Các nghiên cứu chung về BHYT “Bảo hiểm y tế trong hệ thống an sinh xã hội – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay” 2005 và “Bảo hiểm y tế trong hệ thống an sinh xã hội: Nhu cầu v
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ KIM DUNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI Qua nghiên cứu trường hợp phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm,
thành phố Hà Nội
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ KIM DUNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI Qua nghiên cứu trường hợp phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách bảo hiểm y
tế đối với người cao tuổi – Qua nghiên cứu trường hợp phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thị Minh Thi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Thị Kim Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của hai năm học tập theo chương trình đào tạo Thạc sỹ của Học viện Khoa học xã hội, chuyên ngành Chính sách công Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm, chỉ bảo và giảng dạy của các quý thầy cô trong và ngoài nhà trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo trong và ngoài Học viện Khoa học xã hội đã động viên, hết lòng giúp đỡ, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
cô giáo PGS.TS Trần Thị Minh Thi – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Khoa Chính sách công, các phòng ban trong nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn các Lãnh đạo, đồng nghiệp ở Viện Xã hội học đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới cán bộ phòng LĐ, TB & XH phường Phú Diễn, cán bộ Trung tâm Y tế quận Bắc Từ Liêm, Lãnh đạo Hội người cao tuổi và người cao tuổi phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong việc tìm hiểu một số thông tin
về người cao tuổi tại địa phương nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè thân thiết đã động viên, khích lệ tinh thần và tạo mọi điều kiện về thời gian cũng như vật chất giúp tôi hoàn thành luận văn này
Do thời gian có hạn cũng như còn hạn chế về chuyên môn, nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 02 năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Thị Kim Dung
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 13
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH 13
BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 13
1.1 Một số khái niệm 13
1.2 Lý thuyết thực thi chính sách công 15
1.3 Đặc điểm về hoạt động chăm sóc người cao tuổi của gia đình và xã hội20 1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia và sử dụng thẻ BHYT của NCT 23
1.5 Kinh nghiệm bảo hiểm y tế của một số quốc gia châu Á 25
Chương 2 30
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI PHƯỜNG PHÚ DIỄN, 30
QUẬN BẮC TỪ LIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 30
2.1 Đặc điểm của người cao tuổi ở phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 30
2.2 Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi ở phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 40
2.3 Đánh giá chung về thực hiện chính sách BHYT từ thực tiễn phường Phú Diễn 46
Chương 3 55
QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 55
3.1 Quan điểm, định hướng và giải pháp của cấp Ủy và chính quyền phường Phú Diễn trong công tác thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi ở phường 55
3.2 Giải pháp chính sách bảo hiểm y tế và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 57 KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 76
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
KCB BHYT Khám chữa bệnh bảo hiểm y tế
LĐ, TB & XH Lao động, Thương binh và Xã hội
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Giới tính 34
Bảng 2.2: Độ tuổi 34
Bảng 2.3: Tương quan giữ giới tính và độ tuổi 34
Bảng 2.4: Nghề nghiệp trước đây 35
Bảng 2.5: Tương quan giữa giới tính và nghề nghiệp trước đây 36
Bảng 2.6: Nguồn thu nhập hiện nay 36
Bảng 2.7: Tương quan giữa giới tính và nguồn thu nhập hiện nay 37
Bảng 2.8: Kinh tế hộ gia đình 38
Bảng 2.9: Tương quan giữa giới tính và kinh tế hộ gia đình 38
Bảng 2.10: Số NCT có BHYT của Phường 40
Bảng 2.11: NCT biết về chính sách Nhà nước cấp BHYT miễn phí cho NCT từ đủ 80 tuổi trở lên 41
Bảng 2.12: Tương quan giữa giới tính và NCT biết về chính sách NN cấp BHYT miễn phí cho NCT từ đủ 80 tuổi trở lên 42
Bảng 2.13: Số NCT có BHYT trong mẫu khảo sát 42
Bảng 2.14: Tương quan giữa giới tính và số NCT có BHYT trong mẫu khảo sát 43
Bảng 2.15: Nơi đăng ký KCB BHYT 43
Bảng 2.16: Lý do đăng ký nơi KCB BHYT 44
Bảng 2.17: NCT sử dụng BHYT đi KCB 44
Bảng 2.18: Tương quan giữa giới tính và mức độ sử dụng BHYT đi KCB 45
Bảng 2.19: Số lần sử dụng BHYT đi KCB của NCT 45
Bảng 2.20: Vì sao không sử dụng BHYT đi KCB 45
Bảng 2.21: Đánh giá của NCT về chính sách BHYT hiện nay 51
Bảng 2.22: Mong muốn của NCT về chính sách BHYT 52
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), trong giai đoạn 2015 - 2030,
số người cao tuổi (NCT) trên toàn cầu sẽ tăng lên 56% (từ 901 triệu lên 1,4 tỷ người) Ở Việt Nam, số NCT chiếm 11,9% trong tổng dân số vào năm 2017 Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, đến năm 2038, nhóm dân số trên 60 tuổi khoảng 21 triệu người, chiếm 20% tổng dân số Đến năm 2050, cứ 4 người thì
có 1 người từ 60 tuổi trở lên (khoảng 27 triệu người) Cũng theo dự báo này,
từ năm 2038, dân số trong độ tuổi lao động bắt đầu giảm và sự biến động dân
số này sẽ tác động bất lợi đến sự phát triển kinh tế - xã hội nếu không có chính sách thích ứng phù hợp
Sức khỏe của NCT Việt Nam còn nhiều hạn chế Tuy tuổi thọ trung bình cao (73 tuổi),nhưng gánh nặng bệnh tật kép của NCT Việt cũng cao Nước ta
có khoảng 95% NCT có bệnh,,chủ yếu là bệnh mãn tính không lây truyền Như vậy, trung bình 1 NCT Việt Nam mắc 3 bệnh Gánh nặng bệnh tật kép này,sẽ đe dọa nguồn ngân sách vốn đã eo hẹp của Việt Nam Trong khi đó, hệ thống chăm sóc sức khỏe chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của NCT Năm 2014,,cả nước chỉ có 49/63 tỉnh có khoa lão tại các bệnh viện tỉnh
và 60,8% NCT có bảo hiểm y tế [35] Mặt khác, đời sống NCT tại Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn, thách thức Chẳng hạn, tỷ lệ NCT thuộc hộ nghèo cao (22,4% năm 2016) Số lượng NCT có lương hưu, bảo hiểm, trợ cấp
xã hội thấp cả về độ bao phủ và mức hưởng [50]
Về mặt chính sách, chăm sóc và trợ giúp NCT, Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam đã khẳng định: “Những người công dân già cả hoặc tàn tật thì được giúp đỡ” (Điều 14); Hiến pháp năm 1992 tại Điều 67 cũng quy định rõ:
“Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và
xã hội giúp đỡ” Đến năm 2009, Luật Người cao tuổi được Quốc hội khóa XII
Trang 9thông qua ngày 23/11/2009, Luật đã quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của người cao tuổi; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc chăm sóc, trợ giúp và phát huy vai trò người cao tuổi Đến Hiến pháp năm 2013,tại Điều 37 khẳng định: “Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và Điều 59,cũng nêu rõ: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi…” [14, tr 63]
Đối với NCT, chi phí điều trị thường cao gấp từ tám đến mười lần so với người trẻ; mặc dù NCT chiếm hơn 10% số dân nhưng sử dụng tới hơn 50% chi phí điều trị mỗi năm Thực trạng đó cho thấy việc bao phủ BHYT toàn dân là giải pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe cho người dân nói chung và NCT hiện nay […] Theo số liệu thống kê, hiện nay tỷ lệ tham gia BHYT của NCT còn thấp, có khoảng 60% số NCT có BHYT, thấp hơn khá nhiều so với tỷ lệ người tham gia BHYT Như vậy, có khoảng 40% NCT không có BHYT sẽ phải tự chi trả cho phí KCB ngày càng gia tăng [61]
Xác định tham gia BHYT sẽ mang lại nhiều lợi ích cho NCT trong chăm sóc sức khỏe, bớt đi rất nhiều khó khăn khi bị ốm đau bệnh tật nên Ban chấp hành Trung ương đã đề ra mục tiêu đến năm 2030, 100% NCT có thẻ BHYT, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung [31]
BHYT là chính sách xã hội quan trọng hàng đầu, mang ý nghĩa nhân đạo
