấn đề chính sách giáo dục phức tạp hay đơn giản nó sẽ quyết định đến việc thực hiện chính sách giáo dục khó khăn hay thuận lợi Thậm chí nó có thể ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở địa phương Ví dụ ở nước ta chính sách phổ cập giáo dục và xóa mù chữ là chính sách giáo dục mà tính chất của chính sách rất phức tạp Nó liên quan đến đối tượng trẻ em và cả người lớn, liên quan đến tất cả các địa phương Ở miền núi việc giao thông không thuận tiện, người dân tộc thiểu số nhiều nên thực hiện chính sách này rất khó khăn Từ 1945 Chính phủ đã đề ra chính sách diệt giặc dốt (chính sách chống mù chữ) và đến nay (2018) chúng ta vẫn đang tiếp tục thực hiện chính sách chống mù chữ ở miền núi và hải đảo

1.2.5.3 Sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị

- xã hội và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân

Chính sách phát triển giáo dục cấp huyện chỉ thành công khi được các cấp ủy Đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương quan tâm chỉ đạo và thực hiện Bên cạnh đó việc tuyên truyền và vận động nhân dân ở địa phương tham gia vào việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục với tư cách là đối tượng của chính sách và là chủ thể tham gia xây dựng và thực hiện chính sách phát triển giáo dục Một chính sách phát triển giáo dục đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội, được sự quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực

Trang 28

22

hiện bởi các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức xã hội, các nhà trường và đông đảo người dân tham gia thì chắc chắn sẽ thu được kết quả tốt nhất

1.2.5.4 Sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Sự phát triển KT-XH bao gồm các hoạt động về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương sẽ tác động tích cực hoặc tiêu cực đến thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện

Kinh tế phát triển kèm theo những điều kiện về cơ sở vật chất của nhà trường, ngân sách cho giáo dục được đầu tư thích đáng thì việc tổ chức các hoạt động giáo dục ở nhà trường sẽ thuận lợi Các hoạt động văn hóa, xã hội phát triển sẽ góp phần làm cho các hoạt động giáo dục gắn liền với thực tiễn

và làm phong phú các hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các nhà trường Bên cạnh đó môi trường an ninh trật tự tốt cũng góp phần cho các hoạt động giáo dục được thực hiện thuận lợi, nhất là trong bối cảnh đổi mới giáo dục theo hướng giáo dục toàn diện cho học sinh

1.2.5.5 Thực hiện đúng quy trình thực hiện chính sách công

Thực hiện đúng quy trình thực thi chính sách công được coi là những nguyên lý khoa học trong chu trình chính sách công Do đó, việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện phải tuân thủ quy trình thực hiện chính sách công về giáo dục Các giai đoạn trong quy trình thực hiện chính sách đều có vị trí quan trọng và có những đặc điểm riêng từ nội dung, cách thức tổ chức thực hiện

Ở nước ta, các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách giáo dục đều cho rằng giai đoạn tuyên truyền vận động về chính sách giáo dục là hết sức quan trọng và đã thực hiện giai đoạn này đầu tiên như trong quy trình thực hiện chính sách công Tuy nhiên, việc tuyên truyền chính sách phát triển giáo dục thường hướng về người dân với tư cách là đối tượng hưởng thụ chính sách Một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý nhà nước về giáo dục; thậm chí có lãnh đạo ở địa phương không nắm được nội dung chính sách giáo

Trang 29

23

dục nên đã có những ứng xử sai trái gây bức xúc trong dư luận xã hội; làm ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục ở địa phương Những bất cập trong giáo dục hiện nay ở địa phương có một phần nguyên nhân do đội ngũ cán bộ, công chức viên chức trong cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và ở trong các nhà trường không hiểu đầy đủ các nội dung của chính sách phát triển giáo dục Việc hiểu sai hoặc không đầy đủ chính sách giáo dục đã dẫn đến việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở địa phương không tuân thủ đúng các quy định của chính sách; gây thiệt hại về kinh tế, làm ảnh hưởng xấu đến uy tin của ngành giáo dục

