Mục đích riêng của quản lý nhà nước về chứng thực là đảm bảo hoạt động chứng thực được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH XUÂN TRỊNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC CHỨNG
THỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH XUÂN TRỊNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC CHỨNG
THỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ THỊ HƯƠNG
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Tác giả luận văn
Đinh Xuân Trịnh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚCVỀ CHỨNG THỰC 6
1.1 Những vấn đề chung về chứng thực 6
1.2 Khái niệm, chủ thể, nội dung và vai trò của quản lý nhà nước về chứng thực 10
1.3 Các yếu tố ảnh đến hoạt động quản lý nhà nước về chứng thực 18
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC CHỨNG THỰC TẠI TỈNH QUẢNG NAM 23
2.1 Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực tại tỉnh Quảng Nam 23
2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực tại tỉnh Quảng Nam 28
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực tại tỉnh Quảng Nam 36
CHƯƠNG 3 TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC CHỨNG THỰC TỪ THỰC TIỄN TỪ TỈNH QUẢNG NAM 49
3.1 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước về chứng thực 49
3.2 Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về chứng thực 50
KẾT LUẬN 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 636
Bảng 2.4
Bảng thống kê số liệu các vụ việc bị phát hiện và xử lý
vi phạm pháp luật về chứng thực tại UBND tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2015 – 2018
38
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ hội nhập phát triển kinh tế hiện nay, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong đó cải cách lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp đang được triển khai một cách đồng bộ nhằm đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ hội nhập Cải cách hành chính có vai trò quan trọng góp phần vào việc xây dựng nền hành chính hiện đại, khắc phục mọi lực cản trong hệ thống bộ máy tổ chức, trong cơ chế vận hành và những hạn chế, yếu kém về năng lực quản lý điều hành của bộ máy nhà nước.Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, thì trong hoạt động thực tiễn đòi hỏi cần phải nâng cao hơn nữa hiệu quả trong quản lý nhà nước Trong giai đoạn hiện nay, quản lý nhà nước (QLNN) trong các lĩnh vực của đời sống xã hội có vai trò quan trọng tương đồng nhau, trong đó có QLNN về chứng thực Tính cấp thiết của đề tài luận văn được thể hiện qua những luận điểm sau:
Thứ nhất, đổi mới công tác QLNN về chứng thực, đặt biệt là đối với cơ
quan có thẩm quyền QLNN về chứng thực phù hợp với thực tiễn tỉnh Quảng Nam nhằm hạn chế tối đa những hành vi lợi dụng chứng thực chiếm đoạt tài sản, thể hiện dưới hình thức ngụy tạo các giấy tờ dùng trong giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại…
Thứ hai, về mặt lý luận, QLNN về chứng thực trong giai đoạn hiện nay
vẫn chưa thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu đúng mức từ các giới nghiên cứu chuyên môn
Thứ ba, về mặt thực tiễn thì tỉnh Quảng Nam là một địa phương có điều
kiện kinh tế, thổ nhưởng không thuận lợi, các dân tộc tiểu số sinh sống ở vùng
xa xôi hẻo lánh nên gặp nhiều khó khăn trong công tác tiếp nhận và giải quyết chứng thực, điều này đã tạo nên không ít hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn
Trang 8thực hiện công tác QLNN về chứng thực tại tỉnh Quảng Nam Những bất cập trên nếu không nhanh chóng đề ra các giải pháp khắc phục sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả QLNN về chứng thực của tỉnh Quảng Nam Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực tại Quảng Nam là nội dung có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về mặt thực tiễn và khoa học Nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tế tại địa phương nên tác giả chọn đề
tài “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quá trình khảo sát, tìm hiểu và nghiên cức các công trình luận văn đã được công nhận có các đề tài liên quan như sau:
- Hà Thị Kim Dung (2010), QLNN về chứng thực ở cấp xã trên địa bàn
huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện
Hành chính
- Nguyễn Duy Giang (2014), QLNN đối với hoạt động chứng thực ở
huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học
viện Hành chính
- Phan Thanh Hưng (2014), QLNN về chứng thực trên địa bàn Thị xã
Sơn Tây, Thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành
chính
- Ngô Sỹ Trung (2010), Nghị định 79/2007/NĐ-CP - Một bước tiến
trong cải cách hoạt động chứng thực nước ta”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước,
2010, Số 3
- Đặc San: “Đặc san tuyên truyền pháp luật số 02/2015 chủ đề pháp luật
về chứng thực” của tác giả Vũ Thị Thảo Đặc san đã cho khái niệm về chứng
thực, phân biệt giữa công chứng và chứng thực Đặc san phân tích hoạt động chứng thực và nội dung quản lý nhà nước về chứng thực theo tinh thần Nghị định 23/2015/NĐ – CP ngày 16/02/2015 của Chính Phủ về cấp bản sao từ sổ
Trang 9Từ những công trình nghiên cứu và các bài viết, tác giả có cơ hội nghiên cứu, tiếp thu một số nội dung các luận văn liên quan trên, đồng thời liên hệ
với thực tiễn công tác, tác giả phát triển thành tên đề tài luận văn: “Quản lý
nhà nước trong lĩnh vực chứng thực từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là: Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng
cường quản lý nhà nước về chứng thực trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận quản
lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực; đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về chứng thực và quản lý nhà nước về chứng thực thông qua phân tích các khái niệm có liên quan như chứng thực, quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực; phân tích chủ thể, nội dung, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực
- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực tại tỉnh Quảng Nam trên các phương diện: Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.,
- Luận giải sự cần thiết và đề xuất các giải pháp cơ bản để tăng cường sự quản lý của nhà nước trong lĩnh vực chứng thực từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quản lý nhà nước trong lĩnh vựcchứng thực
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến quản lý
nhà nước trong lĩnh vựcchứng thực
- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
- Về thời gian: Từ năm 2015 – 2018
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac - Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước, chương trình cải cách nền hành chính đặc biệt là cải cách thể chế hành chính nhà nước giai đoạn
2011 –2020, làm nền tảng nghiên cứu, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn bao gồm: Phương pháp hệ thống, so sánh, đối chiếu; Phương pháp thu thập và phân tích số liệu…