và có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc được Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng, luôn đề cao trong hệ thống chính sách ASXH Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước là xây dựng hệ thống ASXH đa dạng, phát triển mạnh
hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn dân [36, tr 94]
Trang 10Đối với NCT phường Phú Diễn cũng không tránh khỏi quy luật tuổi già, sức yếu, bệnh tật nhiều và nhu cầu được chăm sóc sức khỏe ngày một tăng Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề này, nên tôi đã chọn đề tài “Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi – Qua nghiên cứu trường hợp phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội”
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quá trình tổng quan tài liệu có liên quan đến tình hình nghiên cứu của đề tài, tôi nhận thấy có nhiều tài liệu nghiên cứu về BHYT và NCT, những tài liệu về BHYT thì thường nghiên cứu về nhiều đối tượng khác nhau, còn nghiên cứu về BHYT đối với NCT chưa có nhiều Vì vậy, trong phần tổng quan này tôi chia thành 2 phần:
2.1 Các nghiên cứu chung về BHYT
“Bảo hiểm y tế trong hệ thống an sinh xã hội – Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn hiện nay” (2005) và “Bảo hiểm y tế trong hệ thống an sinh xã hội: Nhu cầu và khả năng mở rộng ở nông thôn” (2006) của Trịnh Hòa Bình, các
đề tài nghiên cứu về hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam nói chung và hoạt động của chính sách bảo hiểm y tế nói riêng; nhu cầu và khả năng mở rộng bảo hiểm y tế ở nông thôn, qua đó làm rõ được thực trạng an sinh xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng
“Những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế ở Việt Nam”
của Phòng Xã hội học dân số - Viện Xã hội học (2006), đề tài tìm hiểu thực trạng tiếp cận bảo hiểm y tế ở nước ta, góp phần xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hiểm y tế cho những nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù, chỉ ra một số định hướng chính sách nhằm nâng cao diện che phủ của chương trình bảo hiểm y tế
Trong nghiên cứu “Những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế ở Việt Nam”, kết quả phân tích cho thấy, trước mắt, người nghèo và
Trang 11các nhóm thiệt thòi khác cần được đặc biệt quan tâm để có thể tiếp cận BHYT Gánh nặng bệnh tật và đặc biệt là nguồn lực eo hẹp mà người nghèo hiện có không cho phép họ sử dụng các dịch vụ KCB có chất lượng đòi hỏi chi trả lớn về tài chính Chỉ có BHYT mới là phương thức lâu dài nhằm giải quyết được vấn đề này [1]
“Tiến tới bao phủ Bảo hiểm y tế toàn dân ở Việt Nam: Đánh giá và giải pháp” của Ngân hàng Thế giới (2014); Nghiên cứu này đi sâu vào nhiều trở
ngại mà Việt Nam phải đối mặt trong quá trình thực hiện mục tiêu bảo đảm tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng và chi phí hợp lý cho người dân Mục tiêu
là đánh giá việc thực hiện BHYT của Việt Nam và đưa ra các giải pháp tiến tới mục tiêu bao phủ toàn dân với các quan điểm đóng góp cho tiến trình sửa đổi bổ sung luật BHYT
Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu mức độ hài lòng của người dân Đồng bằng
sông Hồng đối với chính sách bảo hiểm y tế” của Trương Xuân Trường
(2016), khảo sát và phân tích mức độ hài lòng của người dân khu vực nông thôn Đồng bằng sông Hồng về chính sách bảo hiểm y tế; ngoài ra còn đánh giá mức độ hài lòng, phân tích các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng và xây dựng hệ thống khuyến nghị thiết thực và có tính khả thi nhằm thúc đẩy việc thực hiện chính sách bảo hiểm y tế
Trong nghiên cứu “Khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ở Việt Nam” của Hà
Thị Minh Khương (2018) có đưa ra kết quả, đa số người dân đánh giá tích cực
về chất lượng, chi phí và hiệu quả khám chữa bệnh, điều kiện cơ sở vật chất của các cơ sở y tế, thái độ phục vụ bệnh nhân và việc cấp phát thuốc Nhưng
để đáp ứng nhu cầu KCB BHYT ngày càng cao và đa dạng của người dân, hệ thống y tế, đặc biệt là các cơ sở y tế công lập, cần tiếp tục cải thiện quy trình và thái độ phục vụ, cải thiện cơ sở vật chất và tăng cường trang thiết bị hiện đại, giảm giá cả dịch vụ y tế cho phù hợp với mức sống của người dân ở Việt Nam
Trang 122.2 Các nghiên cứu về BHYT đối với NCT
Trong các nghiên cứu về BHYT đối với NCT, có những vấn đề chính như: 1) Những vấn đề của chính sách BHYT đối với NCT; 2) Vấn đề chăm sóc sức khỏe của NCT; 3) Tình hình tiếp cận BHYT của NCT; 4) Khám chữa bệnh bằng BHYT của NCT
2.2.1 Những vấn đề của chính sách BHYT đối với NCT
Theo đánh giá của Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, việc cấp thẻ BHYT cho người từ 90 tuổi trở lên (diện nghèo) mang tính động viên tinh thần cho NCT nhiều hơn là hiệu quả thực tế, bởi vì có tỷ lệ khá cao người trên
90 tuổi dù có BHYT hầu như không đến được bệnh viện khi ốm đau Đó là chưa kể gần 1/3 số người từ 90 tuổi trở lên chưa được cấp thẻ BHYT [Trích theo 42, tr 23]
Theo Báo cáo của Tổng Cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế), chất lượng cuộc sống của người cao tuổi nhất là ở vùng nông thôn còn rất khó khăn, tỷ lệ người nghèo ở người cao tuổi là 23,5% Chỉ có khoảng 60% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế
Hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật BHYT được ban hành tương đối đầy đủ và đồng bộ với sự chỉ đạo và phối hợp thực hiện của các ban ngành nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về BHYT Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 100% mức phí BHYT cho người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên Phạm
vi quyền lợi và mức hưởng của các đối tượng tham gia BHYT được quy định khá rõ trong Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Quy định
về quyền lợi của người tham gia BHYT là điểm mới [7, tr 27]
Tính đến năm 2014, khoảng 70% tổng dân số đã có BHYT Riêng người cao tuổi, tỷ lệ bao phủ là 74%, nghĩa là 26% người cao tuổi không có bất kì loại BHYT nào Tỷ lệ này có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây, khi Việt Nam tuyên bố mục tiêu BHYT toàn dân vào năm 2020 Câu hỏi
Trang 13đặt ra là việc tham gia BHYT của người cao tuổi đã có tiến triển như thế nào trong những năm qua và người cao tuổi sử dụng BHYT trong các dịch vụ chăm sóc sức khỏe như thế nào? [29]
Các hoạt động khám sức khỏe định kỳ cho người cao tuổi có thẻ BHYT được thực hiện hiệu quả, chất lượng phục vụ tốt hơn, nhiều địa phương có chủ trương thành lập quỹ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi có nhiều điểm mới: chăm sóc tại nhà, chăm sóc tại cơ sở tập trung và chăm sóc dựa vào cộng đồng… [10]
Từ ngày 01/01/2016, NCT có cơ hội được KCB cao hơn do chính sách
mở thông tuyến KCB BHYT giữa tuyến xã và tuyến huyện trên cùng địa bàn tỉnh và được thanh toán 100% chi phí KCB [17, tr 197]
2.2.2 Vấn đề chăm sóc sức khỏe của NCT
Tuổi già đi đôi với sức khỏe giảm và bệnh tật tăng, khám bệnh và điều trị trở nên thường xuyên hơn và quan trọng hơn đối với NCT Khuôn mẫu về cách thức khám bệnh thường xuyên ở người già được phân bố: Tỷ lệ cao nhất rơi vào “Không đi khám bệnh, tự uống thuốc”, trong đó nông thôn và thị xã cao hơn Hà Nội Trên thực tế, người ta hay thực hiện luôn một kiểu “khám bệnh” tại quầy hay người bán thuốc, cũng thường mua thuốc theo “kinh nghiệm” [9, tr 28]
Quan điểm về CSSK cho NCT được thể hiện xuyên suốt trong hệ thống văn bản chính sách, pháp luật Nhìn chung, các chính sách CSSK NCT hiện có tập trung vào các điểm: NCT được CSSK ban đầu tại nơi cứ trú; cấp thẻ BHYT;
tổ chức mạng lưới tình nguyện viên CSSK cho NCT tại nhà; giảm hoặc miễn viện phí cho bệnh nhân là NCT không có BHYT; NCT được CSSK ban đầu, được ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế [25, tr 119-128]
Người cao tuổi là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội Nếu như công tác CSSK cho NCT không được quản trị tốt
Trang 14bằng những cơ chế chính sách rõ ràng, cụ thể, minh bạch phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam và khả năng chi trả của NCT thì kết quả không chỉ
là làm giảm chất lượng dân số mà còn làm cho chất lượng cuộc sống của NCT vốn đã hạn chế lại càng thêm khó khăn [48, tr 4]
