Để đảm bảo mọi hoạt động của Nhà nước đều nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, Nhà nước đã thiết lập hệ thống kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, bao gồm: Kiểm tra của Đ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Sau quá trình học tập và rèn luyện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Khoa luật, cùng với việc hoàn thành Luận văn tôi đã nhận được sự nhiệt tình giúp đỡ của các thầy cô, các cơ quan, tổ chức, cá nhân Với lòng biết ơn chân thành nhất cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám đốc, các thầy, cô giảng viên, cán bộ các phòng, ban chức năng của Học viện đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học và hoàn thành xuất sắc luận văn này
Đặc biệt cho tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến PGS.TS Bùi Nguyên Khánh đã dành nhiều thời gian tâm huyết và tận tình hướng dẫn nghiên cứu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, cán bộ, công chức Cơ quan Thanh tra tỉnh Quảng Nam và các đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi cam đoan luận văn “Thanh tra hành chính trong phòng, chống tham
nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” là công trình nghiên cứu của tôi Các nội dung
nghiên cứu và kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực, trên cùng địa bàn
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Hùng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA HÀNH CHÍNH TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 5
1.1 Quan niệm chung về thanh tra hành chính và phòng, chống tham nhũng 5 1.2 Vai trò của thanh tra hành chính trong phòng, chống tham nhũng 17 1.3 Yếu tố tác động đến thanh tra hành chính trong phòng, chống tham nhũng 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THANH TRA HÀNH CHÍNH TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở TỈNH QUẢNG NAM 37
2.1 Quá trình phát triển của pháp luật và thực trạng thanh tra hành chính trong phòng, chống tham nhũng qua các giai đoạn 37 2.2 Thực tiễn thanh tra hành chính trong phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Quảng Nam hiện nay (từ 2013 đến nay) 43 2.3 Đánh giá chung về thanh tra hành chính trong phòng, chống tham nhũng
ở tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua (2013 đến nay) 57
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ THANH TRA HÀNH CHÍNH TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM 66
3.1 Quan điểm cơ bản nhằm tăng cường hiệu quả thanh tra hành chính trong phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn ở tỉnh Quảng Nam 66 3.2 Các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả thanh tra hành chính trong phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn ở tỉnh Quảng Nam 72
KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tình hình hoạt động thanh tra hành chính của ngành Thanh tra
tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2013-2017
51
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, công tác phòng, chống tham nhũng (sau đây được viết tắt là PCTN) được Đảng, Nhà nước và toàn dân đặc biệt quan tâm Tham nhũng được xem là một trong những “nguy cơ” ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ Hệ lụy của tham nhũng vô cùng lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kỷ cương, phép nước cũng như sự phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia Tham nhũng ở Việt Nam hiện nay hiện hữu trong nhiều ngành, lĩnh vực với tính chất ngày càng nghiêm trọng, diễn biến phức tạp với những thủ đoạn hết sức tinh vi Do đó, PCTN là vấn đề cấp thiết, cần được lưu tâm trong giai đoạn hiện nay
Một trong số những thiết chế chính trong PCTN nhũng là hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước mà hoạt động thanh tra hành chính do các cơ quan thanh tra nhà nước thực hiện Trong kiểm soát hoạt động hành chính, hoạt động thanh tra hành chính thực chất là kênh kiểm soát từ chính trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước Chủ thể có thẩm quyền thanh tra là cơ quan hành chính nhà nước Đối tượng thanh tra là cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống cơ quan Nhà nước Nội dung thanh tra là việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao
Thông qua hoạt động thanh tra hành chính, các cơ quan thanh tra đã có sự
đóng góp thiết thực vào công tác PCTN bởi vì chủ thể của tham nhũng “là hành vi
của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” mà
trong số những “người có chức vụ quyền hạn” đó có đối tượng là cán bộ, công
chức, viên chức Đối tượng này trùng khớp với đối tượng của thanh tra hành chính Trong thực tế, tham nhũng chủ yếu xảy ra ở lĩnh vực hành chính, các cơ quan thanh tra đã phát hiện nhiều vụ việc có dấu hiệu tham nhũng qua thực hiện thanh tra hành chính, góp phần phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng
Theo chiến lược phát triển ngành thanh tra đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 xác định phương thức đổi mới phương thức hoạt động của ngành thanh tra theo hướng: Cơ quan theo cấp hành chính chuyển mạnh sang chức năng giám sát, đánh giá hành chính và tăng cường thanh tra việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ,
Trang 7công vụ, thực hiện pháp luật về PCTN, cơ quan theo ngành, lĩnh vực tập trung vào thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Ngoài ra, việc thực thi Hiến pháp năm 2013 đang đặt ra đối với với ngành thanh tra việc thực hiện hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, PCTN trong đó có thanh tra hành chính để góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, học viên đã chọn đề tài “Thanh tra hành
chính trong phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận
văn thạc sĩ, nhằm làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến thanh tra hành chính và vai trò của thanh tra hành chính trong PCTN Đánh giá đúng thực trạng hoạt động thanh tra hành chính trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng trên địa bàn 01 tỉnh (Quảng Nam), từ đó đề xuất giải pháp tăng cường vị trí, vai trò, hoạt động thanh tra hành chính góp phần PCTN ở Việt Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam và trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của ngành thanh tra trong PCTN của nhiều tổ chức như: Ngân hàng thế giới, Thanh tra Chính phủ Ngoài ra có rất nhiều học giả, nhà chính trị quan tâm đến vấn đề nhạy cảm này và đã có nhiều đề tài, luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ và bài viết trên các
phương tiện thông tin đại chúng
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về Thanh tra hành chính trong PCTN, thực tiễn từ 01 tỉnh (Quảng Nam), đặc biệt là nhóm vấn đề về kiểm soát hành chính và vai trò của thanh tra hành chính trong kiểm soát hành chính; các vấn
đề liên quan đến thanh tra và thanh tra hành chính; các vấn đề về thanh tra hành chính trong PCTN
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ, luận văn được tổng kết từ thực tiễn việc thực hiện thanh tra hành chính và kết quả của thanh tra hành chính đối với công tác PCTN trên địa bàn tỉnh Quảng Nam để phân tích, đánh giá từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường hoạt động thanh tra hành chính góp phần PCTN ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến thanh tra
Trang 8hành chính và vai trò của thanh tra hành chính trong PCTN Đánh giá đúng thực trạng hoạt động thanh tra hành chính trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng trên địa bàn 01 tỉnh (Quảng Nam), từ đó đề xuất giải pháp tăng cường hoạt động thanh tra hành chính góp phần PCTN ở Việt Nam hiện nay
Với mục đích trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, về lý luận, đưa ra được quan niệm về hoạt động thanh tra hành chính, đặc điểm, thẩm quyền, nội dung, phương thức, trình tự thủ tục và đặc biệt là làm rõ vai trò của thanh tra hành chính trong PCTN Những yếu tố tác động đến vai trò của thanh tra hành chính trong PCTN
Thứ hai, về thực tiễn, tập trung đánh giá tổng kết thực tiễn trên địa bàn một tỉnh (Quảng Nam) hiện nay, trọng tâm là hoạt động thanh tra hành chính góp phần trong công tác PCTN Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến ưu điểm, hạn chế của hoạt động thanh tra hành chính trong PCTN
Thứ ba, đưa ra được quan điểm về thanh tra hành chính và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của thanh tra hành chính nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu của công tác PCTN và kiểm soát quyền lực nhà nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật và
hoạt động của thanh tra hành chính do các cơ quan thanh tra nhà nước tiến hành trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung: Thanh tra hành chính được nghiên cứu ở đây trong giới hạn hoạt động của thanh tra nhà nước cấp tỉnh, thanh tra cấp huyện và thanh tra sở
Về không gian: Nghiên cứu từ thực tiễn của một tỉnh – tỉnh Quảng Nam
Về thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn từ 2013 đến nay (Từ khi Luật PCTN sửa đổi có hiệu lực thi hành)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận: Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của
Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tường Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác thanh tra và PCTN
Trang 95.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Sử dụng các phương pháp tổng hợp,