6 Về ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về lý luận, góp phần hoàn thiện, bổ sung và phát triển một cách hệ thống những quy định của pháp luật về chứng thực và QLNN về chứng thực
Về thực tiễn, luận văn góp phần đề ra những giải pháp cụ thể và phù hợp với tình hình thực tiễn tronghoạt động quản lý nhà nước về chứng thực của tỉnh Quảng Nam
7 Kết cấu của luận văn
Trang 11Ngoài Phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước về chứng thực Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực tại tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Trang 12hệ dân sự, đất đai,… những quan hệ, giao dịch không thể thiếu trong đời sống
xã hội Về khái niệm chứng thực, có thể tiếp cận theo một số góc độ sau:
“Chứng thực” trong tiếng Anh có nghĩa là “certify”, có nghĩa là chính
thức chứng nhận
Chứng thực có thể được hiểu: “Chứng thực lời khai Xác nhận là đúng
Thực tiễn đã chứng minh điều đó” [36, tr.186]
Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “chứng thực” là: Sao hoặc Chép
lại hoặc tạo ra bản khác theo đúng như bản gốc Sao đúng nguyên văn một tài liệu Sao y bản chính Bản sao” hay “Nhận cho để làm bằng chứng chứng nhận là đúng sự thật Chứng thực lời khai Xác nhận là đúng Thực tiễn đã chứng thực điều đó” [21]
Xét về khía cạnh pháp lý, khái niệm “chứng thực” không dễ định nghĩa,
cần hiểu về các định nghĩa khác nhau về chứng thực trong lý luận khoa học pháp lý ở một số quốc gia và tại Việt Nam qua các thời kỳ
Tại Thụy Sỹ chỉ có quy định điều chỉnh về hoạt động chứng thực mà chưa có sự tách biệt riêng thành Luật Công chứng, Luật Chứng thực như:
“Việc chứng thực áp dụng đối với chữ ký, bản sao chụp, trích lục, sao chép
hoặc bản dịch” [37]
Tại Cộng hoà Liên bang Đức, tại Điều 39 Chương III Luật Công chứng
ngày 28/9/1969 quy định về chứng thực đơn giản:“Khi chứng thực chữ ký,
Trang 13dấu vân tay, tên hãng cũng như khi chứng thực thời điểm xuất trình giấy tờ cá nhân, chứng thực việc đã vào sổ đăng ký hoặc chứng thực các bản sao lục và các văn bản đơn giản khác thì chỉ cần một văn bản công chứng thay vì biên bản công chứng, trong đó có chữ ký, dấu niêm phong và ghi rõ ngày, nơi lập, văn bản công chứng là đủ” [37]
Nhìn chung, hệ thống các văn bản pháp luật của một số nước trên thế giới cũng chỉ đưa ra thuật ngữ “chứng thực” là những hành động cụ thể mà không đưa ra khái niệm cụ thể về “chứng thực”
Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng
dẫncông tác công chứng nhà nước là văn bản pháp luật đầu tiên xuất hiện thuật ngữ “chứng thực”: Tất cả các văn bản, giấy tờ có nội dung không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội chủ nghĩa, thì có thể được công chứng
Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 là văn bản QPPL đầu tiên
ở Việt Nam quy định khái niệm “chứng thực” [9]
+ Nghị định số 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/5/2007 không có khái niệm chung về “chứng thực” mà chỉ đưa ra khái niệm về chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký [10]
Hiện nay, Theo Điều 2 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định như sau:
Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền theo quy định tại Nghị định này căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính
Chứng thực chữ ký là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy
định tại Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người yêu cầu chứng thực
Chứng thực hợp đồng, giao dịch là việc cơ quan có thẩm quyền theo
quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; nănglực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch
Trang 14Bản chính là những giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
cấp lần đầu, cấp lại, cấp khi đăng ký lại; những giấy tờ, văn bản do cá nhân
tự lập có xác nhận và đóng dấu của cơ quan tổ chức có thẩm quyền” [15]
Tóm lại, trải qua các thời kỳ cho đến nay, Việt Nam hiện chưa có văn bản pháp luật nào có khái niệm rõ ràng và đúng bản chất của hoạt động chứng thực, mà chỉ là khái niệm gắn chứng thực với một việc cụ thể Tuy nhiên, có
thể khái quát khái niệm chứng thực như sau: Chứng thực là việc các cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền chứng thực xác nhận tính chính xác, hợp pháp của các giấy tờ, văn bản, chữ ký của cá nhân, các sự kiện pháp lý, thông tin cá nhân,
để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các cá nhân, tổ chức có liên quan trong các quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính…
- Chứng nhận giá trị pháp lý của văn bản, giấy tờ theo quy định của pháp luật
Trong các giao dịch,bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính vẫn có giá trị pháp lý sử dụng như bản chính Cũng như chứng thực chữ ký là việc xác nhận người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký
đó trước mặt cơ quan có thẩm quyền và là căn cứ để xác định quyền và nghĩa
vụ của người ký giấy tờ, văn bản đó
- Cơ quan nhà nước trong QLNN về chứng thực chịu trách nhiệm về tính xác thực của giấy tờ, văn bản
Các cơ quan và người trực tiếp tiếp nhận các văn bản, giấy tờ đã được
Trang 15chứng thực không yêu cầu phải xuất trình bản chính để đối chiếu, nếu nghi ngờ văn bản, giấy tờ đã chứng thực đó là có dấu hiệu giả mạo thì có quyền kiểm tra, xác minh tính đúng đắng của giấy tờ, văn bản đó
1.1.3 Phân loại chứng thực
Có hai cách phân loại hoạt động chứng thực:
Cách thứ nhất: Theo thẩm quyền thực hiện (theo quy định tại Khoản
1,2,3,4 Điều 2 Nghị định 23/2015/NĐ-CP):
- Chứng thực được thực hiện tại UBND cấp huyện
- Chứng thực thực hiện tại UBND cấp xã
- Chứng thực được thực hiện tại cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước
- Theo quy định tại Khoản 2, Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP Chứng thực ở cấp xã do UBND cấp xã thực hiện dưới sự tham mưu của công chức Tư pháp – Hộ tịch và công chức Văn phòng – thống kê
Ngoài ra, cần lưu ý rằng các loại việc chứng thực nêu trên phải thực hiện theo Điều 22, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP của Chính phủ
Trang 161.2 Khái niệm, chủ thể, nội dung và vai trò của quản lý nhà nước về chứng thực
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của quản lý nhà nước về chứng thực
Trước hết, cần làm rõ thuật ngữ quản lý nhà nước để làm cơ sở cho việc nghiên cứu chuyên sâu khái niệm quản lý nhà nước về chứng thực
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền
lực công trên cả 3 lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và tư pháp; nghĩa là sự tác động, tổ chức, điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước, thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước, bằng phương tiện, công cụ, cách thức tác động của nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế văn hoá - xã hội và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội theo đường lối quan điểm của Đảng cầm quyền