Có thể nêu vắn tắt về chính sách CSSK người cao tuổi theo tinh thần nội dung cơ bản của Luật và các Thông tư như sau: Tại các cơ sở khám, chữa bệnh: NCT (>80 tuổi) được ưu tiên khám trước người khác (trừ bệnh nhân cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi và người khuyết tật nặng); được bố trí giường nằm phù hợp khi điều trị nội trú; các bệnh viện (trừ bệnh viện Nhi khoa) có trách nhiệm tổ chức khoa lão khoa hoặc dành một số giường để điều trị người bệnh
là người cao tuổi; Tại nơi cư trú: Trạm y tế xã có trách nhiệm lập hồ sơ quản
lý sức khỏe người cao tuổi, lập sổ theo dõi các bệnh mạn tính; tuyên truyền phổ biến kiến thức CSSK cho người cao tuổi; tổ chức kiểm tra sức khoẻ định
kỳ, khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với chuyên môn cho người cao tuổi; cử cán bộ y tế đến khám bệnh, chữa bệnh tại nơi cư trú đối với người cao tuổi cô đơn bị bệnh nặng không thể đến cơ sở khám bệnh được [6]
Đối với NCT, chăm sóc y tế là điều quan trọng nhất Nhiệm vụ này cần được Nhà nước, gia đình và xã hội cùng quan tâm thực hiện Bệnh tật ở NCT chủ yếu là bệnh không lây nhiễm và mạn tính nên chi phí chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng cao BHYT là phương thức hỗ trợ tối ưu cho NCT trong quá trình KCB Đồng thời, cần quan tâm đến chính sách BHYT, dự báo chi phí CSSK trong tương lai đối với NCT [17, tr.195], [21]; [35]
Mặc dù đa phần NCT có thể tự chăm sóc bản thân nhưng một bộ phận NCT có nhu cầu được chăm sóc sức khỏe dài hạn Vì vậy, cần tập trung ưu tiên phát triển các loại dịch vụ chăm sóc dài hạn để đảm bảo nhu cầu của NCT cũng như giúp họ sống vui, sống khỏe và tiếp tục đóng góp vào các hoạt động kinh tế, xã hội của đất nước [50]
Trang 152.2.3 Tình hình tiếp cận BHYT của người cao tuổi
Theo báo cáo tổng quan của ngành y tế, số lượng NCT có thẻ BHYT tăng từ 24,3% năm 2004 lên 63% năm 2006 [10, tr 18]
Với các chính sách chăm sóc sức khỏe của Nhà nước hiện nay, có 72% NCT ở địa phương được cấp thẻ BHYT để khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế Tuy nhiên, hiện vẫn còn 28% NCT chưa có thẻ BHYT để chăm sóc sức khỏe khi có rủi ro về sức khỏe, bệnh tật xảy ra; trong số đó có không ít NCT đang sống trong cảnh khó khăn, thiếu thốn về nhiều mặt [34, tr 370]
Hiện nay tỷ lệ tham gia BHYT của NCT còn thấp, có khoảng 60% số NCT có BHYT, thấp hơn khá nhiều so với tỷ lệ người tham gia BHYT Như vậy, có khoảng 40% NCT không có BHYT sẽ phải tự chi trả cho phí KCB ngày càng gia tăng Tỷ lệ NCT ở nhóm từ 60 đến 79 tuổi không thuộc hộ nghèo, cận nghèo mua thẻ BHYT tự nguyện rất thấp chỉ chiếm từ 5% đến 10% [61]
Tính đến cuối năm 2018, cả nước có hơn 11,3 triệu người cao tuổi (NCT), chiếm khoảng 11,95% dân số Trong đó, hơn 10,8 triệu NCT có thẻ bảo hiểm y tế (chiếm 96%) [33]
2.2.4 Khám chữa bệnh bằng BHYT của người cao tuổi
Còn tỷ lệ khá cao người tham gia BHYT chưa hài lòng với chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh hiện nay, nhất là đối tượng được cấp thẻ BHYT miễn phí; còn có sự phân biệt về cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh giữa đối tượng tham gia BHYT bắt buộc với đối tượng được cung cấp thẻ BHYT miễn phí… Mức độ sử dụng DVYT có sự khác biệt giữa NCT có thẻ BHYT và không có thẻ BHYT, giữa các vùng miền và đặc điểm kinh tế nên chưa đáp ứng được yêu cầu về sự công bằng trong CSSK NCT [17, tr 196, 198]
Thẻ BHYT có ý nghĩa quan trọng đối với việc CSSK NCT Số liệu khảo sát về thực hiện Luật Người cao tuổi năm 2015 cho thấy có 92,7% NCT
Trang 16sử dụng thẻ BHYT cho lần ốm đau gần nhất và tỷ lệ này sử dụng khá đồng đều theo giới tính và khu vực [18, tr.284]
Tỷ lệ sử dụng dịch vụ của NCT có BHYT tại tất cả các tuyến đều cao hơn NCT không có BHYT, trong khi NCT không có BHYT lại có tỷ lệ sử dụng các loại hình khám chữa bệnh khác (y tế tư nhân,… ) lại cao hơn hẳn NCT có BHYT [28, tr 49]
Chất lượng các loại dịch vụ y tế, khám chữa bệnh có thẻ BHYT, vấn đề
y đức, tiêu cực trong ngành y tế,… có tác động tiêu cực đến thực hiện quyền được đảm bảo CSSK của NCT nếu xem đây là lực lượng yếu thế trong xã hội
Tỉ lệ NCT đến khám, chữa bệnh và được lập hồ sơ quản lý sức khỏe định kỳ tại tuyến cơ sở rất thấp, nhiều bệnh viện tuyến huyện chưa thành lập được khoa lão khoa, công tác cải cách thủ tục hành chính của ngành y tế còn chậm [10, tr 19]
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Đề tài tìm hiểu thực trạng và phân tích tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi tại phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội Qua đó, đề xuất những giải pháp cho việc thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi ở địa bàn nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản; những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách BHYT cho NCT và những vấn đề của chính sách BHYT đối với NCT nói chung để làm cơ sở cho việc phân tích tình hình thực hiện chính sách BHYT đối với NCT ở phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Phân tích thực trạng về cấp thẻ BHYT và phổ biến sử dụng thẻ BHYT đối với NCT ở phường Phú Diễn; tình hình khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT
Trang 17của người cao tuổi ở phường Phú Diễn; một số kết quả trong công tác triển khai thực hiện chính sách BHYT ở phường Phú Diễn và đánh giá về việc thực hiện chính sách BHYT từ thực tiễn phường Phú Diễn
- Nghiên cứu quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước trong công tác thực hiện chính sách BHYT đối với NCT và giải pháp thực hiện chính sách BHYT đối với NCT của Phường Phú Diễn trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm y
tế đối với người cao tuổi
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian và thời gian: Không gian: phường Phú Diễn, quận
Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội Thời gian: từ khi thành lập quận Bắc Từ Liêm cho đến nay (01/4/2014 - nay)
Về mặt nội dung: Đề tài nghiên cứu 2 vấn đề chính: Thực trạng thực hiện
chính sách Bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi; Quan điểm, định hướng và một
số giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành chính sách công và
xã hội học để phân tích; nêu lên các khái niệm về NCT, về BHYT, về chính sách công; sử dụng lý thuyết thực thi chính sách công; đặc điểm về hoạt động chăm sóc NCT của gia đình và xã hội; những yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia và
sử dụng thẻ BHYT của NCT; kinh nghiệm về BHYT của một số quốc gia châu
Á, để đánh giá khái quát tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với NCT và bài học kinh nghiệm về BHYT đối với NCT
Trang 185.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tài liệu
Đề tài phân tích các tài liệu có sẵn về bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi ở Việt Nam khoảng 15 năm trở về đây; cụ thể, đề tài tập trung tổng hợp, phân tích các bài viết, các công trình nghiên cứu, báo cáo từ các cuộc điều tra khảo sát có liên quan đến NCT và BHYT ở Việt Nam
- Phương pháp điều tra bảng hỏi
Đề tài thực hiện 150 phiếu điều tra, đối tượng là những NCT, bao gồm
90 người cao tuổi nữ và 60 người cao tuổi nam, độ tuổi từ 60 tuổi trở lên Những người cao tuổi này hiện đang sinh sống trên địa bàn phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Nhằm làm rõ hơn những nội dung liên quan tới chính sách BHYT đối với người cao tuổi ở phường Phú Diễn, tôi tiến hành phương pháp thu thập thông tin định tính thông qua phỏng vấn sâu Tiến hành 06 cuộc phỏng vấn sâu ghi chép trực tiếp đối với:
-01 cán bộ phòng Lao động, Thương binh và Xã hội phường Phú Diễn;
- 01 cán bộ hội Người cao tuổi của phường Phú Diễn (hội trưởng hội NCT của phường);
- 02 người cao tuổi của phường;
- 01 người là thành viên gia đình có người cao tuổi;
- 01 người là cán bộ trạm y tế quận Bắc Từ Liêm
Nội dung cốt lõi của các cuộc phỏng vấn sâu tập trung vào những vấn
đề sau: (1) Số liệu về NCT có BHYT ở phường Phú Diễn; (2) Việc triển khai BHYT cho NCT như thế nào?; (3) Tình hình khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT của NCT của phường Phú Diễn hiện nay; (4) Chính sách BHYT đối với NCT có những ưu, nhược điểm gì?