thống kê, phân tích, phương pháp đối chiếu, so sánh và tổng kết thực tiễn để xem xét, giải quyết các vấn đề cụ thể về lý luận và thực tiễn Những nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu được thu thập, tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, như các công trình nghiên cứu, giáo trình, sách, báo, tạp chí, báo cáo tổng kết, văn bản pháp luật Trong đó chú trọng sử dụng nguồn số liệu từ các cơ quan chuyên trách về công tác thanh tra; PCTN của tỉnh Quảng Nam và Thanh tra chính phủ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ hệ thống hóa được cơ
sở lý thuyết về thanh tra hành chính, về PCTN, về vai trò của thanh tra hành chính trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng Thông qua đó góp phần làm rõ cơ
sở lý luận và thực tiễn về thanh tra hành chính trong PCTN Luận văn cung cấp các luận cứ khoa học và đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả thanh tra hành chính trong PCTN hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần tổng kết
thực tiễn hoạt động thanh tra hành chính và những kết quả, cũng như tồn tại, hạn chế của thanh tra hành chính trong việc phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng tại địa bàn tỉnh Quảng Nam Đây cũng trở thành nguồn tài liệu góp phần tham khảo để xây dựng, hoàn thiện thể chế liên quan đến công tác thanh tra, công tác PCTN, là nguồn tài liệu tham khảo bổ sung cho việc học tập, chia sẻ kinh nghiệm, tập huấn, bồi dưỡng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thanh tra hành chính trong PCTN
Chương 2: Thực trạng thanh tra hành chính trong PCTN ở tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường thanh tra hành chính trong
PCTN từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA HÀNH CHÍNH
TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
1.1 Quan niệm chung về thanh tra hành chính và PCTN
1.1.1 Khái niệm về thanh tra, thanh tra hành chính
1.1.1.1 Khái niệm thanh tra
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông, thanh tra là: “kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” Theo khái niệm này, thanh tra bao hàm việc kiểm soát, xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định Vai trò của thanh tra không chỉ là hoạt động kiểm tra, giám sát “theo nghĩa rộng” việc tuân theo pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch của các cơ quan, tổ chức, đơn vị
và cá nhân mà thanh tra còn được xem như là phương tiện để chủ thể quản lý phát hiện sai sót, bất cập, không phù hợp với thực tế khách quan của cơ chế và phương pháp quản lý, thông qua thanh tra đề xuất các biện pháp hoàn thiện các hoạt động quản lý nhà nước
Để đảm bảo mọi hoạt động của Nhà nước đều nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, Nhà nước đã thiết lập hệ thống kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, bao gồm: Kiểm tra của Đảng; giám sát của Quốc hội; giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp; Thanh tra nhà nước; giám sát của nhân dân thông qua các đoàn thể, tổ chức quần chúng hoặc trực tiếp gửi đơn đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; giám sát của các cơ quan thông tin đại chúng…Mỗi loại hình kiểm tra, giám sát trên đây có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức thực hiện kiểm tra, giám sát khác nhau nhưng cùng có mục tiêu chung là kiểm tra, giám sát việc thực hiện, đường lối, chính sách, pháp luật của các chủ thể trong xã hội, đặc biệt các chủ thể có thẩm quyền trong bộ máy hành chính; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong hệ thống kiểm tra, giám sát nói trên, hệ thống thanh tra nhà nước có chức năng giúp cơ quan quản lý nhà nước tự mình kiểm tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, các quyết định của mình; kiểm tra việc thực hiện đường lối, chính sách,
Trang 11pháp luật nói chung của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thuộc thẩm quyền quản lý của mình
1.1.1.2 Khái niệm thanh tra hành chính
Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao
Như vậy, hoạt động thanh tra hành chính trong kiểm soát hoạt động hành chính thực chất là kênh kiểm soát từ chính trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước Chủ thể có thẩm quyền thanh tra hành chính là cơ quan hành chính nhà nước Đối tượng thanh tra hành chính là cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống hành chính
Trong cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền hành pháp hiện nay, thanh tra hành chính là một trong những kênh kiểm soát hoạt động hành chính, bên cạnh thanh tra hành chính, hoạt động hành chính còn bị kiểm soát bằng nhiều kênh khác như hoạt động giám sát của cơ quan tư pháp, hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của ngành tư pháp, hoạt động giải quyết các vụ án hành chính của ngành Tòa án Ngoài ra, tại Điều 74 Luật Cán bộ, công chức quy định phạm vi thanh tra công
vụ, theo đó thanh tra công vụ là hoạt động thanh tra thuộc thẩm quyền của ngành Nội vụ nhưng về bản chất là hoạt động thanh tra hành chính, trực tiếp kiểm soát việc thực thi quyền hành chính của đội ngũ cán bộ, công chức
1.1.2 Đặc điểm, thẩm quyền, trình tự, thủ tục của thanh tra hành chính
1.1.2.1 Đặc điểm của thanh tra hành hính
Thứ nhất, thanh tra hành chính gắn liền với quản lý nhà nước
Với tư cách là một chức năng, là một giai đoạn của chu trình quản lý nhà nước, thanh tra nói chung và thanh tra hành chính nói riêng gắn liền với quản lý nhà nước Công tác thanh tra nói chung và thanh tra hành chính nói riêng được thực hiện không chỉ đơn thuần xuất phát từ ý chí của cơ quan thanh tra mà thường phải gắn liền với mục đích phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, mọi kết quả của thanh tra hành chính xét đến cùng đều hướng đến giúp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trên tất cả các ngành, lĩnh vực và đời sống xã hội Điều này được thể hiện thông qua
Trang 12việc quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền thanh tra hành chính của cơ quan thanh tra; trong mục đích, yêu cầu cụ thể của từng cuộc thanh tra hành chính và chương trình, kế hoạch thanh tra hành chính định kỳ hằng năm, thanh tra đột xuất của các cơ quan thanh tra phải được sự đồng ý, giao việc của người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp Kết quả thanh tra hành chính luôn phải được báo cáo và được cơ quan quản lý nhà nước sử dụng để đánh giá quá trình quản lý, điều hành của mình trong thực tiễn, từ đó có các giải pháp để tăng cường công tác quản
lý nhà nước trên mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội
Thứ hai, thanh tra hành chính là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước
Với chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình, thanh tra hành chính khi tiến hành hoạt động của mình không chỉ đơn thuần mang tính chất chuyên môn, nghiệp
vụ mà thông qua thanh tra hành chính thể hiện ý chí, mục đích của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên đối với cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới, với đơn vị trực thuộc, với cá nhân thuộc quyền quản lý, trong kiểm soát quyền lực, trong đánh giá việc chấp hành pháp luật Từ kết luận thanh tra hành chính, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cấp trên sẽ ban hành quyết định xử lý kết luận thanh tra hành chính, điều này cho thấy kết quả thanh tra hành chính cũng chính là sự chỉ đạo, điều hành của
cơ quan quản lý nhà nước Đây chính là việc thực hiện quyền lực nhà nước thông qua hoạt động thanh tra hành chính, hay nói cách khác thanh tra hành chính mang trong nó tính quyền lực nhà nước
Thứ ba, thanh tra hành chính có tính độc lập tương đối
Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân các cơ quan, tổ chức tự thực hiện, hoạt động thanh tra hành chính thường được tiến hành bởi một cơ quan chuyên trách Tính độc lập tương đối của thanh tra hành chính với cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp thể hiện ở một số nội dung sau:
Các cơ quan thanh tra nhà nước chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ truởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác
tổ chức, nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Chính phủ; chịu sự hướng dẫn về công tác, nghiệp vụ của cơ quan thanh tra cấp trên Trong trường hợp những kiến nghị về thanh tra do Chánh Thanh tra báo cáo, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng
Trang 13cấp không nhất trí, Chánh thanh tra có quyền bảo lưu, báo cáo với người đứng đầu
cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên xem xét, quyết định Tổng Thanh tra Chính phủ, Chánh Thanh tra các cấp, các ngành có quyền ra quyết định thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật
1.1.2.2 Thẩm quyền của thanh tra hành chính
Theo quy định tại Luật Thanh tra năm 2010, thẩm quyền thanh tra hành chính thể hiện ở các nội dung sau:
- Trình thủ trưởng cơ quan quản lý hành chính phê duyệt hoặc quyết định thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật
- Quyết định tổ chức các cuộc thanh tra hành chính theo chương trình, kế hoạch được phê duyệt
- Yêu cầu đối tượng thanh tra, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan
- Niêm phong tài liệu, kiểm kê tài sản, trưng cầu giám định
- Tạm đình chỉ hành vi vi phạm, tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép, thu hồi tài sản
- Yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra, yêu cầu truy cứu trách nhiệm đối với những người có lỗi gây ra những vi phạm được phát hiện, chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm pháp luật có dấu hiệu của tội phạm sang cơ quan điều tra để xử lý