Tiểu kết chương

Chương 1, Luận văn đã trình bày những khái niệm về chính sách công, tổ chức thực thi chính sách công Đặc biệt, luận văn đi vào nội dung trọng tâm là việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện Cụ thể, luận

văn đã trình bày quy trình tổ chức thực hiện chính sách, từ đó đi sâu phân tích nội dung tổ chức thực hiện chính sách giáo dục ở cấp huyện với chủ thể tổ chức thực thi chính sách giáo dục là phòng GD&ĐT Trên cơ sở nghiên cứu những

vấn đề nội dung tổ chức thực thi chính sách phát triển giáo dục, Luận văn cũng chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thực thi chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 30

24

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC

TẠI QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Thanh Xuân

2.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên

Theo lịch sử ghi lại, Thanh Xuân nằm trong vùng đất cổ có nhiều dấu ấn lịch sử văn hóa, gắn bó chặt chẽ với Thăng Long ngàn năm văn hiến, kề sát Kinh thành xưa có con đường Thượng Đạo - Lai Kinh cũ qua đất làng Mọc (Chính Kinh và Quan Nhân) Đầu thế kỷ XX, khi có con đường cái quan số 6 chạy qua địa bàn, Thanh Xuân trở thành cửa ngõ quan trọng ra vào Hà Nội, là cầu nối quan trọng với vùng Tây Bắc Về đường thủy có sông Tô Lịch, theo sách Đại Nam nhất thống chí: “Sông Tô Lịch ở phía đông thành (tỉnh Hà Nội)

là phân lưu của sông Nhị chảy theo phía Bắc tỉnh thành vào cửa cống thôn Hương Bài, tổng Đồng Xuân, quận Thọ Xương, chuyển sang mặt Tây qua quận Vĩnh Thuận, xã Nghĩa Đô ở phía đông quận Từ Liêm và các tổng Khương Đình, Quang Liệt, Cổ Điển, Ninh Xá quận Thanh Trì đến xã Hà Liễu vào sông Nhuệ Sông Kim Ngưu ở phía bắc quận Thanh Trì xưa thông với Tây Hồ, sau quá trình bồi lấp, nay nước sông từ địa phận trại Yên Lãng quận Vĩnh Thuận chảy xuống cầu Đá, qua địa phận các quận Thọ Xương, Thanh Trì, Thượng Phúc, Phú Xuyên rồi hợp về sông Nhuệ”

Ngày 28/12/1996, quận Thanh Xuân được thành lập theo Nghị định số 74/NĐ-CP của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997 Quận Thanh Xuân có diện tích tự nhiên 908,32 ha, nằm ở phía Tây Nam của Thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp quận Đống Đa và Cầu Giấy, phía Đông giáp quận Hai Bà Trưng, phía Nam giáp quận Thanh Trì, phía Tây giáp quận Nam Từ Liêm và quận Hà Đông Quận có 11 phường với dân số 27,8 vạn nhân khẩu

Trang 31

25

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Hai mươi hai năm xây dựng và phát triển của quận Thanh Xuân là khoảng thời gian ngắn ngủi trong chặng đường hơn 1000 năm Thăng Long –

Hà Nội Với sự trẻ trung, năng động, quận Thanh Xuân đang tạo nên cho mình một vị thế và sức sống mới Diện mạo đô thị của quận ngày càng đẹp hơn, văn minh hơn, hiện đại hơn Dáng dấp của một đô thị hiện đại đang hiện hữu với sự hình thành của khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính, các toà nhà cao tầng và hàng loạt các khu chung cư cao cấp như: Hapulico, Golden Land,