Trang 196 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài:
Đề tài làm rõ các khái niệm nghiên cứu như: chính sách, bảo hiểm y tế, người cao tuổi; góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi ở phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Qua phân tích tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi ở phường Phú Diễn, đề tài đưa ra cái nhìn khái quát về những thành tựu và hạn chế của chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi ở phường Phú Diễn nói riêng và đối với người cao tuổi ở Việt Nam nói chung
Đề xuất phương hướng, giải pháp thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi ở phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
7 Kết cấu của luận văn
Đề tài bao gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế đối với
người cao tuổi
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với
người cao tuổi tại phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp thực hiện chính sách
Bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi
Trang 20và điều kiện cụ thể [19, tr 475]
Theo từ điển tiếng Việt, chính sách là chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội [53, tr 368]
Có thể coi chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục
đích nhất định Theo đó, chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; có sự tính toán và chủ đích rõ ràng [16, tr 13]
Bảo hiểm y tế:
Bảo hiểm y tế là loại bảo hiểm do nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân [19, tr 151]
Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng, chia sẻ nguy cơ bệnh tật và giảm bớt gánh nặng tài chính của mỗi người khi ốm đau, bệnh tật, tạo
Trang 21nguồn tài chính hỗ trợ cho hoạt động y tế, thực hiện công bằng và nhân đạo trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân [11, tr 60]
Còn trong Luật Bảo hiểm y tế thì Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này
Chính sách bảo hiểm y tế là chủ trương, biện pháp, kế hoạch thực
hiện của chính phủ nhằm thực hiện đảm bảo công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe toàn dân
Vậy có thể hiểu Chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi là
chủ trương, biện pháp, kế hoạch thực hiện của chính phủ trong việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
Người cao tuổi
Khái niệm Người cao tuổi cũng là khái niệm chưa có sự đồng nhất trên thế giới Nhiều quốc gia quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên, nhưng cũng có quốc gia quy định người ở độ tuổi 60 trở lên được xem là người cao tuổi [48, tr 6]
Xem xét từ góc độ sinh học, NCT là các cá nhân mà sự lão hóa của cơ thể đã bộc lộ ở các mức khác nhau, thể hiện cụ thể ở tuổi thọ của họ Tại Việt Nam, Pháp lệnh về NCT (2000) và Luật về NCT Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2009 quy định “những người từ 60 tuổi trở lên là người cao tuổi”; Từ góc độ kinh tế, tuổi già là thời điểm mà người lao động ít còn khả năng độc lập về kinh tế và do đó cần được hỗ trợ bởi các dịch vụ xã hội, có nghĩa là họ trở thành những người phụ thuộc về mặt xã hội; Từ góc độ các quan hệ xã hội, NCT được xác định dựa vào một trong các đặc điểm khá rõ ràng là giảm dần các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và tăng
Trang 22dần sự phụ thuộc vào các thành viên xã hội khác để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mình [25]
Hiện nay, theo tổ chức Liên Hợp Quốc, không có một chuẩn duy nhất về định nghĩa người cao tuổi Tuy nhiên, theo quan niệm của tổ chức này, một người được coi là người cao tuổi khi họ bước vào tuổi 60
Theo quy định của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), độ tuổi trên 60 thì được gọi là người cao tuổi
Tại Việt Nam, theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009, người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên Các nghiên cứu của Việt Nam về người cao tuổi cũng thường sử dụng khái niệm người cao tuổi theo quy định của Luật này
Vì vậy, trong đề tài này tôi cũng sử dụng khái niệm người cao tuổi là người đủ từ 60 tuổi trở lên như quy định trong Luật Người cao tuổi của Việt Nam
1.2 Lý thuyết thực thi chính sách công
1.2.1 Khái niệm chính sách công, thực thi chính sách công
Hiện nay, thuật ngữ “chính sách công” được sử dụng rất phổ biến trên các ấn phẩm ở các nước và Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay chưa có quan điểm thống nhất về thuật ngữ này
- Nhà kinh tế học Frank Ellis cho rằng, không có định nghĩa duy nhất nào về thuật ngữ “chính sách” được thừa nhận bởi tất cả tác giả Theo ông:
“Chính sách là một thuật ngữ chung vì nó ngụ ý sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế” và chính sách công được xác định như là đường lối hành động mà chính phủ lựa chọn đối với một lĩnh vực nào đó của nền kinh tế, kể
cả các mục tiêu mà chính phủ tìm kiếm và sự lựa chọn các phương pháp để theo đuổi các mục tiêu đó
Trang 23- James Anderson cho rằng: “Chính sách công là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại”
[55, tr 38]
Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định, nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển
ổn định và bền vững [13, tr.36]
Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn
đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển [46, tr 10]
Khái niệm Thực thi chính sách công
Thực thi có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, theo Daniel A.Mazmanian và Paul A.Sabatier: “Thực thi là thực hiện một quyết định chính sách cơ sở, thường được thể hiện trong một đạo luật, nhưng cũng
có thể được thể hiện dưới hình thức các quyết định quan trọng của cơ quan hành pháp hoặc các quyết định của tòa án Theo lý tưởng, quyết định đó xác định vấn đề cần được giải quyết, quy định các mục tiêu cần theo đuổi và rất nhiều cách thức, định hình quá trình thực thi Thông thường, quá trình này trải qua nhiều giai đoạn, bắt đầu với việc thông qua đạo luật cơ bản, tiếp theo là các quyết định của các cơ quan thực thi chính sách, sự tuân thủ của các nhóm lợi ích với các quyết định đó, các tác động thực tế - cả chủ định và không chủ định – của các đầu ra đó, những tác động nhận thức được của các quyết định,
và cuối cùng là những sửa đổi quan trọng trong đạo luật cơ bản”
Theo Amy DeGroff, Margaret Cargo, “Thực thi chính sách công phản ánh một quá trình thay đổi phức tạp mà các quyết định của nhà nước được
Trang 24chuyển thành các chương trình, thủ tục, các quy định hoặc các hoạt động nhằm đạt được những cải thiện xã hội”
Theo Thomas Dye, “Thực thi bao gồm tất cả các hoạt động được thiết
kế để thực hiện các chính sách công đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp
Vì các chính sách công có những tác động mong muốn hoặc có chủ định, nên chúng phải được chuyển thành các chương trình và các dự án mà sau đó được thực hiện để đạt được một tập hợp các mục tiêu hoặc mục đích”