- Trong một số trường hợp trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước
1.1.2.3 Trình tự, thủ tục thanh tra hành chính
Trong hoạt động thanh tra hành chính, cơ quan quản lý (hoặc cơ quan thanh tra) có thể thanh tra toàn diện hoạt động của đối tượng thanh tra hoặc chỉ thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ trên một mặt hoạt động nhất định Trình tự, thủ tục thanh tra hành chính như sau:
- Quyết định thanh tra hành chính
Quyết định thanh tra là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành thanh tra và cho thấy một cuộc thanh tra sẽ được thực hiện trong đó xác định những
Trang 14vấn đề hết sức quan trọng như phạm vi, đối tượng, nội dung, nhiệm vụ thanh tra và nhiều nội dung khác của cuộc thanh tra Vì vậy, khi ban hành quyết định thanh tra, người có thẩm quyền phải căn cứ vào kế hoạch thanh tra đã được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt Nếu là thanh tra đột xuất thì phải căn cứ vào yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, yêu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc dấu hiệu vi phạm pháp luật đã phát hiện được để ban hành quyết định thanh tra Theo qui định của Luật Thanh tra thì hoạt động thanh tra chỉ được thực hiện khi có quyết định thanh tra và những người sau đây có thẩm quyền ban hành quyết định thanh tra: Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn Thanh tra để thực hiện quyết định thanh tra; khi xét thấy cần thiết thì Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn Thanh tra
Như vậy, việc ra quyết định thanh tra chủ yếu do Thủ trưởng cơ quan thanh tra ban hành Quy định này đã đề cao và tăng cường tính tích cực, chủ động theo chức năng của các cơ quan thanh tra nhà nước Trường hợp vụ việc phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp hoặc ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị - xã hội ở địa phương, bộ ngành hoặc vì lý do cần thiết khác thì Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định thanh tra Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thể tự mình
ra quyết định thanh tra hoặc trên cơ sở đề nghị của cơ quan thanh tra
* Đối với việc ra quyết định thanh tra hành chính theo kế hoạch:
- Căn cứ kế hoạch thanh tra, Tổng Thanh tra Chính phủ, Chánh thanh tra các cấp, các ngành ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn Thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra
- Đối với vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, đơn vị; căn cứ kế hoạch thanh tra, Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn Thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra
- Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành; căn cứ kế hoạch thanh tra, Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện tra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn Thanh tra liên ngành để thực hiện nhiệm vụ thanh tra
Trang 15* Đối với việc ra quyết định thanh tra hành chính đột xuất:
- Tổng Thanh tra Chính phủ, Chánh Thanh tra các cấp, các ngành ra quyết định thanh tra đột xuất, thành lập Đoàn Thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra
và gửi quyết định thanh tra đột xuất đến Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp để báo cáo
- Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành thì Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định thanh tra đột xuất và thành lập Đoàn Thanh tra liên ngành để thực hiện nhiệm vụ thanh tra
Hoạt động thanh tra hành chính chỉ được tiến hành khi có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền và việc tiến hành thanh tra phải thành lập Đoàn thanh tra
- Gửi, công bố quyết định thanh tra hành chính
Sau khi ra quyết định, cơ quan tiến hành thanh tra phải gửi quyết định thanh tra cho cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra Việc gửi quyết định thanh tra phải được tiến hành trong khoảng thời gian 5 ngày, kể từ ngày ký quyết định Đối với các cuộc thanh tra đột xuất thì không áp dụng qui định nêu trên Vì thanh tra đột xuất là những cuộc thanh tra mà cơ quan tiến hành không thể dự tính trước, thường xuất phát từ yêu cầu khách quan của hoạt động quản lý nhà nước, yêu cầu của việc xử ý kịp thời đối với hành vi vi phạm của đối tượng hoặc yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, PCTN
Quyết định thanh tra phải được công bố chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định thanh tra Việc công bố quyết định thanh tra phải được lập thành văn bản Như vậy việc công bố quyết định thanh tra được hiểu dưới hai khía cạnh:
Thứ nhất, Đoàn Thanh tra công bố quyết định tại nơi tiến hành thanh tra sau 15
ngày kể từ ngày ký quyết định thanh tra Đây là qui định rất quan trọng vì nó là mốc thời gian để tính thời hạn tiến hành thanh tra trực tiếp tại cơ sở
Thứ hai, việc công bố quyết định phải được lập thành văn bản, trong đó phải
có chữ ký xác nhận của Đoàn Thanh tra và đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, đồng thời là tài liệu của hồ sơ cuộc thanh tra
Trang 16- Thời hạn thanh tra hành chính
Theo qui định của Luật Thanh tra thì thời hạn cuộc thanh tra được tính từ ngày công bố quyết định thanh tra cho đến khi kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra:
+ Cuộc thanh tra do Thanh tra Chính phủ tiến hành không quá 60 ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 90 ngày Đối với cuộc thanh tra đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương thì thời gian có thể kéo dài hơn nhưng không quá 150 ngày;
+ Cuộc thanh tra do Thanh tra tỉnh, Thanh tra bộ tiến hành không quá 45 ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài hơn nhưng không quá 70 ngày;
+ Cuộc thanh tra do Thanh tra huyện, Thanh tra sở tiến hành không quá 30 ngày; ở miền núi, nơi nào đi lại khó khăn thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày Việc kéo dài thời hạn thanh tra do người ra quyết định thanh tra quyết định
- Nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành thanh tra hành chính
+ Trưởng đoàn thanh tra hành chính có những nhiệm vụ, quyền hạn: tổ chức, chỉ đạo các thành viên trong Đoàn Thanh tra thực hiện đúng nội dung, đối tượng, thời hạn đã ghi trong quyết định thanh tra; kiến nghị với người ra quyết định thanh tra áp dụng các biện pháp thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra theo quy định của Luật Thanh tra để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ được giao; yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình
về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra; khi thấy cần thiết có thể kiểm kê tài sản liên quan đến nội dung thanh tra của đối tượng thanh tra; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra cung cấp, thông tin tài liệu đó; yêu cầu người có thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép được cấp hoặc sử dụng trái pháp luật khi xét thấy cần ngăn chặn việc vi phạm pháp luật hoặc để xác minh tình tiết làm chứng cứ cho việc kết luận, xử lý; quyết định niêm phong tài liệu của đối tượng thanh tra khi có căn cứ cho rằng có vi phạm pháp luật; tạm đình chỉ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền đình chỉ việc làm khi xét thấy việc làm đó gây thiệt nghiêm trọng đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
Trang 17của cơ quan, tổ chức và cá nhân; kiến nghị người có thẩm quyền tạm đình chỉ việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác, cho nghỉ hưu đối với người đang cộng tác với cơ quan thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra nếu xét thấy việc thi hành quyết định đó gây trở ngại cho việc thanh tra
+ Thành viên Đoàn Thanh tra hành chính có nhiệm vụ, quyền hạn: thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng đoàn Thanh tra; yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về những vấn
đề liên quan đến nội dung thanh tra; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu đó; kiến nghị với Trưởng đoàn Thanh tra áp dụng các biện pháp thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn Thanh tra theo qui định của Luật Thanh tra để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ được giao; kiến nghị xử lý các vấn đề khác liên quan tới nội dung thanh tra; báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao với Trưởng đoàn thanh tra và chịu trách nhiệm trước Trưởng đoàn thanh tra và trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, khách quan của nội dung đã báo cáo
+ Người ra quyết định thanh tra hành chính có nhiệm vụ, quyền hạn: chỉ đạo, kiểm tra, giám sát Đoàn Thanh tra thực hiện đúng nội dung quyết định thanh tra; yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu đó; trưng cầu giám định về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra; yêu cầu người có thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép được cấp hoặc sử dụng trái pháp luật khi xét thấy cần ngăn chặn ngay việc vi phạm pháp luật hoặc để xác minh tình tiết làm chứng cứ cho việc kết luận hoặc xác mịnh tình tiết làm chứng cứ cho việc kết luận, xử lý; tạm đình chỉ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền đình chỉ việc làm khi xét thấy việc làm đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân; yêu cầu tổ chức tín dụng nơi đối tượng thanh tra có tài khoản phong toả tài khoản đó để phục vụ việc thanh tra khi có căn cứ cho rằng đối tượng thanh tra tẩu tán tài sản, không thực hiện quyết định thu hồi tiền, tài sản của Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước hoặc thủ trưởng
