Các chính sách của Jimmy Carter với Việt Nam 2.1 Chủ trương bình thường hóa 2.2 Chủ trương ngừng bình thường hóa... 2.1 Chủ trương bình thường hóa 2.1.1 Bối cảnhHiệp định Paris kết thú
Trang 1Chính sách của Tổng thống Jimmy Carter với Việt Nam
(1976 – 1980)
Trang 2Dàn ý
2 Các chính sách của Jimmy Carter với
Việt Nam
2.1 Chủ trương bình thường hóa
2.2 Chủ trương ngừng bình thường hóa
Trang 31 Khái quát chung
Việt Nam không phải là trọng tâm trong chính sách của Mỹ
Việt Nam có một vị trí đặc biệt trong lòng nước Mỹ
Cơ sở chính sách/ tài liệu tham khảo: nói luôn phần này, cơ sở để mình làm cái bài này (Bích nhé)
Trang 4Jimmy Carter
Tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ
Trang 62.1 Chủ trương bình thường hóa 2.1.1 Bối cảnh
Hiệp định Paris kết thúc -> giai đoạn hậu chiến
cả 2 nước
- Nước Mỹ sau chiến tranh: khủng hoàng kinh tế - chính trị - niềm tin, hội Chứng Việt Nam, vấn đề MIA/POW
- Việt Nam sau chiến tranh: thống nhất đất nước
1976, khắc phục hậu quả chiến tranh, 49 quốc gia bang giao (12/1972), tham gia WHO và WMO
Mỹ tiếp tục chính sách trừng phạt và cô lập
ngoại giao với Việt Nam
Trang 72.1 Chủ trương bình thường hóa
Thúc đẩy quan hệ song phương với Trung
Quốc và Liên Xô
Carter và cơ hội cải thiện mối quan hệ Hoa Kỳ
- Việt Nam
Trang 9 Mỹ không phản đối Việt
Nam gia nhập Liên Hợp Quốc Chính sách
1975-1976, Mỹ đã 3 lần phủ quyết đơn xin gia nhập Liên Hợp Quốc của Việt Nam.
Cater mặc dù vẫn tiếp tục theo đuổi chính sách “ răn đe” của các tổng thống tiền
nhiệm nhưng có phần thực tế hơn trong
quan hệ với nước Việt Nam
Mỹ đồng ý Việt Nam vào Liên Hợp Quốc
Trang 10Lễ Thượng cờ tại cửa chính trụ sở LHQ
Trang 11Tác động
Quan hệ Việt – Mỹ
Có khởi sắc kể từ sau cuộc chiến tranh Việt Nam
Việt Nam
Mở ra một thời kỳ
mới cho ngoại giao
đa phương Việt Nam
Góp phần nâng cao
vị thế Việt Nam
trên trường quốc tế
Trang 12Leonard Woodcock đặc phái viên của tổng thống Mỹ Carter
Trang 13Vòng đàm phán 1
((3 - 4/5/1977)
Hai bên thiết lập
quan hệ ngoại giao
Nêu lại các đề nghị hồi tháng 5
Vấn đề viện trợ: gặp khó khăn về vấn đề pháp lý, Quốc hội Mỹ kiên quyết không chấp nhận viện trợ làm điều kiện
Hứa sẽ thực hiện việc viện trợ sau khi hai nước bình thường hóa
Vòng đàm phán 3 (19 – 20/12/1978)
Đề nghị nếu chưa thoả thuận được về việc thiết lập quan hệ ngoại giao thì có thể lập phòng liên lạc ở thủ đô hai nước
Song ta vẫn giữ lập trường đòi giải quyết ba vấn đề.
Lập trường của Mỹ
Hai bên vẫn không đạt được các thỏa hiệp.
Trang 14Tác động
Với Việt Nam
Đưa lại những hệ quả vô
cùng tai hại cho đất nước ta.
Việt Nam gần như đơn độc
trước một Trung Quốc đầy
Thời kì giữa những năm 70, thể hiện vị thế của tổng thống Mỹ suy yếu tương đối so với quốc hội
.
Trang 15Mỹ can thiệp vào Việt Nam chính là bởi những lợi ích mà khu vực
và quốc gia này mang lại.
Mỹ can thiệp vào Việt Nam chính là bởi những lợi ích mà khu vực
và quốc gia này mang lại.