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là quá trình tổ chức, điều hành của hệ
thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hoạt động của con người theo pháp luật, nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ nhà nước đặt ra
Như vậy, có thể thấy, với nghĩa này thì quản lý nhà nước đồng nghĩa
với quản lý hành chính nhà nước và nhà nước sử dụng “quyền lực công” để
tác động lên các đối tượng quản lý với 2 chức năng: Chức năng quản lý (cai trị) và chức năng cung ứng dịch vụ Trong hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công, chứng thực có tác động rất lớn đến các quan hệ xã hội Hành vi chứng thực có thể dẫn đến hệ quả pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ xã hội đã được xác lập giữa các cá nhân, tổ chức Do đó, quản
lý nhà nước về chứng thực chính là việc chủ thể quản lý sử dụng các cách thức, biện pháp quản lý khác nhau nhằm đạt được mục tiêu Nhà nước đặt ra,
đó là tính ổn định của các giao dịch kinh tế, dân sự cho mục đích phát triển kinh tế, xã hội của một đất nước (chức năng cung ứng dịch vụ nằm trong chức năng cai trị, nhằm đạt mục đích quản lý nhà nước)
Trang 17Từ các luận cứ đã nêu, có thể hiểu: Quản lý nhà nước về chứng thực là quá
trình tác động, điều hành của Nhà nước dưới các hình thức và phương pháp thích hợp nhằm đảm bảo chứng thực được thực hiện theo đúng quy định pháp luật
Quản lý nhà nước về chứng thực có những đặc điểm sau:
Một là, chủ thể quản lý nhà nước về chứng thực là các cơ quan nhà nước
từ Trung ương đến địa phương cụ thể là: Chính phủ có chức năng quản lý chung, UBND các cấp thực hiện quản lý theo đơn vị hành chính của mình; các cơ quan quản lý chuyên môn ở Trung ương là Bộ Tư pháp, ở tỉnh là Sở
Tư pháp, ở huyện là Phòng Tư pháp và các cơ quan khác theo quy định của pháp luật Các cơ quan quản lý nhà nước về chứng thực được tổ chức chặt chẽ, được điều hành quản lý và hoạt động thống nhất từ Trung ương đến địa phương
Hai là, quản lý nhà nước về chứng thực là sự quản lý theo cơ chế đặc
biệt “song trùng trực thuộc”, có nghĩa là hoạt động chứng thực vừa đặt dưới
sự quản lý nhà nước nói chung lại vừa đặt dưới sự quản lý chuyên môn nghiệp vụ nói riêng
- Về các quy định luật thủ tục: Các quy định pháp luật thủ tục về chứng
thực là hệ thống các quy phạm pháp luật quy định thủ tục, trình tự tổ chức triển khai, thực hiện các hoạt động chứng thực Về nội dung, luật thủ tục gồm các quy định về trình tự chứng thực, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hoạt động chứng thực; về nguyên tắc, tổ chức, bộ máy hoạt động cơ quan Tư pháp;về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể tham gia; về các loại việc chứng thực; về thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm các quy định pháp luật trong hoạt động chứng thực; về quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo
và người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm các quy định pháp luật trong hoạt động chứng thực
- Về các quy định luật nội dung: Bao gồm các văn bản quy phạm pháp
Trang 18luật quy định về hướng dẫn, tổ chức thực hiện, các quy định về chế độ, chính sách; tuyển dụng; khen thưởng, kỷ luật; phí, lệ phí trong hoạt động chứng thực;
Ba là, đối tượng quản lý nhà nước về chứng thực, gồm cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức liên quan và được quản lý theo chuyên ngành dọc UBND cấp Tỉnh chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động chứng thực nói riêng tại địa phương mình Các cơ quan khác của Nhà nước là đối tượng quản lý nhà nước về chứng thực gồm: Bộ Tài chính, Cục kiểm soát thủ tục hành chính, Bộ ngoại giao,… khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ phối hợp hoạt động, đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát và quản lý của các chủ thể quản lý có thẩm quyền
Bốn là, mục đích chung của quản lý nhà nước về chứng thực là để thể
chế hoá đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện chủ động hội nhập; tham gia vào quá trình toàn cầu hoá; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Mục đích riêng của quản lý nhà nước về chứng thực là đảm bảo hoạt động chứng thực được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động chứng thực, bảo đảm giá trị pháp lý của hoạt động chứng thực
1.2.2 Chủ thể quản lý nhà nước về chứng thực
Theo quy định của Luật tổ chức Chính phủ số 76/2015/QH13 ngày 19/6/2015; Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015, Chủ thể quản lý nhà nước về chứng thực bao gồm:
Trang 19tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tổng hợp đánh giá tình hình thi hành pháp luật về chứng thực
+ Bộ Tư pháp trong quản lý nhà nước về chứng thực (Điều 41 Nghị định 23/2015/NĐ-CP)
Bộ Tư pháp là cơ quan chuyên môn, tham mưu giúp Chính phủ trong công tác quản lý nhà nước về chứng thực trên phạm vi cả nước, có nhiệm vụ, chức năng và quyền hạn sau đây:
1 Soạn thảo, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về chứng thực;
2 Hướng dẫn, chỉ đạo chung việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật
về chứng thực;
3 Kiểm tra, thanh tra hoạt động chứng thực; giải quyết khiếu nại, tố cáo
và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến chứng thực theo thẩm quyền;
4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước về chứng thực
Thứ nhất: Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra về công tác chứng
thực tại các cơ quan đại diện;
Thứ hai: Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ chứng thực cho viên chức ngoại
giao, viên chức lãnh sự làm công tác chứng thực tại các cơ quan đại diện;
Thứ ba: Hằng năm, tổng hợp tình hình và thống kê số liệu về chứng thực
của các Cơ quan đại diện gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp;
Trang 20Thứ tư: Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm hành chính liên
quan đến chứng thực theo thẩm quyền
+ Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp (Điều 43 Nghị định 23/2015/NĐ-CP)
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy
phạm pháp luật về chứng thực tại địa phương; Hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp
vụ chứng thực cho cán bộ, công chức làm công tác chứng thực tại Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã và công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng; Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về chứng thực; Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện chứng thực và quản lý nhà nước về chứng thực trong phạm vi địa phương, đáp ứng yêu cầu cung cấp và trao đổi thông tin; Kiểm tra, thanh tra hoạt động chứng thực của Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã, các tổ chức hành nghề công chứng; có biện pháp chấn chỉnh tình hình lạm dụng yêu cầu bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn; Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến chứng thực theo thẩm quyền; Định kỳ 6 tháng và hằng năm, tổng hợp tình hình và thống kê số liệu về chứng thực trong địa phương, báo cáo Bộ Tư pháp theo quy định