Starcity Lê Văn Lương, Imperia Garden, đặc biệt là Tổ hợp Royal City tại số

72A Nguyễn Trãi, được ví như một “Thành phố châu Âu” thu nhỏ, ; các tuyến đường Nguyễn Trãi, Khuất Duy Tiến, Nguyễn Xiển, Lê Văn Lương, Trường Chinh, Lê Trọng Tấn, hầm chui, đường sắt đô thị trên cao và nhiều tuyến đường mới trong quận được xây dựng, mở rộng; trụ sở làm việc của quận, phường và các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang trên địa bàn được xây dựng bề thế, khang trang; các trường học, các nhà văn hoá phường được đầu

tư xây mới, cải tạo nâng cấp, mở rộng đã tạo cho quận một diện mạo mới trên con đường hội nhập và phát triển, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu đời sống của nhân dân Từ một Quận cửa ngõ phía Tây nam, Thanh Xuân đã trở thành một Quận ở trung tâm phía Tây nam của Thủ đô mở rộng theo tinh thần Nghị quyết số 15 của Quốc hội (khóa XII) Từ địa bàn còn nguyên sơ đan xen giữa các phường và xã, giao thoa giữa công nghiệp và nông nghiệp hình thành từ

sự chia tách và hợp nhất về địa giới, quận Thanh Xuân đang chuyển mình mạnh mẽ theo cơ cấu dịch vụ - công nghiệp năng động, trở thành một đô thị văn minh, hiện đại

Với vị thế là một Quận trung tâm ở phía Tây Nam của Thủ đô Hà Nội, quận Thanh Xuân đang phát huy tốt vai trò, tiềm năng, xây dựng quận Thanh Xuân giàu đẹp, văn minh, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của Thủ

đô và đất nước Trước mắt, quận tập trung cho việc thực hiện những mục tiêu,

Trang 32

26

chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận lần thứ V (nhiệm kỳ

2015 - 2020), đó là: “Chủ động khai thác tiềm năng thế mạnh và phát huy mọi nguồn lực tạo tiền đề vững chắc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-

XH quận Thanh Xuân đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, hạ tầng xã hội đồng bộ theo hướng văn minh, hiện đại, gắn với nhu cầu dân sinh; đặc biệt là hệ thống giao thông, trường học, thiết chế văn hóa cơ sở Phát triển văn hóa, GD&ĐT cả về quy mô và chất lượng; đảm bảo an sinh xã hội, môi trường đô thị xanh - sạch - đẹp; nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Xây dựng Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong sạch vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; trọng tâm là đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tổ chức, cán bộ; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng ứng dụng công nghệ thông tin và từng bước xây dựng chính quyền điện tử”

2.2 Tình hình thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận Thanh Xuân

2.2.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng các văn bản về thực hiện chính sách phát triển giáo dục trên địa bàn Quận

Ngay sau khi Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập quốc tế” ban hành, Ban Thường vụ Quận ủy Thanh Xuân đã xây

dựng kế hoạch, tổ chức quán triệt đến các cấp uỷ đảng trực thuộc, MTTQ và các đoàn thể Quận nghiêm túc thực hiện các nội dung Nghị quyết 29-NQ/TW

và yêu cầu triển khai tuyên truyền sâu rộng tới toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên,hội viên trên địa bàn quận

Trang 33

27

Với mục tiêu cụ thể hóa các nhiệm vụ của Nghị quyết số 29-NQ/TW,

để công tác giáo dục đào tạo Quận phát triển toàn diện, bền vững; thực hiện

sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Quận ủy, UBND quận xây dựng Đề án số

1585/ĐA-UBND ngày 10/12/2015 về “Phát triển GD&ĐT quận Thanh Xuân giai đoạn 2016-2020”; Đề án số 02/ĐA-UBND ngày 12/02/2018 về việc

“Triển khai mô hình quản trị trường học cấp THCS”; hằng năm, ban hành kế

hoạch năm học chỉ đạo các phòng, ban, đơn vị liên quan và các nhà trường thực hiện nhiệm vụ, trong đó nêu rõ nội dung, phương pháp, biện pháp, thời gian, phân công rõ người, rõ việc và rõ trách nhiệm với phương châm: Dám nghĩ - dám làm - dám chịu trách nhiệm - hiệu quả công tác cao