Trang 18cơ quan quản lý nhà nước; kiến nghị người có thẩm quyền tạm đình chỉ việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác, cho nghỉ hưu đối với người đang cộng tác với cơ quan thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra nếu xét thấy việc thi hành quyết định đó gây trở ngại cho việc thanh tra; kiến nghị người có thẩm quyền tạm đình chỉ công tác và xử lý đối với cán bộ, công chức cố ý cản trở việc thanh tra hoặc không thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định thanh tra; quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý kết quả thanh tra; kiểm tra đôn đốc thực hiện quyết định xử lý về thanh tra; quyết định thu hồi tiền tiền, tài sản
bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép bị thất thoát do hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng thanh tra gây ra; giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra, các thành viên khác của Đoàn Thanh tra; đình chỉ, thay đổi Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn Thanh tra khi không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật hoặc là người thân thích với đối tượng thanh tra hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể thực hiện nhiệm vụ thanh tra; kết luận về nội dung thanh tra; chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra khi phát hiện có dấu hiệu của tội phạm, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp biết
- Báo cáo kết quả, kết luận thanh tra hành chính
Báo cáo kết quả thanh tra, kết luận thanh tra là những công việc nội bộ giữa những người tiến hành thanh tra với cơ quan có thẩm quyền Sau khi kết thúc thanh tra trực tiếp tại nơi cơ sở, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm báo cáo kết quả về các nội dung đã tiến hành thanh tra với người ra quyết định thanh tra
Báo cáo kết quả thanh tra phải có các nội dung theo quy định của Luật Thanh tra Trưởng đoàn Thanh tra tổ chức họp Đoàn Thanh tra để thảo luận về dự thảo báo cáo kết quả thanh tra; trường hợp các thành viên Đoàn Thanh tra có ý kiến khác nhau thì Trưởng đoàn thanh tra xem xét, quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc thanh tra, Trưởng đoàn Thanh tra phải có văn bản báo cáo kết quả thanh tra Báo cáo kết quả thanh tra phải gửi tới người ra quyết định thanh tra Trường hợp người ra quyết định thanh tra
là Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước thì báo cáo kết quả thanh tra còn được gửi
Trang 19cho Thủ trưởng cơ quan thanh tra cùng cấp
Báo cáo kết quả thanh tra bao gồm các nội dung sau: kết luận cụ thể về từng nội dung thanh tra; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có); ý kiến khác nhau giữa thành viên Đoàn Thanh tra với Trưởng đoàn Thanh tra về nội dung báo cáo kết quả thanh tra (nếu có); biện pháp xử lý đã được áp dụng và kiến nghị các biện pháp
xử lý Trường hợp phát hiện có hành vi tham nhũng thì trong báo cáo kết quả thanh tra phải nêu rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra hành vi tham nhũng theo các mức độ sau đây: yếu kém về năng lực quản lý; thiếu trách nhiệm trong quản lý; bao che cho người có hành vi tham nhũng
Báo cáo kết quả thanh tra phải nêu rõ quy định pháp luật làm căn cứ để xác định tính chất, mức độ vi phạm, kiến nghị biện pháp xử lý
* Kết luận thanh tra
Kết luận thanh tra là văn bản quan trọng nhất của cuộc thanh tra, phản ánh toàn bộ kết quả cuộc thanh tra, là đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc chấp hành chính sách, pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân được thanh tra; về các ưu điểm, nhược điểm của cơ chế, chính sách pháp luật được thực hiện trên thực tế; phát hiện được các sai phạm trong hoạt động quản lý; xác định rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân; từ đó có các biện pháp sửa chữa, khắc phục sơ hở, yếu kém, xử lý nghiêm minh các hành vi sai phạm
Căn cứ báo cáo kết quả thanh tra, nội dung giải trình của đối tượng thanh tra (nếu có) và các tài liệu liên quan, người ra quyết định thanh tra chỉ đạo việc hoàn thiện và ký kết luận thanh tra Theo qui định của pháp luật hiện hành thì chậm nhất
là 15 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra của Trưởng đoàn Thanh tra, người ra quyết định thanh tra phải ra văn bản kết luận thanh tra
Kết luận thanh tra phải có các nội dung sau: đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của đối tượng thanh tra liên quan đến nội dung thanh tra; kết luận về các nội dung thanh tra; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có); các biện pháp xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị các biện pháp xử lý
Trang 20Để giúp người ra quyết định thanh tra có được những đánh giá, nhận xét chính xác, khách quan đối với các nội dung đã tiến hành thanh tra, có được những kiến nghị xác đáng với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, Luật Thanh tra qui định trong quá trình ra văn bản kết luận thanh tra, người ra quyết định thanh tra có quyền yêu cầu Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra báo cáo các vấn đề liên quan tới nội dung thanh tra; yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình để làm rõ thêm những vấn đề cần thiết phục vụ cho việc ra kết luận thanh tra
Sau khi kết luận thanh tra được ban hành, người ra quyết định thanh tra phải gửi kết luận thanh tra tới Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp và đối tượng thanh tra Nếu thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước là người ra quyết định thanh tra thì kết luận phải được gửi cho Thủ trưởng cơ quan thanh tra cùng cấp Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm tổ chức việc công bố kết luận thanh tra hoặc gửi kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra Trường hợp cần thiết
có thể ủy quyền cho Trưởng đoàn thanh tra công bố kết luận thanh tra Việc công bố kết luận thanh tra được lập thành biên bản
1.1.3 Quan niệm, đặc điểm của PCTN
1.1.3.1 Quan niệm về PCTN
Phòng, chống tham nhũng được hiểu là tổng thể các biện pháp của các cơ quan
có thẩm quyền phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh các chủ thể được trao quyền lực công lợi dụng quyền lực công đó để thể hiện các hành vi tư lợi
Các biện pháp PCTN là cách thức tác động mà cơ quan có thẩm quyền, các tổ chức chính trị - xã hội sử dụng nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh chống phát sinh tham nhũng, các hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm chiếm đoạt bất hợp pháp lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác cho mình hoặc người khác
Ở Việt Nam, từ điển Tiếng Việt định nghĩa tham nhũng là “lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của” Còn theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì bản chất của tham ô: Là lấy của công làm của tư, là gian lận tham lam, tham ô là trộm cướp Ở khía cạnh pháp lý, Luật PCTN năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012 định nghĩa: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền
Trang 21hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” Luật PCTN năm 2018, có hiệu lực
từ ngày 01/7/2019 tiếp tục kế thừa định nghĩa về tham nhũng: “Tham nhũng là hành
vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”
1.1.3.2 Đặc điểm của PCTN
Xuất phát từ đặc điểm của tham nhũng là: Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn; Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao; Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi Đặc điểm của PCTN bao gồm:
- Chủ thể tham nhũng gắn liền với người có chức vụ, quyền hạn nên công tác PCTN trước hết phải hướng đến là chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước, người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước
- Hoạt động PCTN được diễn ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, ở tất cả các lĩnh vực
từ kinh tế, văn hóa – xã hội và có tác động trực tiếp đến sự ổn định chính trị, nên còn gặp nhiều khó khăn Đây là đặc điểm mang tính quan trọng, phức tạp của hoạt động PCTN, do đó hoạt động PCTN phải được thực hiện thường xuyên, liên tục
- Thông qua hoạt động PCTN, bên cạnh việc xử lý những cá nhân, tập thể có hành vi vi phạm còn chỉ ra những khuyết điểm, sai sót trong quản lý nhà nước để từ
đó đưa ra các biện pháp khắc phục
- Hoạt động PCTN được thực hiện thông qua các cơ quan chuyên trách được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó thông qua việc trao chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền Những cơ quan này có trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng
Theo quy định của pháp luật hiện hành về PCTN, người có chức vụ, quyền hạn: là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm
vụ, công vụ đó, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong
Trang 22doanh nghiệp, tổ chức; Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ
và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó
Luật PCTN 2018 đã có bước đột phá mới khi quy định các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước, cụ thể có 03 hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thực hiện bao gồm: (1) Tham ô tài sản; (2) Nhận hối lộ; (3) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi
Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực ngày 01/01/2018 đã quy định tội danh tham nhũng với chủ thể ngoài khu vực công có 02 tội là: Tội tham ô tài sản và Tội nhận hối lộ