Ủy ban nhân dân cấp huyện: Hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ chứng
thực cho cán bộ, công chức làm công tác chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp
xã trên địa bàn; Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về chứng thực; Cấp bản sao có chứng thực từ bản chính hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực; Lưu trữ sổ chứng thực, Văn bản chứng thực; Kiểm tra, thanh tra hoạt động chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã; có biện pháp chấn chỉnh tình hình lạm dụng yêu cầu bản sao có chứng thực cáo và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến chứng thực theo thẩm quyền; Định kỳ 6 tháng và hằng năm, tổng hợp tình hình và thống kê số liệu về chứng thực, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định
Trang 21Ủy ban nhân dân cấp xã: Thực hiện các việc chứng thực thuộc thẩm
quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại Nghị định này; Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về chứng thực; Cấp bản sao có chứng thực từ bản chính hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực; Lưu trữ sổ chứng thực, Văn bản chứng thực; Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến chứng thực theo thẩm quyền; Định kỳ 6 tháng và hằng năm, tổng hợp tình hình và thống
kê số liệu về chứng thực báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định Ngoài các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về chứng thực còn
có các cơ quan thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động quản lý đó như: Quốc hội, đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhân dân giám sát việc thi hành các quy định pháp luật về chứng thực theo quy định của pháp luật và các hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về chứng thực
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về chứng thực
1.2.3.1 Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về chứng thực
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 41, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, Bộ
Tư pháp sẽ phối hợp với các Bộ có liên quan tham mưu Chính phủ trình Quốc hội xây dựng văn bản QPPL về chứng thực, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền QLNN chứng thực triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao Bên cạnh đó, công tác rà soát, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chứng thực đặc biệt quan trọng nhằm khắc phục kịp thời những bất cập, hạn chế, nâng cao chất lượng của pháp luật chứng thực và đặc biệt là tạo điều kiện cho công tác quản lý và áp dụng văn bản qui phạm pháp luật về chứng thực đạt hiệu quả cao
Quá trình xây dựng hệ thống pháp luật về hoạt động chứng thực đã được triển khai thực hiện ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và hiện nay đang trong giai đoạn hoàn thiện, nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống
Trang 22nhất của hệ thống pháp luật về chứng thực và QLNN về chứng thực, trên cơ
sở chia tách thành hai nội dung riêng là công tác chứng thực và công tác công chứng nhằm đáp ứng chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 mà Bộ Chính trị đã đề ra tại Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005
1.2.3.2 Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật vềchứng thực
Việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đáp ứng được yêu cầu của xã hội là không dễ nhưng việc bảo đảm để pháp luật được đi vào cuộc sống và được thực thi nghiêm chỉnh còn phức tạp và khó khăn hơn nhiều Về
tổ chức triển khai thực hiện các quy định pháp luật về chứng thực được đảm bảo thực hiện một cách thông suốt bởi hệ thống các cơ quan HCNN từ Trung ương đến địa phương Ở cấp Trung ương, trách nhiệm tổ chức triển khai văn bản QPPL do Bộ Tư pháp thực hiện bằng việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục và tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ nhiều hình thức, biện pháp phù hợp Ở địa phương, việc tổ chức triển khai, quán triệt văn bản QPPL được thực hiện thường xuyên, liên tục bởi UBND các cấp, bảo đảm các văn bản, các quy định được đi vào đời sống xã hội
Đối với áp dụng các quy định về chứng thực là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về chứng thực tổ chức, triển khai cho các chủ thể tham gia hoạt động chứng thực thực hiện nghiêm các quy định pháp luật và tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực
1.2.3.3 Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý
vi phạm pháp luật về chứng thực
- Công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý nhà nước về chứng thực:
Hoạt động thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực chứng thực nhằm phát hiện những thiếu sót, khó khăn, vướng mắc để kịp thời uốn nắn, giải quyết, có biện pháp xử lý phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; đồng thời có giải pháp góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về chứng thực
Trang 23Công tác thanh tra về chứng thực được quy định ngay trong Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010, Nghị định số 54/2014/NĐ-CP ngày 29/5/2014 và các văn bản hướng dẫn hiện nay có liên quan
Đối với công tác kiểm tra chứng thực, hiện nay Chính phủ vẫn chưa có văn bảnquy định nào cụ thể về công tác kiểm tra chứng thực Song, công tác kiểm tra chứng thực được thực hiện lồng ghép với các kế hoạch kiểm tra cuối năm, định kỳ, đột xuấtcủa UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện thực hiện đối với cơ quan QLNN về chứng thực cấp dưới
Kết quả từ các kết luận kiểm tra, thanh tra về thực hiện công tác chứng thực, các cơ quan có thẩm quyền về chứng thực sẽ đề ra những biện pháp điều chỉnh, khắc phục phù hợp trong phạm vi quản lý, nhằm nâng cao hiệu quả trong QLNN về chứng thực
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý VPPL
Công tác giải quyết vấn đề khiếu nại, tố cáo và xử lý VPPL có liên quan hoạt động chứng thực, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân có liên quan; đồng thời góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật trong đời sống xã hội, khẳng định bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Trách nhiệm và quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo năm 2012 Đối với quy trình
xử lý VPHC được quy định cụ thể tại Luật Xử lý VPHC năm 2012 và những văn bản QPPL có liên quan Những văn bản pháp luật trên là hành lang pháp