Đánh giá sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 và 3 năm thực hiện Đề án của UBND quận Thanh Xuân, ngành GD&ĐT quận Thanh Xuân luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở GD&ĐT; đặc biệt là sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, kịp thời, hiệu quả của Quận uỷ, HĐND, UBND Quận về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, triển khai mô hình mới, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục mũi nhọn trong giáo viên và học sinh;

sự phối kết hợp kịp thời, hiệu quả của các phòng, ban, ngành đoàn thể, các phường trong quận; sự vào cuộc của toàn thể đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên ngành GD&ĐT Quận; sự quan tâm, cộng đồng trách nhiệm của cha mẹ học sinh trong toàn Quận Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chuyên viên phòng GD&ĐT; cán bộ, giáo viên, nhân viên (CB, GV, NV) các trường trong quận

có tinh thần trách nhiệm cao, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ quản lí vững

vàng và đạt được những kết quả đáng tự hào, liên tục được đón nhận “Cờ

xuất sắc trong phong trào thi đua của UBND Thành phố” Đặc biệt 4 năm

liên tục từ năm học 2014 - 2015, ngành Giáo dục quận Thanh Xuân giữ vững vị trí thứ Nhất trong 30 quận, Quận của Thành phố về chất lượng

Trang 34

Năm học 2017-2018 trên địa bàn quận có 69 trường học, trong đó có 40 trường công lập, 04 trường hiệp quản và 25 trường tư thục ở cả 3 cấp học với

54.711 học sinh (HS) (tăng 3.854 HS so với cùng kì năm trước) Hoàn thành

xây dựng mới trường TH Thanh Xuân Bắc chính thức đi vào hoạt động trong

năm học 2018-2019 Số HS học 2 buổi/ngày đạt tỉ lệ cao (cấp TH: 100%; cấp THCS: 60.4%)

Bảng 2.1: Quy mô trường, lớp, số học sinh

Năm

Ghi chú Tổng C.lập NCL Tổng C.lập NCL Tổng C.lập NCL

2016-2017

Mầm non 37

21 (04 hiệp quản)

16 787 194 593 17.769 9.814 7.955

- Tăng 01 trường MN công lập (MN Thanh Xuân Trung)

19 802 223 579 18.184 10.149 8.035

- Tăng 02 trường công lập (TH Thanh Xuân Bắc, THCS Thanh Xuân)

- Tăng 3.854 HS

Trang 35

29

Mạng lưới các trường học phân bố đều ở 11 phường, theo bảng 2.1, quy

mô trường, lớp tăng qua các năm học, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trên địa bàn

2.2.2.1 Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

a Giáo dục Mầm non

Ngành giáo dục quận Thanh Xuân thực hiện tốt công tác tuyên truyền,

đa dạng hoá các loại hình trường lớp nhằm tạo điều kiện và thu hút được đông trẻ tới trường, tỷ lệ trẻ tới trường trung bình hàng năm cao: Trẻ nhà trẻ đạt 57%

(tỉ lệ trung bình toàn Thành phố là 37%), trẻ mẫu giáo đạt 100% (tỉ lệ trung bình toàn Thành phố là 98%); đảm bảo tuyệt đối an toàn về thể chất và tinh

thần, nâng cao chất lượng công tác nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ

Chỉ đạo các cơ sở giáo dục MN công lập, tư thục và các nhóm trẻ, lớp

MN độc lập tư thục thực hiện nghiêm túc Thông tư số 13/2010/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT ban hành các quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích; đảm bảo mức ăn tối thiểu 25.000 đồng/ngày cho trẻ, thực đơn phong phú; tổ chức cân và khám sức khoẻ đúng định kỳ Cuối năm học 2017-2018, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm 1,2%, tỷ lệ trẻ thấp còi giảm 0,3 %, tỷ lệ trẻ béo phì giảm 1,3% so với đầu năm học Tổ chức khám sàng lọc khiếm thính cho 3.890 trẻ 3 tuổi tại các trường MN, phát hiện 51 trẻ có biểu hiện nghi ngờ nghe kém (chiếm 1,31%), tư vấn cho gia đình đưa trẻ đi khám chuyên sâu tại các bệnh viện chuyên ngành

Tổ chức hiệu quả Hội thi xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cấp Quận, 03 trường tham dự Hội thi cấp Thành phố đạt 02 giải Nhất, 01 giải Nhì; phòng GD&ĐT được tặng giấy khen 10/30 Quận đã có thành tích tốt trong chỉ đạo Hội thi Chỉ đạo ứng dụng 02 lĩnh vực thực hành cuộc sống tại các nhà trường Tổ chức thành công lớp tập huấn “Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phòng cháy chữa cháy, phòng tránh tai nạn thương tích”