1.2 Vai trò của thanh tra hành chính trong PCTN
Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý, “vai trò” là: chức năng, tác dụng của cái gì hoặc của ai trong sự vận động, phát triển của nhóm, tập thể nói chung Trong hoạt động quản lý nhà nước, vai trò có mối liên hệ mật thiết với chức năng - nhiệm vụ Vai trò của cơ quan hay tổ chức được xác định bởi chức năng của
cơ quan hay tổ chức, được hình thành từ vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan,
tổ chức, tác dụng, hiệu quả hoạt động của cơ quan hay tổ chức đó đem lại Vai trò của Thanh tra hành chính được xác định bởi vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
do pháp luật quy định và tác dụng, hiệu quả hoạt động trong thực tiễn của thanh tra hành chính
1.2.1 Vai trò trong Phòng ngừa tham nhũng
Bên cạnh việc phát hiện và xử lý, thanh tra hành chính đóng vai trò như một biện pháp phòng ngừa hữu hiệu các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và hành vi tham nhũng nói riêng Vai trò của thanh tra hành chính trong phòng ngừa tham nhũng thể hiện qua các nội dung sau:
Thứ nhất, thông qua thanh tra hành chính về thực hiện pháp luật trong các lĩnh
vực tài chính, xây dựng, nông nghiệp, đất đai, ngân sách… tại các đơn vị, địa phương, sẽ tổng hợp, khái quát lại các dạng sai phạm có tính hệ thống, các sai phạm theo ngành, theo từng lĩnh vực, từ đó đề xuất, tham mưu cho các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp ban hành chính sách, pháp luật về phòng ngừa tham nhũng
Trang 23Nội dung tham mưu, đề xuất về pháp luật quy định nội dung có liên quan đến phòng ngừa tham nhũng bao gồm:
- Bổ sung những quy định còn thiếu chưa bắt kịp với xu thế vận động phát triển của các chủ thể trong xã hội cũng như tình hình phòng ngừa tội phạm tham nhũng;
- Sửa đổi những quy định pháp luật về phòng ngừa tham nhũng còn bất cập, chưa phù hợp với tổng thể chiến lược phòng ngừa tham nhũng của Đảng, Nhà nước;
- Đề xuất quy định pháp luật mới dựa trên thực tiễn quá trình thực hiện phòng ngừa tham nhũng của thanh tra hành chính nhằm hạn chế tối đa kẽ hở pháp lý mà đối tượng có mưu đồ thực hiện tham nhũng có thể lợi dụng
Đối với chính sách phòng ngừa tham nhũng, Thanh tra Chính phủ có thể trực tiếp tham mưu, đề xuất, kiến nghị đối với Chính phủ xây dựng và ban hành văn bản những chính sách góp phần tăng cường hiệu quả phòng ngừa tham nhũng Chẳng hạn như chính sách thúc đẩy cơ chế phối hợp giữa cơ quan nhà nước với cơ quan báo chí, doanh nghiệp, công dân; chính sách phòng, chống các hành vi gây thất thoát, lãng phí ngân sách công… Thanh tra cấp tỉnh, cấp huyện có thể tham mưu cấp ủy, HĐND, UBND cùng cấp ban hành nghị quyết, quyết định dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật để triển khai các chính sách phòng ngừa tham nhũng phù hợp với từng địa phương, đơn vị
Thứ hai, trực tiếp thanh tra việc thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của
cơ quan, tổ chức, đơn vị và minh bạch thu nhập, tài sản của các cá nhân
- Trong hoạt động tài chính, ngân sách nhà nước, nội dung công khai, minh bạch cần được xem xét bao gồm:
Đối với các đơn vị dự toán ngân sách: Công khai các căn cứ, nguyên tắc phân bổ; công khai số liệu dự toán và quyết toán; Đối với đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng kinh phí: Công khai các nguồn thu đóng góp của các tổ chức, cá nhân được huy động và hiệu quả sử dụng; công khai số liệu dự toán chi mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; công khai chi sửa chữa lớn tài sản cố định, chi hội nghị và các nội dung chi khác
Đối với tổ chức được Nhà nước hỗ trợ ngân sách: Công khai số liệu dự toán,
Trang 24quyết toán; công khai khoản đóng góp và sử dụng của tổ chức, cá nhân (nếu có); công khai cơ sở xác định mức hỗ trợ và số tiền Nhà nước hỗ trợ
Đối với quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước: Công khai quy chế hoạt động và
cơ chế tài chính của quỹ; công khai kế hoạch tài chính hằng năm, trong đó chi tiết các khoản thu, chi có quan hệ với ngân sách nhà nước theo quy định của cấp có thẩm quyền; công khai kết quả hoạt động của quỹ; công khai quyết toán năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Công khai việc phân bổ, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước cho các dự án, chương trình mục tiêu
- Trong mua sắm công, xây dựng cơ bản và quản lý dự án đầu tư xây dựng, nội dung công khai, minh bạch cần được xem xét:
Trong mua sắm công: Công khai kinh phí, kế hoạch đầu tư mua sắm, trang bị tài sản nhà nước; công khai kế hoạch đấu thầu, mời sơ tuyển và kết quả sơ tuyển, mời thầu; công khai danh mục nhà thầu tham gia đấu thầu hạn chế, công khai danh sách ngắn nhà thầu tham gia đấu thầu hạn chế, kết quả lựa chọn nhà thầu; công khai việc tiếp nhận viện trợ, được tặng và điều chuyển, thanh lý, bán, chuyển nhượng, trang bị tài sản nhà nước
Trong quản lý dự án đầu tư xây dựng: Việc lấy ý kiến của nhân dân địa phương nơi quy hoạch về dự án quy hoạch đầu tư xây dựng; việc hội đồng nhân dân xem xét, quyết định đối với dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách địa phương; công khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng sau khi được quyết định, phê duyệt để nhân dân giám sát
- Đối với kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị:
Theo quy định của Luật PCTN năm 2018, Thanh tra Chính phủ và Thanh tra cấp tỉnh là 02 trong 8 cơ quan kiểm soát tài sản thu nhập có nhiệm vụ và quyền hạn: Nhiệm vụ:
+ Quản lý, cập nhật bản kê khai tài sản, thu nhập (sau đây gọi là bản kê khai)
và các thông tin về kiểm soát tài sản, thu nhập;
+ Giữ bí mật thông tin thu thập được trong quá trình kiểm soát tài sản, thu nhập;
Trang 25+ Áp dụng hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ người cung cấp thông tin có liên quan đến việc kiểm soát tài sản, thu nhập Việc bảo vệ người cung cấp thông tin được thực hiện như bảo vệ người tố cáo quy định tại khoản 1 Điều 67 của Luật;
+ Cung cấp bản kê khai, thông tin, dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền quy định tại Điều 42 của Luật;
+ Trong quá trình kiểm soát tài sản, thu nhập nếu phát hiện hành vi vi phạm pháp luật thì Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập phải chuyển vụ việc cho cơ quan
có thẩm quyền giải quyết
Về quyền hạn:
+ Yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai cung cấp, bổ sung thông tin có liên quan, giải trình khi có biến động tăng về tài sản, thu nhập từ 300.000.000 đồng trở lên so với tài sản, thu nhập đã kê khai lần liền trước đó hoặc để phục vụ việc xác minh tài sản, thu nhập;
+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai để phục vụ việc xác minh tài sản, thu nhập;
+ Xác minh tài sản, thu nhập và kiến nghị xử lý vi phạm quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập;
+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đang quản lý tài sản, thu nhập áp dụng biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại, chuyển dịch tài sản, thu nhập hoặc hành vi khác cản trở hoạt động xác minh tài sản, thu nhập;
+ Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền định giá, thẩm định giá, giám định tài sản, thu nhập phục vụ việc xác minh
Thứ ba, trực tiếp thanh tra việc thực hiện các chế độ định mức, tiêu chuẩn:
Chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong các lĩnh vực quản lý luôn liên quan việc sử dụng tài sản, vốn và ngân sách Nhà nước Luật PCTN quy định cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: Xây dựng, ban hành
Trang 26và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; công khai các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn về quyền lợi đối với từng loại chức danh trong cơ quan mình; chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp và các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng ngân sách nhà nước căn cứ vào quy định nói trên hướng dẫn áp dụng hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn áp dụng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình
Thứ tư, trực tiếp thanh tra việc thực hiện quy định trách nhiệm người đứng
đầu:
Quy định trách nhiệm người đứng đầu là một yếu tố quan trọng trong quản lý nhà nước nói chung và phòng ngừa tham nhũng nói riêng, nhấn mạnh trách nhiệm người đứng đầu trong phòng ngừa tham nhũng tức là hướng đến sự làm việc công tâm, chính trực, chí công vô tư của người đứng đầu tổ chức trong thực thi công vụ Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng là chủ thể có khả năng tự mình tham nhũng và vì lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, móc nối với nhiều đối tượng khác để thực hiện hành vi tham nhũng Do vậy, vai trò của thanh tra hành chính trong thanh tra trách nhiệm người đứng đầu giữ vị trí quan trọng trong phòng ngừa tham nhũng Thông qua đó làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu nếu để xảy ra sai phạm, đặc biệt liên quan đến vấn đề tham nhũng để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý Quan trọng hơn, việc thanh tra chế độ trách nhiệm người đúng đầu còn có thể phát hiện sai phạm từ chính người đứng đầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó, kịp thời kiến nghị cấp trên trực tiếp xử lý Ở Việt Nam, nhiều đại án tham nhũng lớn bị truy