lý để các tổ chức, cá nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật xử lý VPHC.Riêng việc áp dụng trách nhiệm đối với hành
vi làm giả giấy tờ,con dấu, tài liệu của các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền được quy định theo Bộ luật Hình sự năm 2015
Trang 241.2.4 Vai trò của quản lý nhà nước về chứng thực
Thứ nhất, đảm bảo các hoạt động chứng thực được triển khai thực hiện đúng quy định của pháp luật
Với sự quản lý và việc qui định chặt chẽ về trình tự, thủ tục chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giúp tạo hành lang pháp lý cho các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động chứng thực phải thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật
Thứ hai, là bảo đảm pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, giúp bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân
Văn bản chứng thực có giá trị pháp lý cao, được sử dụng thay thế cho bản chính khi thực hiện các thủ tục hành chính, các giao dịch dân sự và giúp cho các cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi của mình khi xảy ra tranh chấp Văn bản chứng thực là cơ sở pháp lý khi đưa ra xét xử để bác bỏ lập luận của đối phương Ngoài việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể thì việc quản lý nhà nước bằng pháp luật về chứng thực còn góp phần nâng cao dân trí, mở rộng dân chủ, để cao tinh thần trách nhiệm công dân đối với nhà nước và xã hội
Thứ ba, là góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển
Quản lý nhà nước về công tác chứng thực được thực hiện tốt sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các tổ chức và cá nhân, từ đó sẽ thúc đẩy quá trinh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.3 Các yếu tố ảnh đến hoạt động quản lý nhà nước về chứng thực
1.3.1 Sự hoàn thiện của các quy định pháp luật về chứng thực
Việc tổ chức thực hiện các thủ tục, các giao dịch cần sự xác nhận chính xác Pháp luật về chứng thực tạo ra sự xác nhận chính xác và sự tin tưởng cho nhau Do đó, pháp luật về chứng thực là công cụ pháp lý để bảo đảm sự tin tưởng và ngăn ngừa sự giả dối của các bên liên quan, mặt khác từ đó sẽ phòng
Trang 25ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần ổn định và phát triển xã hội Pháp luật về chứng thực là công cụ rất quan trọng trong việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật nói chung Do đó công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong chứng thực phải bảo đảm phù hợp với bản chất của hoạt động chứng thực, đồng thời bảo đảm sát đúng với các chuyên ngành pháp luật khác có liên quan nhằm tránh tình trạng chồng chéo và mâu thuẫn lẫn nhau
Pháp luật về chứng thực là hành lang pháp lý cho công tác chứng thực, quản lý nhà nước về hoạt động chứng thực bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức.Do vậy,vấn đề hoàn thiện những quy định của pháp luật về chứng thực là điềuhết sức quan trọng trong quản lý nhà nước về chứng thực
1.3.2 Việc tổ chức thực hiện pháp luật về chứng thực
Pháp luật là cơ sở, là công cụ quan trọng để nhà nước tổ chức quản lý xã hội Do vậy, nhà nước phải đảm bảo các hoạt động xây dựng, ban hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức triển khai thực hiện pháp luật và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật Đây là các hoạt động rất quan trọng, hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực nói chung và hoạt động quản lý nhà nước
về chứng thực nói riêng sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu một trong các hoạt động trên Do đó,việc tổ chức thực hiện pháp luật về chứng thực là một trong những nhân tố có vai trò quan trọng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình quản lý nhà nước về chứng thực
Trên cơ sở hệ thống pháp luật về chứng thực phù hợp với tình hình thực tiễn xã hội thì việc bảo đảm để những quy định của pháp luật được chấp hành
và thực thi nghiêm chỉnh trên thực tế còn phức tạp và khó khăn hơn nhiều Việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động chứng thực nhằm điều chỉnh các quan hệ về chứng thực, góp phần tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực
Trang 261.3.3 Về đội ngũ công chức tư pháp
Để hoạt động QLNN về chứng thực được thực hiện có hiệu quả thì đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò rất quan trọng, đó là chủ thể tổ chức thực hiện và áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tiễn cuộc sống
Cán bộ, công chức là đầy tớ trung thành của nhân dân, phải có phẩm chất đạo đức trong sáng, hai mặt đức và tài không thể thiếu mặt nào, cũng không
thể coi nhẹ mặt nào Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “có tài mà không có
đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” [17,
tr.252-280] …
1.3.4 Nhận thức của cộng đồng dân cư về công tác chứng thực
Ngày nay đời sống, nhân dân đã nhận thức sâu sắc hành vi của mình để
có thể thực hiện tốt hơn những quy định của pháp luật nói chung và pháp luật
về chứng thực nói riêng
Tuy nhiên, bên cạnh đó ý thức chấp hành pháp luật của bộ phận nhân dân vẫn còn hạn chế Một bộ phận không nhỏ người dân tộc tiểu số sinh sống ở vùng xa xôi hẻo lánh có trình độ nhận thức pháp luật thấp Cần phải có những biện pháp triển khai tuyên truyền pháp luật thích hợp để hoạt động quản lý nhà nước về chứng thưc được tốt hơn
Bên cạnh đó, một số người dân chưa hiểu đầy đủ việc sử dụng bản sao bởi vì một số thủ tục hành chính buộc người dân phải nộp bản sao y có chứng thực, một số không quy định bắt buộc mà chỉ cần nộp bản photo đã được đối chiếu bản chính nhưng người dân vẫn quan niệm là cứ chứng thực cho đảm bảo.Ngoài ra, một số bộ phận người dân vẫn còn xem thường pháp luật do biện pháp chế tài của nước ta chưa nghiêm, chưa đủ tính răn đe để ngăn ngừa
Trang 27quyền, tập trung cao, quan liêu máy móc mà hiệu quả thấp, chi phí cao và
không đáp ứng được yêu cầu phát triển xã hội Mô hình"quản lý công mới" sẽ
mang đến một nền hành chính gọn nhẹ, cơ cấu tổ chức đơn giản và các nhà quản lý sẽ được quyền chủ động, sáng tạo hơn do vậy các tổ chức cung cấp dịch vụ phải đảm bảo chất lượng để cạnh tranh [20]
Sự ra đời của mô hình "quản lý công mới" đã giúp chuyển từ mô hình
hành chính công truyền thống sang quản lý công và thay đổi cách thức hoạt
động của khu vực công Một số đặc tính của mô hình "quản lý công mới"
như: hiệu quả hoạt động quản lý, phi quy chế hoá, phân quyền, tư nhân hoá
một phần hoạt động của Nhà nước, xu hướng quốc tế hoá giúp khắc phục những yếu kém không phù hợp của mô hình hành chính truyền thống [25] Hiện nay, cải cách hành chính mang tính toàn cầu,các nước phát triển, cũng như các nước đang phát triển luôn xem cải cách hành chính là cơ sở, là động lực để thúc đẩy tăng trường kinh tế và phát triển các mặt khác của đời sống xã hội