Vậy, có thể hiểu: “Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công”
[46, tr 93-97]
1.2.2 Quy trình triển khai thực thi chính sách công
Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội nhằm hiện thực hóa các mục tiêu chính sách công Quá trình thực thi chính sách công được triển khai thông qua hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, với sự tham gia của các đối tác Tùy thuộc vào từng chính sách công, mà các chủ thể thực thi chính sách công xác định các nhiệm vụ cụ thể
để triển khai thực thi Ở góc độ chung nhất, quá trình triển khai thực thi chính sách công được tổ chức gồm các bước:
Bước 1: Xây dựng và ban hành văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công
Để thực hiện nhiệm vụ này, các chủ thể thực thi chính sách công cần tiến hành các hoạt động:
- Nghiên cứu nội dung chính sách công để xác định những văn bản, chương trình hoặc dự án cần phải được ban hành hoặc phê duyệt
Trang 25- Xây dựng kế hoạch soạn thảo và ban hành các văn bản thực thi chính sách công; xây dựng kế hoạch lập và phê duyệt các chương trình, dự án thực thi chính sách công
- Tổ chức triển khai thực hiện các kế hoạch nêu trên để bảo đảm ban hành được các văn bản, chương trình, dự án có chất lượng, hợp pháp, đúng thời gian, tiết kiệm và hiệu quả
Bước 2: Tổ chức thực hiện văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công
Sau khi các văn bản, chương trình, dự án được ban hành và phê duyệt, các chủ thể thực thi được giao trách nhiệm tổ chức thi hành văn bản, và triển khai thực hiện chương trình, dự án này Nội dung tổ chức thi hành văn bản và chương trình, dự án cụ thể có khác nhau Tuy nhiên, có thể khái quát thành các nội dung hoạt động dưới đây:
- Xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành văn bản, hoặc lập kế hoạch thực hiện chương trình, dự án;
- Tuyên truyền, phổ biến nội dung văn bản, chương trình, dự án;
- Tập huấn văn bản, bồi dưỡng những kiến thức và kỹ năng cần thiết để triển khai văn bản, chương trình, dự án;
- Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực
để triển khai thi hành văn bản, thực hiện chương trình, dự án;
- Chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc thi hành văn bản, việc thực hiện chương trình, dự án
Bước 3: Sơ kết, tổng kết thực hiện văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công
Việc sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách công được tiến hành theo trình tự từ dưới lên trên
- Trước hết, các cơ quan, tổ chức được giao thi hành văn bản thực thi chính sách công nào thì tiến hành sơ kết, tổng kết việc thi hành văn bản đó, và
Trang 26báo cáo lên cơ quan, tổ chức cấp cao hơn Các cơ quan, tổ chức được giao thực hiện các chương trình, dự án nào thì tiến hành đánh giá giữa kỳ và đánh giá kết thúc chương trình, dự án đó và báo cáo lên cơ quan, tổ chức cấp cao hơn Trong báo cáo sơ kết, tổng kết, báo cáo đánh giá giữa kỳ, báo cáo đánh giá kết thúc cần thể hiện rõ quá trình triển khai thực hiện những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất những kiến nghị đối với cấp trên để xử lý những vướng mắc trong tổ chức thực hiện
- Trên cơ sở báo cáo sơ kết, tổng kết, báo cáo đánh giá giữa kỳ, báo cáo kết thúc của cơ quan, tổ chức thực thi chính sách công cấp dưới, cơ quan, tổ chức thực thi chính sách cao nhất tổng hợp thành báo cáo sơ kết, tổng kết thực thi chính sách công Cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm thực thi chính sách công cuối cùng này báo cáo và giải trình về kết quả thực thi chính sách công trước cơ quan hoạch định và nhân dân Đồng thời, có thể kiến nghị với cơ quan hoạch định chính sách công điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn [46, tr 108-111]
Luật Bảo hiểm y tế là luật do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành, đây chính là chính sách công của nhà nước Đề tài
sẽ nghiên cứu, phân tích tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi tại phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội dựa theo các quy trình triển khai thực thi chính sách công này
Trong vấn đề chăm sóc sức khỏe của NCT, tùy theo nhu cầu của từng
cá nhân, có người thấy cần thiết, có người thấy không để họ có tham gia vào BHYT hay không Bên cạnh đó, NCT còn có những yêu cầu khác biệt, đặc thù về chăm sóc sức khỏe so với các nhóm tuổi khác Đặc điểm bệnh lý của người cao tuổi khác với các lứa tuổi khác như lão hóa các cơ quan, tính chất
đa bệnh lý, …
Như vậy, tác giả nghiên cứu đề tài khi làm việc với NCT tại cộng đồng
Trang 27dân cư cần biết đánh giá những nhu cầu của NCT về chăm sóc sức khỏe như thế nào, để có thể đóng góp một cách phù hợp và hiệu quả nhất
1.3 Đặc điểm về hoạt động chăm sóc người cao tuổi của gia đình và xã hội
Theo truyền thống và đạo lý của người Việt Nam, hầu hết NCT sống cùng con cháu trong các gia đình mở rộng đa thế hệ và phụ thuộc vào con cái trưởng thành cũng như các thành viên khác trong gia đình về chăm sóc và các nhu cầu vật chất Để cuộc sống gia đình truyền thống ổn định và bền vững, thì một trong những quan hệ cần giữ gìn và phát triển là quan hệ giữa NCT với con cháu trong gia đình
Hiện nay, đa số NCT Việt Nam đang sống chung với con cháu Mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình vẫn được duy trì NCT được con cháu quan tâm, chăm sóc về đời sống vật chất và tinh thần
- Về đời sống kinh tế, con cái đóng vai trò quan trọng trong việc chăm
lo đời sống vật chất cho người cao tuổi thông qua nhiều hình thức: tiền bạc, vật dụng, thức ăn, thức uống… Sự chăm lo về vật chất của con cái cho cha mẹ cao tuổi có sự khác biệt về số lượng, tần suất và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như mức sống của con cái; theo mô hình sống; khoảng cách sống; con trai hay con gái; con trưởng hay con thứ…
Đa số NCT nhận hỗ trợ tiền bạc từ con cái thường xuyên (31,7%) hoặc thỉnh thoảng (38,5%) Sự hỗ trợ về mặt vật chất của con cái đối với NCT không chỉ thể hiện qua những yếu tố kinh tế một cách trực tiếp (như cho tiền, vật dụng, thức ăn…) mà còn thể hiện gián tiếp thông qua sự đầu tư vào việc nâng cao chất lượng nhà ở, mua sắm các trang thiết bị sinh hoạt trong hộ gia đình như tivi, tủ lạnh,… [49, tr 45]
- Về đời sống tinh thần, hầu hết quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình
có NCT đều hòa thuận Điều này thể hiện qua mức độ trò truyện, tâm sự giữa các thế hệ trong gia đình Với NCT, trò chuyện với con cháu là một trong
Trang 28những nhu cầu giao tiếp hàng ngày Điều này giúp tăng sự gắn kết, hiểu biết
và sẻ chia, thông cảm giữa các thế hệ trong gia đình Tuy nhiên, sự chia sẻ này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thời gian, sự hòa hợp về tính cách,