tố, xét xử trong thời gian qua đã cho thấy còn nhiều người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thiếu gương mẫu, buông lỏng quản lý dẫn đến việc cấp dưới lợi dung chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi tham nhũng Đặc biệt, có trường hợp chính người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng thực hiện tham nhũng
Thứ năm, trực tiếp thanh tra việc thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức
nghề nghiệp:
Quy tắc ứng xử vừa biểu hiện mối quan hệ giữa công chức với nhà nước, vừa
Trang 27thể hiện mối quan hệ giữa cán bộ, công chức với xã hội Cơ quan thanh tra nhà nước trong quá trình thực thi nhiệm vụ, thông qua hoạt động thanh tra hành chính có thể đánh giá được hiệu lực, hiệu quả việc quy định và thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp góp phần phòng ngừa tham nhũng của các cơ quan, tổ chức, đơn vị Sau đó tiến hành xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, chấn chỉnh kịp thời các sai phạm trong thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp Nội dung thanh tra việc thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp được quy định cụ thể tại Điều 21, Thông tư số 02/2012/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thẩm quyền, nội dung thanh tra trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN bao gồm:
- Thanh tra việc xây dựng, quán triệt quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp trong cơ quan, tổ chức đơn vị so với quy định
- Thanh tra việc chấp hành quy định về những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm
- Thanh tra việc kiểm tra, xử lý đối với người vi phạm quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp và những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm
1.2.2 Vai trò trong phát hiện tham nhũng
Thứ nhất, thông qua thanh tra hành chính về thực hiện pháp luật trong các lĩnh
vực tại các đơn vị, địa phương, bên cạnh vai trò phòng ngừa tham nhũng, thanh tra hành chính sẽ phát hiện các sai phạm trong quá trình quản lý, điều hành, thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Từ việc phát hiện các sai phạm trong thực hiện nhiệm vụ, quản lý, điều hành sẽ chỉ rõ các hành vi
có dấu hiệu tham nhũng
Việc xác định vai trò chủ động phát hiện hành vi tham nhũng trong thanh tra hành chính thể hiện qua việc:
- Chủ động trong khảo sát, xây dựng kế hoạch thanh tra hành chính hằng năm của các cơ quan thanh tra:
Kế hoạch thanh tra hành chính hằng năm phải chú trọng vào các lĩnh vực nhạnh cảm, dẽ phát sinh sai phạm, tham nhũng Hành vi tham nhũng trong các lĩnh vực này thường tinh vi, có khi có tính hệ thống và biểu hiện ra bên ngoài thường
Trang 28khác nhau, rất khó phát hiện Vì vậy, khi khảo sát, xây dựng kế hoạch thanh tra phải nghiên cứu rất kỹ, chú trọng đến các vấn đề bức xúc trong xã hội được báo chí nêu,
dư luận xã hội phản ánh, lên án cùng với nghiệp vụ, kinh nghiệp của người được giao thực hiện khảo sát
- Chủ động trong việc triển khai thanh tra hành chính phù hợp với thời điểm thanh tra, lựa chọn giai đoạn thanh tra:
Trên nguyên tắc mọi hành vi tham nhũng phải được phát hiện kịp thời, việc chủ động triển khai thanh tra hành chính vào thời điểm nào trong năm cũng có ý nghĩa trong phát hiện tham nhũng Đơn cử như, có một số nội dung qua khảo sát và nắm thông tin, cơ quan thanh tra đã nắm bắt được nội dung sai phạm, phương thức, hành vi thực hiện tại một đơn vị và nội dung này nằm trong chương trình, kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt Tuy nhiên, cần phải có sự lựa chọn triển khai thanh tra hành chính vào thời điểm có thể thuận lợi cho quá trình xác minh, đối chiếu để phát hiện hành vi sai phạm, thông thường các hành vi tham nhũng rất tinh vi, cần có thời gian xác minh, làm rõ Do thời hạn của thanh tra hành chính không dài, nếu triển khai thanh tra hành chính trong điều kiện mùa mưa, bão hoặc cả vào thời điểm không hợp lý trong năm thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thanh tra hành chính, làm giảm hiệu quả thanh tra hành chính cũng như không thể thực hiện được vai trò phát hiện các hành vi tham nhũng
Thứ hai, Quyết định việc thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật
và chịu trách nhiệm trước thủ trưởng cơ quan nhà nước về quyết định của mình: Luật thanh tra 2010 đã quy định về quyền của Chánh thanh tra các cấp, trong
đó có quyền quyết định việc thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật
và chịu trách nhiệm trước thủ trưởng cơ quan nhà nước về quyết định của mình với quy định này đã tăng cường tính chủ động cho người đứng đầu các cơ quan thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính, bảo đảm tính linh hoạt, nhanh nhạy của thanh tra hành chính trong vai trò phát hiện sai phạm, đồng thời cũng thể hiện được sự đấu tranh với tham nhũng trong điều kiện hiện nay
Thứ ba, kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định
xử lý sau thanh tra của Thủ trưởng cơ quan quản lý cấp dưới thuộc thẩm quyền quản
Trang 29lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp
Trong cơ chế quản lý nhà nước và quản lý hành chính hiện nay, với quy định đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền trong bộ máy hành chính Nhà nước các cấp, việc kiểm soát trong bộ máy hành chính giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, trong bộ máy chính quyền địa phương là yêu cầu hết sức cần thiết nhằm bảo đảm cho việc thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền trong bộ máy hành chính nhà nước Quy định này cho phép hoạt động thanh tra hành chính xem xét lại kết quả xử lý của thủ trưởng cơ quan quản lý cấp dưới thuộc thẩm quyền quản lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp nhằm kiểm soát quyền lực, đảm bảo các hoạt động của các cơ quan nhà nước đúng pháp luật, bảo đảm sự công bằng, dân chủ theo đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đấu tranh tranh với các biểu hiện tham nhũng Trong thực tế, qua kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Thủ trưởng cơ quan quản lý cấp dưới thuộc thẩm quyền quản lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp sẽ góp phần đấu tranh với các hành vi “lạm quyền”; “thiếu tinh thần trách nhiệm”; “Bao che hành vi tham nhũng; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc phát hiện, xử lý tham nhũng”
Thứ tư, Thanh tra cấp trên quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Thủ trưởng
cơ quan quản lý cấp dưới của Thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp đã kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật
Trong hoạt động thanh tra lại, bên cạnh việc phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật nói chung, mục đích là kịp thời ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, hạn chế thấp nhất hậu quả do các vi phạm trong quá trình thanh tra của cơ quan cấp dưới
đã thực hiện Đây chính là hoạt động kiểm soát quyền lực của cơ quan hành chính cấp trên đối với cơ quan hành chính cấp dưới, tuy nhiên nếu xét về thanh tra hành chính thì đó là hoạt động kiểm soát mang tính nội bộ của lĩnh vực thanh tra hành chính nhằm phòng ngừa vi phạm nói chung và PCTN nói riêng
Thứ năm, trực tiếp thanh tra khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng:
Luật PCTN năm 2018 đã quy định về thẩm quyền của Cơ quan thanh tra trong thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, cụ thể:
Trang 30Cơ quan thanh tra, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng theo thẩm quyền như sau: Thanh tra Chính phủ thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan ở trung ương thực hiện; người công tác tại Thanh tra Chính phủ thực hiện; Thanh tra Bộ thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện (trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Thanh tra Chính phủ); Thanh tra tỉnh thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền địa phương thực hiện (trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Thanh tra Chính phủ)
Thứ sáu, trực tiếp Thanh tra việc thực hiện pháp luật về PCTN đối với doanh
nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước
Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, Thanh tra tỉnh, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thanh tra việc thực hiện pháp luật về PCTN đối với công ty đại chúng, tổ chức tín dụng, đối với tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng
Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ có huy động các khoản đóng góp của Nhân dân để hoạt động từ thiện khi có dấu hiệu rõ ràng về việc vi phạm quy định tại Điều 80 của Luật PCTN
Cơ quan thanh tra khi tiến hành hoạt động thanh tra nếu phát hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước có trách nhiệm xử
lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật
Qua các vấn đề nêu trên cho thấy nhiệm vụ của Thanh tra hành chính trong phát hiện tham nhũng đã và đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân tín nhiệm giao phó và giữ vai trò rất quan trọng và có trong hầu hết trong các lĩnh quản lý hành chính Nhà nước Trong thời gian qua, thanh tra hành chính đã phát huy được vai trò trong phát hiện tham nhũng, đã tiến hành rất nhiều cuộc thanh tra hành chính, giúp
Trang 31phát hiện những bất cập, hạn chế nảy sinh trong cơ chế quản lý kinh tế - xã hội từ đó đưa ra nhiều kiến nghị, đề xuất hoàn thiện chính sách, pháp luật và cũng đã phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật xảy ra trên nhiều lĩnh vực, giúp thu hồi tiền, tài sản