Nền kinh tế Việt Nam cũng nằm trong xu hướng chung,đó là vận hành theo cơ chế thị trường và hội nhập nền kinh tế toàn cầu Do đó, nền hành chính Việt Nam bên cạnh việc phát huy các giá trị truyền thống, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các mô hình hành chính của các nước phát triển, áp dụng
thành công mô hình "quản lý công mới" trong xây dựng nền hành chính công
tại Việt Nam
Trang 28Tiểu kết chương 1
QLNN về chứng thực là nội dung cơ bản của công tác QLNN nói chung, nên cần nhận thức chính xác về lý luận nếu muốn vận dụng thành công vào thực tiễn
Trong chương 1, luận văn đã nêu một số quy định pháp luật của Nghị định 23/2015/NĐ-CP, trên cơ sở đó làm rõ một số vấn đề lý luận quản lý nhà nước về chứng thực như: khái niệm; đặc điểm; nội dung QLNN về chứng thực;… Đồng thời đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong đổi mới công tác chứng thực, quy định rõ thẩm quyền của cơ quan, người có thẩm quyền chứng thực và người yêu cầu chứng thực,là nền tảng kiến thức lý luận cơ bản giúp đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác QLNN về chứng thực và tổ chức, cá nhân có cái nhìn khách quan, toàn diện về công tác chứng thực; nâng cao ý thức trách nhiệm trong mối quan hệ pháp luật nói chung và pháp luật về chứng thực nói riêng để trong quá trình thi hành pháp luật về chứng thực ngày càng hoàn thiện hơn và hoàn thành tốt trong thi công vụ
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC
CHỨNG THỰC TẠI TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực tại tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Nam
Tỉnh Quảng Nam nằm trong tọa độ địa lý khoảng 108026’16” đến
108044’04” độ kinh đông và từ 15023’38” đến 15038’43” độ vĩ bắc Phía
Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp nước Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum, phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Nam
Nguồn: http://quangnam.gov.vn
Tổng diện tích mặt đất tự nhiên là 10.406 Km2 Dân số ước tính là 1,5 triệu người (số liệu năm 2018) Tỉnh Quảng Nam nằm ngay giữa miền Trung Việt Nam, trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm Thừa Thiên - Huế,
Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, là địa phương đầu tiên trong cả nước
Trang 30triển khai mô hình Khu Kinh tế mở, đồng thời có 2 di sản văn hóa được thế giới công nhận là phố cổ Hội An và Khu Di tích Mỹ Sơn.Với những lợi thế
đó, Quảng Nam đang có nhiều tiềm năng và cơ hội lớn để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ hơn
Về cơ cấu hành chính: Tỉnh Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính: 02
- Thành phố: Hội An và Tam Kỳ, (trong đó T.phố Tam Kỳ là Tỉnh lỵ)
Về cơ cấu tổ chức: UBND tỉnh Quảng Nam gồm: 01 Chủ tịch, 05 Phó
Chủ tịch và 06 Ủy viên UBND,21 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự tỉnh (ủy viên phụ trách quân sự) và Giám đốc Công an tỉnh (ủy viên phụ trách công an)
Về kinh tế xã hội: Năm 2018, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh đạt
68.100 tỷ đồng, tăng 8,11% so với năm 2017 (bình quân 3 năm (2016-2018) tăng 13,1%; vượt chỉ tiêu theo Nghị quyết Cơcấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, khu vực nông - lâm - thuỷ sản còn 12%, khu vực công nghiệp và xây dựng, thương mại - dịch vụ 88%, trong đó công nghiệp xây dựng 36,8% GRDP bình quân đầu người hơn 61 triệu đồng/người
Ngành công nghiệp - xây dựng tăng trưởng gần 13,3%, bình quân 3 năm tăng gần 15,3%; trong đó công nghiệp tăng gần 14%; ngành dịch vụ hơn 6,3%, bình quân 3 năm tăng 13,7% Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng hơn 49.800 tỷ đồng, tăng gần 1,4 lần so năm 2016; hoạt động du lịch tăng trưởng khá, tổng lượt khách tham quan, lưu trú trên 6,5 triệu lượt, tăng 21,5%, bình quân 3 năm tăng 19%/năm
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tiếp tục duy trì và phát triển ổn định,
Trang 31tăng trưởng 4,28%, bình quân 3 năm tăng 3,8%/năm Sản xuất nông nghiệp năm 2018 được mùa, năng suất lúa đạt 53,6 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha; sản lượng đạt trên 462 nghìn tấn, tăng 01 nghìn tấn so với năm 2017
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn hơn 23.741 tỷ đồng, tăng 20,66% so với dự toán; trong đó thu nội địa hơn 19.131 tỷ đồng, tăng 23,62%
so với dự toán Thu xuất nhập khẩu hơn 4.405 tỷ đồng, tăng 4,88% so với dự toán (tính đến ngày 31/12/2018)
Tổng chi cân đối ngân sách địa phương hơn 18.917 tỷ đồng, tăng 7% so với dự toán; trong đó, chi thường xuyên 11.740tỷ đồng, tăng 2% dự toán, chi đầu tư phát triển 4.420 tỷ đồng Nguồn vốn huy động năm 2018 gần 48.970 tỷ đồng, tăng gần 12% so với đầu năm
Nhằm đẩy mạnh và phát huy mọi tiềm năng,thế mạnh trong phát triển kinh tế - xã hội, công tác QLNN trong các lĩnh vực nói chung, công tác chứng thực nói riêng luôn được tỉnh quan tâm, chú trọng và thực hiện nghiêm túc, để góp phần phấn đấu đưa tỉnh Quảng Nam thành một trong những địa phương
có tốc độ phát triển nhanh và bền vững của cả nước
2.1.2 Hoạt động chứng thực tại tỉnh Quảng Nam từ năm 2015 - 2018
Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp đã có các hướng dẫn nghiệp vụ cho các địa phương trong tỉnh, cũng như tổng hợp các khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, Thông tư 20/2015/TT-BTP hướng dẫn Nghị định 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, Thông tư liên tịch 226/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và
sử dụng phí chứng thực, để tổng hợp, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
và Sở Tư pháp theo dõi và kịp thời chỉ đạo
- Về tổ chức nhân sự
Trên toàn địa bàn tỉnh hiện nay có 18 Phòng Tư pháp huyện, thành phố
Trang 32thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) Các huyện đã có bộ phận tiếp nhận giải quyết thủ tục hành chính một cửa, Văn phòng UBND các huyện bố trí một 01 công chức tiếp nhận hồ sơ chứng thực; hồ sơ chứng thực được Phòng Tư pháp thụ lý giải quyết, duy trì thường xuyên 02 công chức thực hiện, ký chứng thực duy trì 03 đồng chí là Trưởng phòng Tư pháp và 02 Phó Trưởng phòng luân phiên đảm nhiệm ký; Có 244 UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) trên địa bàn tỉnh Trong đó có 126/244 UBND cấp xã (51%) bố trí 02 công chức Tư pháp – Hộ tịch 100% các xã đã bố trí giải quyết thủ tục hành chính tại bộ phận tiếp nhận giải quyết thủ tục hành chính một cửa Ủy ban nhân dân, lãnh đạo Ủy ban nhân dâncấp xã bảo đảm việc giải quyết và trả kết quả cho tổ chức và cá nhân theo đúng quy định của pháp luật
UBND tỉnh đã chỉ đạo cho Sở Tư pháp thường xuyên hướng dẫn công tác chứng thực cho các Phòng Tư pháp, Công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã thông qua các cuộc họp giao ban công tác Tư pháp – hộ tịch hàng quý Khi có văn bản, thông báo hướng dẫn của cấp trên liên quan đến công tác chứng thực đều được Sở Tư pháp sao gửi cho Phòng Tư pháp và UBND xã để thực hiện; ngoài ra các trường hợp vướng mắc tại bộ phận chứng thực của huyện, xã được lãnh đạo Sở Tư pháp hướng dẫn giải quyết kịp thời