sự hiểu biết về tâm lý của NCT…
Nhìn chung, nhu cầu được trò chuyện, tâm sự của NCT là rất lớn Việc trò chuyện, chia sẻ vui, buồn trong cuộc sống của gia đình đối với NCT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Theo kết quả khảo sát của VNAS (2011), 35,6% NCT chia sẻ khi buồn với bạn đời (vợ/chồng), 22,6% chia sẻ với con trai, 22,3% chia sẻ với con gái
Sự chia sẻ với con dâu/con rể hay với cháu tuy có nhưng chiếm tỷ lệ rất nhỏ Mặt khác, phần lớn NCT sống với vợ/chồng, con cái nên việc trò chuyện tâm
sự chia sẻ trực tiếp một cách thường xuyên không gặp khó khăn gì về khoảng cách không gian và thời gian Với những người con không sống chung với cha mẹ, việc thăm hỏi vẫn được thực hiện thường xuyên Theo kết quả Điều tra gia đình Việt Nam 2006, trong vòng 12 tháng (tính đến thời điểm khảo sát), có 95,9% số người là con đã tách hộ về thăm cha mẹ với mức độ thăm hỏi nhiều ít khác nhau: 28% thăm hỏi cha mẹ hàng ngày; 21,5% thăm hỏi một vài lần trong tuần; 17,8% thăm hỏi một vài lần trong tháng; 24,3% thăm hỏi một vài lần trong năm; 8,15 thăm hỏi vài năm một lần; 3,6% cho biết chưa về thăm cha mẹ lần nào trong năm Sự liên hệ thăm hỏi của con cái sống cùng hay không sống cùng đều khá phổ biến nhưng với người con không sống cùng, mức độ thăm hỏi phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân, độ tuổi, tình trạng sức khỏe của chính người đó (Bộ văn hóa, thể thao và du lịch, 2008) Khoảng cách sống càng gần, mức độ thăm hỏi càng cao [48]
- Về chăm sóc sức khỏe NCT, nhìn chung, phần lớn NCT đều nhận được sự quan tâm, chăm sóc từ các thành viên trong gia đình, đặc biệt là từ người bạn đời Khi bước sang độ tuổi ngoài 60, tình trạng sức khỏe của con
Trang 29người có sự suy giảm rõ rệt, do đó gia đình là chỗ dựa đáng tin cậy trong chăm sóc NCT khi ốm đau, khó khăn Sự chăm sóc của gia đình đã góp phần giảm bớt gánh nặng cho hệ thống y tế, bảo trợ và phúc lợi xã hội
Gia đình còn là đối tượng chủ yếu chăm sóc khi NCT ốm đau (xét trên
cả hai khía cạnh chăm sóc và chi trả khi NCT ốm đau bệnh tật), trong đó, con cái là người chăm sóc thường xuyên nhất NCT tuổi càng cao thì sức khỏe càng suy giảm nên khả năng tự chăm sóc giảm hoặc việc chăm sóc lúc ốm đau cũng hạn chế hơn Vì vậy, sự chăm sóc của gia đình, đặc biệt là của con cái càng trở nên quan trọng Trong điều kiện dịch vụ xã hội cũng như khả năng hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng còn hạn chế thì vai trò của gia đình là rất to lớn đối với NCT Có thể nói, chăm sóc NCT vẫn là một trong những chức năng chính của gia đình Việt Nam; trong mối quan hệ giữa NCT và con cháu, NCT được nhận sự trợ giúp về vật chất, kinh tế từ phía con cháu, bất kể
họ sống cùng con cháu hay sống riêng [48]
Tỷ lệ NCT được con cái chăm sóc khi bị bệnh tăng dần theo độ tuổi do cha mẹ về già nhiều bệnh tật nên cần sự quan tâm chăm sóc sức khỏe từ phía con cái nhiều hơn Một vấn đề lớn đặt ra là các nhóm tuổi càng cao thì tỷ lệ các cụ góa chồng/vợ cũng tăng nhanh Chính vì thế các cụ góa phải dựa vào con cháu nhiều hơn những NCT khác Đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến NCT phụ thuộc nhiều hơn vào con cái khi đau ốm
Hiện tại và trong tương lai, gia đình vẫn được xem là cơ sở quan trọng nhất chăm sóc NCT Hầu hết NCT có xu hướng sống cùng con cái và coi đó như một giải pháp an sinh tuổi già cho dù có những khác biệt và xung đột về lối sống, sở thích Tuổi càng cao, sức khỏe càng kém thì nhu cầu chung sống với con cháu càng tăng lên Tuy nhiên, hệ thống trợ giúp của gia đình cho NCT trong tương lai gần sẽ gặp những trở ngại do những biến động của quy
mô dân số và cấu trúc gia đình Việc giảm số con trong gia đình sẽ làm giảm
Trang 30nguồn hỗ trợ cho cha mẹ khi tuổi già và làm tăng trách nhiệm của con cái trong việc chăm sóc cha mẹ Sự thay đổi những giá trị gia đình, tình trạng ly hôn, ly thân, sự tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động xã hội, nhiều thanh niên di cư ra thành phố, khu công nghiệp tìm kiếm việc làm và cuộc sống tự do khiến cho việc cung cấp của gia đình về chăm sóc, tình cảm, tâm
lý và tài chính trở thành một vấn đề đối với NCT Nhiều NCT sẽ phải sống một mình và tự chăm sóc cho bản thân, phải đối mặt với rất nhiều khó khăn
lý do cơ bản khiến NCT không mua BHYT Có nhiều NCT không có BHYT được hỏi nói rằng, họ không mua, vì không có đủ tiền [30, tr 121]
Cũng theo tác giả Giang Thanh Long (2017) thì tài chính là rào cản lớn đối với tiếp cận/ sử dụng dịch vụ y tế có chất lượng cao đối với NCT ở Việt Nam, đặc biệt là đối với nhóm NCT có điều kiện kinh tế - xã hội bất lợi hơn
Trong “Báo cáo chung Tổng quan ngành Y tế năm 2016: Hướng tới
mục tiêu già hóa khỏe mạnh ở Việt Nam” có nêu rõ, về mặt lý tưởng, mức độ
NCT sử dụng dịch vụ y tế nên chỉ phụ thuộc vào nhu cầu chứ không phải khả năng chi trả [5, tr 132]
Trong số NCT chưa có thẻ, có 60% NCT nói rằng họ không có tiền mua
thẻ BHYT mức mua 500 nghìn đồng/người/năm/thẻ [61]
Trang 31- Chất lượng dịch vụ y tế:
Nghiên cứu của Đàm Hữu Đắc và cộng sự (2010) cho thấy, NCT có thẻ BHYT khi đi khám bệnh thường đối mặt với nguy cơ bị “phân biệt đối xử” do các cơ sở KCB muốn tránh những thủ tục thanh toán rườm rà [12]
Việc đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe cho NCT thời gian qua cũng đứng trước các thách thức lớn Chất lượng các loại dịch vụ y tế, khám chữa bệnh có thẻ BHYT, vấn đề y đức, tiêu cực trong ngành y tế, … có tác động tiêu cực đến thực hiện quyền được đảm bảo chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi nếu xem đây là lực lượng yếu thế trong xã hội [10, tr 19]
- Thái độ phục vụ của nhân viên y tế
Một nguyên nhân khiến cho việc tiếp cận với dịch vụ KCB của NCT còn hạn chế, đó là phương pháp xử lý chữa bệnh và thái độ phục vụ của nhân viên
y tế [17, tr.195]
- Trang thiết bị và đội ngũ y tế
Mặt khác các cơ sở y tế - lão khoa chưa đầy đủ, trang thiết bị còn thiếu thốn, đội ngũ cán bộ y tế chưa đáp ứng được nhu cầu KCB cũng như giải quyết các bệnh đặc trưng của NCT [17, tr.195]
- Sức khỏe và khoảng cách cơ sở y tế
Để NCT có thể tiếp cận và sử dụng hiệu quả thẻ BHYT trong khám, chữa bệnh và CSSK phù hợp với điều kiện sức khỏe và khả năng đi lại của NCT, đa số NCT cho rằng nên để cho họ được tiếp cận dịch vụ y tế tại nhà
Đa số NCT cho rằng được KCB tại nhà là điều thuận lợi cho họ [17, tr 196]
- Học vấn
Trong nghiên cứu “Khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của
người cao tuổi hộ cận nghèo vùng ven đô Thành phố Hồ Chí Minh, cũng nhận
xét mẫu nghiên cứu NCT của mình là hầu hết bị bệnh mãn tính và cảm thấy chưa hài lòng với sức khỏe của mình Yếu tố ảnh hưởng tới việc CSSK của