Trang 36

30

của Thành phố tại trường MN Tràng An; đón đoàn tỉnh Hà Nam về giao lưu,

kiến tập đạt kết quả cao

Bảng 2.2: Kết quả đánh giá toàn diện các trường - cấp Mầm non

Nguồn: Phòng GD&ĐT quận Thanh Xuân

Xếp loại chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng, chất lượng giáo dục và thực

hiện bộ chuẩn phát triển trẻ MN 5 tuổi tăng đều qua các năm học Năm học

2017-2018, cấp MN đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học, đảm bảo an

toàn tuyệt đối về thể chất và tinh thần, nâng cao chất lượng công tác nuôi

dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ Một số trường tiêu biểu như Hoa Hồng,

Nhân Chính, Tuổi Hoa, Thanh Xuân Trung, Khương Trung, Tràng An

b Giáo dục Tiểu học

100% các trường TH trong Quận thực hiện nghiêm túc chương trình,

nội dung, kế hoạch dạy học theo quy định Tổ chức tốt các hoạt động giáo dục

ngoài giờ lên lớp, dạy học 2 buổi/ngày Nghiêm túc thực hiện đúng quy chế

chuyên môn, đảm bảo kế hoạch dạy học; không dạy thêm, học thêm

Chỉ đạo dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng chương trình TH, đổi

mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS Triển khai

đại trà dạy học Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch

Số trường Tỉ lệ

Số trường Tỉ lệ

Số trường Tỉ lệ

Số trường Tỉ lệ

Số trường Tỉ lệ

5 13,5% 32

86,5%

(tăng 0,4%)

5 13,5% 35/37

94,5%

(tăng 1,9%)

5 12,5% 35

87.5%

(tăng 1%)

6 15% 39/40

97.5%

(tăng 3%) 1/40 2.50%

Trang 37

31

Tổ chức tốt phong trào thi vẽ tranh theo chủ đề “Sải cánh vươn cao”,

“Hát và sáng tác ca khúc dành cho thiếu nhi” đạt 02 giải B, phòng GD&ĐT được tặng Giấy khen “Có thành tích tốt trong công tác chỉ đạo phong trào”

Tổ chức 04 lớp tập huấn cho 100% giáo viên các nhà trường, hướng dẫn

GV thực hiện tốt đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của HS tiểu học theo quy định tại Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT

Nâng cao chất lượng, đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học; sinh hoạt chuyên môn theo cụm trường đối với GV chuyên biệt Tổ

chức thành công 02 chuyên đề cấp Thành phố, được Sở GD&ĐT và các quận,

Quận bạn đánh giá cao

Triển khai kế hoạch tổ chức khảo sát chất lượng môn Tiếng Anh lớp 5 đối với HS học liên kết theo đúng các văn bản hướng dẫn của Sở GD&ĐT Hà Nội, thực hiện nghiêm túc quy chế thi Tổ chức thi Olimpic Tiếng Anh Tiểu học cấp Quận nghiêm túc, đúng quy chế; 21 HS tham gia thi Olimpic Tiếng

Anh Tiểu học cấp Thành phố đạt kết quả cao

Bảng 2.3: Kết quả khen thưởng HS cuối năm học – cấp Tiểu học Năm

Có thành tích vượt trội hoặc tiến bộ vượt bậc

Khen đột xuất

Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số

lượng Tỉ lệ 5.608 25.9%

Trang 38

32

99,9% HS đã có được những năng lực thiết yếu, sự hình thành các phẩm chất của HS đồng đều, tỉ lệ HS đạt mức Tốt chiếm tỉ lệ cao Khen

thưởng HS cuối năm tăng đều qua các năm học Năm học 2017-2018, cấp

Tiểu học đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chất lượng giáo dục nâng cao, xây dựng môi trường sư phạm thân thiện, hấp dẫn, tạo niềm tin lớn cho nhân dân trên địa bàn quận; tiêu biểu như các trường TH: Kim Giang, Khương Mai, Phương Liệt, Phan Đình Giót, Đặng Trần Côn, Nguyễn Trãi, Liên cấp TH-THCS Ngôi Sao Hà Nội