- Về cơ sở vật chất và chế độ lưu trữ
- Cơ sở vật chất, phương tiện làm vệc tại các địa phương cơ sở đảm bảo nhu cầu tối thiểu thực hiện chứng thực, nơi tiếp nhận và giao trả hồ sơ rộng rãi khang trang, một số địa phương cấp huyện được trang bị camera giám sát,
hệ thống lấy số thứ tự và người dân có thể đăng ký qua mạng để lấy số thứ tự, máy vi tính nối mạng nội bộ, trang thiết bị văn phòng phẩm được cung cấp đầy đủ kịp thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác; UBND huyện, xã đã được cấp giấy chứng nhận tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9001:2008, định kỳ kiểm tra đều được đánh giá đạt kết quả tốt
Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc nhập dữ liệu lưu trữ những thông tin đã được chứng thực bản sao vào biểu
Trang 33mẫu trên phần mềm quản lý trước khi trả kết quả chứng thực cho tổ chức, cá nhân đảm bảo theo quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP của Chính phủ, góp phần giảm tải về kho lưu trữ
Chế độ lưu trữ hồ sơ sổ sách chứng thực tiếp tục duy trì thực hiện đúng theo quy định; vào cuối tháng 01 hàng năm Phòng Tư pháp, Công chức Tư pháp – Hộ tịch thực hiện bàn giao sổ sách, hồ sơ giấy tờ đã được chứng thực vào kho lưu trữ chung của UBND huyện, xã
- Về thực hiện chứng thực theo thẩm quyền
Trong giai đoạn từ năm 2015 – 2018, Phòng Tư pháp 18 huyện đã thực
hiện các số lượng việc với mức thu lệ phí cụ thể, được thể hiện qua Bảng 2.2:
Bảng 2.1 – Bảng thống kê số việc chứng thực, số lệ phí chứng thực được thực hiện tại UBND các huyện trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2015 – 2018
Trang 34Số liệu ở Bảng 2.1 đã phản ánh số lượng việc chứng thực tại UBND các huyện luôn duy trì ở mức cao và luôn trong tình trạng quá tải, nhưng vẫn đảm bảo về trình tự, thủ tục và thời gian thực hiện Do nhu cầu chứng thực của tổ chức và cá nhân tăng lên theo từng năm năm,và đó là cơ sở tạo thêm nguồn thu để đóng góp vào ngân sách nhà nước
2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng thực tại tỉnh Quảng Nam
Được sự quan tâm chỉ đạo của Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh, cùng với bám sát Kế hoạch chỉ đạo, Chương trình công tác trọng tâm của Sở Tư pháp, sự hỗ trợ hướng dẫn kịp thời về mặt nghiệp vụ của Sở Tư pháp và cùng với quyết tâm phấn đấu vượt khó khăn, nỗ lực, nhiệt tình và cố gắng của tập thể cán bộ, công chức trong toàn Tỉnh nên đã đạt được nhưng kết quả cao trong công tác quản lý nhà nước về chứng thực, cụ thể như sau:
2.2.1 Về hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước
về chứng thực
Xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước về chứng thực là một trong những nội dung rất quan trọng, tạo cơ sở pháp lý giúp cho hoạt động quản lý nhà nước về chứng thực đạt được hiệu quả cao Do vậy mà trong những năm qua (từ năm 2015 đến năm 2018), lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam đặc biệt quan tâm và ban hành những văn bản quản lý nhà nước về chứng thực đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, cụ thểnhư sau:
- Sở Tư pháp tỉnh đã xây dựng các kế hoạch tổ chức triển khai 05 đợt tập huấn, hướng dẫn về công tác chứng thực cho các ngành, địa phương theo sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, cụ thể như sau:
+ Kế hoạch số 28/KH-STP ngày 01/4/2015 của Sở Tư pháp về việc tổ chức tập huấn hướng dẫn thực hiện công tác chứng thực cho các ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh
Trang 35+ Kế hoạch số 31/KH-STP ngày 05 tháng 10 năm 2015 về việc tổ chức tập huấn theo nội dung Nghị định số 23/2015/NĐ-CP
+ Kế hoạch số 12/KH-STP ngày 27 tháng 01 năm 2016 về việc tổ chức tập huấn theo nội dung Thông tư số 20/2015/TT-BTP và Công văn số 4233/BTP-BTTP
+ Kế hoạch số 49/KH-STP ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Sở Tư pháp
về việc tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ công tác chứng thựccho các ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh
+ Kế hoạch số 87/KH-STP ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Sở Tư pháp
về việc tổ chức Hội nghị hướng dẫn về kỹ năng nhận dạng giấy tờ giảvàtập
huấn về nghiệp vụ công tác chứng thực
- Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 17/2014/CT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính, UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 312/UBND ngày 10/11/2015 về việc chấn chỉnh tình hình lạm dụng bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, vản bản khi thực hiện thủ tục hành chính
- Trên cơ sở hướng dẫn nghiệp vụ của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực – Bộ Tư pháp và qua tổng hợp các vướng mắc về chứng thực tại các địa phương, được sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Tư pháp đã ban hành các công văn quán triệt, hướng dẫn nghiệp vụ chứng thực gồm các văn bản: Công văn
số 789/STP-BTTP ngày 14/7/2015; Công văn số 226/STP-HCTP ngày 22/3/2017; Công văn số 497/STP-HCTP ngày 29/5/2017 Ngoài ra, Sở Tư pháp chuyển tải nhanh các văn bản hướng dẫn liên quan cũng như thường xuyên trao đổi, hướng dẫn nghiệp vụ chứng thực cho Phòng Tư pháp, UBND cấp xã qua trao đổi nội bộ Qofice Từđó việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị định số 23/2015/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh đã dần đi vào ổn định và nề nếp, qua đó giải quyết kịp thời những nhu cầu của tổ chức, cá nhân
Trang 36- Thực hiện công tác tổng hợp, báo cáo kịp thời và đúng thời gian quy định Ngoài báo cáo định kỳ 6 tháng và báo cáo năm thì UBND tỉnh ban hành một số báo cáo cho Bộ Tư pháp và Chính phủ:
+ Báo cáo đột xuất số 798/BC-UBND ngày 30/6/2015 về tổng kết công tác chứng thực giai đoạn 2010-2015
+ Báo cáo số 824/BC-UBND ngày 09/10/2015 của UBND tỉnh Quảng Namvề kết quả kiểm tra, rà soát đội ngũ cán bộ làm công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh
+ Báo cáo số 723/BC-UBND ngày 22 tháng 10 năm 2016 của UBND tỉnh Quảng Nam về kết quả đạt được trong thực hiện công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh
+ Báo cáo số 61/BC-STP ngày 10 tháng 8 năm 2018 về sơ kết 03 năm thực hiện Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ
Thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo theo đúng quy định, là cơ sở để tổng hợp những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập vàđề ra các giải pháp thiết thực để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời nắm bắt, tháo gỡ, khắc phục, tạo điều kiện thuận lợi trong thực hiệnnhiệm vụ,từ đó nhằm góp phần vào quá trình hoàn chỉnh các quy định pháp luật về chứng thực
2.2.2 Về hoạt động tổ chức thực hiện văn bản quản lý nhà nước về chứng thực