Trang 32NCT thì trình độ học vấn; việc ít tham gia các hoạt động xã hội bên ngoài làm hạn chế khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSK của NCT [52]
Theo Nguyễn Văn Dư thì BHYT bị ảnh hưởng bởi những yếu tố như: Nhân khẩu học, tài chính, giá bảo hiểm, thu nhập, chất lượng dịch vụ, thông tin bất cân xứng và từ chính sách [15, tr 57-58]
1.5 Kinh nghiệm bảo hiểm y tế của một số quốc gia châu Á
Nhật Bản là một đất nước luôn được đề cao về sự quan tâm của chính
phủ tới an sinh của người dân Để được như vậy, người dân Nhật Bản,phải đóng góp vào hệ thống bảo hiểm bắt buộc rất lớn như: Bảo hiểm y tế quốc dân và Bảo hiểm y tế phúc lợi (Chế độ bảo hiểm y tế phổ cập và chế độ bảo hiểm chăm sóc lâu dài) Nhà nước Nhật Bản quy định người dân phải tham gia một trong hai loại hình bảo hiểm này Nhật Bản là quốc gia có hệ thống pháp luật về BHYT từ rất sớm và có bề dày phát triển Luật BHYT bắt buộc của Nhật Bản ban hành năm 1922, là quốc gia châu á đầu tiên ban hành luật BHYT bắt buộc Tiếp theo đó năm 1938 ban hành Luật BHYT quốc gia, năm
1939 ban hành Luật BHYT cho người lao động, Luật BHYT cho ngư dân và đến năm 1961, Nhật Bản thực hiện BHYT cho toàn dân Đối tượng tham gia BHYT theo quy định của pháp luật Nhật Bản rất rộng, bao gồm những người làm công ăn lương, lao động tự do, nông dân và người không có nghề nghiệp Phí bảo hiểm,được tính dựa vào mức lương và việc chi trả chế độ phải căn cứ vào từng loại hình bảo hiểm Mức chi trả chăm sóc sức khỏe bình quân bằng khoảng 22% lương trung bình tháng, cộng thêm 1% chi phí nếu trên mức quy định đối với mỗi người bệnh Chính phủ Nhật Bản cũng quy định mức đóng bảo hiểm thấp hơn đối với những gia đình có thu nhập thấp và cao hơn đối với những gia đình có thu nhập cao Hiện nay, do những thay đổi về cơ cấu dân số, đặc biệt số lượng người cao tuổi,ngày càng tăng khiến chi phí hằng năm dành cho bảo hiểm chăm sóc sức khỏe của Nhật Bản tăng mạnh, ảnh
Trang 33hưởng đáng kể đến sự bền vững của hệ thống an sinh xã hội của nhà nước nói chung,và sự an toàn của quỹ bảo hiểm y tế Nhật Bản nói riêng Ngoài ra, NCT Nhật Bản còn có Bảo hiểm hưu trí quốc dân và Bảo hiểm hưu trí phúc lợi, mục đích của Nhật Bản rõ ràng là sự chia sẻ để trợ cấp cho người già [22], [2], [38].
Hàn Quốc: Luật BHYT bắt buộc toàn dân tham gia được ban hành vào
năm 1977,.mức đóng BHYT tính theo thu nhập hoặc tài sản cố định Thông thường người lao động đóng 2- 8% thu nhập;.công chức đóng 4,2% thu nhập, Chính phủ cùng nộp 4,2%; còn đối với lao động tự do, mức đóng được tính theo mức xếp loại thu nhập hoặc tài sản cố định Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 30% mức phí nhằm mục đích đảm bảo chi phí quản lý
Luật BHYT Hàn Quốc,rất coi trọng việc kiểm duyệt chi phí khám chữa bệnh, quyết định tính hợp lý của các dịch vụ y tế nhằm ngăn chặn những thanh toán bất hợp lý,và kiểm soát những chỉ định không cần thiết hoặc vượt quá mức quy định, xác định mức thanh toán hợp lý với cơ sở khám chữa bệnh Luật BHYT Hàn Quốc,giao quyền kiểm duyệt chi phí khám chữa bệnh cho cơ quan giám định BHYT Cơ quan này thực hiện đánh giá các dịch vụ đã cung cấp cho bệnh nhân thông qua việc so sánh dịch vụ y tế do cơ sở khám chữa bệnh đã thực hiện với các chuẩn mực, quy định hoặc hướng dẫn để xác định xem nhà cung cấp dịch vụ đã thực hiện được ở mức tối ưu và với phương pháp hiệu quả chi phí tốt nhất chưa Cơ sở để kiểm tra, bao gồm các chuẩn khám chữa bệnh đã được quy định trong luật, các chuẩn để tính giá dịch vụ y tế, giá thuốc theo thông báo của Bộ Y tế và Phúc lợi
Thái Lan bắt đầu triển khai BHYT toàn dân từ năm 1996, đến năm
2001,chương trình BHYT toàn dân được thực hiện thành công Hệ thống BHYT Thái Lan được coi là một trong những hệ thống BHYT phức tạp trong khu vực Để quản lý BHYT có sự tham gia của bốn Bộ: Bộ Tài chính thực
Trang 34hiện BHYT cho công chức, viên chức và công nhân làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước Bộ Lao động và Phúc lợi Xã hội thực hiện BHYT thông qua
cơ quan BHXH cho công nhân làm việc trong các đơn vị ngoài quốc doanh
Bộ Y,tế thực hiện BHYT cho người nghèo và BHYT tự nguyện Bộ Thương mại thực hiện bảo hiểm tai nạn giao thông Việc quản lý phân tán quỹ BHYT gây ra khó khăn cho việc điều tiết quỹ khi cần thiết, đôi khi còn gây ra sự mất công bằng giữa những người tham gia BHYT BHYT cho công chức bao gồm công chức, người nghỉ hưu và thân nhân của họ gồm: bố, mẹ, vợ, chồng, con Mục đích BHYT là bù đắp một phần quyền lợi cho công chức vì khu vực này được xem là thiệt thòi nhất ở Thái Lan Quyền lợi BHYT bao gồm: chăm sóc sức khoẻ ban đầu, khám chữa bệnh ngoại trú và điều trị nội trú Phương thức thanh toán theo phí dịch vụ BHYT,cho người lao động trong doanh nghiệp bao gồm người làm công ăn lương trong tất cả các doanh nghiệp có thuê mướn từ 1 lao động trở lên Mức đóng bằng 4,5% lương, trong đó Nhà nước đóng 1/3, chủ sử dụng đóng 1/3, người lao động đóng 1/3 Phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh giữa cơ quan BHXH và bệnh viện là khoán định suất BHYT,toàn dân bao gồm toàn bộ dân số còn lại, chương trình này được thực hiện theo nguyên tắc mỗi người được cấp một thẻ BHYT Quyền lợi BHYT được hưởng là những dịch vụ khám chữa bệnh cơ bản và tối thiểu, các chi phí đặc biệt người bệnh tự trả Cơ quan BHYT ký hợp đồng khám chữa bệnh với các bệnh viện cả công lẫn tư với phương thức thanh toán là khoán định suất đối với khu vực ngoại trú bằng 55% quỹ và theo nhóm chẩn đoán đối với khu vực nội trú bằng 45% quỹ
Singapore, tài chính cho y tế triệt để áp dụng nguyên tắc phát huy trách
nhiệm cá nhân, Nhà nước đảm bảo các dịch vụ y tế thiết yếu, cá nhân đóng góp chi phí dịch vụ y tế cao Singapore áp dụng chương trình tiết kiệm y tế bắt buộc (Medisave) từ năm 1984, nhằm giúp cá nhân tiết kiệm tiền cho chi
Trang 35phí y tế Theo Medisave, mỗi người lao động,phải nộp vào tài khoản y tế cá nhân 6 – 8% lương và được sử dụng nguồn tiền này cho bản thân và người thân khi khám chữa bệnh Mỗi người được tự do lựa chọn người cung ứng dịch vụ và tự trả chi phí khám chữa bệnh cho bệnh viện từ tài khoản y tế cá nhân của mình Tuy nhiên, tài khoản y tế cá nhân không thể đủ trang trải chi phí y tế lớn do không có sự san sẻ rủi ro theo nguyên lý bảo hiểm Do đó vào năm 1990, Chính phủ Singapore,triển khai chương trình BHYT mang tên Medishield Đây là chương trình BHYT bán tự nguyện Tiền đóng BHYT lấy
từ tài khoản y tế cá nhân được trích chuyển tự động bởi Chính phủ, trừ trường hợp cá nhân tự làm đơn đề nghị không tham gia Người tham gia bảo hiểm nộp 20% cùng chi trả và phải nộp thêm một khoản tiền đương nhiên mỗi khi