Trang 17Tác
động
Tích cực
Là một yếu tố quan trọng góp phần vào quá trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước giai đoạn sau này.
Chính sách mới chỉ dừng lại ở việc “nới lỏng” chứ chưa phải là “xóa bỏ” hoàn toàn.
Chính sách mới chỉ dừng lại ở việc “nới lỏng” chứ chưa phải là “xóa bỏ” hoàn toàn.
Chứng tỏ chính quyền Mỹ chưa thực sự muốn bình thường hóa quan hệ với Việt Nam.
Trang 18 Vấn đề MIA/POW và giải quyết hậu quả
chiến tranh
Chiến tranh đã chấm dứt nhưng hậu quả để lại hết sức nặng nề (di chứng do chất độc màu da cam)
Chính sách:
Khi lên cầm quyền, Tổng Thống Carter muốn “hàn gắn vết
thương chiến tranh”.
Chính quyền Mỹ cho rằng việc đòi Việt Nam phải “cung cấp
trọn vẹn” tin tức về người Mỹ mất tích trong chiến tranh là điều
không hợp lý
Việt Nam muốn Mỹ nhận “trách nhiệm tinh thần” đối với nạn
nhân của chất độc da cam mà Mỹ giải ở Việt Nam Nhưng
chính quyền Carter không chịu bồi thường
Trang 19Nhận xét
Mặc dù có thiện chí “hàn gắn chiến tranh”
nhưng chính quyền Carter lại không có sự bồi thường nào về hậu quả chiến tranh
Mỹ không muốn nhận trách nhiệm hay nói
cách khác là muốn chối bỏ về tội ác đã gây ra cho Việt Nam
Trang 21A Nguyên nhân( hoàn cảnh )
Khách quan:
tình hình thế
giới
Nguyên nhân
Chủ quan: từ phía Mỹ
và Việt Nam
Trang 22Nguyên nhân khách quan
Quan hệ Việt Nam – Liên Xô ngày càng được tăng cường đặc biệt sau khi Việt Nam và Liên
Xô ký hiệp ước Hữu nghị và hợp tác 3/11/1978
Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc căng thẳng dẫn đến tình trạng xung đột, chiến tranh biên giới năm 1979
Quan hệ Mỹ _ Trung Quốc phát triển tốt Ngày 1/1/1979, Mỹ và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao
Vấn đề Campuchia
Trang 23Liên Xô giúp Việt Nam xây dựng cầu Thăng
Long (1978 – 1982)
Trang 24Chiến tranh biên giới 1979
Trang 25Nguyên nhân chủ quan
Từ phía Mỹ: đạo luật về viện trợ nước ngoài
được quốc hội Mỹ thông qua đã ngăn cấm
chính quyền Mỹ “đàm phán đền bù chiến
tranh, viện trợ hoặc bất kỳ hình thức nào chi trả cho Việt Nam” Tháng 6/1977, thông qua luật Viện trợ nước ngoài, chính thức bác bỏ lời hữa của Nixon với Việt Nam
Từ phía Việt Nam: yêu cầu Mỹ thực hiện
điều 21 của Hiệp định Paris
Trang 26B Chính sách và tác động
1
Hủy bỏ vòng đàm phán Hoa Kỳ - Việt Nam
2
Thực hiện bao vây, cấm vận Việt Nam
3
Rút lại lời hứa viên trợ nhân đạo cho Việt Nam
Chính sách
Trang 27Tác động
Kinh tế: nền kinh tế mất cân đối, sản xuất
chậm phát triển, thu nhập quốc dân và năng suất lao động thấp
Xã hội: đời sống nhân dân gặp nhiều khó
khăn, xã hội nảy sinh nhiều tiêu cực
Ngoại giao: bị bao vây cô lập, Việt Nam hầu
như chỉ có quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa ( trừ Trung Quốc) và một số nước theo đường lối trung lập
=>Việt Nam lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn, bị bao vây, cô lập về mọi mặt.
Trang 28Nhận xét
Suốt những năm cuối thập kỷ 1970, đầu thập kỷ 1980, quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam gần như rơi vào tình trạng đóng băng Sự thờ ơ này chủ yếu là do Mỹ, bởi theo Washington, sự quan tâm của Mỹ với Việt Nam chỉ là hệ quả của mối quan tâm của Mỹ đối với Liên Xô