UBND tỉnh Quảng Nam, sở Tư pháp luôn quan tâm, theo dõi và chỉ đạo sâu sát việc tổ chức thực hiện các văn bản QLNN về chứng thực vào thực tiễn, cụ thể:
- Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 1183/STP-BTTP ngày 20/11/2015 về việc tổ chức thực hiện pháp luật về chứng thực để chỉ đạo UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam,nhấn mạnh 3 nội dung chính
đó là đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền các nội dung của Nghị định
Trang 3723/2015/NĐ-CP; chỉ đạo cho các địa phương thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác chứng thực và bố trí
cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ để kịp thời triển khai, tổ chức thực hiện có hiệu quả
- Công tác hướng dẫn và bồi dưỡng về nghiệp vụ chứng thực
Một trong những cơ sở, điều kiện quan trọng để đánh giá được kết quả thực hiện QLNN về công tác chứng thực là việc tổ chức các lớp tập huấn, tuyên truyền và bồi dưỡng nghiệp vụ chứng thực cho đội ngũ cán bộ, công chức Do vậy, Ủy ban nhân dân Tỉnh luôn chỉ đạo Sở Tư pháp, khi có văn bản pháp luật mới ban hành liên quan đến chứng thực phải sớm tổ chức các buổi tập huấn, hương dẫn nghiệp vụ chứng thực, để từ đó kịp thời nắm bắt và giải đáp các khó khăn, vướng mắc của các ngành, địa phương trong quá trình thực hiện công tác chứng thực
Trong khoảng thời gian từ năm 2015 – 2018, các văn bản pháp luật đã được UBND tỉnh, Sở Tư pháp hướng dẫn triển khai như: Luật công chứng năm 2014, Nghị định 23/21015/NĐ-CP, Công văn số 3086/HTQTCT-CT ngày 13 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính các loại giấy tờ văn bản; Công văn số 4233/BTP-BTTP; Thông tư số 20/2015/TT-BTP;
Đối tượng được tập huấn gồm đội ngũ công chức làm công tác chứng thực tại các đơn vị cơ sở: Phòng Tư pháp cấp huyện, UBND cấp xã; công chức của Phòng Tư pháp huyện và các cán bộ, công chức có thẩm quyền trong ký hồ sơ chứng thực như: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND 244 xã, Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng Tư pháp huyện
Số lượng cán bộ, công chức làm công tác chuyên trách tham gia tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chứng thực giai đoạn 2015 – 2018 được thể hiện
cụ thể qua Bảng 2.2 như sau:
Trang 38Bảng 2.2 – Bảng thống kê số lượng cán bộ, công chức làm công tác chuyên trách
đã được Sở Tư pháp tập huấn nghiệp vụ chứng thực giai đoạn 2015 – 2018
Nguồn: Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam
Qua Bảng 2.2, số lượng cán bộ, công chức chuyên trách cơ sở được UBND tỉnh giao cho Sở Tư pháp tập huấn hàng năm luôn chiếm tỉ lệ khá cao, đạt tỉ lệ trên 85% qua các năm Kết quả đạt được nêu trên đã phản ánh được năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cũng như tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chứclàm công tác chứng thực để hoàn thành tốt nhiệm
vụ được giao
Ngoài ra, Ủy ban nhân dân tỉnh cũng chỉ đạo Sở Tư pháp thường xuyên hướng dẫn công tác chứng thực cho các Phòng Tư pháp, UBND cấp xã thông qua các cuộc họp giao ban công tác Tư pháp – hộ tịch hàng quý Đồng thời, khi có văn bản, thông báo hướng dẫn của cấp trên liên quan đến công tác chứng thực đều được Sở Tư pháp sao gửi cho Phòng Tư pháp, UBND cấp xã
để thực hiện và đối với các trường hợp vướng mắc đều được lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Tư pháp hướng dẫn giải quyết kịp thời
- Công tác tuyên truyền và phổ biến các quy định pháp luật về chứng thực
UBND tỉnh Quảng Nam luôn quan tâm chú trọng công tác đến công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, nhằm kịp thời triển khai đến các địa phương trên địa bàn tỉnh, hoạt động tuyên truyền được thực hiện đa dạng dưới
Trang 39các hình thức như: trên hệ thống phát thanh, phát tờ rơi và tuyên truyền trên
hệ thống bảng tin, … nhất là khi có quy định mới ban hành Trong giai đoạn
từ năm 2015 – 2018, UBND tỉnh, Sở Tư pháp tỉnh đã xây dựng kế hoạch, tổ chức các buổi hội nghị, tuyên truyền, trong đó có lồng ghép nội dung về công tác chứng thực như:việc tuyên truyền Bộ Luật Dân sự 2015, tuyên truyền Bộ Luật hình sự năm 2015, truyền luật Công chứng năm 2014, Luật Hộ tịch, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật …, với số lượng các buổi hội nghị, tuyên truyền được thể hiện qua Bảng 2.3 như sau:
Bảng 2.3 – Bảng thống kê số cuộc tuyên truyền pháp luật của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Quảng Nam có lồng ghép nội dung chứng thực
25,00%;25,53% trongnăm 2016, 26,92% trong năm 2017 và năm 2018 là 30,50%.Qua đó, có thể nhận thấy công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về
công tác chứng thực chưa thực sự được quan tâm đúng mức,trong khi đó số lượng hồ sơ chứng thực chiếm khá lớn so với tổng số lượng thủ tục hành chính được giải quyết
Trang 402.2.3 Về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi VPPL liên quan đến chứng thực
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền hành chính phục vụ, để đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.Theo định kỳ hàng quý, UBND tỉnh chỉ đạo, triển khai cho các địa phương phát phiếu lấy ý kiến nhận xét của người dân về quá trình thực hiện nhiệm vụ chứng thực của cơ quan có thẩm quyền Qua kết quả lấy phiếu
ý kiến, đại đa số Nhân dân tương đối hài lòng về việc thực hiện công tác chứng thực tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Trong giai đoạn từ năm 2015-2018, trên địa bàn toàn tỉnh, không có trường hợp đơn thư khiếu nại hay
tố cáo liên quan đến việc giải quyết yêu cầu chứng thực
Về công tác xử lý VPPL, theo quy định tại Luật Xử lý VPHC năm 2012, đảm bảo tiến hành đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của pháp luật hướng dẫn thi hành, theo đó, đối với hành vi làm giả giấy tờ để yêu cầu chứng thực; làm giả bản sao có chứng thực sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng - 5.000.000 đồng, cá nhân, tổ chức có hành vi sử dụng giấy tờ giả để yêu cầu chứng thực; sử dụng giấy tờ giả là bản sao có chứng thực; giả mạo chữ ký của cơ quan có thẩm quyền QLNN về chứng thực sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng -3.000.000 đồng, ngoài ra còn bị áp dụng các biện pháp tịch thu và hủy
bỏ giấy tờ, văn bản giả mạo [13,16]
Riêng đối với các vụ việc xử lý VPPL về chứng thực có dấu hiệu tội phạm hình sự sẽ được chuyển cơ quan công an điều tra thụ lý theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 về việc xử lý hình sự đối với hành vi làm giả con dấu, giấy tờ, tài liệu của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Trong thời gian gần đây, tình trạng giả mạo các bằng cấp, giấy tờ có diễn biến hết sức phức tạp, tinh vi Nhưng với nghiệp vụ vững vàng, đội ngũ cán
bộ, công chức lãnh đạo và công chức trực tiếp làm chứng thực đã kịp thời phát hiện các trường hợp vi phạm, chuyển cơ quan công an điều tra, khởi tố