về cho Nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hoạt động thanh tra hiện nay không chỉ hạn chế do còn phụ thuộc vào thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp mà còn gặp nhiều bất cập, vướng mắc trong hoạt động nghiệp vụ như: việc chồng chéo giữa hoạt động thanh tra với kiểm toán nhà nước, chồng chéo trong hoạt động giữa các cơ quan có chức năng thanh tra; hiệu lực pháp lý và giá trị thi hành của kết luận thanh tra; quyền hạn của các cơ quan thanh tra, người ra quyết định thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra trong tiến hành thanh tra; thẩm quyền xử lý đối với hành vi vi phạm được phát hiện qua hoạt động thanh tra
1.2.3 Vai trò trong xử lý tham nhũng
Xử lý tham nhũng hiện đang là vấn đề được quan tâm nhất trong xã hội hiện nay, hầu hết nhân dân cả nước đều yêu cầu có biện pháp trừng trị thích đáng đối với đối tượng tham nhũng Nếu việc xử lý tham nhũng quá nhẹ nhàng dẫn đến các đối tượng có hành vi tham nhũng coi thường pháp luật, quyết thực hiện tham nhũng với
tư duy “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”, cũng như thiếu tính răn đe, giáo dục trong
xã hội, gây mất lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước Hành vi tham nhũng thường tinh vi, khó phát hiện và thường diễn ra trong thời gian dài, ở nhiều lĩnh vực,
ở nhiều tầng nấc cán bộ, thậm chí ở cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước Do đó, bên cạnh việc phòng ngừa, phát hiện tham nhũng thì việc xử lý tham nhũng được xem là yếu tố then chốt trong cả quá trình chống tham nhũng Nếu chúng ta thực hiện tốt việc phòng ngừa, phát hiện tham nhũng mà lại không cương quyết trong xử
lý tham nhũng thì sẽ dẫn đến tác dụng ngược làm mất hiệu lực, hiệu quả trong phòng ngừa, phát hiện tham nhũng Việc xử lý nghiêm khắc, đúng người, đúng tội
về tham nhũng, thu hồi triệt để tài sản tham nhũng sẽ làm tăng hiệu quả của công tác phòng ngừa, phát hiện tham nhũng và đây cũng là mối quan hệ biện chứng giữa các vai trò phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng của thanh tra hành chính
Hiện nay, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong xử lý tham nhũng là
Trang 32“không có vùng cấm” và thực tế trong những năm vừa qua đã thể hiện rõ quan điểm
nêu trên của Đảng và Nhà nước Nhiều vụ đại án đã được điều tra, truy tố, xét xử với mức án cao nhất, đối tượng bị truy tố có thể là cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước, nội dung vụ án liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quan trọng trong xã hội, qua đó đã thể hiện sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đấu tranh với tệ nạn tham nhũng
Thanh tra hành chính được thực hiện bởi các cơ quan thanh tra nhà nước và giữ vai trò quan trọng bên cạnh các cơ quan khác trong xử lý tham nhũng Luật PCTN năm 2018 quy định về xử lý tham nhũng bao gồm:
Thứ nhất, xử lý người có hành vi tham nhũng:
Người có hành vi tham nhũng giữ bất kì chức vụ, vị trí công tác nào đều phải
bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, phải bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Trường hợp người có hành vi tham nhũng bị xử lý kỷ luật là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì bị xem xét tăng hình thức kỷ luật
Người có hành vi tham nhũng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần hạn chế thiệt hại, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng thì được xem xét giảm hình thức kỷ luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Người bị kết án về tội phạm tham nhũng là cán bộ, công chức, viên chức mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên bị buộc thôi việc, đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân
Thứ hai, xử lý tài sản tham nhũng:
Thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra phải được khắc phục; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật
Thứ ba, xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN:
Trang 33Theo Luật PCTN năm 2018, việc xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN được chia làm hai lĩnh vực, bao gồm:
- Xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN trong cơ quan, tổ chức, đơn vị: đó là những hành vi không thuộc trường hợp quy định tại Điều 2 của Luật bao gồm:
+ Vi phạm quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
+ Vi phạm quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ;
+ Vi phạm quy định về quy tắc ứng xử;
+ Vi phạm quy định về xung đột lợi ích;
+ Vi phạm quy định về chuyển đổi vị trí công tác của người có chức vụ, quyền hạn;
+ Vi phạm quy định về nghĩa vụ báo cáo về hành vi tham nhũng và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng;
+ Vi phạm quy định về nghĩa vụ trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm;
+ Vi phạm quy định về thời hạn kê khai tài sản, thu nhập hoặc vi phạm quy định khác về kiểm soát tài sản, thu nhập
- Xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước:
Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là công ty đại chúng, tổ chức tín dụng và tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ có huy động các khoản đóng góp của Nhân dân để hoạt động từ thiện vi phạm quy định tại Điều 80 của Luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý như sau:
+ Doanh nghiệp, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;
+ Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức bị xử lý theo điều lệ, quy chế, quy định của doanh nghiệp, tổ chức đó
Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức không thực hiện các biện pháp xử lý đối
Trang 34với người giữ chức danh, chức vụ quản lý thì bị cơ quan có thẩm quyền thanh tra công bố công khai về tên, địa chỉ và hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật Ngoài các đối tượng nêu trên, Luật PCTN năm 2018 còn quy định việc xử lý các đối tượng khác có hành vi vi phạm liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hay trách nhiệm của mình Điều 8 Luật PCTN quy định các hành vi bị nghiêm cấm:
- Các hành vi tham nhũng quy định tại Điều 2 của Luật
- Đe dọa, trả thù, trù dập, tiết lộ thông tin về người phản ánh, báo cáo, tố cáo,
tố giác, báo tin, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng Lợi dụng việc phản ánh, báo cáo, tố cáo, tố giác, báo tin, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng để vu khống cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác
- Bao che hành vi tham nhũng; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc phát hiện, xử lý tham nhũng và các hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN quy định tại Mục 2 Chương IX của Luật PCTN
- Buộc thôi việc
Luật PCTN năm 2018 đã có những quy định nghiêm khắc hơn về hậu quả pháp lý đối với người có hành vi tham nhũng, cụ thể ở những điểm sau:
- Người có hành vi vi phạm tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
- Người có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật nếu là thành viên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội thì còn bị xử lý theo điều lệ, quy chế, quy định của tổ chức đó
Trang 35- Người bị kết án về tội phạm tham nhũng là cán bộ, công chức, viên chức mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên bị buộc thôi việc đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân
- Đặc biệt, nếu cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm về kê khai, minh bạch tài sản thu nhập đã được quy định hậu quả pháp lý rất nghiêm khắc, Điều
51, Luật PCTN năm 2018 quy định:
1 Người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân
mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử
2 Người được dự kiến bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử giữ chức vụ mà
kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì không được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử vào chức vụ đã dự kiến
3 Người có nghĩa vụ kê khai không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì tùy theo tính chất, mức độ
vi phạm, bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm; nếu được quy hoạch vào các chức danh lãnh đạo, quản lý thì còn bị đưa ra khỏi danh sách quy hoạch; trường hợp xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm thì có thể xem xét không kỷ luật
Biện pháp xử lý hành vi tham nhũng được phát hiện qua thanh tra hành chính:
Về xử lý hành chính đối với các hành vi tham nhũng chưa đến mức xử lý hình
sự theo quy định của Luật thanh tra:
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết luận thanh tra hoặc nhận được kết luận thanh tra, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp có trách nhiệm tổ chức chỉ đạo việc thực hiện kết luận thanh tra, trong đó:
+ Xử lý, yêu cầu hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý sai phạm về kinh tế do hành vi tham nhũng gây ra;
Trang 36+ Xử lý, yêu cầu hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý cán
Biện pháp xử lý hành vi tham nhũng được phát hiện qua thanh tra hành chính
có dấu hiệu tội phạm được quy định tại điểm o, khoản 1, Điều 48 Luật Thanh tra năm 2010 và Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-VKSTC-TTCP-BCA-BQP ngày 22/3/2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an,
Bộ Quốc phòng quy định về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố
Điểm o, khoản 1, Điều 48 Luật Thanh tra năm 2010 quy định Người ra quyết định thanh tra có nhiệm vụ, quyền hạn: Chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra khi phát hiện có dấu hiệu của tội phạm, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết
Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-VKSTC-TTCP-BCA-BQP ngày 22/3/2012 quy định:
- Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, nếu Cơ quan thanh tra nhận được tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm với đầy đủ tài liệu, chứng cứ, thì Cơ quan thanh tra chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm hoặc tài liệu, chứng cứ và hồ sơ vụ việc đó kèm theo kiến nghị khởi tố cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Trong trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm được phát hiện và kết luận sau khi kết thúc cuộc thanh tra, thì trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ký kết luận thanh tra, Cơ quan thanh tra ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc đó và văn bản kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 48 Luật Thanh tra năm 2010
Trang 37- Ngoài ra, trong quan hệ, phối hợp trong việc trao đổi thông tin về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm giữa các cơ quan, đối với những vụ việc Cơ quan thanh tra đã tiến hành thanh tra nhưng không kiến nghị khởi tố, nếu có căn cứ cho thấy cần phải tiếp tục xác minh làm rõ, thì Cơ quan thanh tra có công văn đề nghị Cơ quan điều tra phối hợp để xác minh làm rõ thêm
Như vậy, việc xử lý các vụ việc thường được thực hiện như sau:
Thứ nhất, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính, nếu Cơ
quan thanh tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm với đầy đủ tài liệu, chứng cứ, thì Cơ quan thanh tra chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm hoặc tài liệu, chứng
cứ và hồ sơ vụ việc đó kèm theo kiến nghị khởi tố cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự
Thứ hai, trong trường hợp vụ việc có dấu hiệu tham nhũng được phát hiện và
kết luận sau khi kết thúc cuộc thanh tra hành chính, Cơ quan thanh tra ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc và văn bản kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 48 Luật Thanh tra năm 2010
Thứ ba, đối với những vụ việc có dấu hiệu tham nhũng cơ quan thanh tra đã
tiến hành thanh tra nhưng không kiến nghị khởi tố, nếu có căn cứ cho thấy cần phải tiếp tục xác minh làm rõ, thì Cơ quan thanh tra có công văn đề nghị Cơ quan điều tra phối hợp để xác minh làm rõ thêm theo quy định tại Điều 2 Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-VKSTC-TTCP-BCA-BQP ngày 22/3/2012
Việc thu hồi tiền, tài sản do tham nhũng được các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân thực hiện theo quy định của Bộ luật Hình sự, Tố tụng Hình sự và Luật Thi hành án dân sự
1.3 Yếu tố tác động đến thanh tra hành chính trong PCTN
1.3.1 Những yếu tố khách quan
1.3.1.1 Sự ổn định của của hệ thống chính trị
Chính trị là một dạng hoạt động xã hội, trong đó thể hiện quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội trong việc giành, giữ và tổ chức thực hiện quyền
Trang 38lực nhà nước Một xã hội nếu như còn giai cấp thì sẽ có sự tồn tại của chính trị Vấn
đề chính trị không có sự đồng nhất tuyệt đối giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới Hệ thống chính trị ở Việt Nam bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên Ở Việt Nam, thanh tra nhà nước là một bộ phận của hệ thống chính trị, là yếu tố cấu thành nên Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều 2, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” Thanh tra hành chính chủ yếu được thực hiện bởi các cơ quan Thanh tra nhà nước và Thanh tra nhà nước là một bộ phận cấu thành hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Sự ổn định về chính trị trong hệ thống là tiền đề quan trọng bảo đảm vai trò của thanh tra nhà nước trong PCTN đạt hiệu lực, hiệu quả Thực tiễn ở các quốc gia trên thế giới đã chứng minh, sự xung đột, bất ổn giữa các đảng phái chính trị sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động của bộ máy nhà nước Sự thiếu nhất quán trong đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước tất yếu tạo ra nhiều “kẽ hở” trong hành lang pháp lý Khi
đó, tình trạng tham nhũng sẽ không ngừng tăng lên, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả quản lý nhà nước, vai trò của thanh tra hành chính trong PCTN từ đó cũng bị suy giảm
1.3.1.2 Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, Hiến pháp là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất Nhà nước là chủ thể ban hành pháp luật, mọi cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức, viên chức đều phải tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật
Cơ quan thanh tra nhà nước cũng giống như các cơ quan nhà nước khác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phải tuân thủ theo quy định pháp luật Các quy định pháp luật đó bao gồm Hiến pháp, Luật và các văn bản hướng dẫn quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra nhà nước Chính vì vậy, nếu pháp luật thiếu hoàn thiện, thống nhất, chính xác so với
Trang 39thực tiễn thì sẽ gây cản trở cho hoạt động của cơ quan thanh tra nhà nước, ảnh hưởng tới sự phát triển khách quan của các chủ thể trong xã hội Hoạt động của cơ quan thanh tra nhà nước không được thực hiện một cách chính xác, thông suốt, thường xuyên, liên tục thì tất yếu sẽ dẫn đến việc kém hiệu quả trong PCTN
1.3.1.3 Sự phát triển của kinh tế, văn hóa và xã hội
Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng hàng hóa
và dịch vụ phục vụ cuộc sống của con người Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, quá trình chuyển đổi cơ chế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn tồn tại khá nhiều hạn chế Không ít cá nhân, tổ chức lợi dụng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, thực hiện các hành vi phi pháp nhằm thu lợi ích không chính đáng Nền kinh tế thị trường đã và đang bộc lộ nhiều mặt trái của nó: Sự cạnh tranh khốc liệt trong thương mại, sự “ngự trị của đồng tiền” làm cho các chủ thể sản xuất luôn muốn tối
đa hóa lợi ích của họ; từ đó tìm cách hối lộ, mua chuộc một số cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan công quyền tạo lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thương trường… Cán bộ, công chức, viên chức nhà nước là chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước để quản lý xã hội Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường dẫn đến hệ lụy không ít cán bộ, công chức, viên chức trong đó có cả cán bộ, công chức, viên chức ngành thanh tra - chủ thể thực hiện PCTN có biểu hiện thoái hóa, biến chất thực hiện hành vi tham nhũng, nhận hối lộ…
1.3.1.4 Ý thức pháp luật của công dân, tổ chức
Ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội, biểu thị các quan hệ của con người đối với pháp luật Nhờ có nhận thức, sự hiểu biết về pháp luật mà các tổ chức, công dân sẽ thực hiện các hành vi hợp pháp góp phần vào sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước
Ý thức pháp luật được cấu thành từ 2 bộ phận:
- Hệ tư tưởng pháp luật: là những tư tưởng, quan niệm, ý niệm, học thuyết về pháp luật
- Tâm lý pháp luật là những thói quen gắn bó con người với pháp luật
Ý thức pháp luật hạn chế là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng vi phạm
Trang 40pháp luật của công dân, tổ chức Hiện nay, “văn hóa phong bì” ở Việt Nam là hiện tượng hết sức phổ biến trong hoạt động quản lý nhà nước Dường như, khi người dân gặp một vấn đề bất kỳ liên quan đến chính quyền thì mặc định rằng cứ phải dùng “phong bì” thì sẽ được ưu tiên giải quyết nhanh hơn Vậy là, các cán bộ, công chức, viên chức nhà nước thản nhiên thực hiện hành vi tham nhũng một cách hết sức đơn giản, dễ dàng Thực tế thì một trong số những nguyên nhân của tham nhũng xuất phát từ chính ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế Cơ quan thanh tra nhà nước không thể từng giờ, từng ngày giám sát mọi hoạt động của các cán bộ, công chức, viên chức Vì vậy, nếu như toàn xã hội cùng chung tay bài trừ “văn hóa phong bì” cũng như đồng tâm nâng cao ý thức pháp luật thì chắc chắn hoạt động phòng ngừa tham nhũng của cơ quan thanh tra nhà nước sẽ đem lại hiệu quả cao hơn rất nhiều so với thực tế tại Việt Nam hiện nay
1.3.2 Những yếu tố chủ quan
1.3.2.1 Hệ thống tổ chức bộ máy thanh tra nhà nước
Thanh tra là một trong số các chức năng thiết yếu của quản lý và hoạt động thanh tra hành chính chủ yếu được thực hiện bởi các cơ quan thanh tra nhà nước Hoạt động PCTN gắn chặt với hoạt động quản lý nhà nước, bởi lẽ, chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng là những người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước Hiện nay, Việt Nam có hàng triệu cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, ai cũng
có nguy cơ thực hiện hành vi tham nhũng trong quá trình hoạt động công vụ Do đó,
để thực hiện tốt chức năng thanh tra hành chính trong PCTN, Thanh tra nhà nước cần phải có một hệ thống tổ chức bộ máy tinh gọn, thông suốt, hoạt động hiệu quả
1.3.2.2 Trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức - chính trị của đội ngũ nhân sự ngành Thanh tra
Trong các nhân tố tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội thì con người luôn là yếu tố quan trọng nhất Tại điều 31, chương III, Luật Thanh tra 2010 chỉ rõ: “Thanh tra viên là công chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân được
bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra Thanh tra viên được cấp trang phục, thẻ thanh tra”
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, thanh tra viên phải