* Đặc biệt, quận Thanh Xuân đã triển khai và thưc hiện có hiệu quả mô hình dạy bơi cho học sinh TH 11/11 trường TH công lập trên địa bàn phổ cập

bơi cho HS lớp 3, 4, 5; đảm bảo an toàn tuyệt đối cho HS tham gia học bơi tại trường UBND quận, các nhà trường hỗ trợ 30% kinh phí học bơi cho mỗi

HS, miễn 100% học phí cho HS thuộc diện gia đình chính sách, gia đình nghèo và có hoàn cảnh khó khăn; 100% HS học bơi tại trường biết bơi và được cấp chứng chỉ (10.812 học sinh); trên 90% học sinh lớp 4, 5 đủ sức khỏe biết bơi

Thành công của mô hình dạy bơi cho HS các trường TH trên địa bàn quận Thanh Xuân đã khẳng định: Phổ cập bơi cho HS là chủ trương đúng đắn

có tính nhân văn sâu sắc, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho các gia đình, phụ huynh HS yên tâm, đồng tình, ủng hộ cho con đi học bơi

Triển khai thực hiện kế hoạch phát triển môn võ cổ truyền Việt Nam

trong các trường TH công lập thuộc quận

c Giáo dục Trung học cơ sở

Trọng điểm chỉ đạo công tác dạy học cấp THCS của quận Thanh Xuân

là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng đội ngũ GV dạy giỏi các cấp, HS giỏi trong các kì thi, đặc biệt là thi HS giỏi lớp 9; nâng cao chất lượng thi tuyển vào lớp 10 năm học 2018-2019, tăng số lượng, chất lượng HS trúng tuyển vào lớp 10 chuyên và các trường Trung học phổ thông (THPT)

Trang 39

33

công lập (đạt 75,19% - vượt 3,19% so với năm học trước) Kết quả xếp loại

02 mặt giáo dục, số GV giỏi, HS giỏi các cấp duy trì ổn định Các trường thực

hiện tốt quy chế chuyên môn; khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ, nhóm chuyên môn và GV được chủ động lựa chọn nội dung, xây dựng các chủ đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS trong mỗi môn học và các chủ đề tích hợp liên môn; tổ chức các hoạt động nhằm giúp HS vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; tiếp tục đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực HS; đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học, qua mạng giáo dục “trường học kết nối”, theo cụm trường đối với GV chuyên biệt

Bảng 2.4: Kết quả xếp loại các mặt giáo dục cuối năm học - cấp THCS

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

&

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

% 2015-

2016 10.066 9.894 98,29 167 1,66 5 0,05 6.967 69,22 2.483 24,66 577 5,73 39 0,39 2016-

2017 11.483 11.308

98,47 (tăng 0,18)

171 1,48 4

0,03 (giảm 0,02) 8.145

70,93 (tăng 1,71) 2.688 23,4 625 5,4 26

0,22 (giảm 0,17)

2017-2018 13.512 13.392

99,11 (tăng 0,64)

120 0,89 0

0 (giảm 0,03) 9.996

74 (tăng 3,07) 2.855 21,12 643 4,75 17

0,13 (giảm 0,09)

Nguồn: Phòng GD&ĐT quận Thanh Xuân

Phát huy hiệu quả tổ chuyên gia cấp THCS nhằm nâng cao chất lượng giáo dục theo hướng đổi mới; tổ chức tập huấn: Kĩ năng tổ chức các hoạt động

trải nghiệm sáng tạo, phương thức giáo dục STEM (Science - Technology –

Engineering - Mathematics) cho CB quản lí, GV cấp THCS

Trường THCS Thanh Xuân triển khai Đề án song ngữ, song bằng quốc

tế Cambridge theo đúng chỉ đạo của Thành phố, đảm bảo chất lượng, hiệu

Ngày đăng: 04/07/2019, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w