đi khám bệnh Để tránh lạm dụng quỹ, pháp luật BHYT Singapore quy định khoản tiền phải nộp này khá cao Mức đóng của khoản tiền này được điều chỉnh để mỗi năm có không quá 10% tổng số lượt điều trị nội trú xin thanh toán từ quỹ này và khống chế thêm bởi trần thanh toán chi phí nội trú là không quá 120 đô la Singapore/ngày điều trị Như vậy, chương trình BHYT bán tự nguyện Medishield là sự bổ sung không thể thiếu cho chương trình tiết kiệm y tế Medisave
[38]
Trang 36Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 này, tôi đã nêu ra cơ sở lý luận cho đề tài, cách tiếp cận đề tài, các lý thuyết nghiên cứu về người cao tuổi, chính sách công, cũng như những khái niệm liên quan tới vấn đề bảo hiểm y tế, nhằm làm rõ hơn đề
tài nghiên cứu đó là “Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao
tuổi – Qua nghiên cứu trường hợp người cao tuổi phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội” Ngoài ra, tôi nêu lên những yếu tố ảnh
hưởng đến việc tham gia và sử dụng thẻ BHYT của NCT, đặc điểm về hoạt động chăm sóc người cao tuổi, để những vấn đề này sẽ được chứng minh qua quá trình khảo sát thực trạng về người cao tuổi tại địa bàn phường Phú Diễn – quận Bắc Từ Liêm – thành phố Hà Nội
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI PHƯỜNG PHÚ DIỄN,
QUẬN BẮC TỪ LIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Đặc điểm của người cao tuổi ở phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Bắc Từ Liêm là một quận thuộc Thành phố Hà Nội, nằm dọc phía bờ nam của sông Hồng Quận Bắc Từ Liêm được thành lập theo Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ
Các đơn vị hành chính: Quận Bắc Từ Liêm hiện có 13 phường: Cổ Nhuế
1, Cổ Nhuế 2, Đông Ngạc, Đức Thắng, Liên Mạc, Minh Khai, Phú Diễn, Phúc Diễn, Tây Tựu, Thượng Cát, Thụy Phương, Xuân Đỉnh, Xuân Tảo
Phường Phú Diễn được thành lập theo Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 27/12/2013 của Chính Phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm để thành lập 02 Quận và 23 Phường thuộc Thành phố Hà Nội Phường Phú Diễn là đơn vị hành chính thuộc quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 10 km Phường có diện tích 284,59 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp còn khoảng 96,7 ha Thực hiện Đề án số
06 của Thành ủy Hà Nội về việc chia tách, sáp nhập tổ dân phố, phường Phú Diễn được chia làm 18 tổ dân phố với 6172 hộ và 28516 nhân khẩu; có 32 cơ quan, đơn vị, trường học đóng trên địa bàn
Theo “Báo cáo tổng hợp người cao tuổi năm 2018” vào tháng 8 năm
2018 của phường Phú Diễn thì tổng dân số của phường là 29.560 người, số hộ
có người cao tuổi là 1.552 hộ
Phú Diễn là vùng đất có truyền thống văn hóa - lịch sử - cách mạng lâu đời, trên địa bàn phường có 01 ngôi Chùa được mang tên là chùa Bụt Mọc
Trang 38được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 2003; có 01 mái Đình được mang tên Đình Phú Diễn được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1994 và nhà thờ Danh y Nguyễn Đạo An đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1994
Địa bàn phường quản lý rộng, trình độ dân trí không đồng đều, cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư đồng bộ, tại tệ nạn xã hội còn tiềm ẩn những dấu hiệu phức tạp Song, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Quận ủy, HĐND, UBND Quận, với ý chí và quyết tâm cao Đảng bộ, Chính quyền phường tập trung thực hiện những nhiệm vụ mới, trọng tâm là phát triển kinh tế- xã hội Từ những nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân trên địa bàn Phường, sau gần 2 năm đi vào hoạt động phường Phú Diễn đã thu được nhiều kết quả và thành tựu đáng tự hào
Tốc độ phát triển kinh tế của phường luôn duy trì và phát triển, kinh tế phát triển đúng hướng và có mức tăng trường khá; năm 2014 thu ngân sách trên địa bàn được 14.606.329.201đồng, đạt tỷ lệ 115,56% vượt 15,56%; năm
2015 thu ngân sách được 14.775.239.391 đồng đạt tỷ lệ 108% vượt 8%
Văn hóa- xã hội được quan tâm, chú trọng và phát triển, mặt bằng dân
trí nâng cao, phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở
cơ sở, sự nghiệp giáo dục-đào tạo, y tế được củng cố và phát triển, sức khỏe của nhân dân được quan tâm chăm sóc; văn nghệ, thể dục thể thao được đầu
tư, phát triển, tỷ lệ người luyện tập thể thao thường xuyên đạt 42% 18/18 tổ dân phố được công nhận là tổ dân phố văn hóa Công tác giảm nghèo được triển khai đồng bộ, hiệu quả, phường không còn hộ nghèo là đối tượng chính sách [8]
Đặc điểm người cao tuổi phường Phú Diễn
Theo “Báo cáo Tổng kết công tác hội năm 2017 và triển khai phương
hướng, nhiệm vụ năm 2018” của Hội NCT phường Phú Diễn thì, năm 2017
Trang 39Hội đã tập hợp kết nạp được 141 hội viên mới, nâng tổng số hội viên lên
2030 người, chiếm tỷ lệ 90% NCT trong phường Trong đó NCT đủ 80 tuổi trở lên là 90 Người Các chi hội đã xác định phát triển hội viên là một trong những nhiệm vụ chủ yếu để xây dựng tổ chức Hội; Tiêu biểu nhất là chi hội 2 phát triển được 14 hội viên, chi hội 10 phát triển 13 hội viên, chi hội 7 phát triển 11 hội viên; đạt từ 180 đến 200% kế hoạch
Chi hội Số hội
viên kết nạp năm
2017
Đạt % so với chỉ tiêu
Chi hội Số hội
viên kết nạp năm
2017
Đạt % so với chỉ tiêu
“Báo cáo tổng hợp người cao tuổi năm 2018” vào tháng 8 năm 2018 của phường Phú Diễn thì:
Đơn
vị tính Nam Nữ Tổng Tổng số NCT (từ đủ 60 tuổi trở lên) Người 1,205 1,298 2,503 Trong đó: + NCT từ đủ 60 đến 69 tuổi Người 790 844 1,634
+ NCT từ đủ 80 tuổi trở lên Người 125 143 268
Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Hội NCT cấp trên: lấy hội viên làm trung tâm, lấy chi Hội, tổ Hội, các loại hình câu lạc bộ là nơi tổ chức các hoạt động của NCT Hội đã xây dựng nền nếp hoạt động, chỉ đạo các chi hội
Trang 40xây dựng phong trào phát triển toàn diện, triển khai tốt cả 3 mặt hoạt động; phát huy tốt vai trò của 48 tổ hội trong việc tổ chức vận động hội viên phát huy vai trò tuổi cao gương sáng, gương mẫu trong công tác Hội và trong việc thực hiện mọi nhiệm vụ trên địa bàn dân cư
Hội đã tổ chức phát động thi đua với các chỉ tiêu cụ thể về tổ chức xây dựng Hội, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi, 100% chi hội ký giao ước thi đua với Hội và Hội ký giao ước thi đua với 13 Hội Người cao tuổi trong Quận Luôn coi trọng công tác tuyên truyền Luật Người cao tuổi, các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người cao tuổi trong Hội cũng như nhân dân trong Phường Tham gia Tuyên truyền và thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” và phong trào thi đua yêu nước “Tuổi cao gương sang”,
Chăm sóc tinh thần đối với NCT:
- Tổng số Câu lạc bộ các loại của NCT (được cấp có thẩm quyền cho phép thành lập) là 10 CLB;
- Số NCT tham gia các CLB là 305 người;
- Số NCT được chúc thọ, mừng thọ theo quy định (vào Tết Nguyên đán năm 2018) là 270 cụ (Trong đó: NCT trên 100 tuổi là 2 cụ; NCT tròn 95 tuổi
là 3 cụ; NCT tròn 90 tuổi là 9 cụ; NCT tròn 85 tuổi là 13 cụ; NCT tròn 80 tuổi